1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

128 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa bàn nghiên cứu Thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi và mức độ biểu hiện kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS MAI THỊ NGUYỆT NGA

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác

Người cam đoan

Nguyễn Thị Lý

Trang 4

Hồ Chí Minh Đặc biệt là những thầy cô đã tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học tại trường

Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn đến

TS Mai Thị Nguyệt Nga, người đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ tận tình, hướng dẫn nghiên cứu và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên trường Mầm non Abi Đồng Nai và một số trường mầm non khác trực thuộc Thành phố Biên Hòa đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát để hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn quí thầy cô trong hội đồng đánh giá luận văn, đã cho tôi những đóng góp quí báu để tôi hoàn thành luận văn

Tác giả

Nguyễn Thị Lý

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG HỢP TÁC CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG CÓ SẢN PHẨM 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 7

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 13

1.1.3 Khái niệm về biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm 17

1.1.4 Sự phát triển kĩ năng hợp tác ở trẻ mẫu giáo và trẻ 5-6 tuổi 20

1.1.5 Mục tiêu, nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ MG 5 - 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm 23

Tiểu kết Chương 1 30

Chương 2 THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG CÓ SẢN PHẨM TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA 32

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm tại Thành phố Biên Hòa 32

2.1.1 Vài nét về địa bàn khảo sát 32

2.1.2 Mục đích, nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu 33

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 33

Trang 6

hoạt động cùng nhau 37 2.3 Thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ MG 5 – 6 tuổi

trong hoạt động có sản phẩm tại Thành phố Biên Hòa 40

2.3.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về kĩ năng hợp tác

cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động có sản phẩm 40 2.3.2 Thực trạng các biện pháp giáo dục các kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu

giáo lớn thông qua hoạt động có sản phẩm 45 2.4 Mức độ phát triển các kĩ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm 52 2.4.1 Mức độ phát triển các kĩ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

trong hoạt động có sản phẩm 52 2.4.2 Đánh giá mức độ phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi qua quan sát và thực nghiệm 54

Tiểu kết Chương 2 59 Chương 3 THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC

KỸ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG CÓ SẢN PHẨM TẠI TRƯỜNG MẦM NON ABI ĐỒNG NAI 2 Ở THÀNH PHỐ BIÊN HÒA 61

3.1 Cơ sở để đề xuất các biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm 61 3.2 Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 –

6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm tại Thành phố Biên Hòa 62 3.2.1 Biện pháp 1: Biện pháp sử dụng mô hình “bậc thang” 62 3.2.2 Biện pháp 2: Biện pháp sử dụng phức hợp các biện pháp hình thành

kỹ năng cần cho trẻ ở môi trường giai đoạn tương tác, đồng thời giúp trẻ lĩnh hội các câu nói cần cho việc thiết lập sự hợp tác với bạn trong hoạt động cùng nhau 63

Trang 7

3.3 Tổ chức nghiên cứu thử nghiệm và các kết quả nghiên cứu 67 3.3.1 Khái quát về tổ chức thử nghiệm 67 3.3.2 Đánh giá kỹ năng hợp tác của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm

trước thử nghiệm 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 2.2 Nhận thức của giáo viên về biểu hiện của kỹ năng hợp tác 41 Bảng 2.3 Nhận thức của giáo viên về vai trò của kỹ năng hợp tác 42 Bảng 2.4 Vai trò của hoạt động có sản phẩm với việc giáo dục các kỹ năng

hợp tác cho trẻ mẫu giáo 44 Bảng 2.5 Các hoạt động được giáo viên sử dụng để giáo dục kỹ năng hợp

tác cho trẻ mẫu giáo lớn 45 Bảng 2.6 Hình thức hoạt động có sản phẩm được giáo viên sử dụng để giáo

dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo lớn 46 Bảng 2.7 Những biện pháp giáo viên sử dụng để giáo dục kỹ năng hợp tác

cho trẻ 5-6 tuổi 47 Bảng 2.8 Nguyên nhân của thực trạng 50 Bảng 2.9 Mức độ phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua

sự đánh giá của giáo viên 52 Bảng 2.10 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng đối thoại với bạn trong hoạt

động có sản phẩm 54 Bảng 2.11 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng lắng nghe bạn cùng hoạt động

(đối tác) trong các hoạt động có sản phẩm 55 Bảng 2.12 Mức độ phát triển ở trẻ các khả năng thỏa thuận với nhau trong

các hoạt động có sản phẩm 56 Bảng 2.13 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng gắn kết biểu cảm cảm xúc với

bạn trong các hoạt động có sản phẩm 57 Bảng 2.14 Thực trạng các loại giao tiếp và hợp tác của trẻ mẫu giáo lớn với

bạn trong hoạt động cùng nhau 58 Bảng 3.1 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng lắng nghe bạn trong các hoạt

động có sản phẩm 69 Bảng 3.2 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng thỏa thuân với bạn cùng hoạt

động (đối tác) trong các hoạt động có sản phẩm 69

Trang 9

Bảng 3.4 Bảng so sánh mức độ phát triển ở trẻ khả năng đối thoại với bạn

cùng hoạt động (đối tác) trong các hoạt động có sản phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm 70 Bảng 3.5 Bảng so sánh các loại hình hợp tác trong các hoạt động có sản

phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước thử nghiệm 71 Bảng 3.6 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng lắng nghe bạn trong các hoạt

động có sản phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 72 Bảng 3.7 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng thỏa thuận với bạn trong các

hoạt động có sản phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 73 Bảng 3.8 Bảng so sánh mức độ phát triển ở trẻ khả năng gắn kết cảm xúc

với bạn trong các hoạt động có sản phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 74 Bảng 3.9 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng đối thoại với bạn trong các hoạt

động có sản phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 74 Bảng 3.10 Bảng so sánh các loại hình hợp tác trong các hoạt động có sản

phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 78 Bảng 3.11 Bảng so sánh điểm trung bình các loại hình hợp tác trong các hoạt

động có sản phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 80

Trang 10

Biểu đồ 2.1 Mức độ phát triển ở trẻ khả năng đối thoại với bạn cùng hoạt

động (đối tác) trong các hoạt động có sản phẩm 55Biểu đồ 3.1 Biểu đồ so sánh mức độ phát triển ở trẻ khả năng đối thoại với

bạn trong các hoạt động có sản phẩm của nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm sau thử nghiệm 75

Trang 11

GDMN có vai trò đặc biệt trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người GDMN rất cần được quan tâm và tập trung nghiên cứu để ngày càng nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ Trong đó, kỹ năng hợp tác là một trong những kỹ năng cần thiết để giúp cho trẻ có thể quan hệ với mọi người xung quanh

và bạn bè L.X Vưgotsky cũng khẳng định: “…về mặt trí tuệ, sự hợp tác là vấn đề tranh luận chính, đó là cùng làm việc, trao đổi ý nghĩ, kiểm tra lẫn nhau”…theo quan điểm này sự hợp tác là mấu chốt trong dãy những hành vi có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển logic” Giáo dục kỹ năng hợp tác sẽ làm cho trẻ tự tin hơn, có tư duy độc lập, biết nhường nhịn và chia sẻ

Kỹ năng hợp tác là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về hợp tác để giúp đỡ nhau nhằm hoàn thành một mục đích chung Kỹ năng hợp tác có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động của con người nói chung và trẻ em nói riêng

Sự hợp tác với mọi người xung quanh sẽ giúp trẻ có cơ hội để làm việc cùng nhau, chia sẻ kinh nghiệm, hiểu biết của mình và học kinh nghiệm từ người khác, hình thành ở trẻ tình cảm yêu thương, biết chia sẻ và cùng nhau cộng tác để đi đến mục đích chung Ngoài ra, sự hợp tác với mọi người cũng là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển toàn diện nhân cách như: trí tuệ, tình cảm, ý chí, ngôn

Trang 12

ngữ, chú ý, ghi nhớ Khi tham gia vào các hoạt động chung thì các hành vi xã hội của trẻ cũng được cải thiện và thử thách

“Các hoạt động mang tính chất tập thể và đặc biệt là hoạt động vui chơi sẽ giúp cho trẻ có thể hình thành được kỹ năng hợp tác Bên cạnh đó, những hình thức hoạt động có sản phẩm như vẽ, nặn, cắt – xé, dán, lắp ghép,… đều có chung

một đặc điểm là cùng tạo ra sản phẩm” (Mai Thị Nguyệt Nga, 2006) Vì thế mà

hoạt động này luôn tạo ra cho trẻ một kết quả nhất định và từ đó hình thành nên những kỹ năng cần thiết như tự đề ra cho mình một một mục tiêu nhất định, lập kế hoạch và đạt tới mục tiêu đó Để tạo ra sản phẩm trẻ phải nắm vững các thao tác,

kỹ năng tạo hình và kỹ năng sử dụng dụng cụ, vật liệu cùng với tính tích cực độc lập, sáng tạo và đặc biệt là kỹ năng hợp tác để cùng nhau thực hiện nhiệm vụ nào

đó chẳng hạn như làm thiệp tặng mẹ nhân ngày 8/3, tức là cùng nhau tạo ra một sản phẩm nghệ thuật

“Đặc biệt, hình thức hoạt động có sản phẩm có thể cho trẻ thực hiện được trong cả ba dạng hoạt động đó là hoạt động vui chơi, hoạt động lao động và học tập” (Nguyễn Ánh Tuyết và Nguyễn Thị Như Mai, 2009) Lúc thì trẻ vẽ như là hoạt động vui chơi, lúc thì việc tạo hình được tiến hành như một hoạt động học tập đơn giản hay hoạt động tạo hình được thực hiện như một nhiệm vụ “lao động” tạo

ra cái đẹp Đây cũng là lợi thế cho việc giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

