1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy Học Tích Hợp Giáo Dục Môi Trường Cho Học Sinh Lớp 3 Thông Qua Việc Tái Chế Rác Thải Ở Gia Lai

61 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu GDMT ở trường tiểu học Dựa trên đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng hành động của từng cấp học theo tiêu chuẩn quan trọng là “hành động tích cực của cá nhân và tậ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI:

DẠY HỌC TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH LỚP 3

THÔNG QUA VIỆC TÁI CHẾ RÁC THẢI Ở GIA LAI

GVHD: TS Nguyễn Minh Giang SVTH: Nguyễn Thị Thu Hường – K40.901.089

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

Trong quá trình thực hiện luận văn, chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và người đọc để luận văn của tôi có thể hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 04 năm 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Bố cục công trình nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1.1 Các khái niệm cơ bản 3

1.1.1 Môi trường 3

1.1.2 Bảo vệ môi trường (BVMT) 3

1.1.3 Giáo dục môi trường 3

1.2 Giáo dục môi trường trong chương trình tiểu học 4

1.2.1 Vị trí, vai trò của GDMT đối với học sinh tiểu học 4

1.2.2 Mục tiêu GDMT ở trường tiểu học 5

1.2.3 Cách tiếp cận GDMT ở trường tiểu học 5

1.2.4 Tích hợp và lồng ghép GDMT trong chương trình tiểu học 7

1.3 Dạy học trải nghiệm các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường 9

1.3.1 Khái niệm dạy học trải nghiệm 9

1.3.2 Mục đích của hoạt động trải nghiệm 11

1.3.3 Ứng dụng dạy học trải nghiệm để GDMT cho học sinh lớp 3 11

1.4 Cơ sở tâm sinh lý của giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 3 12

1.4.1 Cơ sở sinh lý 12

1.4.2 Cơ sở tâm lý 12

CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

VÀ CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH 15

2.1 Cách tiếp cận 15

2.1.1 Từ thực tiễn 15

Trang 4

2.1.2 Từ chương trình GDMT ở tiểu học 15

2.2 Phương pháp nghiên cứu 15

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 16

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 16

2.2.3 Phương pháp thực nghiệm 16

2.3 Các bước tiến hành 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17

3.1 Thực trạng giáo dục môi trường cho học sinh lớp 3 ở Gia Lai 17

3.1.1 Kết quả khảo sát thực trạng GDMT 17

3.1.2 Nhận thức và hành động của HS về GDMT trước khi thực nghiệm 21

3.2 Tích hợp GDMT theo hướng trải nghiệm trong chương trình lớp 3 24

3.2.1 Trong môn Mỹ thuật 24

3.2.2 Trong môn Đạo đức 24

3.2.3 Tích hợp trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (GDNGLL) 25

3.2.4 Trong môn Tự nhiên và Xã hội 26

3.2.5 Trong môn Tiếng Việt 27

3.3 Thiết kế hoạt động dạy học GDMT sử dụng các sản phẩm tái chế rác thải theo hướng trải nghiệm 28

3.3.1 Bài 25: Một số hoạt động ở trường (Môn Tự nhiên và Xã hội) 29

3.3.2 Bài 36: Vệ sinh môi trường (Môn Tự nhiên và Xã hội) 29

3.3.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (Chủ đề: Bảo vệ môi trường sống quanh em) 30

3.4 Thực nghiệm 30

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

PHỤ LỤC 37

Trang 5

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

6 HĐNGLL: Hoạt động ngoài giờ lên lớp

8 GDBVMT: Giáo dục bảo vệ môi trường

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1 Số lượng giáo viên và các trường khảo sát ở Gia Lai 17 Bảng 3 2 Kết quả khảo sát GV về cách thực hiện GDMT ở trường tiểu học 17 Bảng 3 3 Kết quả khảo sát GV về ưu điểm của việc dạy học giáo dục tích hợp 18 Bảng 3 4 Kết quả khảo sát những khó khăn của GV khi áp dụng dạy học tích hợp liên môn nội dung GDMT 19 Bảng 3 5 Kết quả khảo sát GV về hiệu quả của dạy học tích hợp GDMT đến ý thức và hành động của HS 20 Bảng 3 6 Kết quả khảo sát việc sử dụng phương pháp GDMT giúp thay đổi hành động của HS 21 Bảng 3 7 Bảng khảo sát nhận thức và hành động của HS về GDMT 22 Bảng 3 8 Bảng thống kê bài học tích hợp GDBVMT cho học sinh lớp 3 trong môn Đạo đức 25 Bảng 3 9 Bảng thống kê bài học tích hợp GDBVMT cho học sinh lớp 3 trong môn Tự nhiên và Xã hội 26 Bảng 3 10 Bảng thống kê bài học tích hợp GDBVMT cho học sinh lớp 3 trong môn Tiếng Việt 27 Bảng 3 11 Kết quả khảo sát học sinh về GDMT sau khi thực nghiệm 31 Bảng 3 12 Nhận thức của HS tiểu học trong việc BVMT 32

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường là không gian sống và cung cấp tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ con người và sinh vật khỏi những tác động từ bên ngoài Tuy nhiên việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí, không có kế hoạch, việc xả rác bừa bãi vào môi trường… dẫn tới chất lượng môi trường đang bị giảm sút nghiêm trọng và con người đang phải gánh chịu những hậu quả từ việc suy thoái chất lượng môi trường như biến đổi khí hậu, hạn hán, lũ lụt, Trước thực trạng đó, nhiều hội thảo đã được tổ chức, các đạo luật, quyết định được ban hành nhằm cứu vãn, ngăn chặn nguy cơ suy thoái, khủng hoảng MT Các nước đã thực hiện hàng loạt các biện pháp, trong đó GDMT được coi

là biện pháp có hiệu quả nhất và GDMT có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau

Ở Việt Nam, GDMT vì mục tiêu phát triển bền vững là một trong những nhiệm vụ giáo dục quan trọng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Trong hệ thống giáo dục quốc dân, GDMT cho HS tiểu học rất quan trọng vì hàng triệu trẻ em khi được trang bị đầy đủ các kiến thức về MT sẽ là một lực lượng hùng hậu trong mọi hành động tuyên truyền, cải thiện, BVMT và tài nguyên thiên nhiên của đất nước Học sinh (HS) tiểu học là lứa tuổi đang định hình và phát triển về nhân cách Vì vậy trang bị kiến thức

về BVMT sẽ giúp học sinh thành một thói quen bảo vệ môi trường, đặc biệt biết hành động vì môi trường trong cuộc sống hàng ngày

