Ý nghĩa và vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 trong môn Đạo đức .... Thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN DỤC QUANG
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Dục Quang_ người đã chỉ bảo tận tình và hướng dẫn trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và các giáo viên khối lớp 3 trường tiểu học Tân Dân A đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong việc cung cấp các thông tin, số liệu về trường tiểu học
Đây là bước đầu tiên tôi làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học nên không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và của bạn đọc để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 thág 5 năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Mai
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đề tài nghiên cứu: “Giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học môn Đạo đức” là kết quả mà tôi đã trực tiếp tìm tòi, nghiên cứu Trong quá trình
nghiên cứu tôi có sử dụng tài liệu của một số tác giả để tham khảo Đó chỉ là
cơ sở để tôi rút ra được những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi hoàn toàn không trùng khớp với kết quả của các tác giả
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Mai
Trang 4Số lượng Trung bình Giáo viên tiểu học Học sinh tiểu học
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
8 Dự kiến cấu trúc đề tài 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC ĐẠO ĐỨC 7
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Những nghiên cứu về kĩ năng hợp tác 7
1.1.2 Những nghiên cứu về trò chơi đóng vai theo chủ đề 8
1.1.3 Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề 9
1.2 Một vài khái niệm cơ bản có liên quan 11
1.2.1 Kĩ năng sống 11
1.2.2 Kĩ năng hợp tác 13
1.3 Những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 3 14
1.3.1 Đặc điểm về cơ thể 14
1.3.2 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống 15
1.3.3 Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ) 16
1.3.4 Sự phát triển tình cảm 17
1.4 Trò chơi đóng vai theo chủ đề 18
1.4.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề 18
1.4.2 Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề 18
1.4.3 Cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề 19
1.4.4 Sự phát triển của trò chơi đóng vai theo chủ đề ở lứa tuổi lớp 3 21
Trang 61.4.5 Ý nghĩa và vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với việc
giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 trong môn Đạo đức 22
1.5 Giáo dục kĩ năng hợp tác thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học đạo đức lớp 3 23
1.5.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng hợp tác trong môn đạo đức lớp 3 23
1.5.2 Nội dung giáo dục kĩ năng hợp tác thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong môn Đạo đức lớp 3 24
1.5.3 Phương pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học Đạo đức lớp 3 26
Kết luận chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC ĐẠO ĐỨC 31
2.1 Giới thiệu về khảo sát 31
2.1.1 Mục đích khảo sát 31
2.1.2 Nội dung khảo sát 31
2.1.3 Phương pháp khảo sát 31
2.1.4 Địa bàn và khách thể khảo sát 32
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 32
2.2.1 Thực trạng kĩ năng hợp tác của học sinh lớp 3 32
2.2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học đạo đức 32
2.3 Nguyên nhân của thực trạng 35
2.3.1 Đối với học sinh 36
2.3.2 Đối với giáo viên 36
2.3.3 Đối với các lực lượng có liên quan 37
Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC ĐẠO ĐỨC 40
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 40
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích của quá trình giáo dục 40
Trang 73.1.2 Quan điểm tiếp cận hoạt động và nhân cách 40
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 41
3.1.4 Đảm bảo tính hệ thống 42
3.1.5 Đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của giáo viên với việc phát huy tính tự giác, tính tích cực, tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong giáo dục kĩ năng sống thông qua việc dạy học Đạo đức 42 3.2 Biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học Đạo đức 43
3.2.1 Xây dựng môi trường thân thiện trong lớp giữa giáo viên với học sinh và giữa các học sinh với nhau 43
3.2.2 Giáo dục học sinh biết thỏa thuận và thương lượng trong khi chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề 45
3.2.3 Tạo tình huống chơi mang tính hợp tác và ứng xử theo hướng hợp tác 47
3.2.4 Thiết kế bài tập thực hành kĩ năng sống trong quá trình dạy học môn Đạo đức để rèn luyện kĩ năng hợp tác cho học sinh 48
3.3 Thực nghiệm biện pháp 50
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 50
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 50
3.3.3 Phương pháp thực nghiệm 50
3.3.4 Tiến hành thực nghiệm 51
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục phổ thông là nền tảng văn hóa của cả một đất nước, là sức mạnh trí tuệ của cả một tương lai dân tộc, là cơ sở ban đầu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong xu thế hội nhập với thế giới hiện nay Trong lĩnh vực khoa học nói chung, giáo dục chiếm vị trí rất quan trọng Giáo dục không những cung cấp cho học sinh những tri thức khoa học tiến bộ của loài người mà còn hình thành cho học sinh những nhân cách, phẩm chất con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là lứa tuổi học sinh Tiểu học
Như chúng ta đã biết, ở Tiểu học các em được học rất nhiều môn khác nhau và mỗi môn học đều có mục đích đào tạo riêng Song, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là cung cấp cho các em những kiến thức cần thiết về tự nhiên - xã hội, con người, thiên nhiên; hình thành những kĩ năng cần thiết để tham gia vào các hoạt động hàng ngày phù hợp với lứa tuổi Vì vậy, bên cạnh trang bị cho học sinh những vốn kiến thức cơ bản trong học tập, lao động còn cần phải chú ý đến việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, dạy học sinh cách làm người để học sinh có thêm vốn kinh nghiệm ứng xử với các tình huống đặt ra trong môi trường hoạt động của lứa tuổi
Ở nước ta, giáo dục đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ thứ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống đó là:
“Học để biết; Học để làm; Học để cùng chung sống và Học để tự khẳng định mình" Một trong những điều cốt lõi nhất để hình thành và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh là thông qua giáo dục đạo đức Giáo dục đạo đức là một bộ phận rất quan trọng của quá trình sư phạm, đặc biệt là đối với học sinh tiểu học Nó nhằm hình thành những cơ sở ban đầu về mặt đạo đức cho học sinh, giúp các em ứng xử đúng đắn qua các mối quan hệ đạo đức hàng ngày Ở tiểu học, cụ thể là lớp 3, quá trình giáo dục đạo đức nhằm giúp học sinh có hiểu
