1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

10 bai giang internet

48 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 909,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những máytính được liên kết với nhau thông qua một mạng lớn của hệ thống viễn thông.Internet cho phép bạn có khả năng truy cập các nguồn tài nguyên dữ liệu vàthông tin nằm ở những máy tí

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ INTERNET

1 Giới thiệu & định nghĩa về Internet

Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET Cơ quan quản lý

dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết 4 địa điểmđầu tiên vào tháng 7 năm 1968 bao gồm:

Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Tổnghợp Utah và Đại học California, Santa Barbara Đó chính là mạng liên khu vực(Wide Area Network-WAN) đầu tiên được xây dựng

Thuật ngữ Internet xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974 Lúc đó mạngvẫn được gọi là ARPANET Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coinhư một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối vớiARPANET phải sử dụng chuẩn mới này Năm 1984, ARPANET được chia rathành hai phần: phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPANET, dành cho việc nghiêncứu và phát triển; phần thứ hai được gọi là MILNET, là mạng dùng cho các mụcđích quân sự

Giao thức TCP/IP ngày càng thể hiện rõ các điểm mạnh của nó, quan trọngnhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng Chính điềunày cùng với các chính sách mở cửa đã cho phép các mạng dùng cho nghiêncứu và thương mại kết nối được với ARPANET, thúc đẩy việc tạo ra một siêumạng (SuperNetwork) Năm 1980, ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột củaInternet

Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập kỷ 1980 khi

tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máytính lớn với nhau gọi là NSFNET Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANETsang NSFNET và do đó sau gần 20 năm hoạt động, ARPANET không còn hiệuquả đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990

Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khác

đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet Tới năm 1995,NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục pháttriển

Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhấttrên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại,

chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội Cũng từ đó, các dịch

Trang 2

vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷnguyên thương mại điện tử trên Internet.

Internet là mạng lớn nhất thế giới Tuy nhiên nó không phải là một mạng dữliệu lớn duy nhất Cũng có những mạng dịch vụ lớn khác

Internet ngày nay là phương tiện thông tin phát triển mạnh không thể thiếutrong giao tiếp, liên lạc trong mỗi quốc gia cũng như trong phạm vi toàn thề giới.Internet đã làm cho khoảng cách địa lý thu hẹp lại và mở ra những ứng dụngmới to lớn cho con người

Giáo trình này nhằm mục đích trang bị một số kiến thức cơ bản cho sinh viên

về Internet và cách ứng dụng của nó Qua đó, giúp cho sinh viên tiếp cận vớinhững phương thức học tập, tìm kiếm những kiến thức mới có sự hổ trợ củaInternet

Internet Là sự kết hợp của các máy tính trên phạm vi toàn cầu Những máytính được liên kết với nhau thông qua một mạng lớn của hệ thống viễn thông.Internet cho phép bạn có khả năng truy cập các nguồn tài nguyên dữ liệu vàthông tin nằm ở những máy tính ở những vị trí khác nhau trên toàn thế giới Cácmáy tính có thể kết nối nhau thông qua một giao thức truyền dữ liệu gọi chung làgiao thức TCP/IP

2 Các lợi ích của Internet (*)

a/ Lợi ích công nghệ của Internet

- Các máy tính tham gia mạng có thể chia sẻ hay gửi thông tin cho nhau

- Các máy tính tham gia mạng có thể khác kiểu, khác loại

- Các ứng dụng trên Internet như thư điện tử, Web, FTP v.v cũng như cácphần mềm đã có sẵn và đã được thực tế chứng minh

- Đường nối theo kiểu siêu văn bản (Hypertext link) rất dễ dàng cho người

sử dụng tra cứu, tìm kiếm hay lấy thông tin trên một diện rất rộng (đến phạm vitoàn cầu)

- Kết nối dễ dàng với các cơ sở dữ liệu sẵn có, các văn bản đã được soạnthảo trên máy tính

Là phương tiện trao đổi thông tin tiện lợi và nhanh chóng

Là một kho thông tin khổng lồ, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học vàgiáo dục đào tạo

Hỗ trợ một cách hiệu quả cho các hoạt động kinh doanh (thương mại điện tử)Nguồn cung cấp thông tin phong phú và được cập nhật thường xuyên

b/ Lợi ích kinh tế

- Internet là cơ sở để tiến tới một mô hình cơ quan mới "Cơ quan khônggiấy tờ công văn" (paperless office), có nghĩa các thông tin trao đổi cho nhau chỉthông qua máy tính không theo đường công văn Hiện tại chúng ta đang làm việctrong môi trường mà hầu như mọi thông tin văn bản pháp quy đều được trao đổibằng giấy tờ công văn kéo theo sự chậm trễ, sai lệch và phiền phức của nó Môhình cơ quan không giấy tờ công văn rất có thể là một cuộc cách mạng, đánh

Trang 3

dấu một bước tiến hoá mới trong lịch sử văn minh nhân loại vì để thực hiệnđược nó không chỉ phải hoàn thiện công nghệ, giải pháp mạng, trình độ năng lựctin học của từng người lao động mà còn phải xoá bỏ được cả một hệ thống làmviệc theo kiểu hành chính giấy tờ truyền thống ở quy mô toàn cầu (mặc dù mức

độ của các quốc gia có thể khác nhau) để thiết lập một "quan hệ sản xuất" mớitrên một phạm vi quốc gia và quốc tế

- Tăng năng suất lao động, có nghĩa tăng lợi nhuận kinh doanh vì có thông tin nhanh chóng được cặp nhật và thông báo hàng ngày, giảm đáng kể bộ phận hành chính trung gian cũng như lượng đầu tư khổng lồ cho nó

3 Mô hình kết nối và các thành phần trên Internet (*)

3.1 Máy trạm: Truy cập Internet từ nhiều quốc gia, dùng các phần mềm và môi

trường truy cập đa dạng thông qua các nhà cung cấp kết nối Chất lượng máytrạm, mạng nội bộ mà máy trạm hoạt động, các phần mềm chạy trên máy trạm

có thể ảnh hưởng đến kết quả truy cập Internet và không thuộc quản lý của nhàcung cấp dịch vụ hosting hay làm Web

3.2 Nhà kết nối dịch vụ ADSL: Đảm bảo dịch vụ để máy trạm thông với

Internet Thông thường không đảm bảo có truy cập domain đúng DNS hay khônghay Website truy cập đến được hay đúng domain không

3.3 Các máy chủ DNS của nhà kết nối dịch vụ ADSL: Lưu trữ một phần thông

tin DNS của các domains DNS là Domain Name System – danh mục chia sẻtrên toàn cầu thông tin về DNS của các domain COM, NET… Chúng là thôngtin trung gian cập nhật thường xuyên vào database DNS của domains Chúngcung cấp thông tin hoặc tra cứu tức thì DNS từ các server gốc lưu DNS của

Trang 4

domains Có thể chặn, lọc hoặc chuyển hướng truy cập, giảm tốc độ truy cậpmột số domains

- Trong các hệ thống từ 1,2, 3, 4,4’ thì 3 thường xuyên hoạt động liên quan đếnthông số DNS

- Trường hợp không muốn sử dụng hệ thống DNS của nhà cung cấp ADSLngười ta thường dùng Proxy nhờ server khác truy cập và gửi Web pages về máytrạm