Theo Đặng Thành Hưng thì khi trẻ có kỹ năng hợp tác trẻ có thể hiểu sâu sắc, toàn diện và biết đánh giá những ý tưởng của nhiều người, dễ dàng hoà nhập vào nhiều hoạt động trong đó có hoạt động tạo ra sản phẩm, tham gia vào nhiều sự kiện khác nhau Đồng thời, trẻ sẽ có cơ hội được trải nghiệm, tìm ra nhiều giải pháp dựa trên quá trình tiếp thu kinh nghiệm của nhiều cá nhân; trẻ cũng được đánh giá từ cá nhân khác và từ nhóm khác, có thể tự kiểm định, đánh giá các năng lực và thành tựu của cá nhân (Nguyễn Thị Thanh Hà, 2006)

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, giáo dục kỹ năng hợp tác càng trở nên cần thiết giúp trẻ hòa nhập với xã hội và đạt thành công trong tương lai Việc giáo dục

kỹ năng này cho trẻ cần bắt đầu ngay từ nhỏ Ở lớp học, trẻ được sống trong thế

Trang 13

giới của mình – nơi có các mối quan hệ với các bạn, với mọi người, trẻ được học, bắt chước, thực hành kĩ năng hợp tác và có khả năng ứng dụng những gì đã học trong cuộc sống thực của mình khi chúng được hăng say vẽ, nặn, lắp ghép cùng nhau bất cứ lúc nào, ở mọi nơi: trên giấy, trên đất, trên tường,…

Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành nêu rõ nội dung phát triển kỹ năng xã hội cho trẻ 5 - 6 tuổi đó là "trẻ biết lắng nghe ý kiến của người khác, tôn trọng, chơi hòa thuận với bạn, chấp nhận, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn, " (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009) Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi của

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ biểu hiện sự hợp tác với bạn bè và những người xung quanh như lắng nghe ý kiến của người khác; Thể hiện sự thân thiện,

đoàn kết với bạn bè; Sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác, (Bộ

Giáo dục và Đào tạo, 2009) Có thể nói, giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mầm non

là một trong những nhiệm vụ mà ngành giáo dục mầm non hiện nay đã và đang hướng đến

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mầm non trong hoạt động có sản phẩm chưa thực sự được quan tâm đúng mực và giáo viên chưa có các biện pháp giáo dục phù hợp vì thế mà trẻ chưa có hứng thú cao trong hoạt động này Việc giáo dục kỹ năng hợp tác thực hiện chưa có hiệu quả, còn hình thức, khuôn mẫu, áp đặt nên thiếu đi sự mềm mại và chưa có các biện pháp giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình hợp tác dẫn tới trẻ mau chán, mất kiểm soát như tức giận, cáu gắt tranh dành nhau, không duy trì hợp tác và bỏ khỏi nhóm, Xuất phát từ những khía cạnh lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm”

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ MG 5 - 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm tại Thành phố Biên Hòa, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp giáo dục cần thiết

Trang 14

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

4 Giới hạn đề tài

4.1 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

4.2 Địa bàn nghiên cứu

Thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi và mức độ biểu hiện kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm tại một số trường mầm non Thành phố Biên Hòa

5 Giả thuyết nghiên cứu

Việc giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm tại một số trường mầm non tại Thành phố Biên Hòa còn một số hạn chế: giáo viên mầm non chưa nhận thức đầy đủ và chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục phát triển kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm; việc tổ chức các hoạt động phát triển kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi của giáo viên mầm non còn mang tính rập khuôn máy móc, áp đặt trẻ và kỹ năng xử lý tình huống hay các mâu thuẫn trong hoạt động của trẻ còn yếu

Nếu giáo viên mầm non tiến hành một cách tuần tự việc giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ thông qua hoạt động có sản phẩm, tuân theo logic của quá trình giáo dục nói chung, từ việc giúp trẻ có nhận thức về kỹ năng hợp tác đến việc giúp trẻ ứng dụng, thực hành các kỹ năng đó thì có thể khắc phục được những hạn chế của kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong hoạt động đó

Trang 15

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Xác định cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài: khái niệm và biểu hiện

kỹ năng hợp tác, sự phát triển kỹ năng hợp tác ở trẻ 5 – 6 tuổi, nội dung giáo dục kỹ năng hợp tác, các biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi

trong hoạt động có sản phẩm,

6.2 Khảo sát thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm ở một số trường mầm non tại Thành phố Biên Hòa 6.3 Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm tại trường mầm non ABI Đồng Nai

2 - Thành phố Biên Hòa

7 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với sự phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Hệ thống hoá các vấn đề lý luận từ các tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

+ Mục tiêu: Xác định những nội dung, hình thức, biện pháp giáo viên sử dụng nhằm giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ trong hoạt động có sản phẩm

+ Cách thức: Chụp hình, ghi chép

7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Tìm hiểu thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5 - 6 tuổi

(nhận thức của giáo viên về giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ; các biện pháp mà giáo viên đã thực hiện nhằm giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ trong hoạt động có sản phẩm; thực trạng kĩ năng hợp tác của trẻ)

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Thu thập thông tin bổ sung về các biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ

MG 5 - 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm (làm rõ thêm những ý kiến của giáo viên, xác định thực trạng kỹ năng hợp tác của trẻ 5 - 6 tuổi )

Trang 16

7.2.4 Phương pháp thử nghiệm

Thử nghiệm một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ MG 5 -

6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Dùng phần mềm SPSS 10.0 xử lí các số liệu nghiên cứu thu được từ bảng hỏi, phiếu điều tra,

7.4 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ

8 Những đóng góp mới của đề tài

- Hệ thống hoá cơ sở lí luận của biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ

MG 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

- Làm rõ thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

- Đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm nhằm áp dụng trong thực tiễn

Trang 17

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG

HỢP TÁC CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG CÓ SẢN PHẨM 1.1 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

Kỹ năng hợp tác là một trong những kỹ năng sống quan trọng không thể thiếu trong chương trình giáo dục, đặc biệt là đối với trẻ mầm non Kỹ năng hợp tác giúp cho con người có thể giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề xảy ra trong cuộc sống, đặc biệt là kỹ năng hợp tác trong hoạt động có sản phẩm Kỹ năng này cần được chú trọng rèn luyện ngay từ lứa tuổi mầm non Chính vì thế, việc hình thành

kỹ năng hợp tác của con người trong các hoạt động đã được rất nhiều nhà Tâm lý - Giáo dục nghiên cứu và quan tâm

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1 Nghiên cứu về dạy học hợp tác và việc hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ mầm non

a Nghiên cứu về dạy học hợp tác

“Một vai trò quan trọng trong cuộc sống của một đứa trẻ mầm non được chơi bởi một người ngang hàng Tương đối mạnh mẽ đồng cảm được hình thành ở trẻ

em, hoạt động chung phát triển Giao tiếp với một người ngang hàng là giao tiếp với chính mình, nó cho phép đứa trẻ tự biết mình” R.S Nemov lưu ý rằng ở tuổi mầm non đứa trẻ phấn đấu cho việc thực hiện cái "tôi" của mình, trong giao tiếp với người khác rộng rãi và tự nhiên sử dụng nhận dạng và cô lập Để xác nhận sự độc lập và sự táo bạo, đứa trẻ biết tách biệt rõ ràng, thể hiện mong muốn của mình Đứa trẻ có thể học cách sử dụng các biểu hiện bên ngoài của nhận dạng và cách ly, bắt đầu khai thác chúng trong giao tiếp cho các mục đích ích kỷ Tuy nhiên, những

cơ chế này chủ yếu phục vụ tương tác xã hội mở V.S Mukhina đã viết về thực tế

là giao tiếp trong một nhóm ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển tính cách của trẻ Từ phong cách giao tiếp, từ vị trí giữa các trẻ phụ thuộc vào việc đứa trẻ cảm thấy bình tĩnh, hài lòng đến mức nào rồi từ đó học được các định mức quan hệ với các trẻ khác Trong giao tiếp của trẻ em, các mối quan hệ trong nhóm ưa thích và

Trang 18

bị từ chối xuất hiện rất nhanh Giao tiếp với bạn bè là một ngôi trường khắc nghiệt

về quan hệ xã hội Đó là thông tin liên lạc với các trẻ khác trong nhóm, đòi hỏi một

sự căng thẳng cảm xúc cao Đối với niềm vui của thông tin liên lạc, đứa trẻ dành rất nhiều năng lượng vào cảm xúc liên quan đến sự thành công của nhận dạng và

sự đau khổ của sự xa lánh Sự tương tác của đứa trẻ với bạn bè không chỉ là một cơ hội tuyệt vời để tìm hiểu về thế giới xung quanh mình, mà còn là cơ hội để giao tiếp với trẻ khác ở độ tuổi của mình, cơ hội giao tiếp với cả trẻ nam và nữ Trẻ em tuổi mầm non đang tích cực quan tâm đến nhau, chúng có nhu cầu phát âm để giao tiếp với các bạn cùng lớp Trong điều kiện giáo dục mầm non đặc biệt, khi một đứa trẻ liên tục giao tiếp với những đứa trẻ khác thì xã hội trẻ em phát triển, nơi trẻ có được những kỹ năng đầu tiên về hành vi giữa những người tham gia bình đẳng trong giao tiếp Các tác giả khác nhau đã xác định các thuật ngữ "hợp tác" và