Trang 9biết ban đầu về một số chuẩn mực hành vi đạo đức và pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của các em với những người thân trong gia đình; với bạn bè,và công việc của lớp; của trường; với Bác Hồ và những người có công với đất nước, với dân tộc; với hàng xóm láng giềng; với thiếu nhi và khách quốc tế; với cây trồng, vật nuôi và nguồn nước; với lời nói, việc làm của bản thân Học sinh được từng bước bày tỏ ý kiến, thái độ của bản thân đối với quan niệm, hành vi, việc làm có liên quan đến các chuẩn mực đã học; kĩ năng lựa chọn và lựa chọn các hành vi ứng xử phù hợp trong các tình huống đơn giản, cụ thể trong đời sống Từ đó bước đầu hình thành thái độ, trách nhiệm đối với lời nói, việc làm của bản thân, tự tin vào khả năng của bản thân, biết giải quyết các tình huống đặt ra trong cuộc sống hàng ngày thể hiện tình yêu thương ông bà, cha mẹ, anh chị em và bạn bè, biết ơn Bác Hồ và các thương binh liệt sĩ; quan tâm, tôn trọng với mọi người, đoàn kết, hữu nghị với thiếu nhi quốc tế; có ý thức bảo vệ nguồn nước, vây trồng và vật nuôi
Trong thực tế hiện nay, nhiều học sinh còn thiếu nhiều kĩ năng cơ bản
và đặc biệt là kĩ năng hợp tác Các em còn chưa biết giao tiếp, thiếu bản lĩnh, thiếu sáng tạo; học tập thụ động, không tự tin, kĩ năng hợp tác yếu; kiểm soát cảm xúc còn không tốt như còn gây gổ đánh nhau với những lí do vô cùng phi
lí Vậy làm thế nào để hình thành và giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh một cách hiệu quả? Với đặc thù của môn học Đạo đức lớp 3, nội dung bao gồm hệ thống các chuẩn mực hành vi đạo đức tương ứng với các tình huống thường gặp của học sinh trong cuộc sống hàng ngày Để giải quyết tốt các tình huống đó, học sinh cần trau dồi nhiều kĩ năng, trong đó có kĩ năng hợp tác Kĩ năng sống không tự nhiên mà có, nó hình thành thông qua học tập, lĩnh hội và rèn luyện Hơn nữa, với đặc trưng của lứa tuổi học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 3 thì việc ngồi lắng nghe một bài giảng lí thuyết về kĩ năng sống là khó để các em có thể hình dung được kĩ năng hợp tác là như thế
Trang 10nào Chính vì vậy, nắm bắt được đặc điểm tâm lí của các em: thích được chơi, thích được tham gia vào các hoạt động mang tính thi đua, thích được biểu dương khen ngợi,… thì việc hình thành và rèn luyện kĩ năng cho các em thông qua trò chơi trong dạy học môn Đạo đức là cần thiết Hơn nữa, trò chơi đóng vai theo chủ đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh Thông qua trò chơi đóng vai, các em biết thỏa thuận và chia sẻ với nhau về những ý tưởng, dự định của mình, có tinh thần trách nhiệm trước nhóm chơi và biết vì lợi ích chung của cả nhóm để giải quyết nhiệm vụ của nhóm chơi Chính vì những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn
đề tài: “Giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học môn Đạo đức”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học Đạo đức, đề xuất một số biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
3 Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học đạo đức
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 thông qua trò
chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học Đạo đức
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong môn học Đạo đức, có rất nhiều kĩ năng sống cần giáo dục cho học sinh Tiểu học và có thể thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau Nhưng do thời gian và điều kiện không cho phép nên trong đề tài này tôi chỉ
Trang 11đi vào tìm hiểu và nghiên cứu việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh khối lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề, thực trạng vấn đề này ở trường tiểu học Tân Dân A, huyện Sóc Sơn - Hà Nội
5 Giả thuyết khoa học
Trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại trò chơi có ý nghĩa lớn trong việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh tiểu học Nếu đề xuất được các biện pháp hợp lí thì người GV sẽ tổ chức hoạt động dạy học hiệu quả môn Đạo đức, góp phần làm cho hiệu quả giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề được nâng cao và đạt được hiệu quả cao nhất
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, tiểu luận có nhiệm vụ làm rõ một số vấn đề sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kĩ năng hợp tác qua trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với học sinh tiểu học
- Khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác trong giảng dạy môn Đạo đức lớp 3
- Đề xuất một số biện pháp giúp tăng hiệu quả của việc giáo dục kĩ năng hợp tác thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giảng dạy môn Đạo đức lớp 3
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa các tài liệu lí luận để làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài và các luận điểm, làm điểm tựa cho việc nghiên cứu này
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
- Mục đích: nhằm thu thập các thông tin về thực trạng kĩ năng hợp tác của HS, đồng thời qua quan sát để thu được các biện pháp mà GV đang áp
Trang 12dụng và cách thức giáo viên tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề để giáo dục
kĩ năng hợp tác cho HS lớp 3
- Cách tiến hành: quan sát HS và GV trong các giờ học Đạo đức; Quan sát HS trong các hoạt động học tập và vui chơi hàng ngày
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại, trò chuyện
- Mục đích: nhằm thu thập các thông tin về thực trạng kĩ năng hợp tác của học sinh, về thực trạng tổ chức hoạt động trò chơi đóng vai theo chủ đề trong các giờ học Đạo đức lớp 3 của GV để giáo dục kĩ năng sống nói chung
và kĩ năng hợp tác nói riêng
- Cách tiến hành: phỏng vấn trực tiếp và thông qua các hoạt động dạy học và giáo dục khác (trong và ngoài giờ lên lớp)
7.2.3 Phương pháp điều tra
- Mục đích: nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng kĩ năng hợp tác của HS, về trò chơi đóng vai theo các chủ đề mà giáo viên đang áp dụng để giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS lớp 3
- Cách tiến hành: Để tiến hành điều tra, tôi sử dụng hình thức phiếu trưng cầu ý kiến với các câu hỏi dạng đóng và mở dành cho GV Đồng thời nhờ sự giúp đỡ của các giáo viên chủ nhiệm, học sinh có điều kiện hiểu rõ về nội dung câu hỏi và định hướng trả lời
7.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Mục đích: nắm được thực tế kết quả hoạt động của HS trước và sau khi áp dụng biện pháp giáo dục thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề để đối chiếu và rút ra kết luận
- Cách tiến hành: thông qua hồ sơ, giáo án giảng dạy, biên bản dự giờ, thu hoạch cá nhân
7.2.5 Phương pháp thử nghiệm
- Mục đích: phương pháp này được sử dụng nhằm xem xét tính khả thi của việc ứng dụng biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học Đạo đức
Trang 13- Cách tiến hành: thông qua giảng dạy trực tiếp vận dụng phương pháp trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học môn Đạo đức ở khối lớp 3
7.2.6 Phương pháp thống kê toán học
- Mục đích: đưa ra kết quả điều tra được để làm cơ sở chứng minh hoặc bác bỏ các đề xuất, làm căn cứ để đưa ra kết luận tổng quát