Xuất phát từ mục tiêu GDMT là HS không chỉ được trang bị các kiến thức, mà còn phải biết hành động vì môi trường, thì việc lựa chọn phương pháp dạy học hiệu quả là rất cần thiết Trong đó dạy học dựa vào trải nghiệm tạo cơ hội để HS được tiếp xúc trực tiếp với MT xung quanh, được trải nghiệm thực tế bằng các giác quan khác nhau, giúp phát huy cao độ vai trò chủ thể tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của HS, rèn luyện các nét tính cách tích cực cho bản thân HS Triển khai hoạt động giáo dục trải nghiệm chính là thực hiện quan điểm, định hướng “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội” Dạy học theo phương pháp trải nghiệm thông qua việc tái chế rác thải cho HS tiểu học là một trong những phương

Trang 7

2

pháp phù hợp với mục tiêu GDMT Xuất phát từ các cơ sở trên, tôi đã lựa chọn đề tài:

“Dạy học tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh lớp 3 thông qua việc tái chế rác thải ở Gia Lai”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua một số hoạt động tái chế rác thải để phục vụ dạy học GDMT giúp học sinh lớp 3 biết hành động để bảo vệ môi trường, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả GDMT trong trường tiểu học ở Gia Lai

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề GDMT dựa vào trải nghiệm sáng tạo thông qua việc tái chế rác thải phục vụ dạy học tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh lớp 3;

Xác định nội dung GDMT theo hướng trải nghiệm thông qua việc tái chế rác thải;

Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi của nội dung và quy trình do đề tài đề xuất

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành điều tra thực trạng GDMT và thực nghiệm phương pháp GDMT thông qua việc tái chế rác thải ở một số trường tiểu học trong địa bàn tỉnh Gia Lai

5 Bố cục công trình nghiên cứu

Nghiên cứu này gồm có 63 trang, ngoài phần Mở đầu và phụ lục thì nội dung chính văn gồm 03 chương: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu gồm 12 trang; Chương 2: Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và các bước tiến hành 02 trang; Chương 3: Kết quả và thảo luận là 18 trang

Trang 8

1.1.2 Bảo vệ môi trường (BVMT)

F.Ănghen đã nói “Bản thân con người là sản phẩm của tự nhiên, con người tồn tại trong môi trường tự nhiên và cùng phát triển với môi trường tự nhiên đó” Do đó, BVMT

là yêu cầu cấp thiết của con người, cho con người và vì con người [11] Khái niệm “Bảo

vệ môi trường” được luật “Bảo vệ môi trường” của Việt Nam, 1993, ghi rõ: “Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ gìn cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên, khắc phục thiên nhiên”[13] Như vậy, BVMT không hạn chế quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà chính là đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn, đồng thời bảo vệ được chất lượng cuộc sống của mỗi chúng ta Ngược lại, chúng ta phải phát triển kinh tế

xã hội mà không tàn phá, hủy hoại môi trường thiên nhiên, không giảm thiểu tiềm năng tương lai, bảo vệ môi trường sống và nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống

1.1.3 Giáo dục môi trường

Giáo dục môi trường được nhắc tới ngày càng nhiều, thông qua các tài liệu hội thảo quốc tế và khu vực về bảo vệ môi trường Văn bản Hội nghị Tbilisi được tổ chức vào năm

Trang 9

4

1978 đã đưa ra khái niệm GDMT như sau: “GDMT là làm cho từng người và cộng đồng hiểu được bản chất của môi trường tự nhiên và nhân tạo, hiểu được quan hệ tương tác của các mặt sinh học, vật lí, hóa học, xã hội, kinh tế, văn hóa, có được tri thức, thái độ và kĩ năng thực tế để tham gia có hiệu quả và có trách nhiệm vào việc tiên đoán và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lí chất lượng của môi trường [11]

GDMT là một bộ phận của quá trình giáo dục nhân cách và cũng là một quá trình giáo dục toàn vẹn vì nó không chỉ hình thành cho học sinh hệ thống những tri thức về môi trường, về mối quan hệ giữa tự nhiên, con người và xã hội mà còn hình thành những quan điểm, niềm tin có thể thay đổi thái độ, hành vi của mỗi cá nhân trong khi tác động đến môi trường Do đó GDMT cần phải được tiến hành thường xuyên và bằng nhiều con đường khác nhau với sự tham gia của nhiều lực lượng giáo dục Một định nghĩa khác về GDMT cho rằng đây là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, ở nhiều địa điểm khác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phương thức khác nhau, nhằm thay đổi hành vi và lấy hành động làm cơ sở [4]

1.2 Giáo dục môi trường trong chương trình tiểu học

1.2.1 Vị trí, vai trò của GDMT đối với học sinh tiểu học

Giai đoạn tiểu học được xác định là “bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân” [2] Đó là bậc học để tạo ra những bước đi cơ bản và bền vững cho trẻ, hình thành những nét ban đầu về tính cách và nhân cách Những tri thức, kĩ năng và hành vi được hình thành ở bậc tiểu học sẽ rất bền vững, theo suốt cuộc đời của mỗi cá nhân học sinh

Vì thế, hàng chục triệu trẻ em, khi được trang bị đầy đủ hành trang tri thức bảo vệ môi trường sẽ là một lực lượng hùng hậu, đóng vai trò nòng cốt trong mọi hoạt động cải thiện môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của đất nước hôm nay và ngày mai

Học sinh tiểu học, lứa tuổi dễ tiếp thu những định hướng giá trị mới, giàu cảm xúc,

đó là một thuận lợi cơ bản để xây dựng ở các em tình yêu thiên nhiên, biết trân trọng tự nhiên và tích cực bảo vệ môi trường Đồng thời ở lứa tuổi này với tính tích cực cao, dễ hưng phấn, hiếu động, nghịch ngợm, nếu không được giáo dục về môi trường một cách nghiêm túc và đầy đủ thì có thể chính các em sẽ trở thành những kẻ phá hoại môi trường

Trang 10

5

Thực tế cho thấy GDMT cho thế hệ trẻ một cách có hiệu quả nhất là thông qua hệ thống trường học, vì trường học có khả năng thực hiện chương trình học tập theo khuôn khổ chính quy, có cấu trúc và được hỗ trợ chính thức

1.2.2 Mục tiêu GDMT ở trường tiểu học

Dựa trên đặc điểm lứa tuổi, trình độ nhận thức và khả năng hành động của từng cấp học theo tiêu chuẩn quan trọng là “hành động tích cực của cá nhân và tập thể trong việc cải thiện chất lượng môi trường” [11], các nhà nghiên cứu về GDMT đã đưa ra những mục tiêu cụ thể trong GDMT cho học sinh tiểu học như sau:

Trang bị hệ thống những kiến thức cơ bản ban đầu về môi trường phù hợp với độ tuổi và tâm sinh lí cho học sinh Cụ thể: Có những hiểu biết cơ bản ban đầu về tự nhiên,

về môi trường; Nhận thức được mối quan hệ khăng khít, tác động lẫn nhau giữa con người – tự nhiên – xã hội; Hình thành ý thức, thái độ quan tâm, có trách nhiệm đối với môi trường [11]

Cụ thể là từng bước bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý thiên nhiên, tình cảm trân trọng tự nhiên, tha thiết muốn bảo vệ môi trường Có hiểu biết về tầm quan trọng của môi trường trong sạch đối với sức khỏe con người, phát triển thái độ tích cực đối với môi trường, không khoan nhượng với thái độ và việc làm gây ảnh hưởng tới môi trường Biết tuyên truyền, vận động mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường sống Tham gia tích cực và có hiệu quả vào các hoạt động giữ gìn vệ sinh, bảo đảm sự trong sạch của môi trường sống, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên [11]

1.2.3 Cách tiếp cận GDMT ở trường tiểu học

Giáo dục về môi trường là người học được trang bị các kiến thức về môi trường,

các thành phần của môi trường, hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó, tác động của con người đối với môi trường Giáo dục về môi trường chủ yếu liên quan đến các môn khoa học tự nhiên Theo Lucas (1980) đây là lĩnh vực giáo dục có liên quan đến việc cung cấp kiến thức bao gồm cả kỹ năng cần thiết để lĩnh hội kiến thức đó [8] Việc phát triển những nhận biết, tri thức, hiểu biết về sự tác động qua lại giữa con người và môi trường, là cách tiếp cận thông tin khi môi trường trở thành chủ đề hoặc đề tài học tập [9]

Trang 11

6

Giáo dục trong môi trường nghĩa là xem môi trường thiên nhiên và nhân tạo như

một địa bàn, một phương tiện để dạy học, học tập và nghiên cứu Khi đó môi trường sẽ trở thành “phòng thí nghiệm thực tế” đa dạng, sinh động cho người dạy và người học Theo Tilbury (1995), giáo dục trong môi trường thích hợp với cách dạy học lấy học sinh làm trung tâm hoặc học tập dựa vào hoạt động Đây là hình thức học tập bên ngoài thiên nhiên, bằng việc khích lệ sự phát triển của cá nhân thông qua việc tiếp xúc với môi trường

để hình thành nhận thức, sự quan tâm cũng như tinh thần trách nhiệm của người học đối với môi trường Giáo dục trong môi trường rất quan trọng ở tiểu học và đã được chứng minh là có một mối quan hệ nhân quả về khả năng kết nối giữa học sinh với môi trường

tự nhiên Học tập ngoài thiên nhiên thúc đẩy mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xây dựng kiến thức, hiểu biết của học sinh về môi trường một cách sâu sắc Sự kết hợp giữa văn hóa và kiến thức về bản địa trong chương trình trường tiểu học cho phép học sinh biết

sử dụng cả kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân để lĩnh hội tri thức [7]

Giáo dục vì môi trường dựa trên cơ sở những tri thức đã được trang bị để đi đến

xây dựng ý thức quan tâm và trách nhiệm, hình thành các quan niệm giá trị nhân cách, đạo đức đúng đắn, thái độ ứng xử tích cực và biết hành động vì môi trường Theo Lucas (1980) đây là lĩnh vực giáo dục coi việc cải thiện chất lượng môi trường như một mục tiêu thực tế của giáo dục, hướng tới việc hình thành hệ thống giá trị, tinh thần trách nhiệm cũng như những kỹ năng hành động để bảo vệ môi trường Giáo dục vì môi trường có liên quan nhiều hơn đến các môn xã hội, nghệ thuật…

Với ba cách tiếp cận trên, ở giai đoạn tiểu học để có thể giáo dục toàn diện cho học sinh về môi trường và bảo vệ môi trường chỉ có thể thực hiện được bằng cách tích hợp trong nội dung của các môn học và trong các hoạt động Đây chính là sự kết hợp một cách

có hệ thống kiến thức giáo dục môi trường và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong bài học Với hình thức này không cần thêm thời lượng và sắp xếp lại khung chương trình, mà các nội dung vẫn được tích hợp một cách khoa học qua các môn học, các chương và các bài cụ thể Mặt khác, việc thực hiện tích hợp nội dung môi trường

Trang 12

7

còn làm phong phú, mở rộng kiến thức của môn học và đặc biệt là tăng thêm tính thực tiễn, tính hiệu quả của giáo dục

1.2.4 Tích hợp và lồng ghép GDMT trong chương trình tiểu học

Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông được tiến hành theo phương thức tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào các môn học thích hợp Ở bậc tiểu học thông qua các môn học Tự nhiên và Xã hội, Đạo đức, Khoa học,

Mỹ thuật… GV đã cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về môi trường, đó là những hiểu biết về môi trường tự nhiên, sự ô nhiễm môi trường, phương pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt giáo dục cho HS có ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường sống và tình yêu quê hương, đất nước Ngoài việc tích hợp và lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào các môn học, nhà trường tiểu học còn tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa dưới hình thức phong phú như tổ chức thi tìm hiểu về môi trường, thi vẽ tranh, trồng cây xanh, lao động dọn dẹp vệ sinh…GDMT cho HS tiểu học được tích hợp vào trong các môn học ở ba mức

độ là mức độ toàn phần, mức độ bộ phận và mức độ liên hệ

1.2.4.1 Mức độ toàn phần

Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc chương phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung giáo dục bảo vệ môi trường Những bài học tích hợp toàn phần là điều kiện tốt nhất để nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phát huy tác dụng đối với học sinh thông qua môn học Hầu hết các môn học ở tiểu học như Tự nhiên và Xã hội 1,2,3; Lịch sử và Địa lý 4,5; Đạo đức 1,2,3 và đặc biệt là môn Khoa học 4,5 có những dạng bài học này

Khi dạy học dạng bài này, giáo viên cần ưu tiên lựa chọn các hình thức tổ chức và phương pháp dạy học có tiếp xúc với môi trường xung quanh như tổ chức cho học sinh học tập thông qua các hoạt động điều tra, thí nghiệm, thực hành, đóng vai,… để rèn kỹ năng học tập, bảo vệ môi trường và hình thành thái độ tích cực đối với môi trường Ví dụ

ở môn Tự nhiên và Xã hội 1,2,3, các bài học về vệ sinh môi trường như: Bài 17 (lớp 1): Giữ lớp học sạch đẹp; Bài 13 (lớp 2): Giữ sạch môi trường xung quanh nhà ở; bài 36 – 37 – 38 (lớp 3): Giữ vệ sinh môi trường;…[3]

