Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu .... - Xác định được một số đặc điểm sinh thái, phân bố và đặc điểm tái sinh tự nhiên của Trà hoa vàng Hako
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Vũ Thị Luận
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Thu
Hà - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiêp, trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo phòng Đào tạo Sau Đại học, khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Thị Thu
Hà, phòng Đào tạo Sau Đại học, khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực hiện luận văn
Tác giả xin cảm ơn phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Viện nghiên cứu Lâm nghiệp và Phát triển Lâm nghiệp trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Vườn Quốc gia Tam Đảo, cán bộ lâm nghiệp và nhân dân các xã vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tác giả học tập, điều tra thu thập số liệu ngoại nghiệp Cuối cùng xin chân thành cảm ơn bạn
bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành bản luận văn này
Do thời gian và điều kiện phương tiện nghiên cứu còn thiếu nên kết quả đạt được của đề tài không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Vũ Thị Luận
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu 4
1.1.1 Giới thiệu về loài Trà hoa vàng Hakoda 4
1.1.2 Khái niệm tái sinh rừng 6
1.1.3 Cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học 7
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Ở Việt Nam 13
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 19
1.3.1 Giới thiệu sơ lược về Tam Đảo 19
1.3.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Đại Từ 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 2.1 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 26
Trang 42.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Một số đặc điểm hình thái loài Trà vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu 33
3.1.1 Hình thái thân, cành 33
3.1.2 Hình thái lá 34
3.1.3 Hình thái hoa 35
3.2 Đặc điểm sinh thái nơi có loài Trà hoa vàng Hakoda và hiện trạng phân bố của loài tại khu vực nghiên cứu 35
3.2.1 Điều kiện khí hậu nơi có loài Trà hoa vàng Hakoda phân bố 35
3.2.2 Đặc điểm đất đai nơi có Trà hoa vàng Hakoda phân bố 37
3.2.3 Hiện trạng phân bố của loài Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu 38
3.3 Một số đặc điểm cấu trúc rừng nơi có loài Trà hoa vàng Hakoda phân bố 40
3.3.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ 40
3.3.2 Đặc điểm tầng cây gỗ 44
3.3.3 Thành phần loài cây đi kèm với Trà hoa vàng Hakoda 46
3.3.4 Đặc điểm độ tàn che tầng cây gỗ 49
3.3.5 Đặc điểm tầng cây bụi, thảm tươi 50
3.4 Tình hình sinh trưởng và tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu 54
3.4.1 Tình hình sinh trưởng của loài Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu 54
3.4.2 Đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu 58
3.5 Đề xuất một số biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên cho loài Trà hoa vàng Hakoda ở các trạng thái rừng IIA, IIIA1 61
3.5.1 Một số biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên cho cây Trà vàng Hakoda 61
3.5.2 Điều kiện gây trồng loài Trà hoa vàng Hakoda 61
Trang 5KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
1 Kết luận 63
2 Tồn tại 64
3 Đề nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 69
Trang 6Dt : Đường kính tán Hdc : Chiều cao dưới cành Htb : Chiều cao trung bình Hvn : Chiều cao vút ngọn IUCN : Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới ODB : Ô dạng bản
OTC : Ô tiêu chuẩn TSTN : Tái sinh tự nhiên UBND : Ủy ban nhân dân VQG : Vườn Quốc gia
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Giá trị sản xuất huyện Đại Từ giai đoạn 2011 - 2015 23 Bảng 3.1 Các chỉ tiêu về lá của Trà hoa vàng Hakoda ở khu vực nghiên cứu 34 Bảng 3.2: Phân bố cá thể Trà hoa vàng Hakoda theo khu vực khác nhau 38 Bảng 3.3 Phân bố cá thể Trà hoa vàng Hakoda theo OTC 39 Bảng 3.4 Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ khu vực xã La Bằng, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên 41 Bảng 3.5 Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ khu vực xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên 42 Bảng 3.6 Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ khu vực xã Quân Chu, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên 44 Bảng 3.7 Đặc điểm của tầng cây gỗ khu vực xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên 45 Bảng 3.8 Đặc điểm của tầng cây gỗ khu vực xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên 45 Bảng 3.9 Đặc điểm của tầng cây gỗ khu vực xã Quân Chu, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên 46 Bảng 3.10: Mức độ thân thuộc của loài Trà hoa vàng Hakoda với các loài
khác tại khu vực xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 47 Bảng 3.11: Mức độ thân thuộc của loài Trà hoa vàng Hakoda với các loài
khác tại khu vực xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 48 Bảng 3.12: Mức độ thân thuộc của loài Trà hoa vàng Hakoda với các loài
khác tại khu vực xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 48 Bảng 3.13 Độ tàn che tầng cây gỗ ở các xã La Bằng, Mỹ Yên, Quân Chu
thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 50 Bảng 3.14 Thành phần cây bụi xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 51 Bảng 3.15 Thành phần cây bụi xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 51
Trang 8Bảng 3.16 Thành phần cây bụi khu vực xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên 52 Bảng 3.17 Thành phần thảm tươi khu vực xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên 53 Bảng 3.18 Thành phần thảm tươi khu vực xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên 53 Bảng 3.19 Thành phần thảm tươi khu vực xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên 54 Bảng 3.20 Sinh trưởng của Trà hoa vàng khu vực xã La Bằng, huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên 55 Bảng 3.21 Sinh trưởng của Trà hoa vàng Hakoda khu vực xã Mỹ Yên, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 56 Bảng 3.22 Sinh trưởng của Trà hoa vàng Hakoda khu vực xã Quân Chu,
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 57 Bảng 3.23 Phân bố tái sinh của Trà hoa vàng Hakoda theo cấp chiều cao 59 Bảng 3.24 Phân bố tái sinh của Trà hoa vàng Hakoda theo chất lượng và
nguồn gốc tái sinh 60
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Trà hoa vàng Hakoda (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) 5 Hình 3.1: Hình thái thân cây, cây trưởng thành - Trà hoa vàng Hakoda 33 Hình 3.2: Hình thái lá Trà hoa vàng Hakoda 34 Hình 3.3: Hình thái hoa, cành mang nụ của cây Trà hoa vàng Hakoda 35 Hình 3.4: Biểu đồ diễn biến thời tiết khí hậu tại khu vực nghiên cứu 36 Hình 3.5: Đồ thị phân bố N/D00 của Trà hoa vàng Hakoda khu vực xã La
Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 55 Hình 3.6: Đồ thị phân bố N/D00 của Trà hoa vàng Hakoda khu vực xã
Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 56 Hình 3.7: Đồ thị phân bố N/D00 của Trà hoa vàng Hakoda khu vực xã
Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 57 Hình 3.8: Cây tái sinh của Trà hoa vàng Hakoda 58 Hình 3.9: Đồ thị tỷ lệ phân bố Trà hoa vàng Hakoda theo chất lượng cây
tái sinh 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trà hoa vàng thuộc chi Camellia là một chi lớn thuộc họ Chè
(Theaceae) Các loài trong chi Camellia có nhiều tác dụng như gỗ làm đồ gia
dụng bền chắc, lá, hoa làm đồ uống, làm dược liệu và làm cây cảnh Ngoài ra, có thể trồng dưới tán cây khác trong các đai rừng phòng hộ chống xói mòn, nuôi
dưỡng nguồn nước (Ngô Quang Đê, 1998) [7] Trà hoa vàng là loài cây quý,
được phát hiện ở Trung Quốc vào những năm 60 của thế kỷ XX nhưng đã được phát triển nhanh chóng nhờ những đặc tính vốn có của nó Trung Quốc đã lai giống thành công giữa Trà hoa vàng và Trà hoa đỏ, làm lá nhỏ đi nhưng vẫn giữ được màu hoa vàng đặc trưng Ngoài việc sử dụng Trà hoa vàng như một loài cây cảnh quan, còn có các ứng dụng khác, như sử dụng các chất dinh dưỡng trong lá, hoa có tác dụng hạ huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ miễn dịch [33]
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng được phát hiện ở nhiều nơi những năm 90 của thế kỷ XX và ở một số vùng phía Bắc trong những năm vừa qua Trà hoa vàng là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, là cây ưa bóng, có thể đưa chúng vào đối tượng trồng dưới tán rừng tự nhiên Hiện nay, môi trường sống của Trà hoa vàng đang bị đe dọa nghiêm trọng do việc chặt phá rừng bừa bãi, nếu không
có kế hoạch bảo vệ và đầu tư hợp lý thì chúng ta sẽ mất đi nguồn tài nguyên quý hiếm này (Ngô Quang Đê, 2001) [8]
Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo được thành lập tại Quyết định số 601/NN-TCCB/QĐ, ngày 15/5/1996 của Bộ Nông nghiệp và PTNT với tổng diện tích là 36.883 ha Tam Đảo là một khối núi thuộc phần cuối của dãy núi hình cánh cung thượng nguồn sông chảy Dãy núi này như bức bình phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng đồng bằng, gồm trên 20 đỉnh núi với độ cao trên 1000m Cao nhất là đỉnh Tam Đảo Bắc (1.592m), vùng trung tâm có 3 đỉnh:
Trang 11Thiên Thị (1.375m), Thạch Bàn (1.388m) và Phù Nghĩa (1.300m), sườn núi dốc, địa hình chia cắt mạnh Sự phức tạp của địa hình, hướng phơi, độ cao, khí tượng thủy văn, mức độ tác động của con người khác nhau cùng với đặc tính sinh vật học của từng loài cây đã tạo cho Tam Đảo có một hệ thực vật hết sức phong phú và đa dạng với 1.430 loài thực vật, thuộc 741 chi, 219 họ, 6 ngành thực vật bậc cao Trong số các loài thực vật của VQG Tam Đảo có 68 loài đặc hữu
và 58 loài quý hiếm được ghi vào sách đỏ của Việt Nam hay theo tiêu chuẩn của
IUCN cần được bảo tồn và bảo vệ như: Lan hài Tam Đảo, Hoàng thảo hoa vàng, Trà hoa vàng ginbéc, Trà hoa vàng Tam Đảo Tài nguyên thực vật rừng nơi
đây cũng rất đa dạng về công dụng với 16 nhóm công dụng chính như: Lấy gỗ, làm thuốc, cây bóng mát hoặc làm cảnh, làm rau ăn, lấy quả, cho nhựa mủ, cho tanin, cho tinh dầu, Đặc biệt là loài Trà hoa vàng Hakoda, là loài cho hoa đẹp
và có giá trị về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực nên được rất nhiều người ưa thích Hiện nay, môi trường sống của Trà hoa vàng Hakoda đang bị đe dọa nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau như: nhu cầu chơi cây cảnh, nhu cầu làm dược liệu và đặc biệt do thị trường Trung Quốc thu mua với giá rất cao nên người dân địa phương đã vào rừng thu hái trái phép Điều đó đã dẫn đến làm suy giảm số lượng và trữ lượng loài Trong khi đó, việc nghiên cứu cơ bản về loài cây này còn rất hạn chế (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [20]
Xuất phát từ thực tế và yêu cầu bảo tồn và phát triển loài Trà hoa
vàng Hakoda Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng phân bố và đặc điểm tái sinh của loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh, Tr.) tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” là rất cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được những đặc điểm cơ bản về hình thái của loài Trà hoa vàng
Hakoda tại khu vực nghiên cứu
Trang 12- Xác định được một số đặc điểm sinh thái, phân bố và đặc điểm tái sinh
tự nhiên của Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học:
+ Xác định được hiện trạng phân bố và đặc điểm tái sinh tự nhiên của Trà hoa vàng Hakoda tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
+ Làm cơ sở lý luận khoa học cho việc bảo tồn và phân loại
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả điều tra hiện trạng phân bố và đặc điểm
tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng Hakoda, góp phần giúp Vườn Quốc gia Tam Đảo bảo tồn và phát triển loài cây này đạt hiệu quả cao
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu
1.1.1 Giới thiệu về loài Trà hoa vàng Hakoda
a) Nguồn gốc, vị trí, phân loại loài Trà hoa vàng Hakoda
Trà hoa vàng Hakoda là loài đặc hữu của Việt Nam và mới chỉ tìm thấy
ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, Thái Nguyên, thuộc bộ Thạch nam (Ericales), họ Chè (Theaceae), chi Trà (Camellia) là một chi thực vật hạt kín (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [20]
b) Đặc điểm của loài Trà hoa vàng Hakoda
* Đặc điểm thực vật học
Trà hoa vàng Hakoda là loài cây gỗ nhỏ, cao 3- 4m Cành non màu nâu nhạt, lá có cuống dài 8- 15 mm, xanh đậm và láng ở mặt trên, xanh sáng ở mặt dưới với nhiều điểm tuyến màu đen, cả hai mặt đều không lông,
lá dạng da, dày, gốc lá hình nêm hoặc tròn, chóp lá có mũi nhọn, mép lá có răng cưa nhỏ cách đều nhau, hệ gân lõm ở mặt trên và nổi rõ ở mặt dưới, gân bên 12-16 cặp Hoa màu vàng, mọc ở đầu cành hoặc nách lá, đường kính khi nở khoảng 6-8 cm Cuống hoa dài 1-1,2 cm, mang 5-6 lá bắc hình móng hoặc hình vẩy đến gần tròn, cao 4-6 mm, rộng 7-12 mm, mép và mặt trong có lông Tràng hoa gồm 16-17 cánh, gần tròn đến bầu dục, dài 2-5,3
cm, rộng 2,3-3,5 cm, có lông ở mặt trong và thưa dần ở các cánh bên trong
Bộ nhị nhiều, cao 4-4,5 cm, các chỉ nhị vòng ngoài, dính nhau 1,4-2,1 cm, chỉ nhị bên trong rời, có lông Bộ nhụy gồm 4 hoặc 5 lá noãn hợp thành bầu 4-5 ô, không lông, vòi nhụy 4 hoặc 5, rời, dài 3,2-3,5 cm, không lông Quả gần dạng cầu, đường kính 5-6 cm, cao 4-4,5 cm, 3-4 hạt trong mỗi ô,
vỏ quả dày 4,5-6,5 mm Hạt dài 2,2 cm, có lông (Trần Ninh và Hakoda
Naotoshi, 2010) [20] (Hình 1.1)
Trang 14a) Cây con
d) Cành man
d) Cành mang hoa đ) Quả và hạt
Hình 1.1: Trà hoa vàng Hakoda (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [20]
* Yêu cầu ngoại cảnh đối với Trà hoa vàng Hakoda
Cây Trà hoa vàng Hakoda sống trong điều kiện có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa mưa và mùa khô phân biệt rõ rệt thường mọc trong những thung lũng ẩm ướt trong rừng nhiệt đới ở độ cao 150m - 500 m Nhiệt độ không khí bình quân năm là 23,50C, độ ẩm không khí trung bình là 81% Lượng mưa trung bình năm là 1526 mm Thích hợp với Feralit phát triển trên đá mẹ Macmaxit kết
Trang 15tinh chua, đất hơi chua Trà hoa vàng Hakoda ra hoa từ đầu mùa Đông cho tới đầu Xuân Khả năng tái sinh hạt kém, thụ phấn nhờ gió và côn trùng Song khả năng tái sinh chồi rất mạnh, điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nhân giống sinh dưỡng (Trần Ninh và Hakoda Naotoshi, 2010) [20]