- Cách tiến hành: xử lí số liệu bằng phương pháp thống kê các kết quả điều tra được và thể hiện trên các bảng biểu
8 Dự kiến cấu trúc đề tài
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
6 Giả thuyết khoa học
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Dự kiến cấu trúc đề tài
Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3
thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học môn Đạo đức
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh thông qua
trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học môn Đạo đức 3
Chương 3: Biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3
thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học Đạo đức
Kết luận và khuyến nghị
Phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC
CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI
THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC ĐẠO ĐỨC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về kĩ năng hợp tác
Có rất nhiều các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam
đã nghiên cứu và rút ra những vấn đề lí luận cũng như thực tiễn về kĩ năng hợp tác
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nhà giáo dục người Mỹ Johnson D W
đã chỉ ra rằng “muốn học cách để cùng chung sống trong xã hội thì người học phải trải nghiệm quá trình sống hợp tác ngay trong nhà trường”
Sau đó, nhiều người tiếp tục nghiên cứu về kĩ năng hợp tác như Johnson R T (1999), Schmuck và Runkel (1985), Thousand J S Villa R.A (1994), Romiszowski (1981), George Jacobs (1999),…Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh nhiều khía cạnh khác nhau để cho thấy lợi ích của hợp tác trong học tập cũng như trong cuộc sống, phân tích lợi thế, ưu điểm của học tập hợp tác so với các phương thức học tập khác Qua đó, các em sẽ học tập hiệu quả hơn và rèn luyện được kĩ năng hợp tác - một trong những kĩ năng xã hội vô cùng quan trọng và cần thiết góp phần nâng cao hiệu quả học tập và đảm bảo sau này co việc làm và thành công trong nghề nghiệp
Đặng Thành Hưng đã nhận định rằng “Trong quan hệ thầy trò, tính chất hợp tác là xu thế nổi bật”, “Quan hệ giữa người học với nhau trong quá trình dạy học hiện đại nói chung mang tính hợp tác và cạnh tranh tương đối”, ông đã làm rõ các khái niệm liên quan đến nhóm hợp tác, đồng thời cũng nêu
rõ tầm quan trọng của kĩ năng hợp tác trong quá trình học tập
Trang 15Một số nghiên cứu khác của Nguyễn Hữu Châu (2005), Nguyễn Bá Kim (2006), Thái Duy Tuyên (2008) đã phân tích rõ kĩ năng hợp tác là một dạng kĩ năng rất quan trọng đối với con người cũng như đối với học sinh Qua học hợp tác, học sinh có cơ hội bộc lộ, thể hiện mình trong giao tiếp, làm việc hợp tác, học hỏi lẫn nhau; đem lại sự đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau,…và có cơ hội rèn luyện, phát triển những kĩ năng đó
Bên cạnh đó, một số đề tài, luận án đã nghiên cứu về dạy học hợp tác của Nguyễn Thanh Bình (1998), Lê Thị Hải Anh (2005), Ngô Thị Thu Dung (2002), Lê Văn Tạc (2005), Trương Ngọc Ánh (2010),Nguyễn Thị Thanh (2013),…cũng đã nghiên cứu đề xuất nhiều biện pháp để phát triển kĩ năng hợp tác phù hợp với từng ngành học, cấp học và lứa tuổi người học cụ thể Tuy nhiên, đối với Tiểu học thì kĩ năng hợp tác ít được quan tâm nghiên cứu
và chưa xác định rõ ràng
1.1.2 Những nghiên cứu về trò chơi đóng vai theo chủ đề
1.1.2.1 Một số nghiên cứu của tác giả nước ngoài
Hoạt động vui chơi chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống của trẻ, đặc biệt là TCĐVTCĐ Chính vì thế, từ lâu TCĐVTCĐ đã thu hút, lôi cuốn sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như: sinh học, xã hội học, tâm lí học, giáo dục học,…
Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, nhiều học thuyết trò chơi xuất hiện Trên cơ sở đó, các nhà khoa học phát triển TCĐVTCĐ ở trẻ
N K Crupxkaia cho rằng: Trẻ có nhu cầu chơi vì các em muốn tìm hiểu về cuộc sống xung quanh, hơn nữa các em thích bắt chước để đóng vai người khác, thích hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi Hoạt động chơi giúp các em thỏa mãn nhu cầu trên
Các nhà tâm lí học, giáo dục học Xô Viết như: L Vưgôtski, A N Lêônchiép, A P Uxôva,…cho rằng: TCĐVTCĐ là sản phẩm sáng tạo của trẻ
Trang 16dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh Họ nghiên cứu lịch sử phát triển của trò chơi trong mối liên quan với chính sự phát triển của xã hội loài người và với sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ
là kĩ năng hợp tác
1.1.1.2 Một số nghiên cứu của tác giả trong nước
Ở Việt Nam, TCĐVTCĐ đã thu hút được nhiều nghiên cứu của các nhà tâm lí học Có thể kể đến những công trình nghiên cứu của PGS-TS Nguyễn Ánh Tuyết, những báo cáo khoa học của cố GS-TS Nguyễn Khắc Viện đã phân tích rõ tầm quan trọng của TCĐVTCĐ đối với sự phát triển của trẻ
Đồng thời, các nhà khoa học đã chỉ ra cấu trúc của TCĐVTCĐ và những phương pháp để phát triển TCĐVTCĐ
1.1.3 Những nghiên cứu về giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề
Việc sử dụng trò chơi để chuyển tải nội dung học tập và giúp phát triển một số năng lực của người học đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu như D Bergen (2002), Robin, Moriarty (2004), Janet Moyles (2005), Yeh (2008), Mullineaux, Paula Y và Lisabeth F Dilalla (2009),… Các nghiên cứu đã phân tích việc sử dụng trò chơi trong dạy học nhằm tích
Trang 17cực hóa hoạt động học tập và làm cho việc học hiệu quả HS không chỉ học trong lúc học mà còn học trong lúc chơi Đồng thời cũng phân tích rõ vai trò
và mối quan hệ của trò chơi đối với sự phát triển khả năng nhận thức, tính sáng tạo, thể chất, tình cảm xã hội của trẻ
Ở Việt Nam, nghiên cứu về trò chơi và sử dụng trò chơi trong quá trình giáo dục cũng được nhiều người trong nước quan tâm nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích đặc điểm của hoạt động vui chơi, Thái Duy Tuyên (1998) cho rằng: chơi là một dạng hoạt động, mang đầy đủ tính chất như bất
cứ hoạt động xã hội nào khác (tính mục đích, định hướng, ý thức,…), nó luôn thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội và của chính các em Tính chất đặc biệt của chơi là tính tự do, tự lực, tự tổ chức, sáng tạo và giàu cảm xúc của người chơi Ông cũng đưa ra một số nguyên tắc, quy trình sáng tạo trò chơi, cách sử dụng trò chơi trong quá trình giáo dục đạt kết quả tốt nhất
Nhiều luận án bàn về trò chơi ở mẫu giáo, nghiên cứu theo hướng sử dụng trò chơi học tập để phát triển trí tuệ và nhận thức, rèn luyện vận động thể chất, giáo dục ngôn ngữ, phát triển trí tuệ,…đặc biệt trò chơi đóng vai theo chủ đề được quan tâm hết sức ở bậc học mầm non Có thể kể đến những nghiên cứu của Bùi Thị Xuân Lụa (2003), Phạm Tiến Sỹ (2010), Nguyễn Thị
Mỹ Hồng (2013), Vũ Thị Phương Thảo (2013), Phạm Thị Thu Thủy (2016),