Trang 13

8

1.2.4.2 Mức độ từng bộ phận

Đối với dạng bài học này chỉ có một phần bài học có nội dung giáo dục bảo vệ môi trường nên trong mục tiêu của bài học thường có liệt kê mục tiêu giáo dục môi trường cụ thể Việc thực hiện mục tiêu bài học là tiền đề để thực hiện mục tiêu giáo dục môi trường Do đó khi chuẩn bị bài dạy GV cần nghiên cứu kỹ nội dung bài học, xác định nội dung giáo dục môi trường tích hợp vào trong bài học là gì; thông qua hoạt động dạy học nào; cần chuẩn bị thêm tư liệu, đồ dùng dạy học gì để việc giáo dục môi trường đạt hiệu quả Khi tổ chức dạy học GV tiến hành các hoạt động dạy học đảm bảo đúng theo yêu cầu bộ môn, đồng thời lưu ý giúp học sinh hiểu, cảm nhận đầy đủ, sâu sắc nội dung bài học có liên quan đến giáo dục môi trường một cách nhẹ nhàng, phù hợp và đạt được mục tiêu bài học Nội dung và phương pháp giáo dục môi trường chỉ mang tính định hướng chung, việc triển khai cụ thể tùy thuộc vào giáo viên, vào hiện trạng, đặc điểm môi trường và các vấn đề môi trường của từng địa phương Hay nói cách khác đây chính là dạng bài GV có thể tích hợp nhiều nội dung giáo dục môi trường địa phương Trong chương trình tiểu học rất nhiều các môn học có thể tích hợp bộ phận nội dung giáo dục môi trường như: Tự nhiên và Xã hội 1,2,3; Tiếng Việt 1 - 5 (Mẩu giấy vụn (lớp 2); Cây

đa quê hương (lớp 2); Ở vương quốc tương lai (lớp 3), Con chuồn chuồn nước (lớp 3), Luyện tập tả cảnh (lớp 5), Bài ca về Trái Đất (lớp 5),…); Mỹ thuật (Cảnh quan: vẽ tranh phong cảnh, môi trường (lớp 1, 2, 3, 4, 5)), Thủ công – kỹ thuật (Kỹ thuật trồng cây, rau, hoa (lớp 4); Chăm sóc cây (lớp 4);….[3]

1.2.4.3 Mức độ liên hệ

Ở mức độ liên hệ các kiến thức giáo dục môi trường không được nêu rõ trong sách giáo khoa, nhưng dựa vào kiến thức bài học giáo viên có thể liên hệ với nội dung về môi trường, bảo vệ môi trường cho phù hợp Nội dung giáo dục môi trường phải có mối liên

hệ chặt chẽ với nội dung bài học Ví dụ với các bài học về các vật liệu thường dùng như mây, tre, gốm, thủy tinh,… (Khoa học 5), bên cạnh nội dung của các bài học về đặc điểm

và vai trò của các vật liệu này, giáo viên cần liên hệ thêm việc sử dụng lâu bền và tiết kiệm Khi thực hiện một cách khoa học các nội dung này sẽ đảm bảo được tính hệ thống

và tránh trùng lặp các kiến thức giáo dục môi trường cần liên hệ Sau khi đưa ra nội dung

Trang 14

9

bài học liên hệ với giáo dục môi trường giáo viên phải gia công sư phạm cho phù hợp với từng địa phương, trình độ nhận thức, khả năng hành động của học sinh, chú ý liên hệ với những việc làm cụ thể thiết thực đối với các em học sinh Việc liên hệ đó giúp các em thấy rằng chính các em có thể tham gia bảo vệ và cải tạo môi trường bằng những việc làm hàng ngày của mình Rất nhiều bài học trong tất cả các môn học của chương trình tiểu học đều có thể giáo dục môi trường ở mức độ liên hệ Trong thực tế rất nhiều giáo viên đã liên

hệ với nội dung bài học một cách nhẹ nhàng, đúng lúc, đúng chỗ không lan man và không khiên cưỡng [3]

1.2.4.4 Hình thức lồng ghép

Các hình thức lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học thường là giáo dục thông qua các tiết học trên lớp, giáo dục các tiết học ngoài thiên nhiên, ở môi trường bên ngoài trường lớp như môi trường ở địa phương, giáo dục qua việc thực hành làm vệ sinh, giữ trường, lớp học sạch, đẹp

1.2.4.5 Giáo dục môi trường thông qua các hoạt động

Song song với việc tích hợp vào môn học, giáo dục môi trường còn được tích hợp vào các hoạt động của nhà trường, của lớp học như các hoạt động vui chơi, lao động, hoạt động xã hội, sinh hoạt tập thể,…Trong thực tế, rất nhiều trường tiểu học đưa ra các chương trình, các hành động để học sinh tham gia vào các nội dung giáo dục môi trường, đặc biệt là các chương trình bảo vệ môi trường Yêu cầu quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường là vấn đề thực hành, hình thành các kỹ năng, thói quen, hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả vào các hoạt động bảo vệ môi trường Các hoạt động ngoài lớp học có khả năng và điều kiện để đáp ứng các yêu cầu nêu trên [3]

1.3 Dạy học trải nghiệm các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường

1.3.1 Khái niệm dạy học trải nghiệm

Trên thế giới, học tập dựa vào trải nghiệm được các nhà giáo dục nghiên cứu từ cuối thế kỉ XIX – nửa đầu thế kỉ XX Các công trình tập trung vào nghiên cứu vai trò, bản chất về học tập dựa vào trải nghiệm và áp dụng để giảng dạy cho sinh viên các trường đại học Các công trình này đã khẳng định và nhấn mạnh vai trò học tập dựa vào trải nghiệm

Trang 15

10

Qua đó, có thể nhận thấy học tập dựa vào trải nghiệm có nhiều ưu điểm và được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu [12] Tuy nhiên, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về học tập dựa vào trải nghiệm nói chung, học tập dựa vào trải nghiệm trong dạy học các môn học và học tập dựa vào trải nghiệm nhằm GDMT nói riêng còn rất hạn chế Học tập dựa vào trải nghiệm lần đầu tiên được đề cập ở Việt Nam trong chương trình “Dự án Giáo dục MT” tại Hà Nội năm 2006 Trong đó trình bày khái niệm về học tập dựa vào trải nghiệm, giới thiệu một số trò chơi “Học mà chơi- chơi mà học” được xây dựng trên mô hình học tập dựa vào trải nghiệm [1] Nghiên cứu học tập dựa vào trải nghiệm và áp dụng trong dạy học ở các trường tiểu học Việt Nam đang được triển khai trong cả chương trình hiện hành và chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong tương lai

Hoạt động trải nghiệm trong nhà trường cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn, người học có được kiến thức, kĩ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sáng tạo sẽ có được khi giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới, không theo chuẩn đã có…

“Trải nghiệm” là phương thức giáo dục và “sáng tạo” là mục tiêu giáo dục, phải được làm rõ Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân

Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình

Trang 16

11

1.3.2 Mục đích của hoạt động trải nghiệm

Nội dung hoạt động trải nghiệm rất đa dạng và mang tính tích hợp, tổng hợp kiến thức kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và giáo dục như: giáo dục đạo đức, trí tuệ, kĩ năng sống, giá trị sống, thẩm mĩ, thể chất, lao động, an toàn giao thông, môi trường… Đây là cơ sở để các nội dung giáo dục thiết thực với học sinh, giúp các em vận dụng vào trong cuộc sống một cách dễ dàng và thuận lợi hơn Mục đích chính là hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị, kĩ năng sống và những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại Nếu mục tiêu chủ yếu của dạy học trên lớp là phát triển trí tuệ thì mục tiêu chủ yếu của hoạt động trải nghiệm là phát triển phẩm chất và năng lực Cụ thể là hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị và kĩ năng sống - những năng lực chung cần có ở con người trong xã hội hiện đại Các chuyên gia giáo dục cũng khẳng định hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo, từng

cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua

đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của mình

1.3.3 Ứng dụng dạy học trải nghiệm để GDMT cho học sinh lớp 3

Những kinh nghiệm có từ thực tế cuộc sống sẽ cung cấp cho học sinh những hiểu biết và kĩ năng cần thiết trong cuộc sống hàng ngày Trường học cần dạy cho học sinh cách áp dụng những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó vào những việc đơn giản hàng ngày Cụ thể GV hoàn toàn có thể hướng dẫn HS tiểu học sử dụng vốn hiểu biết vốn có và dựa vào thực tế cuộc sống để giải quyết các vấn đề về môi trường Ở các cấp học cao hơn, có thể bổ sung việc thực tập, khảo sát thực tế và thời gian thực hành trong phòng thí nghiệm hay tại các cơ quan nghiên cứu vào các chương trình học GDBVMT cho HS tiểu học không những cung cấp những kiến thức khoa học mà học sinh cần thực

Trang 17

1.4.3 Cơ sở giáo dục học

Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định HS đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

Như vậy giai đoạn HS lớp 3 phát triển rất nhanh cả về thể chất, tình cảm và trí tuệ, hình thành và phát triển mạnh mẽ những năng lực khác nhau, đặt cơ sở nền móng cho

Trang 18

13

phát triển nhân cách của chúng Nhà giáo dục Nga vĩ đại K.D Usinxki đã nhấn mạnh sự cần thiết cho học sinh làm quen với môi trường thiên nhiên, phát triển các kĩ năng quan sát các hiện tượng thiên nhiên ngay từ khi còn rất nhỏ Sự tiếp xúc sớm nhất của HS với thiên nhiên giúp cho việc giáo dục quan niệm đúng đắn đối với môi trường, khả năng đánh giá hiện trạng của môi trường Giáo dục HS thái độ trân trọng, bảo vệ và giữ gìn đối với rừng, con vật, thực vật, mong muốn phát triển tài nguyên thiên nhiên là đòi hỏi tất yếu của GDMT Nhiều nhà giáo dục học tiểu học đã nêu lên: một trong những mục tiêu giáo dục HS ở lứa tuổi tiểu học là hình thành ở các em những cơ sở văn hóa của môi trường Bởi vì trong giai đoạn này HS tích lũy các ấn tượng cảm xúc, các hình ảnh và biểu tượng rực rỡ đầu tiên về thiên nhiên, đặt nền tảng cho quan hệ và thái độ đúng đắn với môi trường xung quanh và định hướng đúng trong môi trường đó [5]

Các nghiên cứu tâm lí – giáo dục đã chứng minh khả năng hiểu các mối quan hệ qua lại và sự phụ thuộc trong thiên nhiên của HS tiểu học Sự hiểu biết các mối quan hệ khác nhau trong thiên nhiên có ý nghĩa to lớn trong GDBVMT cho học sinh Trước hết đó

là việc cho các em làm quen với các hoạt động thực tiễn khác nhau của con người trong thiên nhiên, hoạt động BVMT (trồng rừng, bảo vệ rừng, bảo vệ các động vật quý hiếm; bảo vệ giữ gìn cây, con, hoa quả; giữ gìn bảo vệ các nguồn nước…); làm quen với các cảnh đẹp trong thiên nhiên, các di tích văn hóa – lịch sử, viện bảo tàng, đồng thời hướng

sự chú ý của học sinh đến các tác động tốt cũng như không tốt của con người đối với thiên nhiên, các di tích văn hóa – lịc sử, viện bảo tàng, đồng thời hướng sự chú ý của học sinh đến các tác động tốt cũng như không tốt của con người đối với thiên nhiên, những khó khăn về môi trường nơi mà các bạn đang sống (bụi, tiếng ồn, nước bị ô nhiễm…) [5]

Trong GDMT cần phải chú ý đến các khía cạnh thẩm mĩ và đạo đức Cái đẹp và tình cảm, đạo đức cao đẹp trong quan hệ với MT là các mặt không tách rời nhau Phát triển cảm xúc thẩm mĩ trong quan hệ với thiên nhiên liên quan chặt chẽ với phát triển trí tuệ Các nhà tâm lí – giáo dục đã chỉ ra rằng không có cảm xúc thẩm mĩ trong khi tri giác thiên nhiên thì không thể có nhận thức bản chất của các hiện tượng thiên nhiên và không thể tiếp nhận chúng một cách trọn vẹn HS tiểu học có thể hiểu được các quy tắc, chuẩn mực cũng như các hạn chế, cấm đoán có tính chất GDBVMT Nhận thức của học sinh về