Gần đây, việc sử dụng chạy trên server DNS ứng dụng lọc Web xấu DWK cóchặn những site công việc do lỗi chương trình

3 Máy chủ gốc lưu DNS của domains:

Mỗi máy chủ lưuthông tin DNS của 1

số domains do mìnhquản lý Mỗi domain

có duy nhất 1 DNS

và 1 IP, và có duynhất 1 máy chủ gốcquản lý Các thông

số DNS và IP dophần mềm quản lýdomain thiết đặt

3.4 Máy chủ hosting:

 Setup hệ điều hành, database, website

 Đảm bảo hoạt động website trên server (cho cơ chế client / server)

 Nếu có máy trạm truy cập được website thì chứng tỏ máy chủ hosting có làm việc

 Thường kết quả quản lý

được việc truy cập và kết

quả truy cập của 1 máy trạm

cụ thể

4 Các dịch vụ quan

trọng trong Internet

4.1 Mô hình Client/server

Máy trạm (Client): Không cung

cấp tài nguyên mà chỉ sử dụng tài

Trang 5

Dựa vào cách mà các máy tính được nối vào mạng cũng như cách mà chúngtương tác với mạng và với nhau, mạng máy tính được chia làm ba mô hình cơbản như sau:

Mô hình trạm-chủ (Client-Server):

Các máy trạm được nối với các máy chủ, nhận quyền truy nhập mạng và tàinguyên mạng từ các máy chủ Đối với Windows NT các máy được tổ chức thànhcác miền (domain) An ninh trên các domain được quản lý bởi một số máy chủđặc biệt gọi là domain controller Trên domain có một master domain controllerđược gọi là PDC (Primary Domain Controller) và một BDC (Backup DomainController) để đề phòng trường hợp PDC gặp sự cố

Mô hình lai (Hybrid) tham khảo

Mô hình này là sự kết hợp giữa Client-Server và Peer-to-Peer Phần lớn các mạng máy tính trên thực tế thuộc mô hình này

Trong các mô hình mạng nói trên, mỗi mô hình có những ưu, nhược điểm riêngđối với từng chỉ tiêu đánh giá như: tính bảo mật thông tin, sự cài đặt, khả năng mở rộng mạng Sự so sánh giữa các mô hình mạng trên đối với một số chỉ tiêu đánhgiá phổ biến được cho trong bảng sau:

Mô hình mạng Client-Server Peer-to-Peer Hybrid

Độ an toàn và bảo mật kém, phụ thuộc vào mức truy nhập được chia sẻ

Độ an toàn và bảo mật cao gần như Client-Server

Không cần máy chủ, hệ điều hành mạng, phần cứng bổ sung rất ít

Như Client-Server

Quản trị mạng Phải có quản trị

mạng

Không cần có quản trị mạng

Trang 6

Trong mô hình mạng có máy chủ (server) không phải mọi máy chủ đều hoạt động như nhau mà chúng được dành riêng để thực hiện những nhiệm vụ chuyênbiệt nhằm hỗ trợ các máy trạm trên mạng, một máy chủ có thể thực hiện toàn bộcác nhiệm vụ này hoặc cũng có thể có một số máy chủ sẽ thực hiện mộ nhiệm

vụ riêng biệt nào đó, v í d ụ như: Web server, FTP server, File server, Printer server…

4.2 Các dịch vụ quan trọng trong Internet

Các dịch vụ của Internet: Là liên mạng máy tính rộng khắp thế giới tuân thủ chuẩn TCP/IP Các dịch vụ cơ bản của Internet gồm:

a. Các dịch vụ tìm kiếm thông tin gồm: Wide Area Information Servere(WAIS), Gopher, World-Wide-Web (WWW) cho phép tìm kiếm thông tin từnhiều cơ sở dữ liệu trên mạng

b. Dịch vụ truyền File (File Transfer Protocol/FTP) cho phép gửi/nhậnthông tin dạng file bất kỳ giữa các máy tính được nối mạng với nhau

c. Dịch vụ thư điện tử E-MAIL

d. Dịch vụ telnet: Cho phép thuê bao truy nhập các máy tính khác trênmạng Internet để chạy các chương trình hoặc truy nhập các cơ sở dữ liệutrên máy đó

e Dịch vụ thư điện tử VNMAIL: Là dịch vụ thư điện tử (E-MAIL)

công cộng trên mạng truyền số liệu Khách hàng được dành riêng một hộpthư điện tử để lưu giữ các tin tức, File số liệu hoặc các dạng thông tin sốhoá khác được chuyển đến từ máy tính của người gửi hoặc từ hộp thưcủa mình, người dùng có thể chuyển tin tức đến một hộp thư khác hayđến các đầu cuối số liệu ở mạng khác kể cả Fax, Telex

5 Các thành phần trên Internet (*)

a Nhà cung cấp truy cập (IAP-Internet Access Provider) và dịch vụ (ISP-Internet Service Provider) Internet

ISP là viết tắt của Internet Service Provider, có nghĩa là nhà cung cấp dịch

vụ Internet ISP là nơi chúng ta đăng ký để có quyền gia nhập vào Internet

và sử dụng những dịch vụ mà ISP đó cung cấp như e-mail, Web

IAP từ chữ Internet Access Provider - nhà cung cấp khả năng truy cậpInternet Nếu hiểu Internet như một siêu xa lộ thông tin thì IAP là phươngtiện để đưa chúng ta vào xa lộ, hay nói cách khác là kết nối chúng ta trựctiếp với Internet IAP có thể làm luôn chức năng của ISP nhưng ngược lại thìkhông Một IAP thường phục vụ cho nhiều ISP khác nhau Hình minh họatrang bên cho ta thấy sơ đồ của Internet

Các máy chủ chứa đựng những thông tin mà ISP có thể cung cấp Một khi

đã nằm trong Internet, các máy chủ được kết nối với nhau, thường là qua hệthống cáp tốc độ cao như cáp quang Mỗi máy có địa chỉ riêng gọi là URL(Uniform Resource Locator) người dùng có thể truy cập trực tiếp đến máychủ thông qua cáp mạng Nhưng phần lớn đều truy cập từ xa thông qua

Trang 7

đường dây điện thoại Các ISP lại nối vào IAP để giao tiếp với Internet Việckết nối này có thể thông qua cáp quang hoặc vệ tinh viễn thông

Một số đơn vị của nhà nước hiện nay cũng đã triển khai dịch vụ e-mail củaInternet như VAREnet của Viện Công Nghệ Thông Tin Quốc Gia, Vietnet củaTeltic - Bưu Điện Khánh Hòa - Nha Trang, Toolsnet của Trung Tâm ThôngTin KH và CN Quốc Gia, và một số dịch vụ mạng khác mà về chức năng cóthể coi như là các ISP của Việt Nam

Tuy nhiên, ta có thể đăng ký với bất kỳ ISP nào để có được dịch vụ Internet,bất kể ISP đó ở đâu, trong nước hay ngoài nước Trên thực tế, nhiều cơquan nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam vẫn truy cập bình thường vàoInternet bởi họ thực hiện kết nối thông qua các ISP ở nước ngoài Vấn đề lànếu làm như vậy, chúng ta phải chịu cước phí điện thoại từ Việt Nam ranước ngoài và chi phí này rất đáng kể khi ta truy cập thường xuyên

Một số nhà cung cấp (provider) gửi cho chúng ta đầy đủ phần mềm, trongkhi số khác chỉ đưa ra lời khuyên về cách tải xuống (download) phần mềmInternet bằng các truyền thông kiểu như Telex, Procomm, Telemate hoặcUnicomm

Dù bằng cách nào, chúng ta cũng cần phải chạy chương trình cài đặt nhằmtạo thư mục cần thiết và các biểu tượng trên Windows desktop Nhà cungcấp có những hướng dẫn đầy đủ Thường trong Windows, cần khởi độnginstall.exe hoặc setup.exe Thì chúng ta có thể nhận được những tập tin vănbản như README.TXT hoặc README.DOC Hãy dùng Windows Notepadhoặc MS Word để xem

Trong quá trình cài đặt, có thể cần phải gõ vào những thông tin liên quanđến móc nối Internet Nếu nhà cung cấp dùng giao thức điểm-nối-điểm(PPP), những gì cần nhập là User ID, mật khẩu và có thể cả số điện thoạicủa máy tính dịch vụ Tất nhiên, nếu dùng giao thức tuyến tuần tự, được biếtdưới tên SLIP account, phải gõ thêm số giao thức Internet (IP) - một lý do đểchọn PPP nếu có

Tùy biến chương trình tham khảo

Trang 8

Thủ tục cài đặt tự động định hình máy tính của bạn để truy cập đượcInternet và không cần phải điều chỉnh lại Khi cần thiết, có thể tùy biến theo ýmuốn của mình Hãy sử dụng trợ giúp trực tuyến để xác định chính xác cáctùy chọn (options) cần thiết

b ISP dùng riêng

ISP dùng riêng không cung cấp dịch vụ Internet với mục đích kinhdoanh Là loại hình dịch vụ Internet của các cơ quan hành chính, các trường đạihọc hay viện nghiên cứu Tại Việt Nam có hai ISP dùng riêng: mạng của TrungTâm khoa học và Kỹ thuật hạt nhân; mạng Khoa học giáo dục VARENET

Để sở hữu dịch vụ truy nhập Internet dùng riêng (ISP dùng riêng)chúng ta phải đăng ký với Bộ Thông tin và truyền thông Các thủ tục nhưsau:

1 Hồ sơ xin cấp giấy phép cung cấp dịch vụ truy nhập Internet dùng riêng (ISP dùng riêng):

2 Điều kiện cấp phép cung cấp dịch vụ truy nhập Internet dùng riêng (ISP dùng riêng):

Trang 9

3 Hồ sơ xin bổ sung, sửa đổi giấy phép cung cấp vụ dịch truy nhập Internet dùng riêng (ISP dùng riêng)

4 Hồ sơ xin gia hạn giấy phép cung cấp dịch vụ truy nhập Internet dùng riêng(ISP dùng riêng)

5 Thời gian xử lý và địa chỉ tiếp nhận hồ sơ:

6 Thu hồi giấy phép

Tham khảo chi tiết phần này ở trang web:

www.mic.gov.vn/print_preview.asp?news_ID=11540675

Xem Quyết định của Bộ Trưởng Bộ Công an số 71/2004/qđ-bca (a11)ngày 29 tháng 1 năm 2004 về việc ban hành quy đỊnh về đảm bảo an toàn, anninh trong hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet tại Việt Nam tại

trang web www.spt.vn/vi/vbpq/vanban_phapqui_10_new.htm

c Nhà cung cấp thông tin trên mạng Internet (ICP-Internet Content

d Công dân Internet

Là những người sữ dụng các dịch vụ của Internet Những người này cũngphải đăng ký với một ÍP hay ÍP dùng riêng, với mọt tài khoản (Account) để truycập Mỗi tài khoản bao gồm một tên và một mật khẩu (password) đăng nhập Tàikhoản này cũng được dùng để tính toán chi phí mà người sử dụng phải trả choISP

6 Mô hình Internet Việt Nam VNN

Cách đây hơn mười năm, ngày 19/11/1997, dịch vụ Internet chính thức cómặt tại Việt Nam Lúc đó, nó được xem là dịch vụ cao cấp dành cho một nhóm

cá nhân, tập thể thật sự có nhu cầu Vì là dịch vụ mới nên cước phí cao, thủ tụcđăng ký phức tạp Còn bây giờ, dịch vụ Internet không chỉ có mặt ở các đô thị

mà đã lan tỏa rộng khắp 64 tỉnh thành, từ những khu dân cư đông đúc đến cácbản làng xa xôi

Dù dịch vụ Internet chính thức khai trương vào cuối năm 1997 nhưng từ đầunăm 1996, hạ tầng mạng Internet đã được xây dựng Ban đầu, hạ tầng InternetViệt Nam chỉ là một hệ thống thiết bị nhỏ, được một đối tác của Tổng công tyBưu chính-Viễn thông Việt Nam (VNPT) lúc bấy giờ (nay là Tập đoàn Bưu chính-Viễn thông Việt Nam) “tặng” thêm một dự án tổng đài dữ liệu

Trang 10

Cấu trúc mạng Internet Việt Nam VNN

Hạ tầng ban đầu ấy có tốc độ 64Kbps khi kết nối quốc tế, dung lượng chỉ đủcho khoảng 300 người sử dụng Khách hàng đầu tiên là những cán bộ cao cấpcủa các cơ quan ban ngành, sử dụng với mục đích là giới thiệu với các cấp lãnhđạo cao hơn để vận động “mở cửa” cho Internet

Lúc đó, chỉ có một DN cung cấp hệ thống đường trục kết nối trong nước vàquốc tế (IXP) là VNPT cùng bốn nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) là VNPT,FPT, SPT và Netnam được phép kinh doanh dịch vụ này

Mạng điện thoại

Máy chủ truy cập

Hub Hub

Máy chủ truy cập

PSDN

Hà Nội Cổng Quốc tế

TP HCM Cổng Quốc tế Cáp quangCáp quang

Người thuê bao đến

ISP, ICP (Leased Line)

Người thuê bao đến ISP, ICP (Leased Line) Người sử dụng

Trang 11

Năm 2002, để tạo động lực cạnh tranh, nhà nước không còn cho phép VNPTđộc quyền khai thác hạ tầng kỹ thuật và cho phép thành lập các IXP khác Quyđịnh này đã làm thị trường Internet Việt Nam có sự đột phá mới Giá cước ngàycàng rẻ Thủ tục ngày càng đơn giản Từ một nhà IXP và bốn ISP thuở ban đầu,đến lúc đó, số lượng nhà kinh doanh dịch vụ Internet đang hoạt động thực tếtrên thị trường gồm có bốn IXP và tám ISP “Thời sơ khai” của Internet Việt Namchỉ có các dịch vụ cơ bản: thư điện tử, truy cập cơ sở dữ liệu, truyền dữ liệu, truynhập từ xa Thì nay, các loại hình dịch vụ đã rất đa dạng và phong phú

Năm 2003, với các quyết định cho giảm cước truy cập sử dụng Internetngang với các quốc gia trong khu vực, thậm chí có khung cước còn rẻ hơn, đồngthời cho phép các DN tự mình áp dụng các chính sách quản lý và ấn định mứccước, số khách hàng thuê bao của các ISP tăng đột biến VNPT tăng 258%, SPT

- 255%, NetNam - 227%, Viettel - 184% và FPT - 174% Tuy nhiên, đến nay chấtlượng dịch vụ vẫn còn là nỗi khổ của khách hàng lẫn nhà cung cấp Vấn đề chấtlượng chỉ được “cải thiện” bằng thiện chí chăm sóc khách hàng của các ISP chứchưa có một cuộc thay đổi toàn diện, mà điều dễ thấy nhất là ở tốc độ truy cập

a ADSL- cuộc “cách mạng” trong công nghệ!

Không thể không nhắc đến một công nghệ mà chính nó đã làm thị trườngInternet ngày càng phát triển mạnh mẽ, đó là: ADSL, ra đời vào cuối năm 2003với nhà cung cấp đầu tiên là FPT (dù rằng VNPT giới thiệu thí điểm công nghệnày trước)

Tháng 5/2003, dịch vụ Internet băng thông rộng, gọi tắt là ADSL, được chínhthức có mặt ngoài thị trường cũng ngay từ buổi ban đầu dịch vụ này luôn trongtình trạng cung không đủ cầu Các nhà cung cấp lắp đặt cáp tới đâu, khách hàngđăng ký tới đó Có nhiều khu vực, dù chưa có cáp nhưng đã có khách hàngđăng ký “chờ” Sau năm tháng triển khai, số khách thuê bao dịch vụ ADSL củaVNPT và FPT đã đạt đến gần 20.000, và sau một năm, số khách thuê bao đãtăng lên đến 71.000

Ban đầu, dịch vụ này chỉ được cung cấp cho người sử dụng tại Hà Nội vàTP.HCM Đến nay, ADSL đã phủ khắp 64 tỉnh thành, từ đô thị cho đến các vùngnông thôn với các nhà cung cấp VNPT, Viettel và EVN Netnam, SPT và FPT chỉtriển khai dịch vụ tại Hà Nội và TP.HCM Riêng FPT, trong năm 2007 đã bắt đầu

mở rộng dịch vụ ADSL đến các tỉnh thành có số dân đông như Hải Phòng, ĐàNẵng, Bình Dương và Đồng Nai

Chính nhờ công nghệ băng thông rộng ADSL ra đời mà dịch vụ nội dung trênmôi trường mạng cũng phong phú hơn lúc ban đầu rất nhiều Nhiều dịch vụ caocấp hơn như VoIP, Wi-Fi, các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng (chat, trò chơitrực tuyến, blog ) ngày càng nhộn nhịp Nhưng quan trọng hơn là khi băngthông lớn, tốc độ truy cập nhanh, Internet Việt Nam đã có sự phát triển đột biến.Bên cạnh các tờ báo điện tử lớn như VietNamNet, VnExpress, các trang webthông tin của các báo, doanh nghiệp và cá nhân đều phát triển rất mạnh Đâykhông chỉ là nơi cung cấp thông tin cho người đọc mà còn là nơi trao đổi kinhnghiệm về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống của con người trong môi trường ảo

b Kết nối với thế giới

Trang 12

Khi mới kết nối, hạ tầng Internet Việt Nam chỉ có cổng kết nối đi Mỹ và Úc vớibăng thông nhỏ, mức dự phòng thấp Tháng 5/2005, hạ tầng Internet Việt Namkết nối với quốc tế đã phát triển đa hướng Hướng đi quốc tế lên đến 12 hướngqua tám quốc gia và lãnh thổ có lưu lượng trao đổi Internet lớn gồm Mỹ, Nhật,Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Malaysia

Với vai trò điều phối, tháng 10/2003, Bộ Bưu chính-Viễn thông (nay là BộThông tin-Truyền thông) đã tạo sự thống nhất giữa các IXP trong vấn đề kết nốiInternet trong nước bằng việc thành lập hệ thống VNIX - hệ thống mạng trungchuyển lưu lượng Internet quốc gia VNIX đã góp phần làm giảm sự quá tải, tăngbăng thông Internet trong nước, tránh lãng phí thuê kênh Internet quốc tế

Việt Nam hiện nay có hai tuyến cáp quang biển là TVH và SMW3 Tuyến cápquang TVH được đưa vào khai thác từ năm 1995, kết nối với Thái Lan và HồngKông để từ đó kết nối tiếp với hơn 30 hướng trên thế giới Dung lượng mỗihướng là 560Mbps, sử dụng công nghệ PDH Ngoài chức năng chuyển tải thôngtin, hệ thống TVH còn đảm đương nhiệm vụ phục hồi cho hệ thống SMW3.Tuyến cáp quang SMW3 được đưa vào khai thác từ năm 1999, nối liền Việt Namvới 35 điểm cập bờ trên thế giới, sử dụng công nghệ WDM, khai thác 16 bướcsóng với tốc độ 2.5Gbps trên mỗi bước sóng Tuyến cáp quang SMW3 có trạmcập bờ Đà Nẵng nối một bước sóng với Trung Quốc, một bước sóng với HồngKông và hai bước sóng với Singapore

c Vẫn còn những điểm yếu

Theo nhiều chuyên gia của Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), mặc dùcác ISP, IXP được cấp phát địa chỉ IP đủ cho mọi yêu cầu phát triển, nhưng khảnăng hoạch định của họ để sử dụng hợp lý địa chỉ vẫn còn ở mức hạn chế Hiệnnay chỉ có ba trong số các nhà cung cấp dịch vụ sử dụng định tuyến động đểthực hiện định tuyến, các ISP còn lại vẫn sử dụng định tuyến tĩnh thông qua mộtnhà cung cấp nên không bảo đảm khả năng phòng chống lỗi Những điểm yếucủa Internet Việt Nam còn thể hiện ở việc chưa quản lý tốt tài nguyên, chưa ápdụng công nghệ IP thế hệ mới (IPv6) Hiện nay chỉ có VNPT đã đăng ký sử dụngIPv6 nhưng cũng chưa sử dụng rộng rãi

Nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp khai thác Internet đang là vấn đề nangiải trong tình hình chung của ngành công nghệ thông tin hiện nay Đội ngũ kỹthuật viên, lập trình viên có chất lượng luôn là nỗi khao khát của các nhà khaithác Bên cạnh đó, một vấn đề đang làm đau đầu các cơ quan chức năng làchưa tìm ra cách để quản lý nội dung thông tin trên mạng như hiện tượng blog,tung tin và hình ảnh phản cảm lên mạng mà thời gian qua làm xôn xao dư luận,chưa ngăn chặn được những hành vi kinh doanh lậu thẻ điện thoại Internet trảtrước, khai thác trái phép hạ tầng Internet với mục đích ăn cắp cước viễnthông…

Nhìn lại mười năm, ngỡ rằng quá dài nhưng ngần ấy thời gian thật ra chỉ mới

là bước khởi đầu cho một công nghệ chứa đựng biết bao điều kỳ diệu Tin rằng,Internet Việt Nam sẽ còn phát triển khi nhà nước, doanh nhgiệp và người dâncùng hợp sức để phát triển dịch vụ này Tương lai của Internet Việt Nam còn ở

phía trước Sau đây là một vào số liệu thống kê (tham khảo) được về quá trình

phát triển Internet ở Việt Nam:

Trang 13

(Nguồn: Trung Tâm Internet Việt Nam-VNNIC )

Thị phần (%)

Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội (HPT) 643 0,01 Tổng công ty Viễn thông Quân đội (VIETTEL) 810638 16,49 Công ty cổ phần dịch vụ Một kết nối (OCI) 130309 2,65 Công ty cổ phần dịch vụ BC-VT Sài Gòn (SPT) 203540 4,14 Công ty NETNAM - Viện CNTT (NETNAM) 78345 1,59 Công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ (FPT) 910791 18,53 Tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT) 2532108 51.52 Công ty SAXKD XNK điện tử Q.10 (TIE) 1035 0,02 Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực (EVN) 247057 5,02

7 Các phương pháp kết nối với Internet

7.1 Kết nối dạng cuộc gọi: Các phương pháp chính để tạo nối kết theo dạngcuộc gọi gồm: Nối kết dạng máy chủ / Terminal (Host/Terminal Connection) Liênkết dạng một máy tính TCP/IP riêng biệt (Individual Computer TCP/IP Link) Liênkết TCP/IP thông qua mạng cục bộ

a) Nối kết dạng máy chủ/Terminal

Cơ chế hoạt động:

Trang 14

* Máy tính của người sử dụng hoạt động như một Terminal được nối kết trựctiếp với một máy tính chủ Internet (Internet Host)

* Người sử dụng dùng một chương trình mô phỏng Termial để thực hiện kếtnối

* Chương trình thường dùng là VT100 Termial Chương trình này có nhiệm

vụ báo cho modem để làm nhiệm vụ dial nếu cần; Quản lý việc truyền các ký tựgiữa máy tính của người

b) Liên kết dạng một máy tính TCP/IP riêng biệt

Cơ chế hoạt động:

Máy tính của người sử dụng hoạt động như một máy chủ Internet Các giaothức này thường dùng giao thức SLIP (serial link internet protocol) hoặc PPP(point to point protocol)

Máy tính của người sử dụng trở thành một máy chủ Internet ngang hàng vớimáy chủ internet mà ta đã nối vào

Những công việc có thể thực hiện:

Dowload tập tin đến chính máy của người sử dụng thay vì lên máy chủinternet Phụ thuộc vào phần mềm đang chạy trên máy tính mà đôi lúc có nhữngviệc chúng ta không thực hiện được trên internet Ví dụ: để nghe được các tintức oline thì máy tính của chúng ta phải có card âm thanh, loa (phần cứng), càichương trình Windows madia player…

Đôi khi có một vài thông tin mà người đưa lên internet không cho phép chúng

ta dowload bình thường mà cần phải hỗ trợ thêm phần mềm dowload…

7.2 Kết nối dạng liên kết tận hiến

Nối kết thường trực thông qua một đường dây điện thoại giữa hai modemhay hai router Với tốc độ đường truyền duwói 56kps thì dùng modem, còn tốc độ

>= 56kps thì dùng router Kết nối theo kiểu này thì máy tính cá nhân hay mộtmạng LAN sẽ được kết nối thường trực với internet

1. Địa chỉ nguồn tài nguyên thông tin Internet

Cuộc cách mạng CNTT-TT bùng nổ, với sự phổ cập của máy tính cá nhân(PC) và sự ra đời của siêu xa lộ thông tin toàn cầu (Internet) nhân loại được

bổ sung thêm nguồn tài nguyên mới đó là thông tin Cùng với 4 nguồn tàinguyên truyền thống (con người, máy móc, nguyên liệu và đồng vốn), thôngtin đang dần khẳng định vai trò của mình trong quá trình phát triển của nhânloại

1.1 Thông tin đang làm thay đổi cuộc sống

Trang 15

Cuộc cách mạng thông tin – truyền thông & Internet đang tạo ra hết những bất ngờ này đến sự kỳ thú khác Nó không đơn thuần chỉ là cuộc cách mạng

về kỹ thuật công nghệ, về máy móc, về phần mềm hay tốc độ lưu chuyển và

xử lý dữ liệu, mà là cuộc cách mạng về xã hội và đổi mới tư duy Con người đang sinh sống trong một biển cả thông tin, và trong từng giây, từng phút đều tiếp xúc với thông tin Những khái niệm mới trong cuộc sống: không gian ảo, cửa hàng ảo, ngân hàng ảo,… người tình ảo hay là chính phủ điện tử, tiền điện tử và cao hơn là mọi giao dịch xã hội, kinh tế và quản lý nhà nước đều được thực hiện trực tuyến trên không gian mạng

Khi thông tin được xác định là nguồn tài nguyên mới nó đã và đang tácđộng tích cực đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội, làm thay đổi cả lốisống, phong cách làm việc, tư duy của con người Nhờ các phần mềm máytính, các mạng máy tính nội bộ, mạng diện rộng và mạng Internet hình thànhvới công nghệ tiên tiến, khiến cho việc trao đổi thông tin giữa các cá nhânđược thực hiện theo thời gian thực Sự ngăn cách về không gian và thời gian,

sự cách trở do yếu tố văn hoá, bị lu mờ trong không gian số hoá Tất cả mọihoạt động của các tổ chức, mọi giao tiếp, giao dịch của từng cá nhân và xã hộiđược thực hiện trực tuyến trên không gian mạng với các tín hiệu thông tin sốhoá: thông qua Internet các dịch vụ y tế chất lượng cao và loại hình chữabệnh từ xa ra đời; Đào tạo từ xa xuất hiện, cung cấp dịch vụ giáo dục trựctuyến cho mọi người; Thương mại điện tử với các siêu thị điện tử đầy ắp mọiloại hàng hoá dịch vụ, cùng các xe mua hàng điện tử giúp mọi người thực hiệnviệc mua hàng từ xa; Ngân hàng điện tử, thanh toán điện tử, thanh toán từ xaphát triển; Báo chí điện tử phát triển, mọi diễn biến trên phạm vi toàn thế giớiđều được cập nhật đầy đủ trên Internet giúp cho việc tiếp cận thông tin không

bị hạn chế…; rồi dịch vụ chính phủ điện tử ra đời, cung cấp các dịch vụ quản

lý hành chính thuận tiện đến mọi người dân, người dân có phương tiện vàcông cụ hữu hiệu để phản ánh, để bầy tỏ chính kiến của mình với cơ quancông quyền Nhà nước; căn bệnh cửa quyền, quan liêu có tính cố hữu của nhànước sẽ dần bị loại bỏ vì mọi thông điệp, thông tin về hoạt động quản lý củanhà nước đều được phổ biến một cách rộng rãi đến toàn thể dân chúng

Chính phủ, các doanh nghiệp, các tổ chức cũng như cá nhân người tiêudùng dựa vào các nguồn tài nguyên thông tin mà mình sở hữu được để racác quyết định quản lý, kinh doanh và tiêu dùng Các giao dịch kinh doanh,trao đổi giữa các thành viên của xã hội đều dựa trên kết quả phân tích kháchquan từ các nguồn thông tin thu được Để quyết định cho vay, hay cấp tíndụng cho một khách hàng, các ngân hàng sẽ căn cứ vào các thông tin trongquá khứ đã được lưu trữ Để chọn một trường đại học, các sinh viên sẽ căn

cứ vào các thông tin xếp hạng của các tổ chức chuyên nghiệp Còn cáctrường lại dựa vào kết quả thi SAT, TOEFL, GRE của từng sinh viên do ETScung cấp để chọn sinh viên CNTT đã tạo nên những thay đổi mang tínhcách mạng trong mọi lĩnh vực hoạt động Việc ứng dụng CNTT làm thay đổisâu sắc vai trò của lực lượng lao động xã hội CNTT được ứng dụng vào cáclĩnh vực hoạt động đã tạo nên một phương thức hoạt động mới hiệu quả cao.1.2 Máy tính & mạng máy tính – Nền tảng Hệ thần kinh kỹ thuật số

Mạng không chỉ nối máy tính lại với nhau, còn hơn thế, thông qua máytính, chúng nối kết con người Chính chức năng nối kết các cá nhân, các

Trang 16

nhóm trong một tổ chức khiến mạng máy tính cùng các thiết bị truy cập đầucuối đã trở thành cơ sở hạ tầng kỹ thuật số trong mỗi tổ chức Từ nhữngthông tin thu nhận được giúp từng cá nhân hiểu rõ được vấn đề, từ đó có thểlựa chọn giải pháp hành động tối ưu cho từng vấn đề cụ thể phát sinh trongcông việc và sinh hoạt cuộc sống hàng ngày

Nhờ những công cụ kết nối và tìm kiếm dữ liệu cho phép dễ dàng thuthập, chia sẻ thông tin và hành động trên cơ sở những thông tin này Với việc,tất cả mọi loại thông tin – số liệu, âm thanh, hình ảnh – đều có thể được đưa

về dạng kỹ thuật số để bất kỳ máy tính nào cũng có thể lưu trữ, xử lý và gửichuyển tiếp cho nhiều người; cùng sự ra đời các phần cứng tiêu chuẩn kếhợp với phần mềm linh hoạt đã tạo điều kiện cho phép thiết lập những giảipháp máy tính mạnh mẽ nhưng rẻ tiền, thích hợp với mọi loại tổ chức thuộcmọi tầm cỡ, quy mô Tận dụng ưu thế đặc điểm này của máy tính, các nhàquản lý đã biến mỗi cá nhân với những công cụ – máy tính - trở thành mộttrạm làm việc hiệu quả

Dưới sự trợ giúp của công nghệ kỹ thuật số, việc phân phối thông tin chotừng cá nhân trong cộng đồng ngày càng được đơn giản hoá (thuận tiện -nhanh chóng – chính xác) Hệ thống thư điện tử với dung lượng hộp thư lên100Mb, 250Mb (tương đương 500.000 trang text A4) và 1 Gb đã giúp việc traođổi thông tin với chất lượng ngày càng cao Qua hệ thống E-Mail những cuộcthảo luận, trao đổi liên quan đến mọi vấn đề, từ thư từ trao đổi công tác,mệnh lệnh quản lý hành chính,…đến các lời tỏ tình riêng tư Trong cuộc táicấu trúc lại hoạt động những năm đầu thập kỷ 90, Tập đoàn máy tính IBM đãthông qua Internet và E-Mail để thu thập ý kiến của toàn thể nhân viên IBMlàm việc trên toàn thế giới Kết quả, sau 1 tuần đã có 54 nghìn ý kiến của nhânviên IBM làm việc tại 163 quốc gia khắp địa cầu đề xuất sáng kiến của mình.Chính từ nguồn trí tuệ tập thể này, mà IBM đã vượt qua khủng hoảng, xác lậplại vị thế của mình trên thương trường

Kỹ thuật số không những có thể làm thay đổi quy trình sản xuất, kinhdoanh, thậm chí nó còn có thể giải phóng nhân viên khỏi những quy trìnhchậm chạp, cứng nhắc của việc xử lý giấy tờ hành chính Với văn phòng sốhoá - văn phòng không giấy tờ ra đời, con người dần thoát ly khỏi đống vănbản giấy đồ sộ: không phải lục lọi hàng đống giấy tờ để tìm được thứ mìnhcần; không còn phải bới hàng núi sách vở, tài liệu để tìm một bản báo cáokhoa học năm trước; không còn cảnh những hồ sơ gửi lầm địa chỉ, hoá đơn bịmất, những số liệu ghi sai, những dòng chữ nhập nhèm vì lão hoá do thờigian Máy tính với giao diện đồ hoạ và các công cụ phân tích dữ liệu đã làmcho việc phối hợp nhiều loại dữ kiện khác nhau trở nên dễ dàng Với mọi cánhân, tổ chức đều có thể dễ dàng truy cập Internet khai thác sử dụng nguồntài nguyên số hoá của toàn nhân loại

1.3 Thông tin vũ khí cạnh tranh lợi hại

Sự phát triển dồn dập cùng tính năng dễ vận chuyển (thông qua Modem)khiến thông tin nhanh chóng giành lấy quyền chiếm hữu những phương tiệnsản xuất mới Thông tin đang ngày càng trở thành một phương tiện sản xuấtmới thay thế tư bản và đất đai Mâu thuẫn mới xuất hiện giữa “người giàuthông tin” và “kẻ nghèo thông tin” Hố ngăn cách số dẫn đến sự xung đột

Trang 17

quyền lợi trên phạm vi toàn cầu: Đại bộ phận dân chúng trên thế giới bị khốngchế về mặt thông tin bởi một thiểu số ít người

Thông tin ngày càng trở thành loại vũ khí cạnh tranh lợi hại, là nguồn lựcquan trọng quyết định sự phát triển bền vững của một tổ chức CNTT-TT thúcđẩy sự đổi mới, phát triển của các doanh nghiệp, kéo theo nó là sự thịnhvượng của quốc gia và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được nâng cao.Cùng với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, tương lai gần sẽ không còn côngnghệ hay sản phẩm quốc gia, công ty quốc gia hay các ngành kinh doanhquốc gia, mà mỗi doanh nghiệp sẽ có những kỹ năng và sáng kiến riêng củacác thành viên của nó Trong bối cảnh đó, các tổ chức, nhất là các doanhnghiệp cần hoạch định chiến lược và đổi mới liên tục để thích nghi và pháttriển bền vững

Với việc “bùng nổ thông tin” cùng sự bao trùm của việc ứng dụng

CNTT-TT trong mọi lĩnh vực khiến cho việc lựa chọn thông tin tránh việc “nhiễu thông tin” là một vấn đề nan giải đối với mọi cá nhân và tổ chức Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT-TT trở thành một phần không thể thiếu trong các chiến lược cạnh tranh của các tổ chức, các doanh nghiệp và quốc gia Chỉ có

sự trợ giúp của các thiết bị CNTT mới đảm bảo cho họ có phản ứng kịp thời với mọi thay đổi của môi trường xung quanh, giúp họ có những quyết định đúng đắn trong điều hành hoạt động của tổ chức Xác định được tầm quan trọng của CNTT-TT và nguồn lực thông tin, ngay từ những năm 1990 hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hoạch định chiến lược phát triển CNTT-TT, xây dựng và phát triển một nền tảng hạ tầng kỹ thuật thông tin hiện đại Ngành công nghệ mới mẻ này đã không ngừng lớn mạnh Nếu như năm 1995, giá trị sản xuất công nghiệp CNTT chiếm 6% GDP của thế giới, đến nay đã chiếm hơn 15%

Đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT, khai thác và phát huy nguồn lực thông tintrong mọi hoạt động văn hoá – xã hội, kinh tế - chính trị đang là vấn đề thời sựtrên phạm vi toàn thế giới Ứng dụng CNTT-TT để phát triển một cách nhanhchóng mọi năng lực, nguồn lực của xã hội, đổi mới hoạt động sản xuất kinhdoanh đang trở thành yêu cầu bắt buộc có tính chất sống còn đối với mọi quốcgia trong quá trình hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay

2 Hệ thống địa chỉ IP

Trong mạng, thiết bị nào cũng phải có địa chỉ riêng cho mỗi kết nối Nhờ địachỉ này, các gói tin trao đổi giữa hệ thống máy tính (máy chủ, máy khách) mớiđược nhận biết để chuyển đi, cũng như anh bưu tá phải biết số nhà để gửi thư

IP là chữ viết tắt của Internet Protocol (giao thức Internet) Mỗi gói tin IP sẽbao gồm một địa chỉ IP nguồn và một địa chỉ IP đích Tất nhiên, hệ thống "sốnhà" trên Internet phức tạp và thú vị hơn nhiều so với nhà cửa trong thực tế.Địa chỉ IP bao giờ cũng gồm 4 nhóm số, các con số này được biểu diễn như

đã trình bày: 4 phần giá trị thập phân được phân cách bởi các dấu chấm Mỗi

Trang 18

phần của địa chỉ IP là một giá trị trong khoảng 0 và 255, nó được biểu diễn bằng

1 byte trên bộ nhớ máy tính Như thế địa chỉ IP về mặt lý thuyết có thể chạy từ0.0.0.0 đến 255.255.255.255

 Địa chỉ IP được chia thành nhiều loại Cụm số bên trái của địa chỉ IP xác

định lớp.

 Lớp A gồm những số từ 0 đến 127 Về mặt lý thuyết mạng lớp A có thể có16.777.216 máy chủ

 Mạng lớp B gồm những số từ 128 đến 191 Về mặt lý thuyết mạng lớpnày có thể có 65.536 máy chủ

 Mạng lớp C gồm những số từ 192 đến 223 và mỗi mạng có thể có 254máy chủ

IP tĩnh và động

Mỗi thiết bị trong một mạng IP được chỉ định bằng một địa chỉ vĩnh viễn (IPtĩnh) bởi nhà quản trị mạng hoặc một địa chỉ tạm thời, có thể thay đổi (IP động)thông qua công cụ DHCP (giao thức cấu hình host động sẽ tự động xác định địachỉ IP tạm thời) ngay trên Windows Server

Các router (bộ định tuyến), firewall (tường lửa) và máy chủ proxy dùng địa chỉ

IP tĩnh còn máy khách có thể dùng IP tĩnh hoặc động

Thường thì các nhà cung cấp Internet DSL hay cáp sẽ chỉ định loại IP độngcho bạn Trong các router và hệ điều hành, cấu hình mặc định cho các máykhách cũng là IP động Loại địa chỉ này hay được dùng cho máy tính xách taykết nối Wi-Fi, PC truy cập bằng Dial-up hay mạng riêng

Phân phối địa chỉ IP

Trên thế giới có hàng chục triệu máy chủ và hàng trăm nghìn mạng khácnhau Do đó, để quản lý sao cho địa chỉ IP không trùng nhau, một tổ chức mangtên Network Information Center (NIC) ra đời với nhiệm vụ phân phối Net ID (địachỉ mạng) cho các quốc gia Ở mỗi nước lại có một trung tâm quản lý Internetlàm công việc phân phối Host ID (địa chỉ máy chủ) Tại Việt Nam, nếu muốn thiếtlập một hệ thống máy chủ, khách hàng có thể tới VNNIC để đăng ký IP tĩnh vớimức phí từ 1 đến 285 triệu đồng, tùy theo quy mô sử dụng (Xem chi tiết tại đây)

Cấu trúc và phân lớp địa chỉ IP

Các địa chỉ này được viết dưới dạng một tập hợp bộ số (octet) ngăn cáchnhau bằng dấu chấm (.) Nếu biết địa chỉ IP của một website, bạn có thể nhậpvào trình duyệt để mở mà không cần viết tên miền Hiện nay có 2 phiên bản là

Trang 19

IPv4 và IPv6, trong đó IPv4 là chuẩn đang dùng rộng rãi với độ dài 32 bit Nhưngtrong tương lai, khi quy mô của mạng mở rộng, người ta có thể phải dùng đếnIPv6 là chuẩn 128 bit.

Xét trong phiên bản IPv4, địa chỉ 32 bit này được chia làm 4 bộ, mỗi bộ 8 bit(viết theo dạng nhị phân gồm các số 0 và 1) được đếm thứ tự từ trái sang phải.Bạn đọc có thể dùng trang web này để chuyển đổi giữa hai hệ đếm

Nếu viết theo dạng thập phân (thường dùng để dễ nhận biết), địa chỉ IP cócông thức là xxx.xxx.xxx.xxx, trong đó x là số thập phân từ 0 đến 9 Tuy vậy, khi

0 đứng đầu mỗi bộ số, bạn có thể bỏ đi, ví dụ 123.043.010.002 được viết thành123.43.10.2

Cấu trúc trên thể hiện 3 thành phần chính là

Class bit Net ID Host IDPhần 1 là bit nhận dạng lớp, dùng để xác định địa chỉ đang ở lớp nào

Địa chỉ IP được phân thành 5 lớp A, B, C, D, E, trong đó lớp D, E chưa dùngtới Ta xét 3 lớp đầu với hệ đếm nhị phân

Lớp A:

Như vậy, bit nhận dạng thứ nhất của lớp A bằng 0, 7 bit còn lại dành cho địachỉ mạng Net ID, phần tiếp theo dành cho địa chỉ máy chủ Host ID Vùng số củamạng được gọi là tiền tố mạng (network prefix) Lớp A áp dụng khi địa chỉnetwork ít và địa chỉ máy chủ nhiều Tính ra, ta được tối đa 126 mạng và mỗimạng có thể hỗ trợ tối đa 167.777.216 máy chủ Vùng địa chỉ lý thuyết tính theo

hệ đếm thập phân từ 0.0.0.0 đến 127.0.0.0 (thực tế ta không dùng các địa chỉ đều có giá trị bit bằng 0 hay 1).

Lớp B:

Bit nhận dạng của lớp B là 10, 14 bit còn lại dành cho Net ID Lớp này ápdụng khi địa chỉ mạng và địa chỉ máy chủ ở mức vừa Tính ra, ta được tối đa16.382 mạng, mỗi mạng phục vụ tối đa 65.536 máy chủ Vùng địa chỉ lý thuyết từ128.0.0.0 đến 191.255.0.0

Trang 20

Lớp C:

Bit nhận dạng của lớp C là 110, 21 bit còn lại dành cho Net ID Lớp này ápdụng khi địa chỉ mạng nhiều và địa chỉ máy chủ ít Tính ra, ta được tối đa2.097.150 mạng, mỗi mạng phục vụ tối đa 254 máy chủ Vùng địa chỉ lý thuyết từ192.0.0.0 đến 223.255.255.0

Địa chỉ IP cho mạng riêng

Trên thực tế, khi phạm vi hoạt động mạng mở rộng, nếu công ty phải đi xinthêm địa chỉ thì sẽ tốn kém Hơn nữa, có khi một mạng nhỏ chỉ gồm vài chụcmáy chủ và điều này gây lãng phí rất nhiều địa chỉ còn lại Do đó, người ta nghĩđến mạng riêng (private network) để tận dụng nguồn tài nguyên Các thiết bịtrong một mạng nội bộ sẽ dùng địa chỉ IP riêng mà không kết nối trực tiếp vớiInternet

Các mạng riêng này trở nên phổ biến với thiết kế LAN vì nhiều tổ chức thấyrằng họ không cần địa chỉ IP cố định trên toàn cầu cho mỗi máy tính, máy in,máy fax Các router trên Internet thường được định cấu hình để từ chối kết nốidùng địa chỉ IP riêng Chính sự "cách ly" này đã khiến mạng riêng trở thành hìnhthức bảo mật cơ bản vì người ngoài không kết nối trực tiếp được với máy trongnetwork đó Cũng vậy, do các mạng riêng này không thể kết nối trực tiếp vớinhau nên chúng có thể dùng một vùng địa chỉ IP con giống nhau mà không gâyxung đột gì

Cách phân chia địa chỉ mạng con như sau:

Về bản chất, ta sẽ tận dùng các bộ số không dùng đến của địa chỉ máy chủ

để mở rộng quy mô cho mạng Subnet Mask (giá trị trần của từng mạng con) chophép bạn chuyển đổi một mạng lớp A, B hay C thành nhiều mạng nhỏ, tùy theonhu cầu sử dụng Với mỗi giá trị trần này, bạn có thể tạo ra một tiền tố mạng mởrộng để thêm bit từ số máy chủ vào tiền tố mạng Việc phân chia này sẽ dễ hiểuhơn khi bạn dùng hệ đếm nhị phân

- Các bit được đánh số 1 nếu bit tương ứng trong địa chỉ IP là một phần củatiền tố mạng mở rộng

- Các bit được đánh số 0 nếu bit là một phần của số máy chủ

Ví dụ tiền tố mạng lớp B luôn bao gồm 2 bộ số đầu của địa chỉ IP, nhưng tiền

tố mạng mở rộng của lớp B lại dùng cả bộ số thứ 3

Ví dụ 1: Nếu có địa chỉ IP lớp B là 129.10.0.0 và bạn muốn dùng cả bộ số

thứ 3 làm một phần của tiền tố mạng mở rộng thay cho số máy chủ, bạn phải

Trang 21

xác định một giá trị trần của mạng con là: 11111111.11111111.11111111.00000000 (255.255.255.0) Như vậy, giá trị trần này chuyển địa chỉ của lớp B sang địa chỉ lớp C, nơi số máy chủ chỉ gồm bộ số thứ 4 Ký hiệu /24 thể hiện bạn đã dùng 24 bit đầu để làm tiền tố mạng mở rộng.

Ví dụ 2: Nếu ta chỉ muốn dùng một phần của bộ số thứ 3 cho tiền tố mạng

mở rộng, hãy xác định giá trị trần của địa chỉ mạng con là

11111111.11111111.11111000.00000000 (255.255.248.0), trong đó chỉ có 5 bit của

bộ số thứ 3 được đưa vào tiền tố mạng mở rộng Lúc này ta có ký hiệu /21

Để xác định Subnet Mask dựa trên số máy chủ mình muốn, bạn có thể thamkhảo bảng sau:

Số máy chủ Số bit sử dụng cho mạng

Trang 22

Chú ý: Địa chỉ đầu tiên và cuối cùng của mạng con được giữ lại, trừ /32 vìđây là địa chỉ máy chủ duy nhất.

Xác định địa chỉ để sử dụng với giá trị trần của mạng con

chuột phải vào biểu tượng

Local Area Connection >

Properties > chọn Internet

Protocol (TCP/IP) >

Properties Một bảng sau hiện

ra:

Trang 23

Muốn xem địa chỉ này, bạn vào menu Start > All Programs > Accessories >Command Prompt Khi màn hình Dos hiện ra, gõ ngay vào vị trí con trỏ chữ

"ipconfig" Cách khác: Start > Run > gõ ipconfig > OK

Khi một thiết bị nào đó trên network riêng cần liên hệ với các mạngkhác, người dùng phải đảm bảo mạng ngoài có dùng địa chỉ IP thực đểcác router chấp nhận kết nối Thường thì "cánh cổng" router này chính làthiết bị dịch địa chỉ mạng (NAT - network address translation) hoặc côngđoạn đó được thực hiện nhờ một máy chủ proxy

3.1 DNS làm việc như thế nào?

DNS (Domain Name System) là một hệ cơ sở dữ liệu phân tán dùng để ánh

xạ giữa các tên miền và các địa chỉ IP DNS đưa ra một phương pháp đặc biệt để duy trì và liên kết các ánh xạ này trong một thể thống nhất

Trong phạm vi lớn hơn, các máy tính kết nối với internet sử dụng DNS để tạođịa chỉ liên kết dạng URL (Universal Resource Locators) Theo phương pháp này, mỗi máy tính sẽ không cần sử dụng địa chỉ IP cho kết nối mà chỉ cần sử dụng tên miền (domain name) để truy vấn đến kết nối đó Với mô hình phân cấp như hình dưới đây :

3.2 Mô hình phân cấp tên miền

Để hiểu rõ hơn về hoạt

vvn chưa lưu thông tin về

trang web này, các bước

truy vấn sẽ diễn ra như

sau:

Trang 24

 Đầu tiên PC A gửi một request hỏi server quản lý tên miền vnn hỏi thông tin về www.yahoo.com

Server quản lý tên miền vnn gửi một truy vấn đến server top level domain

 Top level domain lưu trữ thông tin về mọi tên miền trên mạng Do đó nó sẽgửi lại cho server quản lý tên miền vnn địa chỉ IP của server quản lý miềncom (gọi tắt server com)

 Khi có địa chỉ IP của server quản lý tên miền com thì lập tức server vnnhỏi server com thông tin về yahoo.com Server com quản lý toàn bộnhững trang web có domain là com, chúng gửi thông tin về địa chỉ IP củaserver yahoo.com cho server vnn

 Lúc này server vnn đã có địa chỉ IP của yahoo.com rồi Nhưng PC A yêucầu dịch vụ www chứ không phải là dịch vụ ftp hay một dịch vụ nào khác

Do đó server vnn tiếp tục truy vấn tới server yahoo.com để yêu cầu thôngtin về server quản lý dịch vụ www của yahoo.com

 Lẽ đương nhiên khi nhận được truy vấn thì server yahoo.com gửi lại choserver vnn địa chỉ IP của server quản lý http://www.yahoo.com/

 Cuối cùng là server vnn gửi lại địa chỉ IP của server quản lýwww.yahoo.com cho PC A và PC A kết nối trực tiếp đến nó Và bây giờthì server vnn đã có thông tin về www.yahoo.com cho những lần truy vấnđến sau của các client khác

Ngày đăng: 22/09/2018, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w