Vũ Thị Nhân (2016)… Ở tiểu học, nghiên cứu sử dụng trò chơi theo hướng giáo dục đạo đức, giáo dục toàn diện về nhân cách cho học sinh, chẳng hạn như luận án của Hà Thị Kim Linh (2012) về sử dụng trò chơi dân gian, Đỗ Thị Minh Chính (2012) nghiên cứu về trò chơi đồng dao của người Việt để giáo dục đạo đức cho học sinh Nhưng những nghiên cứu về TCĐVTCĐ ở bậc học tiểu học thì chưa có nhiều Có thể kể đến những nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Hồng Vân (2004), Tạ Thị Bích Hồng (2008), Đặng Thị Thu
Trang 18Hoa, Nguyễn Huy Minh (2013),… Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa bàn sâu về sử dụng TCĐVTCĐ để giáo dục kĩ năng hợp tác cho HSTH
Như vậy, các nghiên cứu về sử dụng TCĐVTCĐ khá phong phú qua nhiều đề tài, luận án và luận văn, song chủ yếu dành cho giáo dục mầm non, chưa có nhiều nghiên cứu ở cấp phổ thông, lại càng ít bàn đến ở trong môn Đạo đức Hiện nay, nhiều khía cạnh của dạy học và trò chơi đóng vai ở Tiểu học chưa được nghiên cứu chuyên biệt Hầu như sách báo bàn nhiều về những vấn đề tâm lí học, sinh lí vận động, phát triển nhận thức hay trí tuệ, giáo dục đạo đức,… ít quan tâm đến chức năng giáo dục kĩ năng xã hội mà cụ thể là kĩ năng hợp tác của trò chơi đóng vai
1.2 Một vài khái niệm cơ bản có liên quan
1.2.1 Kĩ năng sống
Kĩ năng sống là khái niệm được sử dụng rộng rãi nhằm vào mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Ngay những đầu thập kỉ 90, các tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) như WHO ( Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của LHQ) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có một định nghĩa
rõ ràng và đầy đủ
Theo tổ chức Y tế Thế giới ( WHO)
Kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh Đó là những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày
Trang 19Trong giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, kĩ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa
Theo Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF)
Kĩ năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống Các kĩ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “làm
gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO)
Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày Đó là khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày
Theo thuyết hành vi
Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ - là những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống
Kĩ năng sống không phải là năng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại mà là những năng lực thích nghi cho mỗi thời đại mà cá nhân đó sống, bởi vậy, kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính dân tộc - quốc gia, vừa mang tính xã hội - toàn cầu
Từ những khái niệm trên, kĩ năng sống trong phạm vi lứa tuổi HSTH thường gắn liền với phạm trù kiến thức, kĩ năng và thái độ mà HS được rèn luyện trong quá trình giáo dục Tổng hợp các kết quả giáo dục từ bài học trên
Trang 20lớp và từ những hoạt động ngoài giờ lên lớp, HS hình thành được một số kĩ năng sống cơ bản như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giải quyết vấn đề,…
1.2.2 Kĩ năng hợp tác
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm
Biểu hiện của người có kĩ năng hợp tác:
- Tôn trọng mục đích, mục tiêu hoạt động chung của nhóm; tôn trọng những quyết định chung, những điều đã cam kết
- Biết giao tiếp hiệu quả, tôn trọng, đoàn kết và cảm thông, chia sẻ với các thành viên khác trong nhóm
- Biết bày tỏ ý kiến, tham gia xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm Đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng, xem xét các ý kiến, quan điểm của mọi người trong nhóm
- Nỗ lực phát huy năng lực, sở trường của bản thân để hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được phân công Đồng thời biết hỗ trợ, giúp đỡ các thành viên khác trong quá trình hoạt động
- Biết cùng cả nhóm đồng cam cộng khổ vượt qua những khó khăn, vướng mắc để hoàn thành mục đích, mục tiêu hoạt động chung
- Có trách nhiệm về những thành công hay thất bại của nhóm, về những sản phẩm do nhóm tạo ra
Có kĩ năng hợp tác là một yêu cầu quan trọng đối với người công dân trong một xã hội hiện đại, bởi vì:
- Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng Sự hợp tác trong công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc chung
Trang 21- Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một cái chi tiết của một cỗ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ
- Kĩ năng hợp tác còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong quan hệ với người khác
1.2.3 Trò chơi đóng vai
Trò chơi đóng vai là loại trò chơi trong đó HS đóng một vai chơi cụ thể
để “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây
là phương pháp giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được, từ đó HS tái tạo lại những ấn tượng, xúc cảm mà các em thu nhận được từ tình huống
1.3 Những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 3
1.3.1 Đặc điểm về cơ thể
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân,
xương tay đang trong thời kì phát triển (thời kì cốt hóa) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập,… Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em, nhà giáo dục cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động chơi lành mạnh, an toàn
- Hệ cơ đang trong thời kì phát triển mạnh nên các em rất thích các trò
chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa,… Vì vậy mà nhà giáo dục nên đưa các
em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự
an toàn cho HS
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư
duy của các em chuyển dần từ trực quan sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Dựa vào cơ chế sinh lí này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi, tình huống nhằm phát triển tư duy của các em
Trang 221.3.2 Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống
1.3.2.1 Hoạt động của học sinh Tiểu học
- Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của các em đã có sự thay đổi về chất, chuyển
từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:
+ Hoạt động vui chơi: các em thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với các đồ vật sang các trò chơi vận động
+ Hoạt động lao động: học sinh bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,… Ngoài ra, các em còn tham gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,…
+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,…
1.3.2.2 Những thay đổi kèm theo
- Trong gia đình: các em luôn cố gắng là một thành viên tích cực, có thể tham gia các công việc trong gia đình như nấu cơm, quét nhà, nhặt rau,…
- Trong nhà trường: các em đã có sự thay đổi về phương pháp, hình thức và thái độ học tập hơn so với bậc mầm non do nội dung, tính chất, mục đích của các môn học đều thay đổi Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý thức học tập tốt
- Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả trong gia đình) Đặc biệt