Trang 19

14

các chuẩn mực trong quan hệ với MT thể hiện ở các nhận xét, các lựa chọn hành vi đạo đức về các tình huống xảy ra trong cuộc sống Do đó cần cho học sinh làm quen với các quy tắc giữ gìn, BVMT, giáo dục các bạn biết sử dụng và tận dụng các tài nguyên thiên nhiên, không gây đau đớn cho con vật, cây cối, không phá hỏng sự trọn vẹn của thiên nhiên và các điều kiện sống của động, thực vật Trên cơ sở đó, HS sẽ dần dần nắm được

hệ thống các kĩ năng hành động và các quy tắc hành vi trong môi trường HS tiểu học là nhà nghiên cứu theo bản năng tự nhiên Chúng ta cần phải khuyến khích tò mò, khám phá của các em trong MT thiên nhiên Vai trò của người lớn là tạo điều kiện thuận lợi và chỉ dẫn các em thực hiện các khám phá hơn là cho chúng những câu trả lời hoặc kiểm soát chúng Hãy bắt đầu tìm hiểu các em đã biết gì, tò mò cái gì, làm gì để duy trì hứng thú của chúng Bằng cách đó chúng ta giúp học sinh thử nghiệm với khả năng của mình và tham gia tích cực vào quá trình đó Các nhà khoa học đã chứng minh rằng lứa tuổi tiểu học thường học thông qua các hoạt động, qua chia sẻ với người lớn và bạn bè Cảm xúc và tình cảm là một phần quan trọng của việc học tập của chúng [6]

Trang 20

15

CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

VÀ CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH 2.1 Cách tiếp cận

2.1.1 Từ thực tiễn

Hiện nay môi trường tự nhiên đang bị đe dọa trầm trọng bởi lượng chất thải khổng

lồ của các nhà máy, xí nghiệp, sinh hoạt, phương tiện giao thông, Nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay chủ yếu xuất phát từ ý thức của cá nhân và doanh nghiệp Nhiều người cho rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm hại môi trường Một số người lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của các cấp chính quyền… Trong khi số khác lại nghĩ rằng việc môi trường đã bị ô nhiễm thì có làm gì cũng “chẳng ăn thua” và ô nhiễm môi trường cũng không ảnh hưởng đến mình nhiều Và chính những suy nghĩ này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục cũng như tư duy bảo vệ môi trường của các thế hệ trẻ về sau

2.1.2 Từ chương trình GDMT ở tiểu học

GDMT là một quá trình liên tục giúp cho cá nhân có những nhận thức về môi trường mà họ đang sống và có được các kiến thức giá trị kĩ năng, kinh nghiệm cũng như hiểu rõ họ có thể làm gì, với tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết các vấn đề môi trường hiện nay và trong tương lai Trong chương trình tiểu học nội dung giáo dục môi trường không được tổ chức thành một môn học riêng biệt, mà được tích hợp vào tất cả các môn học khác Do đó mà tùy vào đặc trưng môn học mà phương pháp tích hợp cũng khác nhau Hiện nay dạy học trải nghiệm là bắt buộc trong chương trình mới, trong đó sử dụng phương pháp này để GDMT sẽ giúp học sinh đạt đến đích cuối cùng là biết hành động để BVMT Tuy nhiên thực tế việc dạy học trải nghiệm sáng tạo ở các trường tiểu học hiện nay còn gặp nhiều khó khăn như kinh phí, đội ngũ giáo viên, nội dung thực hiện…

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 21

16

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng nội dung GDBVMT cho HS tiểu học dựa trên khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo (9/2010) và hiện vẫn được áp dụng

Nghiên cứu các tài liệu về môi trường, giáo dục môi trường, các tài liệu về sinh lí, tâm lý, giáo dục học của học sinh tiểu học (tập trung chủ yếu vào học sinh lớp 3) và dạy học trải nghiệm thông qua tái chế rác thải Việc nghiên cứu cơ sở lý luận này giúp tôi có căn cứ để xác định được khả năng áp dụng việc dạy học trải nghiệm để GDMT cho học sinh lớp 3

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp này thực hiện thông qua các bảng hỏi, bảng khảo sát, phỏng vấn để thu thập thông tin liên quan đến GDMT tại một số trường tiểu học ở tỉnh Gia Lai

2.2.3 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp xây dựng các nội dung GDBVMT thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, giờ học hoạt động trải nghiệm dành cho tất cả các lớp trong cấp độ tiểu học Các phương pháp được áp dụng để nghiên cứu xây dựng tích hợp và lồng ghép chương trình GDBVMT cho học sinh tại khu vực nghiên cứu như là quan sát, thực hành – trải nghiệm, sử dụng trò chơi, nêu tình huống có vấn đề, luyện tập

Bước 4: Thực nghiệm một số kế hoạch dạy học;

Bước 5: Phân tích kết quả và rút ra kết luận

Trang 22

Bảng 3 1 Số lượng giáo viên và các trường khảo sát ở Gia Lai

Trường Số lượng GV khảo sát Nam Nữ

Trong số 50 giáo viên khảo sát có 11 giáo viên nam và 39 giáo viên nữ (do đặc thù của giai đoạn tiểu học nên giáo viên nam khá ít và dạy học ở nhiều bộ môn khác nhau) Kết quả khảo sát về cách thức thực hiện GDMT cho học sinh trong 02 trường tiểu học trên như bảng 3.2

Bảng 3 2 Kết quả khảo sát GV về cách thực hiện GDMT ở trường tiểu học

Nhận định Tần số Tỉ lệ (%)

Trang 23

18

Từ khảo sát cho thấy 80% giáo viên lựa chọn cách tích hợp nội dung các môn học

để giáo dục môi trường cho HS Kết quả này hoàn toàn phù hợp với yêu cầu chương trình giáo dục tiểu học ở Việt Nam Đồng thời việc dạy GDMT rất cần thiết trong thực tiễn vì

“Môi trường đang bị ô nhiễm rất trầm trọng Nếu hiểu được tầm quan trọng của môi trường, các em có ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường sạch đẹp, đảm bảo cho sức khỏe con người” ( ý kiến của GV) GV cũng rất chú trọng đến tầm quan trọng của việc GDMT cho

HS sao cho phù hợp với từng lứa tuổi và tạo động cơ hứng thú cho HS khi tham gia các phong trào giữ gìn và bảo vệ môi trường Bên cạnh đó có 8% GV lựa chọn cách xây dựng chuyên đề riêng cho HS và 12% chọn cách tích hợp vào các hoạt động chung của nhà trường vì lí do: “Thời gian dạy các tiết học cho HS còn hạn chế, nếu tích hợp lồng ghép các nội dung về GDMT trong các tiết học thì sợ kiến thức của các môn học sẽ không được truyền tải đầy đủ đến HS”