1.1.2 Khái niệm tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng Đó là sự xuất hiện các thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như dưới tán rừng, khoảng trống trong rừng, trên đất rừng sau khi khai thác hoặc sau khi làm nương rẫy, các cây con sẽ thay thế cây già cỗi Theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần
cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Theo nghĩa rộng, tái sinh rừng là sự tái sinh nhằm đảm bảo cho sự tồn tại liên tục của một hệ sinh thái rừng (Nguyễn Anh Dũng, 2000) [5]
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [15], tái sinh được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh rừng Theo tác giả vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế
hệ cây gỗ già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Tác giả cũng khẳng định tái sinh rừng có thể hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng Bàn về vai trò của lớp cây tái sinh, Trần Xuân Thiệp (1995) [26] cho rằng nếu thành phần loài cây tái sinh giống với thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây tái sinh khác với thành phần cây đứng thì quá trình diễn thế xảy ra
Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình hình thành lớp cây con dưới tán rừng Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều có nguồn gốc từ hạt và chồi có sẵn, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo thì cây con cũng phải mọc từ nguồn hạt do con người gieo trước
Trang 16đó Nó được phân biệt với các khái niệm khác (như trồng rừng) là sự thiết lập lớp cây con bằng việc trồng cây giống đã được chuẩn bị trong vườn ươm Vì đặc trưng đó nên tái sinh là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của các
hệ sinh thái rừng
1.1.3 Cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con người với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn ĐDSH, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinh thái đó trong tương lai (Trần Thế Liên, 2006) [16], (Hoàng Đình Quang, 2011) [21], (Phạm Bình Quyền, 2012) [22]
Tuy nhiên, dưới áp lực ngày càng tăng của sự thay đổi khá nhanh các điều kiện môi trường, đặc biệt do sự nóng lên toàn cầu, mục tiêu của một chiến lược bảo tồn nguồn gen thực vật là không chỉ bảo tồn các khác biệt di truyền hiện có mà còn tạo ra các điều kiện phù hợp cho việc tăng sự thích nghi và sự tiến hóa tương lai của loài Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1978, Việt Nam cũng công bố trong Sách đỏ (Sách đỏ Việt nam, 1986) phần II, Thực vật [2] Sách đỏ Việt Nam năm
2007 (Sách đỏ việt Nam, 2007) phần II Thực vật [3] để hướng dẫn, thúc đẩy
công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia ra các thứ hạng sau:
+ Bị tuyệt chủng (EX)
+ Tuyệt chủng trong tự nhiên (EW)
+ Cực kì nguy cấp (CR)
+ Nguy cấp (EN)
Trang 17+ Sắp nguy cấp (VU)
+ Ít nguy cấp: (LR)
+ Không đánh giá: Not Evaluated (NE)
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại VQG Tam Đảo có rất nhiều loài động, thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung Trong đó loài Trà hoa vàng Hakoda đang được xếp vào cấp bảo tồn sắp nguy cấp (VU)
Với những nội dung trên là cơ sở khoa học để chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Nhân tố sinh thái được nhiều tác giả quan tâm và tìm hiểu là sự thiếu hụt ánh sáng của cây con dưới tán rừng Nếu ở trong rừng, cây con chết vì thiếu nước thì cũng không nên loại trừ do thiếu ánh sáng Trong rừng mưa nhiệt đới,
sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến phát triển cây con, còn đối với sự
nảy mầm và phát triển mần non thường không rõ (Baur G N., 1962) [1]
Khi tái sinh tự nhiên (TSTN) của rừng, các tác giả nhận định tầng cây bụi đã ảnh hưởng tới cây tái sinh các loài cây gỗ Ở quần thụ kín tán, tuy thảm cỏ phát triển kém nhưng cạnh tranh dinh dưỡng và ánh sáng của chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh Những lâm phần đã qua khai thác, thảm cỏ
có điều kiện phát sinh mạnh mẽ sẻ trở ngại lớn cho tái sinh rừng Ngoài ra Ghent, A.W (1969) [29] còn nhận xét: Thảm mục, chế độ thủy nhiệt, tầng đất mặt quan hệ với tái sinh rừng cũng cần được làm rõ Hiển nhiên, trong những trường hợp cụ thể ảnh hưởng của động vật và lửa rừng có thể gây những tác
hại đến TSTN ở mức độ khác nhau
Trang 18Nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hàng trăm năm, nhưng ở rừng nhiệt đới, vấn đề này được đề cập từ năm 1930 trở lại đây Đầu thế kỷ
19 khi công nghiệp phát triển mạnh, nhu cầu gỗ đòi hòi quá lớn, con người phải tập trung khai thác rừng tự nhiên và tiến hành tái sinh nhân tạo Nhưng
từ những thất bại tái sinh rừng nhân tạo ở Đức nhiều nhà khoa học ủng hộ và đồng nhất quan điểm “Hãy quay trở lại với tái sinh tự nhiên” Khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới, Van steenis.J (1956) [32] đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến: Tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được (Baur G N 1962) [1] tổng kết trong
“Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa”
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông với diện tích ô đo đếm thông thường từ 1-4m2, diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi cho điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh được trung thực tình hình tái sinh rừng Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi cho điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh được trung thực tình hình tái sinh H Lamprecht (1989) [30], căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và cây chịu bóng
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của P.W.Richards (1952) [31], tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1x1m, 1x1.5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân
bố cụm, một số ít có phân bố Poisson Ở Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu
Trang 19thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (Nguyễn Duy Chuyên, 1996) [4]
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này (Baur G.N., 1962) [1] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới,
tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ
có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng
Trang 20Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng tỏ việc nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là
cơ sở để xây dựng các phương thức lâm sinh hợp lí
1.2.1.2 Những nghiên cứu về loài Trà hoa vàng
Nghiên cứu thực vật học Vân Nam của tác giả Chu Tương Hồng cho thấy ở Trung Quốc các loài cây trong chi Camellia có phân bố tự nhiên ở 16 tỉnh và có nhiều loài có giá trị thẩm mỹ cao Việc nghiên cứu về các loài trong chi Camellia được bắt đầu ở Trung Quốc từ những năm 40 của thế kỷ
XX Bằng kết quả của việc chọn giống, nhân giống, gây tạo đã đưa số chủng loại từ 20 lên 120 loài Đầu những năm 1950 ở Côn Minh - Trung Quốc đã đưa việc nghiên cứu các loài trong chi Camellia thành trọng điểm và cũng đi sâu vào nghiên cứu nguồn giống, phân loại, lai tạo ra các giống mới để phát triển và thiết lập các nguồn giống, xây dựng thành ngân hàng gen phục vụ cho các mục tiêu sản xuất nguyên liệu công nghiệp, đồ uống và cây cảnh (Chu Tương Hồng, 1993) [13]