là các em muốn thừa nhận mình là người lớn, muốn được thể hiện bản thân, muốn được nhiều người biết đến mình
Biết được những đặc điểm nêu trên thì cha mẹ và thầy cô phải tạo điều kiện giúp đỡ HS phát huy những khả năng tích cực của các em trong công việc gia đình, quan hệ xã hội và đặc biệt là trong học tập
Trang 231.3.3 Sự phát triển của quá trình nhận thức (sự phát triển trí tuệ)
1.3.3.1 Nhận thức cảm tính
- Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc
giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện
- Tri giác: Tri giác của HSTH mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và
mang tính không ổn định Với học sinh lớp 3, tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ và bắt đầu mang tính xúc cảm Đối với các em, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm một cái gì đó với sự vật như cầm nắm, sờ mó,…và những gì phù hợp với nhu cầu, những gì tham gia trực tiếp vào cuộc sống và hoạt động, những gì giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác Trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn
Nhận thấy điều này nhà giáo dục cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tính chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, đồng thời tổ chức các hoạt động cho học sinh được tham gia giải quyết, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
1.3.3.2 Nhận thức lí tính
- Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy
trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát
- Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong
phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức “khô khan” thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lí tính của mình một cách toàn diện
Trang 241.3.4 Sự phát triển tình cảm
Tình cảm của HSTH mang tính cụ thể trực tiếp và luôn gắn liền với các
sự vật hiện tượng sinh động, rực rỡ,… Lúc này khả năng kiềm chế cảm xúc của các em còn non nớt, dễ xúc động và cũng dễ nổi giận, biểu hiện cụ thể là trẻ dễ khóc mà cũng nhanh cười, rất hồn nhiên vô tư,…
Vì thế có thể nói tình cảm của trẻ chưa bền vững, dễ thay đổi Tuy vậy so với tuổi mầm non thì tình cảm của trẻ tiểu học đã “người lớn” hơn rất nhiều
Như vậy, việc giáo dục tình cảm cho HSTH cần ở nhà giáo dục sự khéo léo, tế nhị; nên dẫn dắt các em đi từ hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt phải luôn chú ý củng cố tình cảm cho các em thông qua các hoạt động cụ thể như trò chơi nhập vai, đóng các tình huống cụ thể, các hoạt động tập thể ở trường lớp, khu dân cư,…
1.3.5 Sự phát triển nhân cách
Nét tính cách của HS đang được hình thành dần dần, đặc biệt đối với
HS lớp 3, các em có thể nhút nhát, rụt rè, cũng có thể sôi nổi, mạnh dạn Nhìn chung việc hình thành nhân cách của HS lớp 3 mang những đặc điểm
cơ bản sau:
- Nhân cách của các em lúc này mang tính chỉnh thể và hồn nhiên, trong quá trình phát triển các em luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng
- Nhân cách của các em lúc này còn mang tính tiềm ẩn, những năng lực, tố chất của các em còn chưa được bộc lộ rõ rệt, nếu có được tác động thích ứng chúng sẽ bộc lộ và phát triển
- Đặc biệt, nhân cách của các em đang dần được hình thành và phát triển cùng với tiến trình phát triển của bản thân
Trang 25Hiểu được những điều này, cha mẹ và thầy cô tuyệt đối không được
“chụp mũ” nhân cách của trẻ Trái lại, phải dùng những lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, phải hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp mà chính cha mẹ và thầy cô là những hình mẫu nhân cách ấy
1.4 Trò chơi đóng vai theo chủ đề
1.4.1 Khái niệm trò chơi đóng vai theo chủ đề
TCĐVTCĐ là mô hình quan hệ xã hội giữa người với người và là phương tiện định hướng cho trẻ vào mối quan hệ đó Hay nói cách khác, đóng vai theo chủ đề là trẻ ướm thử mình vào vị trí của người nào đó
Ví dụ: HS đóng vai là cô giáo, bác sĩ, ông bà,…
Trong trò chơi này, trẻ tái tạo lại những hành động cũng như thái độ của người khác và các mối quan hệ giữa họ với nhau Đây là sự phản ánh độc đáo của trẻ về đời sống xã hội của con người mà nổi bật hơn cả là mối quan
hệ giữa người với người Trong khi chơi, trẻ nhập vào các vai và cố gắng hành động phù hợp với vai mà mình đảm nhận đồng thời trẻ tự thiết lập quan
hệ với các vai chơi khác nhau trong trò chơi
Ví dụ: Khi đóng vai là cô giáo, trẻ bắt chước các cử chỉ, điệu bộ, dáng
đi, giọng nói của cô giáo và tự thiết lập quan hệ với các bạn đóng vai là HS
1.4.2 Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề
Trong TCĐVTCĐ, trẻ sẽ tự nghĩ ra dự định chơi, lập kế hoạch chơi, phân vai chơi và chuẩn bị phương tiện phù hợp với dự định chơi ban đầu (hoặc do GV chuẩn bị),… Trẻ luôn đứng ở vị trí của chủ thể hành động (chủ động thiết lập mối quan hệ với bạn cùng chơi, phát triển trò chơi,…)
TCĐVTCĐ bao giờ cũng có các vai, có chủ đề, có nội dung và các mối quan hệ (quan hệ thực và quan hệ chơi), có hoàn cảnh tưởng tượng Tất cả các thành tố này liên quan mật thiết với nhau Nếu thiếu một trong các thành tố kể trên thì lúc ấy không còn là trò chơi đóng vai theo chủ đề nữa
Trang 26TCĐVTCĐ mang tính sáng tạo, tính tự lập cao hơn so với một số trò chơi khác
1.4.3 Cấu trúc của trò chơi đóng vai theo chủ đề
1.4.3.1 Chủ đề và nội dung của trò chơi đóng vai theo chủ đề
- Chủ đề: Trong TCĐVTCD các mảng hiện thực được phản ánh trong trò chơi được coi là chủ đề của trò chơi
Ví dụ: Chủ đề “Gia đình”, “Trường học”, “Trang trại của em”,…
- Nội dung: là hoạt động của con người được HS nhận thức và tái tạo lại trong trò chơi Đó là những hoạt động của con người với các đồ vật, những mối quan hệ của họ với nhau, … Nội dung phức tạp dần tùy theo lứa tuổi, khả năng nhận thức và sáng tạo của HS
Vai trò của người giáo dục là phải giúp HS có chủ đề chơi ngày càng phong phú, đồng thời giúp các em nắm được những hành động của người lớn trong cuộc sống thực, hiểu được mối quan hệ qua lại giữa người với người trong xã hội và đặc biệt là giúp HS phân biệt giữa tốt - xấu, đúng - sai trong các mối quan hệ đạo đức, nhằm giúp HS tái tạo được cái hay, cái đẹp trong cuộc sống hiện thực xung quanh và tránh bắt chước những hành vi sai trái, thô bạo mà trong xã hội vẫn còn đầy rẫy
1.4.3.2 Vai chơi và hành động chơi
TCĐVTCĐ xuất hiện để thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của HS như nhu cầu vui chơi, mong muốn được thể hiện cách ứng xử của mình trong các tình huống với các mối quan hệ khác nhau Trong đời thực, các em chưa thực hiện được nhiều chức năng xã hội nhưng trong trò chơi trẻ có thể thực hiện chức năng xã hội của một người nào đó mà các em đã trông thấy bằng cách nhập vào một vai, tức là ướm mình vào vị trí của người khác và bắt chước hành động của người đó Vui chơi là yếu tố quan trọng để tạo nên trò chơi Đóng vai có nghĩa là tái tạo lại hành động của một người nào đó trong những mối quan hệ nhất định với những người xung quanh Trong vai chơi trẻ đảm
Trang 27nhận một chức năng xã hội của người nào đó, từ đó làm thử một số cách ứng
xử nào đó trong tình huống đặt ra Có thể nói đóng vai là con đường để HS thâm nhập vào cuộc sống xung quanh, bắt gặp những tình huống diễn ra hàng ngày, từ đó thể hiện thái độ và cách ứng xử của cá nhân mình
1.4.3.3 Những mối quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi
Chơi là một hoạt động trong đó có hai mối quan hệ qua lại giữa những
HS cùng tham gia vào trò chơi: quan hệ chơi và quan hệ thực
- Những quan hệ chơi, đó là những quan hệ qua lại của các vai trong trò chơi theo một chủ đề nhất định, mô phỏng mối quan hệ của con người trong xã hội, như quan hệ giữa mẹ và con trong trò chơi gia đình, quan hệ giữa HS với HS, giữa HS với GV trong trò chơi lớp học,… Những quan hệ đó trở thành đối tượng hành động của chúng
- Những quan hệ thực, đó là những quan hệ qua lại giữa những HS và những người tham gia vào trò chơi, những người bạn cùng thực hiện một công việc chung HS tập hợp nhau thành nhóm để bàn bạc với nhau về chủ đề chơi, về việc phân vai, thỏa thuận với nhau về quy tắc hành vi của vai này hay vai nọ và giải quyết các vấn đề xảy ra trong quá trình chơi
Trong TCĐVTCĐ, các quan hệ xã hội được bộc lộ ra rõ rệt Việc thực hiện hành động của vai chơi là phải tái tạo ra các mối quan hệ với các vai khác nhau Sức sống của TCĐVTCĐ là ở chỗ nó tạo ra được mối quan hệ giữa các vai đó chính là bản chất xã hội của TCĐVTCĐ
1.4.3.4 Đồ chơi và quan hệ chơi
Đồ chơi là vật thay thế cho vật thật để cho hoạt động vui chơi được tiến hành Có hai loại đồ chơi: loại thứ nhất là những đồ chơi do GV chuẩn bị cho
HS hoặc do HS tự chuẩn bị theo yêu cầu của GV, mô phỏng theo những đồ vật thực, như cái bát, cái thìa,… được gọi là đồ chơi hình tượng Loại thứ hai
là những đồ thay thế đồ vật thực, trong khi thực hiện hành động của vai chơi
mà HS không có được những đồ vật tương ứng
Trang 28Để cho hành động chơi được tiến hành theo chủ đề và nội dung chơi,
HS cần phải lấy các đồ vật khác để thay thế cho đồ vật thực tương ứng Do
đồ chơi chỉ là vật thay thế nên thao tác chơi của các em không trùng với hành động của vai, đó là lí do làm nảy sinh hoàn cảnh tưởng tượng tức là hoàn cảnh chơi
Trong bốn yếu tố trên thì chủ đề và nội dung chơi quyết định tất cả các nội dung còn lại GV nên căn cứ vào chủ đề và nội dung giáo dục để thiết kế thành các trò chơi cho HS để đáp ứng nhu cầu của HS và đảm bảo mục tiêu giáo dục, giúp HS phân vai và thiết lập mối quan hệ trong trò chơi Đồng thời cần tạo ra những tình huống trong trò chơi để HS lựa chọn kiểu ứng xử phù hợp, cần giáo dục HS tạo ra những mối quan hệ thân tình, tôn trọng, bình đẳng lẫn nhau trong trò chơi
1.4.4 Sự phát triển của trò chơi đóng vai theo chủ đề ở lứa tuổi lớp 3
TCĐVTCĐ là một loại trò chơi phổ biến và phát triển mạnh mẽ ngay từ bậc mầm non Tuy nhiên, ở bậc mầm non, TCĐVTCĐ chỉ mới đơn thuần là hành động mô phỏng một vai nào đó mà trẻ thích; việc bàn bạc, thảo luận về chủ đề, nội dung, phân vai thể hiện,…trong quá trình trẻ chơi diễn ra ít, khó thống nhất Đến bậc tiểu học, cụ thể là lớp 3, TCĐVTCĐ phát triển ở mức cao hơn Trong quá trình chơi, trẻ chủ động hơn trong việc lập kế hoạch, chọn nội dung, phân vai,…Hoạt động chơi không đơn thuần chỉ là bắt chước một vai nào đó mà trẻ thích nữa mà các em được đặt mình vào trong những tình huống cụ thể và phải thảo luận, hợp tác với nhau để thể hiện cách xử lí của mình trong các tình huống đó Lúc này, những ấn tượng và xúc cảm của các
em về cuộc sống xung quanh trở nên phong phú hơn, các mối quan hệ chơi được mở rộng, nội dung chơi phong phú và gắn liền cuộc sống đời thực Các chủ đề chơi gắn với các bài học, với mỗi bài học các vai diễn được thể hiện khác nhau Đồng thời, tính tự nguyện, độc lập và sáng tạo của HS trong khi chơi được thể hiện rõ rệt
Trang 291.4.5 Ý nghĩa và vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 trong môn Đạo đức
1.4.5.1 Ý nghĩa
TCĐVTCĐ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với HS Qua trò chơi,
HS làm quen với xã hội của người lớn, học hỏi cách giao tiếp và ứng xử trong
xã hội người lớn, đồng thời cũng chính ở đây cái “tôi” của HS được hình thành, các em phân biệt mình với người khác, biết đóng vai người khác và hành động tương ứng với vai mình đảm nhiệm Cũng trong trò chơi, HS có tình cảm với bạn bè, có tinh thần trách nhiệm trước nhóm chơi, đôi khi biết hy sinh ý muốn cá nhân vì lợi ích chung của cả nhóm chơi và cũng ở nhóm chơi của mình HS biết nhận xét đánh giá bạn bè và chính bản thân mình
- Sự phát triển tư duy
Trong quá trình chơi TCĐVTCĐ, HS phải nhập vai và thực hiện vai chơi với vật thay thế, trong khi hành động với vật thay thế HS suy nghĩ tới đồ vật thực HS phải dựa vào các hình ảnh đã biết để thực hiện vai chơi của mình Cũng trong khi chơi, HS phải suy nghĩ tới tình huống đang diễn ra để thực hiện cách xử lí của mình
Ví dụ: Với chủ đề “Gia đình”, HS thực hiện vai chơi là ông (hoặc bà) thì có thể thực hiện vật thay thế như: 1 chiếc thước (hoặc que) dùng làm gậy, nhai kẹo làm động tác nhai trầu,…
Trang 30- Trí tưởng tượng
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức, xây dựng hình ảnh mới dựa vào những hình ảnh đã biết Trong quá trình chơi TCĐVTCĐ, HS phải thực hiện các hành động của vai chơi với vật thay thế Từ đó buộc HS phải tưởng tượng ra hành động chơi Như vậy, hành động chơi quyết định sự hình thành
và phát triển tưởng tượng ở lứa tuổi này
- Phát triển ngôn ngữ
Trong khi chơi đòi hỏi mỗi HS phải có một trình độ giao tiếp bằng ngôn ngữ nhất định Nếu HS không diễn đạt được mạch lạc ý tưởng và quan điểm của mình đối với trò chơi, nếu không hiểu được yêu cầu của trò chơi, lời chỉ dẫn hay bàn bạc của các bạn cùng chơi thì các em không thể tham gia trò chơi được Để trò chơi có thể diễn ra và đáp ứng được yêu cầu của việc cùng chơi thì HS phải phát triển ngôn ngữ một cách rõ ràng mạch lạc
- Sự phát triển tình cảm
Tình cảm được hình thành và phát triển từ mối quan hệ giữa người với người Trong TCĐVTCĐ, HS phải tham gia vào hai mối quan hệ: quan hệ thực và quan hệ chơi Khi HS nhập vai vào các mối quan hệ đó thì tình cảm được nảy sinh, hình thành và phát triển
1.5.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng hợp tác trong môn đạo đức lớp 3
Việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 nhằm bước đầu trang
bị cho học sinh kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi, giúp các em biết sống và ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với những người thân trong
Trang 31gia đình, với thầy cô giáo, bạn bè và những người xung quanh; với cộng đồng, quê hương, đất nước và với môi trường tự nhiên; giúp các em bước đầu biết sống tích cực, chủ động, có mục đích, có kế hoạch, tự trọng, tự tin, có kỉ luật, biết hợp tác, tiết kiệm, gọn gàng ngăn nắp, vệ sinh,…để trở thành người con ngoan trong gia đình, học sinh tích cực của nhà trường và công dân tốt của xã hội.
Tóm lại, mục tiêu giáo dục kĩ năng hợp tác trong môn Đạo đức cho HS nói chung và HS lớp 3 nói riêng là giúp HS có những hiểu biết ban đầu về các chuẩn mực đạo đức, hình thành chuẩn mực đạo đức phù hợp với lứa tuổi và pháp luật, đồng thời nắm được ý nghĩa của việc thực hiện các chuẩn mực hành vi đạo đức đó Nó từng bước hình thành cho HS kĩ năng hợp tác với những người xung quanh, lựa chọn và thực hiện các chuẩn mực hành vi đạo đức trong các tình huống cụ thể của cuộc sống Không những thế, nó còn hình thành thái độ tự tin, yêu thương quý trọng con người, yêu cái tốt và không đồng tình với cái xấu cái ác
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS là vô cùng cần thiết và không hề đơn giản Nó đòi hỏi người GV phải vận dụng phương pháp giáo dục phù hợp, giúp HS phát triển nhân cách một cách toàn diện, tránh khỏi những hành vi tiêu cực và phải làm sao để các em thích nghi được với thời đại mà không gò ép, căng thẳng, HS tham gia tích cực và tham gia vào các hoạt động một cách thoải mái và hứng thú Để thực hiện được điều đó thì trò chơi sắm vai theo chủ đề là một biện pháp hiệu quả góp phần quan trọng trong việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS
1.5.2 Nội dung giáo dục kĩ năng hợp tác thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong môn Đạo đức lớp 3
Bản thân môn Đạo đức lớp 3 đã chứa đựng nhiều nội dung liên quan đến kĩ năng sống, đặc biệt là kĩ năng hợp tác để giải quyết các tình huống phù hợp với lứa tuổi Với mỗi bài học trong chương trình môn Đạo đức lớp 3 hầu hết đều có những tình huống được xây dựng ứng với mỗi chủ đề để giúp HS
Trang 32thực hành tham gia đóng vai, giải quyết những tình huống thường trực diễn ra xung quanh cuộc sống hàng ngày của các em Với đặc thù môn học như vậy,
GV có thể thiết kế và tổ chức những tiết học Đạo đức vui nhộn, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS thông qua TCĐVTCĐ
Chúng ta có thể điểm qua những bài học trong chương trình Đạo đức
lớp 3 có vai trò giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS thông qua các tình huống
trong các bài học như sau:
Bài 1:
- Lập kế hoạch chơi, phân vai diễn
- Lập ra hệ thống câu hỏi và trả lời cho những hiểu biết về Bác Hồ Bài 2:
- Thể hiện trách nhiệm chăm sóc người thân trong những việc vừa sức
Bài 5:
Chia sẻ vui buồn cùng bạn Phóng viên
- Lắng nghe ý kiến của bạn
- Thể hiện sự cảm thông, chia sẻ khi bạn vui, buồn
Bài 6: Trường học - Lắng nghe, trình bày suy nghĩ, ý
Trang 33Tích cực tham gia việc lớp,
việc trường
tưởng của mình về các việc trong lớp
- Đảm nhận trách nhiệm khi nhận việc của lớp giao
- Bày tỏ thái độ của bản thân, làm chủ bản thân, kiên định, ra quyết định
Bài 14:
Chăm sóc cây trồng và vật
nuôi
Trang trại của em
đó là hoạt động TCĐVTCĐ, qua đó sự tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS được tăng cường và HS có thể tự phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới Đồng thời, HS được tạo cơ hội để thực hành, trải nghiệm, hình thành kĩ năng
Trang 34sống cần thiết và phù hợp với lứa tuổi Tùy từng bài học, việc tổ chức TCĐVTCĐ trong dạy học Đạo đức lớp 3 sẽ khác nhau, đảm bảo bám sát nội dung chương trình và các chủ đề phù hợp với bài học
Dưới đây là các bước cơ bản để tổ chức TCĐVTCĐ thành công:
Bước Tiến hành
1
GV nêu chủ đề, chia nhóm, giao tình huống và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm
2 Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai
1.5.3.1 Cần tôn trọng tính tự do, tự nguyện của HS
Để HS đến với trò chơi một cách tự nguyện thì cần phải có biện pháp lôi cuốn như:
- Thông qua lời giới thiệu hấp dẫn, hay câu chuyện kể gợi lên cho các
em hứng thú, mong muốn được chơi, được nhập vai vào các nhân vật
- Hình thức chơi và vai chơi cần phải thay đổi để tránh gây nhàm chán Đặc biệt là vai chơi cần phải luân lưu, không nên để cho một HS luôn đóng một vai nhất định
- GV không nên áp đặt, gò bó, bắt buộc hoặc chỉ định HS phải đóng vai này hay vai nọ Khi chơi cần để HS tự do bình bầu nhóm trưởng để điều khiển trò chơi
Trang 351.5.3.2 Cần phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong khi chơi
- GV cần hướng dẫn các em giải quyết những vấn đề nảy sinh trong khi chơi, tuyệt đối không làm thay HS
- Cần động viên, khích lệ những HS có sáng kiến trong khi chơi như giải quyết các tình huống có vấn đề trong khi chơi hoặc thay đổi kiểu chơi
1.5.3.3 Cần mở rộng chủ đề và làm phong phú nội dung chơi
Để đạt được điều đó, GV cần phải:
- Cho HS tiếp xúc nhiều với cuộc sống xung quanh qua các cuộc tham quan, trò chuyện với người lớn ở các ngành nghề trong xã hội
- Cho HS xem tranh ảnh, video, phim về các hoạt động của người lớn
- Kể các câu chuyện, có thể là các câu chuyện do GV tự biên soạn hoặc chuyện thật, việc thật để vốn hiểu biết và kinh nghiệm của HS càng dồi dào
1.5.3.4 Tạo các tình huống để học sinh bộc lộ cảm xúc hay thể hiện cách
cư xử đẹp
Ví dụ: Chơi trò chơi đóng vai với chủ đề “Lớp học”, một bạn trong lớp
bỗng dưng mệt, HS phải làm gì để chăm sóc bạn Những xúc cảm ấy được thể hiện trong trò chơi nhưng lại biểu hiện rất chân thực Đặt ra các vấn đề khơi gợi trí thông minh của HS trong cách giải quyết
1.5.3.5 Giúp học sinh thiết lập và điều chỉnh các mối quan hệ giữa các vai chơi
Đặc điểm riêng biệt trong TCĐVTCĐ so với những trò chơi khác là trong khi chơi HS phải thiết lập được những mối quan hệ giữa vai mình đóng với các vai khác Không thiết lập được những mối quan hệ ấy thì trò chơi cũng như không thành