Bảng 3 3 Kết quả khảo sát GV về ưu điểm của việc dạy học giáo dục tích hợp đối

với học sinh trong chương trình tiểu học Nhận định Tần số Tỉ lệ %

Theo số liệu ở bảng 3.3 cho thấy có 20% GV cho rằng dạy học bằng hình thức tích hợp làm cho tiết học thêm sinh động, hấp dẫn; 10% GV cho rằng sẽ tạo động cơ, hứng thú học tập và không có GV nào nhận định là quá tải và nhàm chán Có 70 % GV cho rằng ưu điểm của việc dạy học GDMT khi tích hợp, liên môn đối với HS trong chương trình tiểu học hiện nay vừa sinh động, hấp dẫn và tạo động cơ, hứng thú học tập cho HS Từ kết quả khảo sát cho thấy GDMT theo cách tích hợp mang lại cho HS nhiều thuận lợi Nếu một tiết học hấp dẫn, tạo được hứng thú cho HS thì HS sẽ rất dễ dàng ghi nhớ những kiến thức, vận dụng được những kiến thức đó trong những tình huống khác nhau Để xác định những khó khăn của GV khi tích hợp các nội dung GDMT trong từng môn học, bài học cho học sinh, chúng tôi tiếp tục khảo sát với kết quả chi tiết trong bảng 3.4

Trang 24

19

Bảng 3 4 Kết quả khảo sát những khó khăn của GV khi áp dụng dạy học tích hợp

liên môn nội dung GDMT

giáo viên

4

Thời gian hạn chế chỉ truyền tải được lý thuyết mà phần thực hành

kĩ năng chưa được luyện tập nhiều Nội dung giáo dục môi trường

thường chỉ nói trên lý thuyết để giáo dục cho học sinh nên học sinh

ít hứng thú và không nhớ để áp dụng vào thực hành

16

7

Đòi hỏi giáo viên phải có năng lực trong tổ chức hoạt động học tích

cực và sáng tạo cho học sinh, các hoạt động ấy phải được tổ chức ở

trong lớp, ở ngoài lớp Nhưng thực tế hoạt động giảng dạy thường

chỉ diễn ra ở trong lớp học nên nhiều khi còn gặp khó khăn

14

Kết quả bảng 3.4 cho thấy đa số GV cho rằng việc dạy học tích hợp chủ yếu chỉ dạy trên lý thuyết không áp dụng được thực hành nhiều cho HS làm cho HS cảm thấy nhàm chán, không hứng thú khi học Hơn nữa thời gian của mỗi tiết học là một vấn đề mà hầu hết GV nào cũng quan tâm, nhiều nội dung bài học với lượng kiến thức quá dài không kịp truyền tải hết cho HS Một số GV cho rằng khi áp dụng dạy học tích hợp các môn học với nhau đòi hỏi phải có kiến thức về môi trường, có năng lực tổ chức các hoạt động học tập tích cực và sáng tạo cho HS Vì vậy cần có những buổi tập huấn về phương pháp dạy học tích hợp vào trong chương trình môn học của HS Trong thực tế GV tại tỉnh Gia Lai ít

Trang 25

Từ kết quả khảo sát ở nội dung 3 ta thấy rằng việc áp dụng dạy học tích hợp liên môn nội dung GDMT cần có sự đầu tư về phương tiện dạy học, sự quan tâm, hợp tác từ phía nhà trường và phụ huynh HS Tiếp tục đánh giá về hiệu quả của cách thức thực hiện GDMT đến ý thức và hành động của HS được GV nhận định như bảng 3.5

Bảng 3 5 Kết quả khảo sát GV về hiệu quả của dạy học tích hợp GDMT đến ý thức

và hành động của HS Nhận định Tần số Tỉ lệ

Từ khảo sát cho thấy các phương pháp dạy học về phía GV, GDMT đã giúp cho

HS có ý thức BVMT và biết hành động vì môi trường theo hướng tích cực Có 64% GV thấy các phương pháp đã giúp HS có ý thức tốt và 8% giáo viên thấy rằng ý thức của học sinh rất tốt HS đã hiểu được một số kiến thức về môi trường, những tác hại mà môi trường đã đem đếm cho bản thân cũng như là xã hội từ đó mà các em đã ý thức hơn trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường luôn sạch đẹp Bên cạnh đó, vẫn còn 20% giáo viên cho rằng có áp dụng các phương pháp GDMT cho HS nhưng ý thức của HS vẫn chưa được tốt trong phong trào bảo vệ môi trường Khảo sát GV về các phương pháp GDMT có thể làm thay đổi hành động của học sinh được chi tiết trong bảng 3.6

Trang 26

21

Bảng 3 6 Kết quả khảo sát việc sử dụng phương pháp GDMT giúp thay đổi hành

động của HS

Bảng 3.6 cho thấy phương pháp thực hành trải nghiệm và phương pháp tuyên truyền được GV lựa chọn nhiều nhất trong GDMT để thay đổi hành động của HS Ngoài

ra phương pháp thảo luận, quan sát và minh họa cũng được khá nhiều GV lựa chọn, riêng đối với phương pháp nêu gương và đóng vai, xử lý tình huống chỉ có 5 đến 10 GV lựa chọn Như vậy GV đều đánh giá việc sử dụng phương pháp thực hành trải nghiệm đạt hiệu quả tốt nhất khi GDMT

3.1.2 Nhận thức và hành động của HS về GDMT trước khi thực nghiệm

Để đánh giá hiệu quả GDMT mà GV đã thực hiện trong dạy học và giáo dục, chúng tôi tiến hành khảo sát nhận thức và hành động của học sinh tại hai trường tiểu học trên Trong nghiên cứu này không sử dụng phiếu khảo sát với HS vì hầu hết HS là người dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về chữ viết và không nhận được sự hợp tác từ

GV nên chúng tôi chọn phương pháp phỏng vấn Nghiên cứu này chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 72 học sinh lớp 3 của Trường Tiểu học Lương Thế Vinh tại Xã Ia Tô, huyện Iagrai, tỉnh Gia Lai qua 7 câu hỏi Kết quả khảo sát chi tiết trong bảng 3.7 sau:

Trang 27

“Không cần dội nước sau khi đi

nhà vệ sinh vì có lao công trường

Trang 28

23

này chỉ ra HS vẫn chưa biết cách để xử lí rác thải Khi được hỏi “Phân loại rác thải là gì?” chúng tôi nhận được 15 câu trả lời là chia rác ra nhiều chỗ khác nhau, 12 đáp án là bỏ rác vào thùng và 45/72 HS hoàn toàn không biết phân loại Điều này chứng tỏ hầu hết HS không biết phân loại rác thải Với câu hỏi “Trồng nhiều cây xanh trong trường học và trên đường phố để làm gì?” số HS trả lời để làm bóng mát rất nhiều (35 HS), 24 HS trả lời để chắn gió và 13 HS trả lời làm sạch bầu không khí và giảm tiếng ồn Từ những câu trả lời khá tốt của HS về việc trồng cây xanh, chúng tôi muốn biết rõ hơn nhận thức về việc BVMT nên đưa ra câu hỏi: “Chúng ta nên làm gì để giữ gìn môi trường?” Phần lớn HS đều trả lời bằng những cách đơn giản mà các em vẫn thường làm ở trên lớp, cụ thể có 45