Những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên Trà hoa vàng được phát hiện ở Quảng Tây, Trung Quốc và được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Từ đó nó được các nước rất quan tâm nghiên cứu vì có một số công dụng đặc biệt Trung Quốc đã xây dựng được khu bảo tồn gen các loại Trà hoa vàng (trên 20 loài và biến chủng) và đi sâu nghiên cứu các mặt cấu tạo
gỗ, nhiễm sắc thể, đặc trưng hình thành phấn hoa, lai giống và nhân giống Trà hoa vàng [33]
Trà hoa vàng ưa khí hậu nóng ẩm, thường mọc ở nơi đất tơi xốp bên bờ suối có bóng râm, thoát nước tốt Phạm vi phân bố tự nhiên rất hẹp, chỉ thấy mọc hoang ở vùng đồi gò 100-200m, huyện Ung Nhinh - Nam Ninh - Quảng Tây - Trung Quốc Được đưa vào danh sách các loài
cây bảo hộ cấp I của Trung Quốc [33]
Trang 21Trong lá của Trà hoa vàng có chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng như Germanium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn), Vanadium … Các hoạt chất trong lá, hoa của Trà hoa vàng có tác dụng hạ huyết áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng
cường hệ miễn dịch và kéo dài tuổi thọ Germanium có hoạt tính sinh lý rất
cao, có thể phát huy, tăng cường năng lực hấp thu O2 của tế bào, đảm bảo cung cấp dưỡng khí cho cơ thể, có lợi cho việc trao đổi chất Germanium hữu
cơ làm tăng sức đề kháng, chống u bướu, hạn chế tế bào u bướu phát triển, tăng khả năng miễn dịch, có tác dụng phòng và chống ung thư Selenium có tác dụng chống oxy hoá, có thể tiêu trừ các gốc tự do có hại trong cơ thể, nâng cao năng lực tự bảo vệ, do đó kéo dài tuổi thọ Vanadium có thể xúc tiến
cơ năng tạo máu, giảm cholesterol trong huyết tương Nghiên cứu lâm sàng chứng tỏ Trà hoa vàng giúp giảm mỡ máu rơ rệt hơn alpha-Napthothiourea, thuốc đã được thế giới công nhận về công dụng giúp giảm mỡ [33]
Theo “Camellia International Journal” - tạp chí chuyên nghiên cứu về Trà hoa vàng của thế giới, các hợp chất của Trà hoa vàng có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các khối u đến 33,8% trong khi chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là thành công trong điều trị ung thư Giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol trong máu, trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33,2% Chất chiết xuất từ Trà hoa vàng còn có tác dụng làm giảm tới 36,1% lượng lipoprotein trong cơ thể, cao hơn 10% so với các liệu pháp sử dụng tân dược hiện nay Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc, trong một công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Trà hoa vàng "có những công dụng y học vô giá" (Sơn Tùng, 2008) [34]
Ngoài ra, các nghiên cứu của nước ngoài cũng chỉ ra rằng, Trà hoa còn
có khả năng hấp thu CO2, H2S, Cl, HF và các thể khí độc hại khác, có tác
dụng bảo vệ môi trường mạnh, làm sạch không khí Một công viên Trà hoa
Trang 22vàng đã được xây dựng tại Nam Ninh - Trung Quốc để phục vụ người dân thăm quan và là nơi bảo vệ nguồn gen cho các nhà khoa học nghiên cứu [33]
Như vậy, ở Trung Quốc các loài trong chi Camelli đã được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn nghiên cứu một cách nghiêm túc Trung Quốc
là nước đi đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng, khai thác các loài trà hoa trong nghệ thuật cây cảnh, làm thuốc, đồ uống
1.2.2 Ở Việt Nam
1.2.2.1 Nghiên cứu về tái sinh
Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những năm 1960 Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1978) [26] về “ Thảm thực vật rừng Việt Nam” Ông đã nhấn mạnh ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh
và thứ sinh Theo ông, có một nhóm nhân tố sinh thái trong nhóm khí hậu đã khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng,
đó là nhân tố ánh sáng Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và thời gian như A.Ôbrêvin đã nhận định và diễn thế theo phương thức tái sinh không có quy luật “nhân quả” giữa sinh vật và hoàn cảnh Vì lẽ trên P.W Risa đã nói rất có lý: “Lý luận tuần hoàn tái sinh đã ứng dụng rộng rãi được đến mức độ nào, vấn đề này hiện nay phải tạm gác lại chưa giải quyết được”
Từ năm 1962 - 1969, Viện Điều tra Qui hoạch rừng đã có điều tra tình hình tái sinh tự nhiên cho các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam như: Yên Bái (1965), Quỳ Châu sông Hiếu Nghệ An (1962 - 1964), Quảng Bình (1969), Lạng Sơn (1969) Nguyễn Hữu Hiến (1970) [11] đã đưa ra phương pháp đánh giá tổ thành rừng nhiệt đới, tác giả cho rằng loài cây tham gia vào loại hình
Trang 23thì nhiều, trên diện tích 1 ha có khi có tới hàng trăm loài, cùng một lúc không thể
kể hết được Vì vậy, người ta chỉ kể đến loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất trong các tầng quan trọng (tính theo loài cây ưu thế hoặc nhóm loài ưu thế) tác giả đã đưa ra công thức tính tổ thành là X ≥ N/a với X là trị số bình quân cá thể của một loài, N là số cây điều tra và a là số loài điều tra Một loài được gọi là thành phần chính của một loại hình phải có số lượng cá thể bằng hoặc lớn hơn
X Đây là một cách đánh giá thuận tiện trong khi phân tích nghiên cứu phân bố các loài, diễn thế và sự phân bố các quần lạc thực vật
Lâm Công Định (1987) [10] trong nghiên cứu về tái sinh, ông cho rằng tái sinh là chìa khóa để quyết định nội dung điều chế rừng Tác giả kết luận hiệu quả của việc điều chế đối với một khu rừng cụ thể là phải hướng tới đạt được 3 yêu cầu mấu chốt sau đây: 1) Giữ vững được vốn rừng về cả mấy mặt hiện tại trong đó: Địa bàn, diện tích, thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học, sản lượng, phẩm chất vật liệu và giá trị môi sinh 2) Đảm bảo được sản lượng khai thác hàng năm theo chu kỳ ổn định 3) Nâng thêm được giá trị vốn rừng chủ yếu về: thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học và sản lượng thu hoạch Tác giả nhấn mạnh tất cả 3 yêu cầu trên hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng phương pháp và điều kiện đảm bảo tái sinh
Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên tác giả Vũ Tiến Hinh (1991) [12] đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng
và ý nghĩa của nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng Tác giả đã
sử dụng phương pháp chặt hết cây gỗ D1.3 > 8cm ở hai ô tiêu chuẩn (một ô là lâm phần sau phục hồi trên đất rừng tự nhiên sau khai thác kiệt và một ô thuộc trạng thái rừng IIIA3) Kết quả nghiên cứu tác giả cho biết: Với đối tượng rừng Sau sau phục hồi phân bố số cây theo đường kính và theo tuổi đều
là dạng phân bố giảm Điều đó, chứng tỏ rằng mặc dù là loài cây ưa sáng mạnh, loài Sau sau vẫn có đặc điểm tái sinh liên tục qua nhiều thế hệ, càng về sau tốc độ tái sinh càng mạnh Đối với rừng tự nhiên thứ sinh hỗn giao thì
Trang 24phân bố số cây theo tuổi của cây cao và cây tái sinh đều có dạng phân bố giảm và nhìn chung toàn lâm phần tự nhiên cây rừng tái sinh liên tục và càng
ở tuổi nhỏ số cây càng tăng