Trong khi chơi không phải lúc nào những mối quan hệ giữa các HS cũng diễn ra tốt đẹp khiến cho trò chơi có thể bị tan rã hoặc gây ra những xung đột đáng tiếc Đặc biệt là khi tham gia đóng một vai nào đó, HS có thể
Trang 36sẽ tranh giành các vai chơi, hoặc không hợp tác với nhóm để thực hiện vai chơi đó Chính vì vậy cần phải luân phiên các vai cho HS đóng, GV cần có thái độ yêu thương và công bằng với tất cả các thành viên trong trò chơi khi
HS giải quyết xung đột hoặc tham gia ý kiến vào vai chơi
1.5.3.6 Cần tôn trọng lẫn nhau giữa người dẫn với HS trong khi chơi
Đã là trò chơi thì HS phải được làm chủ trong trò chơi của mình, HS phải được thực hiện sự tự nhiên, thoải mái Nếu có một sự điều khiển mang tính chất quy định nào đó thì HS sẽ cảm thấy không thoải mái, mất tự nhiên
do đó trò chơi sẽ rất nặng nề và mất hết tính chất chơi của nó
Bởi vậy, việc hướng dẫn chơi phải làm cho giữa GV và HS có một mối quan hệ thân tình, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau khiến cho HS vẫn cảm thấy
tự nhiên như chính mình chơi chứ không phải mình bị điều khiển
Kết luận chương 1
Hoạt động vui chơi đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học tập, hình thành và phát triển nhân cách của học sinh lớp 3 mà trung tâm là TCĐVTCĐ Thông qua việc đảm nhận các vai chơi, các em dần hoàn thiện mọi mặt về đời sống tâm lí, nhận biết về thế giới xung quanh một cách sâu sắc hơn, được tham gia vào các trò chơi theo chủ đề liên quan đến nội dung bài học Mỗi vai chơi của HS trong TCĐVTCĐ thể hiện một địa vị xã hội nhất định và được gắn vào những hoàn cảnh cụ thể, qua đó các em có cơ hội thể hiện vai chơi theo cách riêng của mình
TCĐVTCĐ có vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lí và nhân cách của HS Chính vì vậy, gia đình và nhà trường cần tạo điều kiện để HS được tham gia vào các hoạt động vui chơi trong quá trình học tập Đối với GVTH, trong quá trình thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập trong dạy học môn Đạo đức mà cụ thể ở đây là môn Đạo đức lớp 3 cần coi trọng việc lồng ghép các TCĐVTCĐ vào trong tiết học để góp phần nâng cao hiệu quả
Trang 37giảng dạy, kích thích HS hứng thú tham gia vào tiết học, đồng thời nâng cao tính chủ động sáng tạo của các em
GV cần tổ chức và tạo ra những hoàn cảnh chơi có vấn đề trong trò chơi để HS tự giải quyết
- GV cần để HS tự chơi, không nên vì thấy HS đóng vai chưa đạt mà làm thay HS hay điều khiển hoạt động của HS Thay vào đó, GV cần lắng nghe và giúp đỡ HS khi các em gặp khó khăn
Thông qua hoạt động vui chơi của HS, GV đưa vào đó những bài học giáo dục có tác động tích cực tới sự hình thành và phát triển tâm lí và nhân cách của trẻ
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA TRÕ CHƠI ĐÓNG VAI
THEO CHỦ ĐỀ TRONG DẠY HỌC ĐẠO ĐỨC 2.1 Giới thiệu về khảo sát
2.1.1 Mục đích khảo sát
Điều tra thực trạng việc GV tổ chức hướng dẫn cho HS chơi TCĐVTCĐ trong dạy học môn Đạo đức lớp 3 như thế nào để giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS? Đồng thời điều tra thực trạng HS chơi TCĐVTCĐ như thế nào (qua hứng thú, kĩ năng đóng vai, giao tiếp trong khi chơi, liên kết và
độ bền của các nhóm độc lập sáng tạo,…)?
2.1.2 Nội dung khảo sát
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, tôi tiến hành khảo sát:
- Thực trạng kĩ năng học hợp tác của học sinh tại trường được khảo sát
- Thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác qua TCĐVTCĐ tại trường được khảo sát
GV khi tổ chức hướng dẫn TCĐVTCĐ Đồng thời quan sát HS đóng vai và cách tổ chức hướng dẫn trò chơi của GV thể hiện như thế nào và ghi chép cụ thể lại Cùng với phương pháp đàm thoại, đàm thoại trước, trong khi chơi và kết thúc chơi xem HS có hứng thú hay không, kĩ năng đóng vai của HS như thế nào?
Trang 392.1.4 Địa bàn và khách thể khảo sát
Để khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS lớp 3 thông qua TCĐVTCĐ trong dạy học môn Đạo đức, tôi tiến hành khảo sát khối lớp 3 của trường Tiểu học Tân Dân A - huyện Sóc Sơn, Hà Nội Đó là:
* Lớp 3E: Do GV Đỗ Thị Minh Nam làm chủ nhiệm có 40 HS
* Lớp 3C: Do GV Nguyễn Thị Hạnh làm chủ nhiệm có 38 HS
* Lớp 3A: Do GV Trần Kim Hòa làm chủ nhiệm có 40 HS
2.2 Kết quả khảo sát thực trạng
2.2.1 Thực trạng kĩ năng hợp tác của học sinh lớp 3
HS đã được trang bị những kĩ năng hợp tác cơ bản, cần thiết, phù hợp Tuy nhiên, thực trạng kĩ năng hợp tác của các em lại chưa được đánh giá cao Mặc dù các em đã thực hiện các hành vi thể hiện kĩ năng hợp tác, nhưng những hành vi thực sự trở thành thói quen, thành kĩ năng thì không nhiều, phần lớn còn cần đến sự nhắc nhở
2.2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học đạo đức
2.2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về vấn đề giáo dục kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề trong dạy học Đạo đức
Gặp trực tiếp 3 GV chủ nhiệm của 3 lớp nêu trên tôi nhận thấy cả 3 GV đều có ý kiến rằng: giáo dục kĩ năng hợp tác cho HS thông qua TCĐVTCĐ trong dạy học Đạo đức là việc làm rất cần thiết trong xã hội hiện nay, nhằm giúp HS có thể thích ứng với cuộc sống không ngừng biến đổi và chủ động sáng tạo trước những thay đổi của môi trường sống Trong cuộc sống hàng ngày HS phải đối mặt với rất nhiều tình huống, có những tình huống rất đơn giản nhưng ngược lại có những tình huống lại rất phức tạp đòi hỏi các em phải có kĩ năng hợp tác với người khác để giải quyết tốt những vấn đề gặp phải trong học tập, hoạt động và trong các tình huống diễn ra thường trực Để