"tương tác" khác nhau Kosolapov N.A lưu ý rằng hợp tác có ý nghĩa tâm lý, còn tương tác tích cực trong đó mục tiêu và lợi ích của người tham gia trùng khớp hoặc đạt được mục tiêu của một số người tham gia chỉ có thể đảm bảo lợi ích và khát vọng của những người tham gia khác Hợp tác là một trường hợp lý tưởng của các mối quan hệ lẫn nhau, liên quan đến hỗ trợ lẫn nhau S.I Ozhegov và N Yu Shvedova chỉ ra rằng “hợp tác là làm việc, hành động cùng nhau, tham gia vào một nguyên nhân phổ biến” Theo Dyachenko “hợp tác là mức phối hợp cao nhất của các vị trí trong hoạt động, trong ngôn ngữ của khoa học tâm lý, tổ chức các quan

hệ chủ thể trong hoạt động chung”

“Bạn có một quả táo, tôi có một quả táo, chúng ta trao đổi với nhau thì bạn và tôi mỗi người có một quả táo Nhưng nếu bạn có một ý tưởng, tôi có một ý tưởng

và chúng ta trao đổi ý tưởng cho nhau, thì tôi và bạn mỗi người có hai ý tưởng” Đây là câu nói nổi tiếng của nhà soạn kịch nổi tiếng người Anh, từng đoạt giải Nobel văn học - George Bernard Shaw

Để phát triển tư tưởng của Bernard Shaw, dạy học hợp tác đã và đang là một trong những xu hướng phát triển mới có nhiều ưu điểm và hiệu quả cao của giáo dục thế kỷ XXI Dạy học hợp tác góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện,

nó không chỉ giúp cho người học nắm vững kiến thức mà còn phát triển năng lực

Trang 19

giao tiếp và khả năng hợp tác – một trong những phẩm chất cần thiết quan trọng của con người mới trong giai đoạn hiện nay

Vào giai đoạn đầu thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian khẳng định rằng

“người học sẽ có rất nhiều lợi thế nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu vào giai đoạn đầu thế kỷ thứ nhất” Cho đến thế kỷ thứ XVII, Jan Amot Komenxki (1592 - 1670) lại tin rằng “học sinh sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn

bè và học từ bạn bè của mình ” (Johnson D W & Johnson R T, 1991) Những nhận định của các nhà giáo dục tiên tiến trên thế giới đều đã nói đến lợi ích của việc học hợp tác, việc trẻ cùng học với nhau, giúp đỡ lẫn nhau và từ đó tạo ra một môi trường học tập thuận lợi giúp cho sự phát tiển toàn diện của trẻ

Reverend Bebel và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học theo nhóm nhỏ vào cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, họ chia học sinh thành từng nhóm để hoạt động Thông qua hoạt động nhóm, người học cùng nhau trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả học đáng kinh ngạc

Từ đó, các ý tưởng hợp tác được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch Họ đề cao khía cạnh xã hội của việc học tập và cũng nâng cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục học sinh một cách dân chủ Và dạy học hợp tác được áp dụng ở các nước Phương Tây

từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX

Năm 1789, Linh mục A Bel và các thầy giáo đã đưa ra hình thức dạy học tương trợ Với hình thức dạy học này, người học được chia ra thành từng nhóm hoạt động, giáo viên tạo điều kiện cho người học được cùng nhau trò chuyện, đàm thoại, hợp tác chia sẻ, giúp đỡ nhau tìm hiểu, khám phá đối tượng nhận thức nhằm hình thành và phát triển kỹ năng hợp tác cho người học đồng thời nâng cao hiệu quả dạy học

Vào đầu những năm 1900, nhà giáo dục theo xu hướng thực dụng Mỹ, được coi là người đầu tiên khởi xướng ra xu thế dạy học hợp tác chính là John Dewey Như trước đây người ta quan niệm giáo dục là quá trình truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm, hoặc một quá trình khai sáng giúp con người sử dụng có hiệu quả

Trang 20

vốn kiến thức của mình thì John Dewey lại có một quan niệm khác khá độc đáo:

“Giáo dục là chính bản thân cuộc sống của mỗi người (Education is life itself)” Ông luôn khẳng định vai trò của giáo dục và coi giáo dục như là một phương tiện để dạy cho con người cách sống hợp tác trong một xã hội dân chủ

Còn về J Dewey, ông cho rằng muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì người học phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học với nhau (Johnson D W

& Johnson R, 1999)

Sau khi Elliot aronson (người Mỹ) nhận thấy rằng kết quả cạnh tranh khiến cho một người thành công trên thất bại của người khác và đương nhiên điều đó sẽ làm giảm hiệu quả làm việc Từ đó, với mô hình lớp học ghép hình Jigsaw đầu tiên vào năm 1978 đã có những đóng góp lớn trong việc hoàn thiện các hình thức dạy học hợp tác Nhiều công trình nghiên cứu của ông cho thấy rằng, thành tích cá nhân cũng như tập thể luôn cao hơn khi mọi người hợp tác với nhau thay vì ganh đua Mặt khác, môi trường cạnh tranh chú trọng vào việc thúc đẩy người ta làm việc xuất sắc hơn người khác, chứ không phải là cùng nhau làm việc tốt

Nguyên nhân khiến cho hợp tác luôn đem lại kết quả cao hơn so với cạnh tranh là vì tư tưởng cạnh tranh là ý kiến của Alfie Koln (chỉ có được hoặc mất) sẽ làm cho người ta căng thẳng và lo lắng hơn trong cuộc đua còn trong môi trường hợp tác, mọi người đều muốn làm việc và giúp đỡ lẫn nhau để cùng đạt được mục đích

Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về giáo dục hợp tác từ những năm 1981 – 1989 Điển hình như D W Johnson, Roger T Johnson và các cộng sự của mình đã nhận thấy rằng giáo dục trong sự hợp tác từ tiểu học đến trung học phổ thông có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn trong các hình thức giáo dục khác như từ tiểu học đến phổ thong trung học Cho đến năm 1996, lần đầu tiên phương pháp dạy học hợp tác được đưa vào chương trình học chính thức hằng năm của một số trường đại học tiêu biểu ở Mỹ

Trang 21

Năm 1975-1991 hai tác giả D Johnson và R Johnson đã cho xuất bản cuốn

“Học cùng nhau và học độc lập” Đó là khởi đầu các công trình nghiên cứu của mình về học hợp tác, các tác giả đã chỉ ra và phân tích những yếu tố cơ bản của học hợp tác bao gồm: sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác đối mặt, sự có trách nhiệm cá nhân, sự lĩnh hội và sử dụng các kỹ năng nhóm nhỏ và liên cá nhân, sự nhận xét nhóm Hơn thế nữa, các tác giả cũng phân tích được vai trò và mối quan

hệ trong ba mô hình học tập: hợp tác, tranh đua và cá nhân (Merton Deutsch, 1990) Họ cho rằng: “sự hợp tác của trẻ chỉ được hình thành bằng cách tổ chức nhóm Sự hợp tác phụ thuộc vào sự tích cực tham gia của các thành viên trong nhóm Mỗi người chỉ có thể thành công khi mọi người trong nhóm cùng thành công”

Vào những năm 1990, J Cooper và nhiều tác giả khác cũng cho rằng: “học tập hợp tác là một chiến lược học tập có cấu trúc, có chỉ dẫn một cách hệ thống, được thực hiện cùng nhau trong các nhóm nhỏ, nhằm đạt được nhiệm vụ chung” Học tập hợp tác là những hoạt động học tập mà học sinh thực hiện cùng nhau trong các nhóm, trong hoặc ngoài phạm vi lớp học Năm 1988, D W.Johnson, Roger T.Johnson & Holubec thấy rằng có 5 đặc điểm quan trọng nhất mà mỗi giờ học hợp tác phải đảm bảo được đó là: Sự phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân; sự tác động tương hỗ; các năng lực xã hội; đánh giá trong các nhóm; đánh giá trong các nhóm David W.Johnson và Roger T.Johnson thuộc trường đại học Minnesota, Robert Slavin thuộc viện Johns Hopkins cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát triển giáo dục hợp tác thành một trong những phương pháp dạy học hiện đại nhất hiện nay trong những năm gần đây

b Nghiên cứu về hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ mầm non

Trường phái Tâm lý học Xô Viết, đi đầu là các nhà Tâm lý học như: L.X Vưgotxky, D.B Enconhin, A.N Leonchep… Vào những năm 30 của thế kỷ XX, các nhà Tâm lý học này đã đưa ra một cách nhìn mới về bản chất xã hội về trò chơi trẻ em và bắt đầu đề cập đến tính hợp tác trong trò chơi

Trang 22

Theo L.X Vưgotxky, ông cho rằng: “mâu thuẫn và sự giải quyết mâu thuẫn là những đặc điểm quan trọng của sự phát triển” Xuất phát từ quan điểm này, ông đã nhấn mạnh sự cần thiết của sự thỏa thuận và hợp tác với bạn bè trong trò chơi Ông cho rằng chính sự hợp tác này đã “đẩy” sự hiểu biết và nhận biết của trẻ vượt ra ngoài phạm vi chức năng phát triển bình thường (L.X Vưgotxky, 1997)

“Tâm lý học trò chơi” là quyển sách của tập thể các nhà Tâm lý - Giáo dục

Xô viết, đã được tác giả D.B Enconhin tổng hợp các thành tựu cơ bản nghiên cứu

về trò chơi Trong trò chơi - thực hành việc phối hợp các hoạt động chơi mang tính tập thể… dần hình thành tính hợp tác với bạn bè trong khi chơi và cùng nhau phối hợp để tạo ra các sản phẩm chung

Tác giả Anna Lyublinskaja đã khẳng định trong quyển “Tâm lý học trẻ em” rằng

“Trong dạng thức phát triển nhất của nó, chơi là một hoạt động tập thể, những trẻ tham gia trò chơi gắn bó với nhau trong quan hệ hợp tác” Tức là cùng nhau chơi, cùng nhau làm, cùng nhau tạo ra sản phẩm (Anna Lyulinskaja, 1977)

Như vậy, nghiên cứu về việc hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ là cần thiết trong mọi giai đoạn lịch sử phát triển của sự nghiệp giáo dục mầm non

1.1.1.2 Những nghiên cứu về hoạt động có sản phẩm và vai trò của nó đối với việc hình thành kỹ năng hợp tác

Sự hợp tác được đặc trưng bởi hoạt động phối hợp với bạn hay nhóm bạn cùng tương tác, giúp đỡ lẫn nhau, thúc đẩy đạt được các mục tiêu của mỗi người

và các mục tiêu chung của hoạt động cùng nhau Trong sự hợp tác xuất hiện cơ sở nội dung chung của sự tương tác, sự thống nhất về cảm xúc của các thành viên, thực hiện việc trao đổi các ý tưởng, các ý nghĩ, các quan điểm, thông tin, cho phép liên kết, phối hợp các nỗ lực chung cho việc đạt mục tiêu (Ti babaeva & L.S.Rimashevskaya, 2012)

Các hành động phối hợp cùng nhau đã được cân nhắc nhằm giải quyết các nhiệm vụ khác nhau, có sự hiểu biết lẫn nhau và cùng trải nghiệm về kết quả của hoạt động cùng nhau Sự phối hợp và sự bàn bạc của các thành viên tương tác được thực hiện từ lúc tiếp nhận mục tiêu của hoạt động cùng nhau và kết thúc ở giai đoạn đạt được mục tiêu đó

Trang 23

Đơn vị của sự tương tác phát triển có thể là tình huống dạy học có vấn đề được trẻ giải quyết trong sự hợp tác với giáo viên Ở đây, vị trí của giáo viên thay đổi từ tác động tích cực và là người cộng sự sang vai trò của người tư vấn và người quan sát với sự quan tâm

Kosolapov N.A đã chỉ ra rằng, theo nghĩa tâm lí học, sự hợp tác là sự tương tác tích cực, trong đó, các mục tiêu và các lợi ích của các thành viên là tương đồng với nhau hoặc việc đạt được các mục tiêu của các thành viên này chỉ có thể thực hiện được thông qua việc đảm bảo các lợi ích và các mong muốn của các thành viên khác Sự hợp tác là mối quan hệ qua lại lí tưởng đòi hỏi sự giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau

S.I Ozhegov và N Yu Shvedova đã chỉ ra rằng “hợp tác là làm việc, hành động cùng nhau, cùng tham gia vào công việc chung” Theo Dyachenko “sự hợp tác là mức độ gắn kết cao nhất các vị trí trong hoạt động, đó là mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động cùng nhau” (S.I Ozhegov và N Yu Shvedova, 2014)

1.1.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về kỹ năng hợp tác ở Việt Nam

Một số nhà Tâm lý - Giáo dục học đã dựa trên cơ sở nghiên cứu, phân tích lý luận và thực tiễn Việt nam để đề cập đến sự hợp tác của trẻ như sau:

Tác giả của cuốn sách “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non” là Phan Trọng

Ngọ và Đinh Thị Tứ (Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần Thị Sinh, 2006)

cũng đề cập đến vấn đề các mặt ảnh hưởng của bạn đến sự phát triển của trẻ: “Vai trò của bạn cùng tuổi với trẻ, sự tương tác với bạn ngang hàng phát triển ở trẻ em các mô hình kỹ năng xã hội cơ bản, phát triển các ứng xử với bạn …” Điều này có thể hiểu rằng bạn bè cùng tuổi là những tác nhân củng cố hành vi xã hội được lặp lại ở trẻ em Bạn bè ngang hàng là chuẩn để trẻ so sánh hành vi xã hội của mình,

và là tấm gương phản chiếu và điều chỉnh hành vi của trẻ em Sự tương tác của trẻ diễn ra trong các hành động chơi có tính hợp tác…Vì khi xuất hiện các trò chơi cần có sự hợp tác với nhau thì trẻ mới thật sự có tiêu chuẩn về bạn và sự kết bạn, trẻ mong đợi những gì mà bạn có thể mang đến cho trẻ như: Sự chia sẻ cảm xúc

với nhau, sẵn sàng lắng nghe và đáp ứng yêu cầu của bạn theo cách tích cực

Trang 24

Nguyễn Ánh Tuyết là tác giả được biết đến nhiều với các quyển “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non”, “Tâm lý học trẻ em - tập 2”, “Giáo dục trẻ trong nhóm bạn bè”, “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non (Từ lọt lòng cho đến 6 tuổi)”, NXB đại học sư phạm 1997, cũng đã đề cập đến việc hình thành kỹ năng hợp tác qua hoạt động nhóm Tác giả nhấn mạnh vai trò của nhóm bạn bè, trẻ không thể chơi một mình mà phải chơi theo nhóm và có nhiều thành viên trong nhóm chơi với nhau, tức là chơi với bạn Chính đặc điểm này thúc đẩy, phát triển sự hợp tác của

trẻ (Nguyễn Ánh Tuyết, 2009)

Tác giả Liêm Trinh với quyển sách “Rèn luyện nhân cách cho trẻ” cho rằng:

“cần rèn luyện tính hợp tác của trẻ qua việc bày tỏ sự quan tâm, chia sẻ với người khác những gì mình có và tôn trọng ý kiến của người khác, hoàn thành tốt nhiệm

vụ được giao” (Liêm Trinh, 2007)

Đào Thanh Âm đã nêu trong cuốn “Giáo dục học mầm non” rằng: “Mỗi đứa trẻ là một cá thể và được lớn lên trong mối quan hệ xã hội Vì thế quá trình giáo dục trẻ em ở nhà trẻ - mẫu giáo cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa cá nhân

và nhóm, giữa giáo dục chung với giáo dục riêng từng trẻ trong nhóm bạn bè” (Đào Thanh Âm và Trịnh Dân, Đinh Văn Vang, 2006)

Lê Minh Thuận cũng đã đề cập đến tính hợp tác với bạn bè của trẻ mẫu giáo qua các trò chơi, tác giả đã xây dựng cách hướng dẫn trò chơi phân vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo theo các giai đoạn, lứa tuổi với mục đích phát triển nhân cách trẻ (Lê Minh Thuận, 1989)

Tác giả Hồ Thị Ngọc Trân khẳng định rằng “nhờ sự hợp tác trong hoạt động vui chơi mà dần dần trẻ học được cách thiết lập mối quan hệ đúng đắn trong xã hội” (Hồ Thị Ngọc Trân, 2001)

Còn tác giả Vũ Thị Nhâm đã chỉ ra được một số biện pháp phát triển kỹ năng hợp tác cho trẻ MG 5-6 tuổi như khuyến khích trẻ chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơi cùng nhau, tạo không gian chơi và bố trí nguyên vật liệu thiên nhiên, nguyên vật liệu phế thải trong các góc chơi như xây dựng, lắp ghép, nặn,… để kích thích trẻ tích cực hợp tác với nhau (Vũ Thị Nhâm, 2009)

Trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”, tích cực hợp tác là một trong những

Trang 25

nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực tình cảm - quan hệ xã hội cần rèn cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi để chuẩn bị vào lớp một “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” cũng đưa ra các chỉ số thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanh như: lắng nghe

ý kiến của mình với người khác, trao đổi ý kiến với người khác, thể hiện sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn và người lớn, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác (Bộ Giáo dục và Đào tạo UNICEF, 2009)

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các tác giả nêu trên đã đề cập đến sự cần thiết của việc giáo dục kỹ năng hợp tác nhằm góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách trẻ…Tuy nhiên việc đưa ra một số biện pháp nhằm phát triển

kỹ năng hợp tác cho trẻ MG 5-6 tuổi trong các hoạt động nói chung và hoạt động

có sản phẩm nói riêng vẫn còn là khoảng trống ít ai quan tâm

1.1.2.2 Những nghiên cứu về hoạt động có sản phẩm tại Việt Nam và vai trò của nó đối với việc hình thành kỹ năng hợp tác

Ở Việt Nam, trên cơ sở nghiên cứu, phân tích lý luận và thực tiễn Việt Nam, một số nhà Tâm lý - Giáo dục học đã đề cập đến sự hợp tác của trẻ qua hoạt động

có sản phẩm

Huỳnh Văn sơn đã đề cập đến việc hình thành kỹ năng hợp tác qua các hoạt động có sản phẩm như vẽ, nặn, Cắt – xé – dán – Lắp ghép Ông nhấn mạnh rằng việc áp dụng cả 3 hoạt động cá nhân, nhóm và tập thể vào trong hoạt động có sản phẩm đặc trưng của trẻ mầm non sẽ giúp trẻ hình thành những kiến thức, kỹ năng nhất định, các hoạt động lẫn nhau giữa các đứa trẻ nhằm hình thành mối quan hệ giữa người với người, đặc biệt khi trẻ cùng tranh luận sẽ phát huy tính sáng tạo và hiểu nhau hơn (Huỳnh Văn Sơn, 2014)

Lê Thị Thanh Bình cũng đã đưa ra được những ý nghĩa của hoạt động tạo hình đối với sự phát triển của trẻ mầm non “Hoạt động tạo hình tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển tính cộng đồng, giúp trẻ mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, có hành vi ứng xử đúng đắn với mọi người Trong hoạt động tập thể, trẻ học được cách phối hợp với các bạn, biết phân công công việc, biết chú ý lắng nghe, biết chia sẻ và thống nhất ý kiến với các bạn, qua đó, những thái độ, hành vi, cách

Trang 26

cư xử không đúng sẽ được uốn nắn” (Lê Thị Thanh Bình, 2010)

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong quyển “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non từ lọt long đến 6 tuổi” đã chỉ ra rằng trong những hoạt động có sản phẩm trẻ mẫu giáo đã biết thực hiện những hành động nhằm tạo ra một kết quả nhất định Trong hoạt động đó, ở trẻ hình thành nên những kỹ năng cần thiết như tự đề ra cho mình một mục tiêu nhất định và lập kế hoạch để đạt tới mục tiêu đó Nếu công việc của mỗi đứa trẻ được coi là một bộ phận công việc của cả nhóm và kết quả được đánh giá trên cơ sở của toàn nhóm, chất lượng công việc của mỗi đứa trẻ có ý nghĩa quyết định đối với công việc của toàn nhóm, thì điều đó sẽ tạo ra ở đứa trẻ một ý thức hợp tác, tinh thần trach nhiệm và sự quan tâm tới công việc chung (Nguyễn Ánh Tuyết, 2016)

Tác giả Mai Thị Nguyệt Nga cũng đã nhấn mạnh rằng “hoạt động lao động được tiến hành nhằm tạo ra những sản phẩm có ích cho xã hội Để thực hiện được hoạt động lao động nào đó cần có kỹ năng phối hợp hành động với người khác, cùng nhau lập kế hoạch và tạo ra một sản phẩm nhất định” Khi đó, trẻ hiểu được

sự cần thiết của ý nghĩa xã hội, tính tập thể và từ đó hình thành ở trẻ những hình thức phân công, phối hợp hành động đầu tiên Đặc biệt khi trẻ chế tạo các đồ vật đơn giản bằng giấy, bìa gỗ, vải, các vật liệu từ thiên nhiên, … Đặc trưng của loại hình lao động này là có tạo ra sản phẩm Để hoàn thành công việc này, trẻ phải xây dựng ý tưởng, thể hiện nó và thu được sản phẩm mới Lúc này, động cơ trò chơi và

xã hội thúc đẩy đứa trẻ hoàn thành nhiệm vụ (Mai Thị Nguyệt Nga, 2007)

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các tác giả nêu trên đã đề cập đến ý nghĩa quan trọng của việc giáo dục phát triển kỹ năng hợp tác nhằm góp phần hình thành và hoàn thiện nhân cách trẻ Các tác giả cũng đã nhấn mạnh vai trò của các hoạt động có sản phẩm đối với việc phát triển kỹ năng hợp tác của trẻ nói chung và hoạt động có sản phẩm nói riêng Tuy nhiên việc đưa ra một số biện pháp nhằm phát triển kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong các hoạt động có sản phẩm vẫn còn là khoảng trống ít được nghiên cứu

Trang 27

1.1.3 Khái niệm về biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

1.1.3.1 Khái niệm về kỹ năng hợp tác và biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ 5-6 tuổi tuổi trong hoạt động có sản phẩm

a Khái niệm và các yếu tố của “Kĩ năng hợp tác”

Theo dân gian hợp tác có nghĩa là cùng làm những việc chung

Từ điển Tiếng Việt có nêu: “hợp tác là chung sức, giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm đạt mục đích chung”

Theo Từ điển Tâm lý học định nghĩa: “hợp tác là hai hoặc nhiều hơn hai bộ phận trong một nhóm làm việc cùng nhau theo một cách thức sao cho cùng nhau tạo ra một kết quả chung” (Vũ Dũng, 2000)

C Mác định nghĩa: “hình thức lao động của nhiều người làm việc bên nhau

và với nhau trong cùng một quá trình sản xuất hay trong các quá trình sản xuất khác nhau, nhưng liền với nhau theo kế hoạch gọi là hợp tác” (Nguyễn Xuân Thức, 1997)

Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, việc tiếp thu khái niệm “Hợp tác” của kinh tế học đã dẫn đến “tương tác xã hội” trong Tâm lý học Nghĩa là: sự tác động qua lại ít nhất là của hai cá nhân trong một hoạt động bất kỳ nào đó thuộc một hoạt động trong cuộc sống diễn ra theo một hệ quy chiếu không gian, thời gian chung (Kiêgop X.I, 1973)

Như vậy có thể hiểu: “Hợp tác là quá trình tương tác xã hội trong đó con người chung sức, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong một công viêc, một lĩnh vực nào

đó nhằm đạt được mục đích chung”

Như vậy, “Kỹ năng hợp tác” được hiểu như sau:

“Kỹ năng hợp tác là khả năng tương tác cùng thực hiện có hiệu quả một hành động, một công việc nào đó của con người dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm đã có trong điều kiện nhất định”

Trong kĩ năng hợp tác phải chứa đựng các yếu tố đảm bảo sự hợp tác có hiệu quả sau đây:

Quan hệ phụ thuộc tích cực: Kết quả hoạt động của cả nhóm chỉ có được khi

Trang 28

có sự phối hợp làm việc, chia sẻ của tất cả các thành viên trong nhóm

Trách nhiệm cá nhân: Mỗi cá nhân đều được phân công trách nhiệm thực

hiện một phần của công việc và tích cực làm việc để đóng góp vào kết quả chung

Khuyến khích sự tương tác: Trong quá trình hợp tác cần có sự trao đổi, chia

sẻ giữa các thành viên trong nhóm để thống nhất ý kiến chung của nhóm

Rèn luyện các kỹ năng xã hội: Tất cả các thành viên đều có cơ hội để rèn kĩ

năng như: lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, đưa thông tin phản

hồi tích cực, thuyết phục, ra quyết định…

Kĩ năng đánh giá: Cả nhóm thường xuyên rà soát công việc đang làm “Chúng

ta đang làm như thế nào?” và kết quả ra sao Có thể đưa ra ý kiến nhận định đúng hoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để góp phần hoàn thiện các hoạt động và kết quả của nhóm

b Khái niệm về biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

Theo “Từ điển Tiếng Việt” do tác giả Hoàng Phê - Viện khoa học xã hội nhân văn (1992) thì: “Biện pháp là cách làm, cách thức giải quyết một vấn đề cụ thể” (Kiêgop X.I, 1973)

Trong từ điển Giáo dục học cho rằng: “biện pháp giáo dục là cách tác động có định hướng, có chủ đích, phù hợp với tâm lý đến đối tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng” (Hoàng Phê, 1994)

Trong biện pháp có hàm chứa các yếu tố nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức Những yếu tố này tác động qua lại với nhau Như vậy, biện pháp

là một phạm trù mang tính biện chứng nhưng không phải bất biến mà nó có sự thay đổi phù hợp với tình huống, hoàn cảnh và nhu cầu thực tiễn Việc xác định đúng biện pháp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết công việc, đạt được mục đích

đề ra

Vậy trong đề tài này, tôi hiểu về biện pháp như sau:“Biện pháp là cách làm, cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó hướng tới giải quyết nhiệm vụ từng phần, riêng lẻ; là cách tác động có định hướng, có chủ đích,

Trang 29

phù hợp với tâm lý đến đối tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng Trong một số trường hợp, biện pháp cũng có thể giải quyết được các nhiệm vụ khác nhau như một phương pháp”

Riêng về biện pháp giáo dục mầm non thì tác giả Nguyễn Thị Hòa định nghĩa:

“Biện pháp giáo dục mầm non là cách làm cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa cô và trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra ở lứa tuổi mầm non” (Nguyễn Thị Hòa, 2009)

Dựa vào cách hiểu trên, tôi xác định khái niệm “Biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm” trong phạm vi đề tài như sau:

“Biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm là cách thức tổ chức của giáo viên mầm non nhằm giúp trẻ nhận biết, có kỹ năng làm việc chung và kỹ năng hợp tác cùng nhau tạo ra sản phẩm chung trong các hoạt động có sản phẩm, hiệu quả hơn đến việc tạo ra các sản phẩm chung cũng như đồng thời giúp trẻ phát triển một cách toàn diện”

1.1.3.2 Hoạt động có sản phẩm của trẻ 5-6 tuổi

Hoạt động có sản phẩm bao gồm các hoạt động như vẽ, nặn, xây dựng, lắp ghép, gấp, cắt, dán Các hoạt động này đều cùng chung một đặc điểm là cùng tạo ra sản phẩm Cũng giống như trò chơi, các hoạt động này cũng mang tính mô hình hóa Trong trò chơi, trẻ xây dựng mô hình của các mối quan hệ giữa người lớn với nhau Hoạt động có sản phẩm mô hình hóa các đồ vật và tạo ra được sản phẩm, trong đó, biểu tượng về các sự vật và hiện tượng được thể hiện trong các bức vẽ, các công trình xây dựng và trong các hình khối

Hoạt động tạo hình có ý nghĩa đặc biệt trong việc làm phát triển ở trẻ khả năng tri giác và tư duy Trong đó, hoạt động vẽ có tác dụng giúp trẻ nhận thức các thuộc tính bên ngoài của đối tượng Chẳng hạn, hoạt động vẽ cho phép trẻ thể hiện màu sắc và hình dạng của đối tượng ở trên mặt phẳng, nặn cho phép thể hiện hình khối của đối tượng, nhưng không cho phép thể hiện màu của nó, còn xây dựng thì cho phép truyền đạt các mối tương quan giữa các bộ phận của đối tượng Nói cách

Trang 30

khác, hoạt động có sản phẩm giúp trẻ lĩnh hội các chuẩn cảm giác như màu sắc, hình dạng, các biểu tượng về độ lớn

Trong suốt độ tuổi mẫu giáo, ở trẻ phát triển khả năng đưa ra các thay đổi vào các phương thức xây dựng để đáp ứng các yêu cầu của tình huống Các biểu hiện của sự sáng tạo trong hoạt động xây dựng của trẻ mẫu giáo lớn là tính mới mẻ của các phương thức xây dựng, tính mới mẻ của chính bản thân đối tượng và tính mới

mẻ của các biện pháp tạo ra sự vững chắc cho công trình xây dựng Trẻ mẫu giáo rất thích hoạt động vẽ cũng như hoạt động xây dựng Trẻ có thể say mê xây dựng các công trình kiến trúc khác nhau với các ý tượng phong phú hàng buổi mà không biết chán Thông qua các hoạt động này, trí tưởng tượng của trẻ được thỏa chí bay bổng và trẻ không ngừng sáng tạo ra các sản phẩm độc đáo

Ngoài ra, hoạt động lao động cũng được tiến hành nhằm tạo ra các sản phẩm

có ích cho xã hội Thông qua việc quan sát, kể chuyện, xem tranh, bước đầu trẻ được làm quen với lao động sản xuất Trong trò chơi, khi tái tạo lại các hành động lao động và các mối quan hệ người lớn với nhau, trẻ hiểu được sự cần thiết của lao động, ý nghĩa xã hội, tính tập thể của nó và hình thành ở trẻ những hình thức phân công, phối hợp hành động đầu tiên Từ việc thực hiện các nhiệm vụ lao động như tự phục vụ, trực nhật, chăm sóc cây và các con vật nuôi, chế tạo các đồ vật từ vật liệu

mở và thiên nhiên, trẻ hiểu được tính chất bắt buộc phải thực hiện của công việc lao động và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ đó Khi đó, trẻ bắt đầu biết lập kế hoạch hành động với bạn cùng nhóm để thực hiện được giao một nhiệm vụ lao động được giao

1.1.4 Sự phát triển kĩ năng hợp tác ở trẻ mẫu giáo và trẻ 5-6 tuổi

Khoa học phát triển đã chỉ ra rằng, những năm đầu đời là thời kỳ vàng cho sự phát triển của mỗi con người Từ 0 – 5 tuổi là giai đoạn đặt nền móng cho sự phát triển của trẻ Sự phát triển ấy phụ thuộc hoạt động chủ đạo của trẻ Thông qua các hoạt động hàng ngày sẽ giúp trẻ dần hình thành kỹ năng hợp tác trong quá trình tham gia vào hoạt động

Vào độ tuổi mẫu giáo có nhiều hình thức hoạt động phong phú đã xuất hiện như: vui chơi, học tập, lao động…Các hoạt động ấy sẽ dần hình thành khả năng hợp

Trang 31

tác cho trẻ Trong đó vui chơi đóng vai trò trung tâm, vì mới chuyển sang vị trí chủ đạo nên hoạt động vui chơi chưa đạt tới dạng chính thức mà chỉ ở dạng sơ khai Do vốn kinh nghiệm của trẻ quá ít ỏi nên việc mô phỏng lại đời sống xã hội của người lớn rất bị hạn chế Chủ đề và nội dung chơi của trẻ mẫu giáo bé còn nghèo nàn

Ở giai đoạn đầu của tuổi mẫu giáo nhỡ trẻ chưa quen phối hợp hoạt động với nhau Trẻ còn bị chi phối bởi hoạt động chủ đạo của trẻ ấu nhi, nên việc chơi của trẻ nhiều khi vẫn còn mang tính chất của việc chơi một mình Trẻ chỉ biết cùng chơi với các bạn trong các trò chơi theo từng nhóm nhỏ Trong học tập và lao động, trẻ cũng chưa thể hiện được sự hợp tác Bởi tuổi này chỉ làm theo sự bắt chước, trẻ chưa có ý thức trách nhiệm trong hoạt động, khả năng tập trung chú ý còn hạn chế, chưa hiểu và thực hiện nhiệm vụ được giao Còn lơ là trong mọi hoạt động

Được chơi và hoạt động thường xuyên, sang độ tuổi mẫu giáo lớn, trẻ bắt đầu xuất hiện dấu hiệu chơi cùng nhau, chơi cạnh nhau, thường hay khoe đồ chơi với nhau, lúc này trẻ bắt đầu muốn chia sẻ cùng bạn khi chơi Ở lứa tuổi này, môi trường tiếp xúc được mở rộng hơn, trẻ đã có vốn kinh nghiệm nhất định trong cuộc sống, biết lắng ghe, hiểu và thực hiện theo yêu cầu Trẻ có nhu cầu cao trong việc chơi và hoạt động cùng nhau trong nhóm bạn bè Mặc dù có nhu cầu chơi cùng bạn nhưng biểu hiện hợp tác của trẻ lúc ban đầu còn rất mờ nhạt, chẳng hạn trong lúc tham gia hoạt động trẻ chỉ biết thực hiện nhiệm vụ của mình, chưa quan tâm đến bạn cùng chơi, công việc thực hiện trong nhóm còn rời rạc, chưa biết phối hợp một cách nhịp nhàng Nguyên nhân là do bước đầu trẻ chưa quen với kỹ năng hợp tác trong công việc cũng như trong vai chơi, mặt khác trẻ tham gia là nhằm thỏa mãn nhu cầu chơi và làm việc của trẻ chứ trẻ chưa xác định được nhiệm vụ của mình Được tham gia chơi và hoạt động cùng nhau, dần dần trẻ mẫu giáo lớn bắt đầu đã biết thiết lập mối quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn cùng chơi Một

“xã hội trẻ em” được hình thành nhờ kinh nghiệm sống và kỹ năng chơi thành thạo, nên việc chơi với nhau trong nhóm bạn bè đã trở thành nhu cầu Khi chơi trẻ biết chọn bạn để chơi, lựa chọn chủ đề chơi, biết phối hợp cùng nhau trong công việc như: Chuẩn bị đồ chơi, cùng lựa chọn đồ chơi, cùng bàn bạc, thảo luận, đưa ra

Trang 32

ý tưởng và cùng chia sẻ, biết phân công vai chơi – nhận vai và thực hiện nhiệm vụ của mình Một trò chơi của trẻ mẫu giáo lớn thường có nhiều vai chơi hơn trẻ mẫu giáo nhỡ và bé Ví dụ cùng một chủ đề chơi “bệnh viện”, nhiều khi chỉ cần cái ống nghe để trẻ mẫu giáo nhỡ áp vào ngực con búp bê là đủ Nhưng đối với trẻ mẫu giáo lớn thì cần phải thêm nhiều nhân vật khác nữa: người mẹ đưa con đi khám bệnh, thậm chí còn thêm cả bác xích lô chở bệnh nhân hay các bác sĩ giúp nhau chữa bệnh cho bệnh nhân Ở bệnh viện không chỉ có bác sĩ mà có cả y tá nhận bệnh nhân thêm cả cô cấp dưỡng…Như vậy các quan hệ trong trò chơi của trẻ mẫu giáo lớn ở giai đoạn này được mở rộng hơn nhiều so với trẻ mẫu giáo nhỡ Trẻ còn biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau làm cho các mối quan hệ thêm phong phú hơn Không chỉ trong hoạt động vui chơi không mà trẻ mẫu giáo lớn còn có quan hệ, hợp tác tốt trong hoạt động lao động như: Cùng nhau chăm sóc vườn rau, trẻ biết phân công, công việc trong nhóm như: Chuẩn bị dụng cụ lao động, nhổ cỏ, tưới rau, bắt sâu,… biết quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình lao động và cùng nhau làm việc một cách vui vẻ và thích thú cùng có trách nhiệm chung với công việc của nhóm Trẻ còn tự đánh giá nhận xét được công việc cũng như kết quả của nhóm (Nguyễn Ánh Tuyết, 2006)

Trong hoạt động có sản phẩm, trẻ mẫu giáo lớn đã biết thực hiện những hành động nhằm tạo ra một kết quả nhất định Trong hoạt động đó sẽ hình thành nên những kỹ năng cần thiết và đặc biệt là kỹ năng hợp tác Trong hoạt động tạo hình, trẻ mẫu giáo lớn không đơn thuần giải quyết nhiệm vụ cá nhân như hoàn thành một sản phẩm theo một chủ đề nào đó nữa Mà trẻ phải thực hiện được nhiệm vụ đã đề ra nhờ vào việc hợp tác với các trẻ khác trong nhóm Trẻ bắt đầu hình thành mối quan hệ giữa các thành viên, xác định nhiệm vụ cũng như xây dựng

kế hoạch để giải quyết nhiệm vụ như ai sẽ là người chịu trách nhiệm phần vẽ, ai sẽ

là người xé dán phần đầu – thân của cái cây,… Khi các khó khăn nảy sinh trong quá trình thực hiện, trẻ biết cách chi phối và giúp đỡ lẫn nhau để cùng nhau hoàn thành một sản phẩm chung Trẻ có thể điều khiển, điều chỉnh lại hoạt động của các thành viên sau đó cùng nhau kiểm tra, đánh giá kết quả Trẻ hài lòng, vui vẻ với sản phẩm mà cả nhóm đã cùng nhau thực hiện mặc dù có những lỗi khiến cho sản

Trang 33

phẩm không được hoàn hảo như mục đích ban đầu

Ngoài ra, trong hoạt động lao động, trẻ cũng hình thành được tính hợp tác trong việc thực hiện các nhiệm vụ từ đơn giản đến phức tạp, từ đó hình thành ở trẻ

kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá công việc của mình cũng như các thành viên trong nhóm Khi trẻ cùng tham gia thực hiện một nhiệm vụ lao động đòi hỏi ở trẻ có một

ý thức hợp tác, tinh thần trách nhiệm và sự quan tâm đến công việc chung Tuy nhiên, do đặc điểm phát triển về thể chất và tâm lý nên thường những nhiệm vụ lao động của trẻ mẫu giáo lớn được tổ chức vẫn còn gắn liền với trò chơi Khi đánh giá

về công việc của bạn, trẻ thường chú ý đến chất lượng hoàn thành công việc của bạn, điều này thể hiện sự khách quan Trẻ mẫu giáo lớn hình dung rõ ràng và đầy

đủ các nghĩa vụ lao động của mình, trình tự và phương thức hoàn thành các nhiệm

vụ đó Trẻ hiểu rõ được lợi ích xã hội của lao động của mình và hiểu trách nhiệm của bản thân về công việc mà mình đã hoàn thành và thể hiện sự sẵn sàng hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào mà không phụ thuộc vào tính hấp dẫn của nhiệm vụ đó Trong đa số các trường hợp, trẻ có đánh giá đúng về công việc của bạn và ít khi khen mình Ngược lại, trẻ thường thể hiện sự khiêm tốn khi đánh giá hoạt động của bản thân

Để thực hiện hoạt động lao động nào đó, trẻ mẫu giáo lớn đã có những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo và những phẩm chất tâm lý nhất định như trẻ hiểu ý nghĩa xã hội của lao động, có nguyện vọng thực hiện các hành động mang lại kết quả có ích cho người khác; có kĩ năng phối hợp hành động với người khác, cùng nhau tạo ra một sản phẩm nhất định; có tư duy phát triển để có thể lập kế hoạch hành động, dự kiến trước kết quả hành động; biết khắc phục khó khăn, do vậy mà có ý chí phát triển cao

1.1.5 Mục tiêu, nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ MG 5 - 6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm

1.1.5.1 Mục tiêu và nội dung

Mục tiêu của chương trình giáo dục mẫu giáo là giúp trẻ em từ 3-6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mĩ, chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học Mục tiêu và nội dung giáo dục kĩ

Trang 34

năng hợp tác cho trẻ nằm trong giáo dục phát triển kĩ năng xã hội cho trẻ 5-6 tuổi Trong đó, cần phát triển ở trẻ các kĩ năng xã hội như: biết lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng lời nói cử chỉ lễ phép, lịch sự, tôn trọng, hợp tác chấp nhận, thân thiên, quan tâm, chia sẻ,

Như vậy, dựa trên mục tiêu của chương trình giáo dục trẻ em theo độ tuổi, nội dung cơ bản về giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi được chú trọng như hành vi và quy tắc ứng xử xã hội gồm một số quy định ở lớp, gia đình và nơi công cộng (để đồ dùng, đồ chơi đúng chỗ; trật tự khi ăn; đi bên phải lề đường); Lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng lời nói cử chỉ lễ phép, lịch sự, chờ đến lượt, tôn trọng, hợp tác và chấp nhận; Chơi hòa thuận với bạn, quan tâm, chia sẻ, giúp

đỡ bạn; Phân biệt, nhận xét và tỏ hành vi với hành động đúng –sai, tốt – xấu; Biết trao đổi, thỏa thuận với bạn để cùng thực hiện hoạt động chung; Chia sẻ kinh nghiệm với bạn

1.1.5.2 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi

Tùy thuộc vào mức độ hình thành các kĩ năng hoạt động tập thể của trẻ ở các

độ tuổi khác nhau, giáo viên lựa chọn hình thức tổ chức làm việc tập thể phù hợp

như:

+ Cá nhân cùng nhau

+ Tuần tự cùng nhau

+ Tương tác cùng nhau

Theo mục đích và nội dung giáo dục

+ Tổ chức các hoạt động có chủ định của giáo viên và theo ý thích của trẻ + Tổ chức lễ hội: Tổ chức kỉ niệm các ngày lễ hội, các sự kiện quan trọng trong năm liên quan đến trẻ có ý nghĩa giáo dục và mang lại niềm vui cho trẻ (Têt Trung Thu, Ngày hội đến trường, tết cổ truyền, sinh nhật của trẻ, ngày hội của các

bà, các mẹ, cô giáo, ngày 8/3, ngày Quốc tế thiếu nhi,…)

Theo vị trí không gian

+ Tổ chức hoạt động trong phòng học

+ Tổ chức hoạt động ngoài trời

Trang 35

Theo số lượng trẻ

+ Tổ chức hoạt động theo nhóm

+ Tổ chức hoạt động cả lớp (Bộ giáo dục và Đào tạo, 2009)

1.1.5.3 Biện pháp giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi

Để giáo dục kĩ năng hợp tác cho trẻ 5-6 tuổi, trước tiên phải giúp trẻ nhận thức về cấu trúc của hoạt động cùng nhau Sau đó, cho trẻ được thực hành và ứng dụng cấu trúc đó vào thực hiện các nhiệm vụ chung Tiến trình hình thành kỹ năng hợp tác cho trẻ thông qua 3 giai đoạn:

a Giai đoạn 1 bao gồm các biện pháp sau

* Biện pháp: Sử dụng phương pháp mô hình hóa nhằm giúp trẻ hiểu rõ cấu trúc hoạt động cùng nhau

Giúp cho trẻ hiểu rằng hợp tác cùng bạn là kỹ năng quan trọng, rất cần thiết trong hoạt động nhóm Nếu không hợp tác với nhau thì không thể gọi là làm việc nhóm được Trong một nhóm, mặc dù công việc đã được phân công nhưng những phần công việc của mỗi cá nhân đều có liên quan với các bạn trong nhóm, trẻ cần tương tác với nhau để giúp nhóm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

*Biện pháp 2: Dạy phức hợp các kỹ năng cần cho trẻ ở môi trường giai đoạn tương tác, đồng thời giúp trẻ lĩnh hội các câu nói cần cho việc thiết lập sự hợp tác với bạn trong hoạt động cùng nhau

Giáo viên cần dạy cho trẻ thật sự hiểu rằng, khi làm việc nhóm, mình vẫn có cách suy nghĩ riêng, cách làm riêng, nhưng những suy nghĩ riêng của mình sẽ chia

sẻ cho cả nhóm biết, để các bạn trong nhóm cùng nhau xem xét, suy nghĩ và xác định cách làm đó có đúng không, và các bạn trong nhóm sẽ quyết định làm theo cách đó hay chọn một cách khác tốt hơn Khi làm việc cùng nhau, mình không tự ý làm theo cách riêng của mình không được sự đồng ý của các bạn trong nhóm Vấn

đề này giáo viên có thể nhắc đi nhắc lại nhiều lần với trẻ, giúp trẻ thật sự hiểu và nhớ thực hiện

Trang 36

* Biện pháp 3: Giúp trẻ lĩnh hội các kỹ năng hợp tác, cần đặt cho trẻ các tình huống có vấn đề

Nếu trẻ đã biết như thế nào là hợp tác với bạn, thì trẻ sẽ biết giao lưu, quan tâm đến tất cả các bạn khác nữa chứ không chỉ với nhóm các bạn đã quá quen biết Nên tránh tình trạng trẻ chỉ quen phối hợp với một nhóm cố định các bạn vốn đã hiểu ý và làm việc tốt với nhau Giáo viên cần đặt cho trẻ các tình huống có vấn

đề, cho trẻ được làm việc, được hợp tác với tất cả các bạn trong nhóm bằng cách phân chia ngẫu nhiên, để trẻ có khả năng thích nghi và hợp tác làm việc với tất cả mọi người nếu cần

b Giai đoạn 2: Trẻ mẫu giáo lĩnh hội thực tế các mô hình hợp tác cơ bản

Giúp trẻ hình thành kỹ năng phát biểu ý kiến của mình Trẻ hiểu và biết vấn

đề đó là một chuyện tốt, nhưng trẻ có mạnh dạn tự tin nói lên suy nghĩ của mình hay không mới là điều quan trọng Trẻ cần đưa ra ý kiến, suy nghĩ riêng của cá nhân mình trong nhóm, đồng thời đưa ra ý kiến đồng ý hay không đồng ý

Thường xuyên nhắc nhở trẻ phải để tất cả các bạn trong nhóm trình bày ý kiến riêng của mình cho cả nhóm nghe, nếu ý kiến đó không hợp thì chỉ có cả nhóm mới có quyền không chấp nhận thực hiện theo, chứ không cá nhân ai có quyền tự ý bác bỏ ý kiến của bạn mình khi chưa được nhóm thống nhất

Giúp trẻ hình thành kỹ năng phân chia công việc Cần dạy trẻ phân chia công công việc cụ thể cho từng bạn, có tính đến khả năng của bạn Tránh tình trạng trẻ giành các việc của bạn do các việc đó quá dễ, hay do trẻ xem nhẹ khả năng của bạn Giáo viên cần giải thích cho tất cả trẻ hiểu rằng khi đã cùng chung một nhóm thì cá nhân nào cũng cần được giao một công việc cụ thể để giúp nhóm hoàn thành nhiệm vụ

Giáo viên cần giáo dục trẻ phải có tinh thần kỷ luật khi tham gia trong nhóm, không được tranh giành trao đổi phần công việc đã được giao, trừ khi bản thân không làm được và được nhóm đồng ý giao nhiêm vụ khác cho mình

Giúp trẻ hình thành kỹ năng diễn đạt ý tưởng của cả nhóm Kỹ năng này đòi hỏi trẻ phải thống nhất ý kiến của tất cả các bạn trong nhóm trước khi hoàn thành công việc và đưa ra kết quả cuối cùng Việc này trẻ cần phải biết tổng hợp những

Trang 37

kỹ năng trên và khả năng thuyết phục cũng như việc quyết đoán của cá nhân trẻ

Ở những lần hoạt động nhóm đầu tiên của trẻ cô luôn luôn phải can thiệp giúp đỡ trẻ, gợi ý cho trẻ cách thống nhất ý kiến của các bạn, đưa ra ý kiến cuối cùng mà cả nhóm sẽ đồng tình Trong một nhóm không khó để thấy được sẽ có một trẻ luôn trội hơn, mạnh dạn hơn các bạn để điều tiết công việc của các bạn trong nhóm, đó chính là nhóm trưởng Nhóm trưởng sẽ quyết định đưa ra cách làm tốt nhất và kết quả cuối cùng cho nhóm mình Giáo viên cần chú ý hướng dẫn bạn nhóm trưởng này cách thức tổng hợp ý kiến, lấy kết quả cuối cùng và quan trọng nhất là phải mạnh dạn thay mặt nhóm trình bày kết quả của nhóm mình Một số trẻ

có thể phân chia công việc cho các bạn rất tốt, biết rút ra kết luận đúng, nhưng khi trình bày trước lớp thì rất rụt rè Trong trường hợp này, giáo viên cần động viên khuyết khích trẻ rất nhiều và cần có thời gian cho trẻ được quen dần

c Giai đoạn 3: Phát triển ở trẻ mẫu giáo khả năng tự lựa chọn mô hình hợp tác cho việc cùng nhau giải quyết nhiệm vụ

Đầu tiên trẻ cần hiểu được ích lợi khi làm việc nhóm: Khi cô giao nhiện vụ lau dọn bàn ăn, nhặt rác, lau kệ, xếp đĩa, sẽ không còn thấy một trẻ khệ nệ tự mình lôi cái kệ khăn đi rớt lên xuống nữa mà bây giờ sẽ có hai bạn cùng khiêng, bạn khác sẽ theo sau để bê cái thau theo sau, bạn sẽ thấy nhóm bạn trai chồng ghế bạn gái thì lau bàn… sẽ vui hơn, có nhiều tiếng cười rôm rả của trẻ cùng hai ba bạn thực hiện một công việc giống nhau, chứ không phải nét mặt buồn cứ cúi xuống

mà làm nữa

Với trẻ chơi là một hoạt động chủ đạo, do vậy, tất cả những nhiệm vụ giao cho trẻ luôn phải thông qua các trò chơi Trẻ thường có sức tập trung kém hơn người lớn, vì vậy các hoạt động cũng như trò chơi mà giáo viên tổ chức cần luôn tạo sự vui vẻ và hứng thú cho trẻ

Bất kì công việc tập thể nào cần nhằm đạt một mục tiêu nhất định Giáo viên cần giao cho trẻ cùng làm một bức tranh hay vật dụng thủ công mà sẽ khó hoàn thành nếu làm một mình Khi hoàn thành các công trình tập thể, trẻ học cách giao tiếp với người lớn và với bạn Khi thực hiện các công việc đó, lúc đầu, trẻ chủ yếu giao tiếp với người lớn, thì chỉ ít lâu sau, trẻ bắt đầu giao tiếp với nhau Dần dần,

Trang 38

dưới sự hướng dẫn của người lớn, trẻ xây dựng kế hoạch, thương lượng, hỏi, gợi ý, cảm thông với nhau Giáo viên có nhiệm vụ là dạy trẻ biết cách thương lượng, nhường nhịn bạn và đánh giá cao sự giúp đỡ của bạn

Tác phẩm của trẻ cũng có thể tạo nên một cách tuần tự (theo dạng dây chuyền): lúc đầu vẽ ở giữa, sau đó ở các góc và các cạnh Hình vẽ như vậy có thể được 2 – 4 trẻ thực hiện Trong trường hợp này, tờ giấy được trải một cách thuận tiện trên mặt bàn để trẻ có thể dễ dàng tiếp cận từ các phía khác nhau Sau đó vẽ các họa tiết ở các góc, cũng như theo các đường viền

Rất hữu ích và lí thú khi kết hợp 2 trẻ cùng tạo nên một tác phẩm chung Trong trường hợp như vậy, trẻ phải giao tiếp công việc với nhau, học cách thương lượng với bạn Chẳng hạn, có thể đề nghị trẻ cùng trang trí đôi găng tay, đôi giầy Nên để cho trẻ tự quyết định bạn mà mình sẽ làm việc cùng Vì trẻ phải trang trí cặp đồ vật giống nhau nên trẻ không chỉ làm việc bên cạnh nhau mà còn thống nhất với nhau về hoa văn, về các chi tiết trang trí, về mầu sắc giáo viên cần giúp

đỡ trẻ, dạy trẻ thương lượng và nhường nhịn nhau

Khi nặn, trẻ có thể tạo các nhân vật Ở đây, trẻ cần thương lượng ai nặn nhân vật nào, cần biết cách thiết lập mối quan hệ về độ lớn giữa các nhân vật, xác định các bổ sung giúp tạo nên tác phẩm chung.Bài làm tập thể có thể thực hiện trên một giờ học cũng như trên một vài giờ học Khi đó, mỗi giờ học là sự hoàn thành một giai đoạn xác định

Nhiều các bức tranh tập thể có thể được tạo nên trên một vài giờ học, hay nội dung cơ bản được giải quyết trên giờ học, sau đó, vào ngoài giờ học, tác phẩm được bổ sung phong phú, mở rộng thêm Từng bước bức tranh trở nên hoàn chỉnh hơn, có nhiều nội dung, thú vị và biểu cảm hơn Chỉ những trẻ có nguyện vọng mới tham gia hoàn thiện bức tranh Tuy nhiên, trước khi hoàn thiện tranh vẽ, nên thảo luận với tất cả các trẻ

Giáo viên cũng có thể cùng tạo ra tác phẩm tập thể với các trẻ Khi đó, giáo viên sẽ thực hiện phần việc khó mà trẻ không tự thực hiện được Chẳng hạn, giáo viên cắt và dán cây, trẻ cắt và dán các con chim để dán lên cây Cả giáo viên và trẻ cần được liên kết với nhau bởi chủ đề chung, cùng quan tâm đến kết quả chung,

Trang 39

cùng thảo luận về công việc dự kiến thực hiện, về tiến trình của nó, cùng nhau tư vấn, đo ướm, xem xét tìm cách thực hiện tốt hơn Cần tạo điều kiện cho trẻ được phát biểu ý kiến và được độc lập (Kirenkova OL and Pershina, 2016)

Trang 40

Tiểu kết Chương 1

Kỹ năng hợp tác là một trong những kỹ năng sống quan trọng không thể thiếu trong chương trình giáo dục, đặc biệt là đối với trẻ mầm non Kỹ năng hợp tác giúp cho con người có thể giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề xảy ra trong cuộc sống, đặc biệt là kỹ năng hợp tác trong hoạt động có sản phẩm Kỹ năng này cần được chú trọng rèn luyện ngay từ lứa tuổi mầm non

Sự hợp tác được đặc trưng bởi hoạt động phối hợp với bạn hay các bạn cùng tương tác, giúp đỡ lẫn nhau, thúc đẩy đạt được các mục tiêu của mỗi người và các mục tiêu chung của hoạt động cùng nhau

Kỹ năng hợp tác là khả năng tương tác cùng thực hiện có hiệu quả một hành động, một công việc nào đó của con người dựa trên những tri thức và vốn kinh nghiệm đã có trong điều kiện nhất định

Biện pháp là cách làm, cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết một vấn đề

cụ thể hay hướng tới giải quyết nhiệm vụ từng phần, riêng lẻ; là cách tác động có định hướng, có chủ đích, phù hợp với tâm lý đến đối tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng Trong một số trường hợp, biện pháp cũng có thể giải quyết được các nhiệm vụ khác nhau như một phương pháp

Biện pháp giáo dục mầm non là cách làm cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa cô và trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra ở lứa tuổi mầm non

Biện pháp giáo dục kỹ năng hợp tác của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động có sản phẩm là cách thức tổ chức của giáo viên mầm non nhằm giúp trẻ nhận biết, có kỹ năng làm việc chung và kỹ năng hợp tác cùng nhau tạo ra sản phẩm chung trong các hoạt động có sản phẩm, hiệu quả hơn đến việc tạo ra các sản phẩm chung cũng như đồng thời giúp trẻ phát triển một cách toàn diện

Mục tiêu của chương trình giáo dục mẫu giáo nhằm giúp trẻ em từ 3-6 tuổi phát triển hài hòa về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kỹ năng xã hội và thẩm mĩ, chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học Mục tiêu và nội dung giáo dục

kĩ năng hợp tác cho trẻ nằm trong giáo dục phát triển kĩ năng xã hội cho trẻ 5-6

Ngày đăng: 19/06/2021, 15:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w