1.2.2.2 Nghiên cứu về Trà hoa vàng
Trà hoa vàng lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc nước
ta năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về Trà hoa vàng không đáng kể Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài khác nhau Những năm 90 của thế kỷ XX, Trà hoa vàng mới được quan tâm điều tra nghiên cứu về hình thái, phân loại Trà hoa vàng (Trần Ninh, 2002) [19]
Nghiên cứu của tác giả Ngô Quang Đê bằng phương pháp điều tra theo tuyến đã điều tra phát hiện khu vực phân bố, đặc điểm hình thái, sinh thái của một số loài Trà hoa vàng tại Vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Tây (nay là Hà Nội)
đã cho thấy ở Vườn Quốc gia Ba Vì có hai loài Camellia có triển vọng thuần
hóa làm cây cảnh Phần lớn những loài này đều phân bố ở độ cao trên 600m, nơi có tầng đất dày, xốp ẩm, hơi chua dưới tán rừng, là các loài sinh trưởng chậm, chịu bóng nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh nên cần có kỹ thuật tốt Hơn nữa, tác giả Ngô Quang Đê đã di thực thuần hóa thành công 2 loài: Trà hoa thơm Ba Vì (Camellia vietnamensis) và Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard) Cohen Stuart) tại vườn Trà ở Xuân Mai - Chương Mỹ -
Hà Nội, hiện 2 loài này sinh trưởng phát triển tốt đồng thời cho hoa đẹp vào dịp xuân về (Ngô Quang Đê, 1996) [6]
Cũng theo tác giả Ngô Quang Đê (1998) có khoảng 196 loài Trà, chia làm 4 á chi và nhiều chủng, biến chủng Việt Nam có khoảng 26 loài trà, chủ yếu ở miền Bắc Trong những năm gần đây nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài (Úc, Pháp, Anh, Nhật ) đã tới Việt Nam nghiên cứu, tìm hiểu về các giống, đặc biệt là Trà hoa vàng (Ngô Quang Đê, 1998) [7]
Trà hoa vàng là cây gỗ nhỏ, thường xanh, cao khoảng 2-5m, cành thưa,
vỏ cây màu vàng xám nhạt Lá đơn mọc cách, dài hẹp hình tròn Hàng năm cứ
Trang 25đến tháng 4-5 đâm lộc, ra lá mới, sau 2-3 năm lá già mới rụng Tháng 11 bắt đầu nở hoa, hoa kéo dài đến tháng 3 năm sau Hoa mọc ở nách lá mới mọc riêng lẻ Màu vàng kim có sáp bóng, đẹp mắt, long lanh khiến con người cảm giác nửa trong suốt Hoa dạng cốc hoặc bát, thế hóa đa dạng và kiều diễm (Ngô Quang Đê, 2001) [8]
Trà hoa vàng thường mọc dưới tán các cây khác trong rừng tự nhiên, do
đó Trà hoa vàng có khả năng trồng làm cây tầng dưới cho các đai rừng phòng
hộ nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn Cây có nhiều lá, dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và cải tạo đất tốt Trà hoa vàng có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng, đẹp, nhiều loài nở hoa vào dịp Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các loài Trà hoa vàng dã sinh về trồng làm cảnh ở sân vườn Hiện chỉ có giá trị cảnh quan được quan tâm đến, còn các giá trị về sinh,
dược học chưa được quan tâm và khai thác (Trần Ninh, 2002) [19]
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng có thể tìm thấy tại các tỉnh trung du và vùng
núi phía Bắc nước ta như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai…, chúng thường mọc ở độ cao 300 - 800m so với mực nước biển, phần lớn là trong rừng thứ sinh, xen giữa các nương rẫy, ở một số địa hình quá dốc hoặc nhiều
đá lộ đầu, ven khe suối cạn (Sơn Tùng, 2008) [34]
Trà hoa vàng chủ yếu phân bố ở vùng á nhiệt đới, nóng ẩm và có mùa đông, rất thích hợp với miền Bắc và Đà Lạt, có thể trồng được trên nhiều loại đất, trong đó đất tơi xốp, thoát nước, đất chua có độ pH từ 4,5 - 5,5 là thích hợp nhất Trà hoa vàng là loài quý hiếm, nhưng chưa nơi nào trồng với diện tích lớn Một số loài không có nhị (Bạch trà) nên không có quả Vì vậy phương pháp nhân giống chủ yếu hiện nay là nhân giống vô tính (chiết, ghép, giâm hom, nuôi cấy mô), trong đó nhân giống bằng phương pháp giâm hom là đơn giản và có tỷ lệ cây sống cao (Ngô Quang Đê, 2001) [8]
Trang 26Nghiên cứu về hiện trạng phân bố, khả năng sinh trưởng và tái sinh của Trà hoa vàng tại một số tỉnh phía Bắc (Quảng Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc) của Nguyễn Văn Khương (2011) [14]: Trà hoa vàng là cây gỗ nhỏ, chiều cao trung bình là 1,5-2 m, đường kính gốc trung bình từ 1,5-2,2 cm, sống thích nghi dưới tán rừng có chiều cao khoảng từ 10-15m, độ tàn che khoảng từ 55-70% Đây là loài thường phân bố ở các thung lũng, ven khe suối, nơi có độ cao 300 - 500m so với mực nước biển Khả năng tái sinh chồi và hạt đều rất tốt; ở tất cả các cỡ chiều cao nghiên cứu từ 20cm đến 100cm đều có cây tái sinh; nhiều cây bị chặt nhiều lần nhưng vẫn đâm chồi mạnh mẽ điều này chứng tỏ khả năng tái sinh chồi của Trà hoa vàng rất cao (90%), do đó nhân giống bằng phương pháp giâm hom có nhiều triển vọng Kết quả điều tra cho thấy, Trà hoa vàng chủ yếu mọc trên các vùng đất chua hoặc hơi chua Nhìn chung ở 3 khu vực nghiên cứu, đất đều ít mùn, nghèo đạm và lân, chỉ có kali
là tương đối khá
Đề tài “Nghiên cứu khả năng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) và nhân giống một số loài Trà hoa vàng nhằm bảo vệ và phát triển” đã được thực hiện cho
hai loài C tonkinensis và C euphlebia Đề tài đã tìm hiểu điều kiện sống của
2 loài Trà hoa vàng Ba Vì và Sơn Động làm cơ sở cho việc xác định biện pháp kĩ thuật gây trồng sau này Việc tìm thấy loài Trà hoa vàng Ba Vì
(Camellia tonkinensis) là thành công do trước đây năm 1995 Rosmann đã đi
tìm nhưng chưa thấy và tưởng loài này đã mất Đề tài đã giâm hom cho 2 loài này đạt tỉ lệ ra rễ và tỉ lệ sống đạt 50 – 80,6% Lần đầu tiên phân tích các nguyên tố vi lượng trong lá Trà hoa vàng Ba Vì và Sơn Động tại nơi sinh sống tự nhiên của chúng (Ngô Quang Đê, 2008) [9]
Trà hoa vàng có giá trị kinh tế và y dược rất cao, lá có thể pha uống, làm thuốc chữa kiết lỵ và rửa vết thương, lở loét Hoa chữa tiêu chảy ra máu, cũng có thể dùng làm màu thực phẩm Gỗ cứng có thể làm đồ dùng gia đình
và hàng mỹ nghệ, hạt có thể để ép lấy dầu
Trang 27Trên báo Lâm Đồng điện tử số ra ngày 6/8/2008 của tác giả Sơn Tùng
(2008) [34] có tiêu đề “Camellia - Siêu trà bị lãng quên” cho biết các công
dụng về giá trị dược học của Trà hoa vàng và cũng chỉ ra việc khai thác đúng mức tài nguyên này ở Việt Nam còn bị bỏ ngỏ
1.2.2.3 Nghiên cứu về Trà hoa vàng ở Vườn Quốc gia Tam Đảo
Theo Đỗ Đình Tiến (2000), Trà hoa vàng Tam Đảo (Camellia petelotii) xuất hiện ở núi Tam Đảo, độ cao từ 800m trở lên, khu vực khí hậu á nhiệt đới, nơi
có nhiệt độ bình quân năm là 18,20C, nhiệt độ cao nhất 25,10C, nhiệt độ thấp nhất -0,20C, lượng mưa bình quân năm khoảng 2.630mm, lượng mưa tháng cao nhất 507,8mm, tháng thấp nhất 42mm, độ cao không khí cao từ 82 - 92%, lượng bốc hơi thấp (khoảng 561,5mm/năm) Không có tháng khô, hạn Đất feralit nâu vàng phát triển trên đá mẹ Rhyolit, độ dốc từ 20 - 300, độ dày tầng đất > 60cm Đất hơi chua, mùn ở mức trung bình, đạm ở mức trung bình,
P2O5 nghèo, K2O dễ tiêu ở mức trung bình Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, đất ẩm, xốp, tỉ lệ đá lẫn từ 10 - 30% Trạng thái rừng IVa, trữ lượng từ 159,6 - 203,0m3/ha; tổ thành rừng chủ yếu là Phân mã tuyến nổi, Kháo, Trọng đũa, Gội, Re, Trắc vàng.; rừng được bảo vệ tốt, hầu như không bị tác động, tổ thành loài khá phong phú Trà hoa vàng là cây chịu bóng, phân bố ở tầng dưới của tầng cây cao và có quan hệ mật thiết với các loài Phân mã tuyến nổi, Kháo, Gội, Re, Trâm (Đỗ Đình Tiến, 2000) [23]