HS cho rằng là không nên vứt rác bừa bãi, 22 HS trồng cây xanh và 5 HS lựa chọn cách tuyên truyền cho mọi người cùng ý thức bảo vệ môi trường Với câu hỏi này, chúng tôi đánh giá HS chỉ nắm được một số kiến thức về môi trường nhưng vẫn còn chưa chắc chắn Khi HS được hỏi về một số vấn đề trực nhật lớp có cần thiết hay không thì rất đông

HS lại cho rằng việc làm đó là không cần thiết (40 HS), phần còn lại cho rằng đó là việc làm cần thiết Với câu hỏi “Vứt rác ra cửa sổ có phải là biện pháp để giữ gìn lớp học sạch

sẽ hay không?” thì có tới 51/72 HS đồng ý với việc làm này Điều này chứng minh được rằng HS vẫn chưa nhận thức rõ được những hành động của bản thân trong việc giữ gìn vệ sinh lớp học Tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về nhận thức của học sinh liên quan đến giữ gìn

vệ sinh với câu hỏi: “Em có đồng ý với hành động “Không cần dội nước sau khi đi nhà vệ sinh vì có lao công trường dọn dẹp” hay không?” có đến 65 HS đồng ý và chỉ có 7 HS không đồng ý Kết quả cho chúng ta thấy rằng phần đông HS vẫn chưa biết cách giữ gìn

vệ sinh, điều này chứng minh HS vẫn chưa ý thức được như thế nào mới là bảo vệ môi trường sạch đẹp Từ kết quả khảo sát cho thấy ý thức và hành động của HS về BVMT rất hạn chế Hầu hết HS chưa có ý thức và chưa biết hành động về việc bảo vệ trường lớp sạch đẹp Do đó kiến thức về phân loại và tái chế rác thải phần đông HS không biết là

kết quả khảo sát của GV khi cho rằng việc GDMT cho học sinh đã được thực hiện rất tốt

Trang 29

24

3.2 Tích hợp GDMT theo hướng trải nghiệm trong chương trình lớp 3

Giáo dục bảo vệ môi trường có thể tích hợp được trong nhiều môn học của chương trình lớp 3 như Tiếng Việt, Đạo đức, Mỹ thuật, Tự nhiên và Xã hội và Hoạt động ngoài giờ lên lớp Cụ thể như sau:

3.2.1 Trong môn Mỹ thuật

Môn Mỹ thuật giúp cho HS biết được một số kiến thức cơ bản về mỹ thuật, quan sát và thưởng thức vẻ đẹp của môi trường xung quanh; biết biểu lộ tình cảm của mình đối với môi trường qua các bức tranh; bước đầu hiểu mối quan hệ và vai trò của môi trường đối với cuộc sống con người; biết yêu quý, giữ gìn vẻ đẹp cảnh quan, thiên nhiên và môi trường xung quanh, phản đối các hành động gây hại cho môi trường Do đó các nội dung

có thể tích hợp GDMT trong bài 30: Vẽ tranh, HS sẽ vẽ về chủ đề BVMT

3.2.2 Trong môn Đạo đức

Môn Đạo đức ở tiểu học giúp HS có hiểu biết ban đầu về một số chuẩn mực hành

vi đạo đức và chuẩn mực mang tính pháp luật phù hợp với lứa tuổi trong quan hệ của các

em với bản thân, người khác, công việc, cộng đồng và môi trường tự nhiên Dạy học tích hợp, lồng ghép giáo dục BVMT vào môn Đạo đức cấp Tiểu học giúp HS nhận biết vai trò của môi trường đối với cuộc sống con người, sự cần thiết phải BVMT Đồng thời rèn luyện hành vi ứng xử đúng đắn, thân thiện, khoa học đối với môi trường, hình thành nếp sống, sinh hoạt, học tập ngăn nắp, sạch sẽ, gọn gàng và tiết kiệm Giáo dục HS có ý thức

và tích cực tham gia vào các hoạt động BVMT do nhà trường, lớp hoặc địa phương tổ chức, biết tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước; tham gia bảo vệ, chăm sóc cây trồng, vật nuôi

là góp phần BVMT, giữ gìn sự cân bằng sinh thái Các bài học có thể tích hợp GDMT trong môn Đạo đức như bảng 3.8

Trang 30

25

Bảng 3 8 Bảng thống kê bài học tích hợp GDBVMT cho học sinh lớp 3 trong môn

Đạo đức Tên bài Nội dung tích hợp Bài 6: Tích cực tham gia việc lớp,

việc trường

- Tích hợp tham gia và nhắc nhở các bạn tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường do nhà trường, lớp tổ chức

Bài 9: Đoàn kết với thiếu nhi quốc tế - Tham gia một số hoạt động với thiếu nhi quốc

tế liên quan bảo vệ môi trường, làm cho môi trường thêm xanh, sạch, đẹp

Bài 13: Tiết kiệm và bảo vệ nguồn

nước

- Thực hành tiết kiệm và bảo vệ nguồn nước, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, làm cho môi trường thêm sạch đẹp, góp phần bảo vệ môi trường

Bài 14: Chăm sóc cây trồng vật nuôi - Tham gia bảo vệ, chăm sóc cây trồng, vật

nuôi

3.2.3 Tích hợp trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (GDNGLL)

Nội dung GDBVMT trong hoạt động GDNGLL cấp tiểu học bao gồm các vấn đề: Thành phần của môi trường xung quanh như đất, nước, không khí, ánh sáng mặt trời, sinh vật, nhà ở, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các công trình công cộng, các khu di sản văn hóa và di sản thiên nhiên Vai trò của môi trường đối với sức khỏe, cuộc sống của con người và các sinh vật; tác động của con người đối với sự phát triển bền vững của môi trường; vấn đề dân số và môi trường Một số biểu hiện của ô nhiễm môi trường, các nguồn gây ô nhiễm môi trường như nước thải, phân bón, xe cộ… Những biện pháp BVMT, hạn chế ô nhiễm môi trường; hoạt động BVMT và vai trò của HS Tiểu học; những quy định của nhà trường và địa phương về BVMT Các nội dung trên có thể thực hiện qua các chủ đề như: Ngôi nhà của em, Mái trường thân yêu của em, Em yêu quê hương, Môi trường sống của em, Em yêu thiên nhiên, Vì sao môi trường bị ô nhiễm, Tiết kiệm trong tiêu dùng và sinh hoạt

Ngày đăng: 20/12/2020, 11:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w