Nghiên cứu về nhân mã hóa rARN 5,8s ở loài Trà hoa vàng C petelotii của Vườn Quốc gia Tam Đảo được thực hiện bởi Nguyễn Thị Nga và cộng sự (2003) với mục đích xác định chính xác phân loại loài này với loài C chrysantha của Trung Quốc Kết quả cũng chỉ dừng ở việc tách chiết được ADN tổng số và đã nhân được đoạn gen mã hoá rARN 5,8S ở loài Trà C petelotii với cặp mồi thiết kế đặc hiệu cho chi Camellia còn cụ thể loài C
Trang 28petelotii và C chrysantha của Trung Quốc có phải là cùng một loài hay
không thì chưa thấy đề cập (Nguyễn Thị Nga và cs, 2003) [18]
Mặc dù đã phát hiện Trà hoa vàng gần một thế kỷ nhưng đến nay công tác bảo tồn chưa được chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu như còn
bỏ ngỏ Không chỉ 2 loài Trà hoa vàng có tên trong sách đỏ Việt Nam mà hàng chục loài Trà hoa vàng khác đều đang trong tình trạng nguy cấp Trước mắt, chủ yếu là bảo tồn tại chỗ, đồng thời nghiên cứu di thực về trồng khảo nghiệm tại Đà Lạt, Vườn Quốc gia Tam Đảo… Trong tương lai, để bảo tồn và quản lý bền vững nguồn gen quý này, cần tập trung nhân giống để trồng với qui mô lớn (Sơn Tùng, 2008) [34]
Nhìn chung, Trà hoa vàng là cây quý hiếm, có giá trị về nhiều mặt như làm cảnh, đồ uống, làm thuốc, tuy nhiên các nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam về loài Trà hoa vàng nói chung và loài Trà hoa vàng Hakoda nói riêng còn rất hạn chế và chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến nguồn tài nguyên này đang dần có nguy cơ bị khai thác cạn kiệt nếu không có các biện pháp bảo tồn và phát triển hợp lý Chính vì vậy, việc nghiên cứu hiện trạng phân bố và đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng Hakoda tại VQG Tam Đảo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên có ý nghĩa lớn về khoa học và thực tiễn
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.3.1 Giới thiệu sơ lược về Tam Đảo
Tam Đảo là một khối núi thuộc phần cuối của dãy núi hình cánh cung thượng nguồn sông chảy Dãy núi này có phần đuôi hầu như chụm lại ở Tam Đảo, còn đầu tỏa ra như những nan quạt về phía Bắc Đến Tam Đảo dãy núi giảm dần
độ cao rồi chuyển thành các đồi gò vùng Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ
Trang 29Khối núi Tam Đảo như một bức hình phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng Đồng bằng, gồm hơn 20 đỉnh núi được nối với nhau bằng một đường dông sắc nhọn
Các đỉnh có độ cao trên dưới 1000m, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Nord (1.592m) nằm ở trung tâm và là giao điểm ranh giới của 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang Ba đỉnh núi nổi tiếng của Tam Đảo là Thiên Thị (1.375m), Thạch Bàn (1.388m) và Phù Nghĩa (1.300m) Chiều ngang của khối núi rộng từ 10 -15 km, sườn đất dốc và chia cắt mạnh
- Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích
Vườn Quốc gia Tam Đảo: Trải dài từ 21021 đến 21042 vĩ độ Bắc,
105023 đến 105044 kinh Đông, nằm trên địa phận 3 tỉnh: Vĩnh Phúc - Thái Nguyên - Tuyên Quang Đây là dãy núi lớn dài 80 km chạy theo hướng Đông
+ Phân khu nghỉ mát, du lịch có diện tích là 2.302 ha
- Địa hình: VQG Tam Đảo địa hình được chia thành 4 kiểu chính đó là: + Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối Độ cao dưới 100m,
độ dốc < 70, phân bố dưới chân núi ven suối
+ Đồi cao trung bình: Độ cao từ 100 m - 400m, độ dốc từ 100- 250 trở lên, phân bố xung quanh núi và tiếp giáp với đồng bằng
+ Núi thấp: Độ cao 400m - 700 m, độ dốc > 250, phân bố giữa 2 kiểu địa hình đồi cao và núi trung bình
+ Núi trung bình: Độ cao từ 700 - 1.592 m độ dốc > 250, phân bố ở phần trên của khối núi, các đỉnh dông và núi đều sắc nhọn, địa hình hiểm trở
Trang 30Vùng đệm VQG Tam Đảo chủ yếu là địa hình đồi núi thấp và trung bình, xen kẽ với các vùng bình địa của các nhánh sông Độ cao trung bình toàn vùng dưới 100 m, độ dốc chủ yếu là cấp I và cấp II [20]
1.3.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Đại Từ
1.3.2.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý, địa hình
Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái
Nguyên, phía Bắc giáp huyện Định Hóa, phía Đông Nam giáp thị xã Phổ Yên, phía Đông giáp huyện Phú Lương, phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và
tỉnh Vĩnh Phúc, phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên Tổng diện tích đất tự
nhiên toàn huyện là 57.415,73 ha, huyện bao gồm 28 xã và 2 thị trấn Đại Từ
là “Vùng địa lợi” nằm giữa khu vực căn cứ kháng chiến cũ, có nhiều di tích lịch sử văn hóa; có quốc lộ 37 chạy qua địa bàn, cách Hà Nội 100 km, cách thành phố Thái Nguyên 25km và cách thành phố Tuyên Quang 50 km Đại Từ
là cầu nối giữa vùng An toàn khu Thái Nguyên với An toàn khu Tuyên Quang (UBND huyện Đại Từ, Thái Nguyên, 2015) [36]
Đặc điểm địa hình: huyện được bao bọc bởi các dãy núi ở bốn phía, phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam Đảo kéo dài trên phạm vi 10 xã (Các xã: Quân Chu, Cát Nê, Ký Phú, Văn Yên, Mỹ Yên, Khôi Kỳ, Hoàng Nông,
La Bằng, Phú Xuyên, Yên Lãng) có nhiều đồi cao địa hình chia cắt sâu, có độ dốc từ 16° - 35°, phía Đông là dãy núi Pháo với độ cao từ 150-300m, phía Bắc
có núi Hồng và núi Chúa, phía Nam có núi Thằn Lằn thấp dần từ Bắc xuống Nam Đặc điểm địa hình tương đối phức tạp, mang đặc trưng vùng núi, trung
du Hướng chủ đạo địa hình của huyện theo hướng Tây Bắc - Đông Nam (UBND huyện Đại Từ, Thái Nguyên, 2015) [36]
- Khí hậu và thủy văn:
Khí hậu có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, gió Đông Nam chiếm ưu thế, khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều Mùa khô từ tháng 11 đến
Trang 31tháng 3, gió Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số: nhiệt độ trung bình từ 22,90C Đại Từ có lượng mưa cao, bình quân 1.872 mm/năm, phù hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển Lượng mưa phân bố không đều, có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô
Địa bàn huyện có hệ thống sông, suối, ao, hồ khá dày đặc, với nguồn nước rồi dào, rất thuận lợi cho việc tưới tiêu trồng trọt và cung cấp nước sinh hoạt cho người dân Sông Công chảy từ huyện Định Hoá, chiều dài chạy qua địa phận của huyện là 24km Ngoài ra còn có hệ thống các suối như: suối La Bằng, Quân Chu, Cát Nê, Phục Linh là nguồn cung cấp nước rất quan trọng trong huyện Hồ Núi Cốc rộng 25km2 với dung tích 175 triệu m3 nước, phần diện tích thuộc địa bàn huyện Đại Từ khoảng 769ha, là khu du lịch và là nơi cung cấp nước cho sản xuất và sinh sinh hoạt cho nhân dân (Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ, Thái Nguyên, 2015) [36]
- Về tài nguyên đất:
Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn huyện là 57.415,73 ha, trong đó chủ yếu là diện tích đất nông nghiệp là 47.642,43 ha chiếm 82,98% tổng diện tích đất tự nhiên Đất có khả năng trồng trọt được chia thành 5 nhóm: nhóm đất phù sa, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi, nhóm đất thung lũng và nhóm đất nhân tác Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm chủ yếu với diện tích 43.078,34 ha, chiếm 90,42% diện tích đất nông nghiệp và 75,03
% diện tích đất tự nhiên của huyện Đây là nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất trong huyện và đóng vai trò quan trọng đối với dự án quy hoạch trồng cây chè (UBND huyện Đại Từ, Thái Nguyên, 2012) [35]
1.3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Điều kiện kinh tế:
Từ năm 2011 bắt đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đại Từ lần thứ XXII trong bối cảnh tình hình đất nước và tỉnh Thái Nguyên có những thuận lợi, khó khăn đan xen Đảng và Nhà nước tiếp tục có các chủ trương, chính sách đúng đắn tạo điều kiện phát huy mọi nguồn
Trang 32lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Kết quả thực hiện các chỉ tiêu về kinh
tế - xã hội chủ yếu của huyê ̣n trong giai đoạn 2011 - 2015 đã đạt được những kết quả quan trọng
Bảng 1.1 Giá trị sản xuất huyện Đại Từ giai đoạn 2011 - 2015
TT Chỉ tiêu
Đơn
vị tính
Giá trị sản xuất trong nền kinh tế của huyện giai đoạn 2011 - 2015 đạt tốc
độ tăng trưởng bình quân khoảng 25,2%/năm, trong đó: Bình quân ngành nông nghiệp tăng 5,7%/năm, công nghiệp tăng 47,7%/năm và dịch vụ tăng 28,9%/năm
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ, giai đoạn 2011 - 2015 thể hiện sự chuyển dịch mạnh về tỷ trọng các ngành kinh tế của huyện Năm 2011, tỷ trọng nông nghiệp chiếm 50,3%, công nghiệp 34,5% và dịch vụ 15,2%; đến năm 2015 nông nghiệp giảm còn 26,3%, dịch vụ tăng lên 16,8% và công nghiệp tăng lên 56,9% Mặc dù có sự chuyển dịch mạnh giữa ngành nông nghiệp và ngành công nghiệp của huyện trong giai đoạn 2011 - 2015, tuy nhiên giá trị của ngành nông nghiệp trong giai đoạn
2011 - 2015 đạt mức tăng trưởng khá cao, tăng bình quân 5,7%/ năm (UBND huyện Đại Từ, Thái Nguyên, 2015) [36]
Trang 33- Về văn hóa - xã hội
+ Giáo dục: Chất lượng, hiệu quả giáo dục tiếp tục được nâng lên Việc xây dựng các trường chuẩn quốc gia được triển khai tích cực, đã có 61, 22% trường đạt chuẩn quốc gia đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI đề ra
+ Y tế: Mạng lưới y tế tiếp tục được quan tâm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏa của nhân dân Chương trình xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã được tích cực triển khai thực hiện
+ Dân số và lao động: Tính đến năm 2015, toàn huyện Đại Từ có 162.630 người, trong đó: Nữ giới chiến 50,5%, nam giới chiếm 49,5% Dân
cư thành thị chiếm trung bình khoảng 10,7% còn lại là khu vực nông thôn chiếm 89,3, điều này cho thấy dân cư huyện Đại Từ vẫn tập trung chủ yếu ở nông thôn So với năm 2010, năm 2015 tỷ lệ dân cư ở thành thị tăng nhanh (năm 2010 là 4,8%, năm 2015 là 10,7%), cho thấy huyện Đại Từ có mức độ
đô thị hóa khá nhanh tuy nhiên Đại Từ vẫn là một huyện có dân số ở khu vực nông thôn lớn và sản xuất nông nghiệp vẫn là nguồn thu chủ yếu của các hộ dân tại khu vực nông thôn (UBND huyện Đại Từ, Thái Nguyên, 2015) [36]
Đánh giá chung: Huyện Đại Từ với vị trí là huyện liền kề với các trung tâm phát triển năng động của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh lân cận Trong giai đoạn 2011-2015 phát triển kinh tế xã hội của huyện đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, tạo thế và lực mới cho huyện tiếp tục đi lên trong giai đoạn 2016-2020 Lĩnh vực nông nghiệp phát triển ổn định, đảm bảo nhu cầu lương thực cho địa bàn huyện và cung cấp cho thị trường các vùng lân cận Huyện đã
và đang phát triển nhiều mô hình sản xuất chuyên canh, thâm canh nhưng sản phẩm nông nghiệp vẫn còn ít các sản phẩm mũi nhọn, sản phẩm mang giá trị hàng hóa cao chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của huyện Lĩnh vực nông nghiệp tạo nhiều việc làm cho lao động nhưng thu nhập của người dân vẫn còn ở mức thấp, cây trồng và vật nuôi có giá trị cao chưa phát triển mạnh
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Loài Trà hoa vàng Hakoda phân bố tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, khu vực huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Giới hạn nghiên cứu: Đề tài tiến hành tại 3 xã: La Bằng, Mỹ Yên, Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của loài Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu
Nội dung 2: Đặc điểm sinh thái nơi có loài Trà hoa vàng Hakoda và hiện trạng phân bố của loài tại khu vực nghiên cứu
- Điều kiện khí hậu nơi có loài phân bố
- Điều kiện đất đai
- Thực trạng phân bố của loài tại khu vực nghiên cứu
Nội dung 3: Nghiên cứu đặc điểm trạng thái rừng nơi có loài Trà hoa vàng Hakoda phân bố
- Cấu trúc tổ thành tầng cây gỗ
- Đặc điểm tầng cây gỗ
- Thành phần loài đi kèm
- Độ tàn che tầng cây gỗ
- Tầng cây bụi, thảm tươi
Nội dung 4: Đánh giá tình hình sinh trưởng và tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu
- Tình hình sinh trưởng của loài tại khu vực nghiên cứu
- Một số đặc điểm tái sinh của loài tại khu vực nghiên cứu
+ Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao
+ Phân bố cây tái sinh theo chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh
Trang 35Nội dung 5: Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài Trà hoa vàng Hakoda tại khu vực nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Bản đồ quy hoạch 03 loại rừng tại khu vực nghiên cứu
- Các tài liệu tham khảo về lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước
- Các công trình nghiên cứu của các tác giả khác liên quan đến khu vực
và vấn đề nghiên cứu
2.3.1.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
a) Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và dung lượng mẫu:
Đối tượng nghiên cứu là cây Trà hoa vàng Hakoda là loài cây quý hiếm, có giá trị về nhiều mặt như làm cảnh, đồ uống, làm thuốc, là cây gỗ nhỏ
có đời sống dài, mọc tự nhiên hỗn giao với nhiều loài cây khác Do vậy, đề tài chọn phương pháp nghiên cứu trên ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình, với diện tích 1.000m2
Lập OTC điển hình để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng có Trà hoa vàng Hakoda phân bố Ô tiêu chuẩn phải bố trí tại các vị trí có tính đại diện cao ở 3 khu vực nghiên cứu Do Trà hoa vàng Hakoda phân bố không đều trong khu vực với số lượng cá thể còn lại rất ít, ô tiêu chuẩn được lập ở những trạng thái rừng đại diện cho toàn bộ khu vực, nơi có độ tàn che trung bình và đặc biệt ở đó có xuất hiện Trà hoa vàng Hakoda, ô tiểu chuẩn
không đi qua các khe, qua đỉnh hoặc có đường mòn hay ô tô chạy qua
Trang 36- Phương pháp lập OTC: Sử dụng địa bàn, thước dây để đo đạc Tổng
số OTC là 9 ô, trong đó khu vực xã La Bằng là 3 ô, khu vực xã Mỹ Yên 3 ô, khu vực xã Quân Chu 3 ô Diện tích mỗi OTC là 1.000m2 (40m x 25m) Để thuận lợi cho việc đo đếm, đề tài tiến hành lập OTC với chiều dài cùng với đường đồng mức, chiều rộng vuông góc với đường đồng mức Mô tả tình hình
chung của ô tiêu chuẩn (biểu 01)
- Phương pháp lập ô dạng bản (ODB): Trong mỗi OTC lập 5 ODB để
điều tra cây tái sinh Trà hoa vàng Hakoda, cây bụi, thảm tươi theo vị trí: 1 ô ở tâm, 4 ô ở 4 góc OTC Diện tích mỗi ODB 25m2 (5mx5m) Tổng số ô ODB
cả 3 khu vực là 45 ô (mỗi khu vực 15 ô)
b) Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp
- Điều tra đặc điểm hình thái của loài Trà hoa vàng Hakoda:
Quan sát, mô tả các đặc điểm của thân cây, vỏ cây, lá, hoa của các cây tiêu chuẩn trong khu vực nghiên cứu theo phương pháp hình thái so sánh thường dùng trong nghiên cứu về phân loại thực vật
+ Dụng cụ để đo kích thước là thước đo có độ chia 1/10 cm
+ Tiến hành đo đếm kích thước dài rộng của 100 lá ở các vị trí khác nhau: dưới tán, giữa tán, trên đỉnh và mỗi vị trí chọn theo 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc trên 2 cây trưởng thành và 2 cây tái sinh Lấy kết quả trung bình và mô tả các đặc điểm của lá Kết quả thu được ghi vào biểu đo đếm kích thước lá (biểu 10)
- Điều tra một số nhân tố sinh thái nơi có Trà vàng Hakoda phân bố: + Đặc điểm nhân tố khí hậu: Tiến hành thu thập tài liệu khí tượng của trạm khí thượng thủy văn Thái Nguyên
+ Điều tra đất: Để mô tả, phân tích đặc điểm đất tại khu vực nghiên cứu, tiến hành đào 3 phẫu diện đất điển hình tại 3 khu vực nghiên cứu Mỗi phẫu diện có kích thước 80x60 cm, nếu trong quá trình đào chưa đạt độ sâu 80cm nhưng đã tới tầng mẫu chất thì dừng lại phân tích và lấy mẫu Ở mỗi phẫu diện tiến hành mô tả phẫu diện và lý tính của đất Kết quả ghi vào biểu
mô tả phẫu diện đất (biểu 09)
Trang 37- Điều tra đặc điểm trạng thái rừng nơi loài Trà hoa vàng Hakoda phân
bố
+ Xác định độ tàn che tầng cây gỗ theo phương pháp cho điểm, trong các ô tiêu chuẩn chia thành các tuyến song song cách đều 5 m, trên mỗi tuyến đặt các điểm cách nhau 2 m, tại các điểm này ngắm lên theo phương thẳng đứng, nếu gặp tán cây cho 1 điểm, gặp mép tán cây cho 0,5 điểm, nếu không gặp tán cây cho 0 điểm, độ tàn che chung của ô tiêu chuẩn là trị số trung bình của các điểm ngắm (biểu 02)
+ Điều tra tầng cây gỗ:
Theo quan điểm lâm học, cây gỗ là những cây có tán tham gia vào tầng chính (tầng A) và D13 ≥ 6cm
Xác định tên cây: Tên cây được ghi theo tên phổ thông, loài chưa biết
tên được lấy tiêu bản giám định
Đo Hvn, D1.3, Hdc, phẩm chất cây Công cụ đo đường kính là thước dây, đo chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành là thước Blumeleiss kết hợp với sào đo cao Kết quả điều tra được ghi vào biểu điều tra tầng cây gỗ trên OTC (biểu 03)
- Điều tra cây bụi, thảm tươi: Theo ODB diện tích 25m2 (5mx5m) Kết
quả điều tra tầng cây bụi trên ô dạng bản 5x5m (biểu 04) và biểu điều tra
thảm tươi 5 ô dạng bản 5x5 m (biểu 05)
+ Cây bụi là cây thân gỗ thuộc tầng thấp Chỉ tiêu xác định là: Tên loài cây chủ yếu, số lượng, phẩm chất, Hvn được đo bằng thước mét, độ che phủ bình quân chung các loài được tính theo tỷ lệ phần trăm bằng phương pháp
ước lượng
+ Thảm tươi là lớp cây cỏ phủ trên bề mặt đất rừng Chỉ tiêu điều tra: Tên loài cây chủ yếu, chiều cao trung bình, độ che phủ chung được xác định
bằng phương pháp ước lượng
- Thống kê số lượng cây Trà hoa vàng Hakoda có trong ô tiêu chuẩn,
do Trà hoa vàng Hakoda phân bố không đều trong khu vực với số lượng cá
Trang 38thể còn lại rất ít nên chúng tôi tiến hành điều tra tất cả các cá thể cây Trà hoa vàng Hakoda có chiều cao ≥ 0,3 m có trong các ô tiêu chuẩn Ghi chú xem nó
ở tầng nào trong cấu trúc rừng Kết quả ghi vào biểu điều tra Trà hoa vàng (biểu 06)
- Điều tra tái sinh của Trà hoa vàng Hakoda theo ODB (5mx5m), xác
định chất lượng cây tái sinh Kết quả điều tra ghi vào biểu điều tra tái sinh
Trà hoa vàng Hakoda (biểu 07)
- Lập và điều tra ô tiêu chuẩn 6 cây để đánh giá những loài cây sống chung với Trà hoa vàng Hakoda, từ đó xác định được những loài nào là cây phù trợ và cạnh tranh không gian dinh dưỡng với loài Trà hoa vàng Hakoda Kết quả đo ghi vào biểu điều tra OTC 6 cây (biểu 08)
Trong đó: Ki là tỷ lệ tổ thành của loài thứ i
mi là số cây của loài thứ i
N là tổng số cây điều tra
Sau đó sử dụng dãy các giá trị Ki để viết công thức tổ thành theo quy
định của giáo trình Lâm học Trường Đại học Lâm nghiệp
2.3.2.2 Mức độ thân thuộc
Mức độ thân thuộc thể hiện mức độ gắn bó của các loài với nhau trong quần xã thực vật rừng Để xác định mức độ thân thuộc của hai loài, đề tài sử dụng chỉ số thân thuộc q của Sorensen, 1948 (Thái Văn Trừng, 1983) [27]:
q =
b a c
c
2 2
Trang 39
Trong đó: a là số lần lấy mẫu chỉ gặp loài A
b là số lần mẫu chỉ gặp loài B
c là số lần lấy mẫu gặp cả loài A và B
Nếu: q = 0 hoặc gần bằng 0, A và B không có quan hệ thân thuộc
q = 1, A và B có quan hệ thân thuộc và sự chung sống của chúng trong quần xã thực vật rừng là thực chất chứ không phải do ngẫu nhiên
0 < q < 1, A và B do ngẫu nhiên mà cùng cư trú ở một nơi
- Kiểu IB: Trảng cỏ và cây bụi
- Kiểu IC: Trảng cỏ và cây bụi đã xuất hiện một số loài cây tái sinh
* Kiểu II: Là rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác hoặc sau nương rẫy, bao gồm các cây tiên phong ưa sáng mọc nhanh và rừng đang tiếp tục phát triển
- Kiểu IIA: Là trạng thái rừng phục hồi rừng còn non, bao gồm những
cây tiên phong ưu sáng hoặc có D13 ≤ 10cm và ∑G < 10 m2/ha
- Kiểu IIB: Là rừng phục hồi bao gồm những cây tiên phong ưa sáng
hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng có D13 ≥ 10cm và ∑G < 10 m2/ha
* Kiểu III: Rừng đã bị tác động ở nhiều mức độ khác nhau, kết cấu rừng bị phá vỡ và khả năng cung cấp ít nhiều bị phá vỡ
- Kiểu IIIA: Tổng tiết diện ngang < 21m2/ha
+ Kiểu IIIA1: Rừng nghèo kiệt, kết cấu bị phá vỡ hoàn toàn, tầng trên còn một số cây mẹ kém phẩm chất, cong queo sâu bệnh, tầng dưới chủ yếu là dây leo, bụi rậm, tre nứa xen lẫn và có độ tàn che < 0,3 Tổng tiết diện ngang
< 10 m2/ha Tổng tiết diện ngang của những cây có D1.3 ≥ 40cm là ≤ 2 m2/ha
Trang 40+ Kiểu IIIA2: Là rừng bị khai thác kiệt nhưng đã có thời gian phục hồi nên
đã hình thành tầng cây tương lai, có độ tàn che 0,3-0,5 Tổng tiết diện ngang từ 10-16 m2/ha Tổng tiết diện ngang của những cây có D13 ≥ 40cm là ≤ 2 m2/ha
+ Kiểu IIIA3: Là rừng bị khai thác mạnh, cấu trúc rừng ít nhiều đã bị phá vỡ, rừng có 2 tầng trở lên, rừng còn chất lượng khai thác, có độ tàn che 0,5-0,7 Tổng tiết diện ngang từ 16-21 m2/ha
- Kiểu IIIB: Là trạng thái rừng bị tác động rất ít, cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, rừng có 2 tầng trở lên, rừng còn giàu về trữ lượng, có độ tàn che >0,7 Tiết diện ngang > 21 m2/ha, tổng tiết diện ngang của những cây có D13 ≥ 40cm là 2-5 m2/ha
* Kiểu IV: Là trạng thái rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh phục hồi đã phát triển đến giai đoạn ổn định
2.3.3.4 Chất lượng cây tái sinh
Khi điều tra cây tái sinh đồng thời xác định chất lượng cây tái sinh theo chất lượng tốt xấu, đồng thời xác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng, để đề xuất giải pháp lâm sinh phù hợp Trường hợp có nhiều cây tái sinh cao hơn 1m thì nó có thể phát triển thành cây to, khả năng bảo tồn lớn, cây nhỏ dưới 1m thì dễ bị tác động
Tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu được tính theo công thức sau:
N % =
n
X 100 N
Trong đó:
N% là tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, xấu
n là tổng số cây tốt, trung bình, xấu
N là tổng số cây tái sinh
Chất lượng cây tái sinh được xác định: