Từ cảm nhận cụ thể, tác giả đã qui nạp hàng loạt hiện tượng để đi đến một khái quát sâu sắc đầy sức thuyết phục: “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi /Chẳng mang một dáng hình, một ao ư
Trang 1Đề cương ôn thi tốt
nghiệp Ngữ văn 12
Năm học 2009-2010
Trang 2CẤU TRÚC ĐỀ THI TỐT NGHIỆP THPT
Câu I (2,0 điểm): Tái hiện kiến thức về giai đoạn văn học, tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam và tác giả, tác phẩm văn học nước ngoài.
VĂN HỌC VIỆT NAM
- Khái quát VHVN từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX
- Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh
-Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc Phạm Văn Đồng
- Việt Bắc (trích) - Tố Hữu
- Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh
- Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo
- Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài
- Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành
- Những đứa con trong gia đình (trích) - Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ
VĂN HỌC NƯỚC NGOÀI
- Thuốc - Lỗ Tấn
- Số phận con người (trích) – Sô-lô-khốp
- Ông già và biển cả (trích) – Hê-minh-uê.
Câu II (3,0 điểm): Vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết bài nghị luận
xã hội ngắn (không quá 400 từ).
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Câu III. ( 5,0 điểm).Vận dụng khả năng đọc - hiểu và kiến thức văn học để viết bài nghị luận văn học.
Thí sinh học chương trình nào thì chỉ được làm câu dành riêng cho chương trình đó.
- Khái quát VHVN từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX
- Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh
-Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
- Tây Tiến – Quang Dũng
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc Phạm Văn Đồng
Việt Bắc (trích) - Tố Hữu
- Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm
- Sóng – Xuân Quỳnh
- Đàn ghi ta của Lor-ca – Thanh Thảo
- Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Vợ nhặt – Kim Lân
- Vợ chồng A Phủ (trích) - Tô Hoài
- Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành
- Những đứa con trong gia đình (trích) - Nguyễn Thi
- Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
- Hồn Trương Ba, da hàng thịt (trích) – Lưu Quang Vũ
(Ngu ồn từ “ Cấu trúc đề thi TN THPT của Bộ giáo dục & Đào tạo”)
Trang 3VĂN HỌC VIỆT NAMBài 1 KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG 8-
- 9.1945, nước ta được hoàn toàn độc lập Nước Việt Nam DCCH ra đời
- 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi bằng chiến thắng ĐiệnBiên Phủ
- 7.1954 đất nước bị chia cắt làm 2 miền - hai nhiệm vụ chiến lược: vừa sản xuất,vừa chiến đấu, xây dựng và bảo vệ miền Bắc hậu phương, chi viện cho miền Nam tiềntuyến lớn anh hùng
- Hiện thực cách mạng ấy đã tạo nên sức sống mạnh mẽ và phong phú của nền Vănhọc Việt Nam hiện đại từ sau Cách mạng tháng Tám 1945
b*Các chặng đường phát triển.
-1945-1954.
Nd:Tập chung ca ngợi tổ quốc và quần chúng cách mạng
Thành tựu: +Văn xuôi: phát triển ở thể kí và truyện ngắn
+Thơ :có bước tiến mới so với gđ trước CM
Thơ trữ tình công dân, ngợi ca đất nước và con người kháng chiếnchiếm vị trí chủ đạo
Bên cạnh những thể thơ truyền thống còn có thơ tự do,thơ không vần;cùng cảm hứng anh hùng ca,thơ kháng chiến cònbàng bạc cảm hứng lãng mạn
+Kịch: phản ánh sinh động hiện thực cách mạng và kháng chiến
-1955-1974
Nd:Tập chung thể hiện hình ảnh cuộc sống mới, con người mới
+Ca ngợi công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
+Sự đổi đời của con người trong môi trường xã hội mới
+ Khai thác hiện thực đời sống trước cách mạng với cái nhìn và sức kháiquát mới
Thành tựu:
+Thơ ca có bước phát triển mạnh mẽ tập chung vào các nguồn cảm hứng lớn
+Kịch cũng có nhiều tác phẩn được dư luận chú ý
-1965-1975
Nd:Tập chung viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ
Thành tựu:+Văn xuôi đậm chất kí.phản ánh nhanh nhạy,kịp thời cuộc sống chiếnđấu nhanh nhạy, kịp thời cuộc sống chiến đấu và lao động anh hùng của nhândân, khắc hoạthành công hình ảnh con người Việt Nam kiên cường, bất khuất
+Thơ ca thể hiện cuộc ra quân vĩ đại của dân tộc,sức mạnh của con người ViệtNam,tàm vóc và ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mĩ
+Kịch và lí luận phê bình có thêm thành tựu đáng ghi nhận
c*Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975
1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu nặng với vận mệnh chung của đất nước,phục vụ cách mạng cổ vũ chiến đấu.
Vhnt trở thành một mặt trận, trở thành vũ khí phục vụ kháng chiến Nhà văn là chiến
sĩ có tinh thần tự giác tự nguyện gắn bó với dân tộc với nhân dân Văn học tập chung vào
Trang 4đề tài Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, thể hiện cảm động tình đồng chí đồng đội tình quândân.
2 Nền văn học hướng về đại chúng.
Văn học lấy đại chúng làm đối tượng phản ánh phục vụ;đại chúng là nguồn cung
cấp, bổ sung lực lượng sáng tác cho văn học
3 Một nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Văn học đề cập đến số phận chung của cộng dồng, của dân tộc;phản ánh những vấn
đề cơ bản nhất, có ý nghiã sống còn của đất nước Con người chủ yêú được khám khá ở bổnphận, trách nhiệm , nghĩa vụ công dân, ý thức chính trị ,ở lẽ sống tình cảm lớn cảm hứnglãng mạn trong giai đoạn này chủ yếu thể hiện ở sự khẳng định phương diện lí tưởng củacuộc sống mới,vẻ đẹp của con người mới, niềm tin vào tương lai tuơi sáng của dân tộc
d *Những nét lớn về thành tựu
1 Đội ngũ nhà văn ngày một đông đảo, xuất hiện nhiều thế hệ nhà văn trẻ tài năng.
Nhà văn mang tâm thế: nhà văn - chiến sĩ, có sự kế thừa và phát triển liên tục
2 Về đề tài và nội dung sáng tác
- Hiện thực cách mạng rộng mở, đề tài đa dạng, bám lấy hiện thực cách mạng để phản
ánh
- Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, truyền thống anh hùng của đất nước và conngười Việt Nam
- Tình nhân ái, mối quan hệ cộng đồng tốt đẹp của con người mới
- Lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
3 Về mặt hình thức thể loại và tác phẩm
- Tiếng Việt hiện đại giàu có, trong sáng, nhuần nhị, lối diễn đạt khúc chiết, thanh thoát
- Thơ là thành tựu nổi bật nhất Thơ anh hùng ca, thơ trữ tình Chất trí tuệ, trong thơ
Mở rộng câu thơ Hình tượng người lính và người phụ nữ trong thơ
- Truyện ngắn, tiểu thuyết, các loại ký… phát triển mạnh, có nhiều tác phẩm hay nói
về con người mới trong sản xuất, chiến đấu, trong tình yêu Nghệ thuật kể chuyện, bố cục,xây dựng nhân vật… đổi mới và hiện đại…
- Nghiên cứu, phê bình văn học, dịch thuật… có nhiều công trình khai thác tínhtruyền thống của văn học dân tộc và tinh hoa văn học thế giới
B KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG 1975 - XX
a * Hoàn cảnh lịch sử
- 1975, đất nước hoàn toàn độc lập
- 1986, đất nước bước sang giai đoạn đổi mới và phát triển
- Đời sống và hiện thực xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực
-> Hiện thực cách mạng ấy đã tạo nên sức sống mạnh mẽ và phong phú của nền văn học
b*Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu của văn học từ 1975 - XX
- Về đề tài và khuynh hướng sáng tác:
+ Khuynh hướng đi sâu vào hiện thực đời sống, đi sâu vào cái tôi cá nhân với nhữngmưu thuẫn, những mối quan hệ của đời sống xã hội
+ Khuynh hướng nhìn lại chiến tranh với những góc độ khác nhau, nhiều chiều+ Khuynh hướng nhạy cảm với hiện thực với những vấn đề mới mẻ đặt ra cho hiệnthực đời sống xã hội
- Về tác phẩm và thể loại:
+ Nhiều tác phẩm đã có bước chuyển biến về sự đổi mới trong nghệ thuật
+ Thơ ca và truyện ngắn đã có những đóng góp tích cực trong công cuộc đổi mới văn học+ Những tác giả trẻ đã có những bước đột phá, tìm tòi để cách tân trong nghệ thuật
2 NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
Trang 5I Những kiến thức cơ bản:
1 Quan điểm sáng tác văn học:
- HCM coi văn học là một vũ khí chiến đấu lợi hại, phụng sự cho sự nghiệp cáchmạng Người quan niệm: nhà văn là chiến sĩ - văn hoá văn nghệ là một mặt trận
- Người đặc biệt chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học Theo Người tínhchân thật là cái gốc nảy nở nhiều vấn đề “chớ mơ mộng nhiều quá mà cái chất thật của sinhhoạt rất ít”
- HCM luôn chú ý đến đối tượng sáng tác
2 Sự nghiệp văn học: Những đặc điểm cơ bản về sự nghiệp văn học của Người?
-Văn chính luận: nhằm mục đích đấu tranh chính trị Đó là những áng văn chính luận
mẫu mực, lí lẽ chặt chẽ đanh thép đầy tính chiến đấu (Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến, Bản án chế độ td Pháp)
-Truyện và kí: chủ yếu viết bằng tiếng Pháp rất đặc sắc, sáng tạo và hiện đại (Lời
than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành )
-Thơ ca: (lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chương HCM) phản ánh kháphong phú tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ CM trong nhiều hoàn cảnhkhác nhau
3 Phong cách nghệ thuật:
Đặc điểm phong cách nghệ thuật trong văn chương của NAQ _HCM?
Phong cách đa dạng mà thống nhất, kết hợp sâu sắc giữa ctrị và văn chương, giữa tưtưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại ở mỗi loại lại có phong cách riêng, độcđáo hấp dẫn
-Văn chính luận: bộc lộ tư duy sắc sảo, giàu tri thức văn hoá, gắn lí luận với thực tiễn.-Truyện kí rất chủ động và sáng tạo lối kể chân thực, tạo không khí gần gũi,có khigiọng điệu châm biếm, sắc sảo, thâm thuý và tinh tế Truyện ngắn của Người rất giàu chấttrí tuệ và tính hiện đại
-Thơ ca có phong cách đa dạng: nhiều bài cổ thi hàm súc, uyên thâm đạt chuẩn mựccao về nghệ thuật, có những bài là lời kêu gọi dễ hiểu
4 Tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập”
- Hoàn cảnh sáng tác: CM tháng Tám thắng lợi, chính quyền HN về tay nd Ngày26/9/1945 Chủ tịch HCM từ chiến khu VB trở về HN Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang,Bác soạn thảo TNĐL Ngày 2/9/1945 tại quảng trường BĐ HN thay mặt Chính phủ lâmthời nước VN DC CH, Người đọc bản TNĐL TNĐL tuyên bố trước quốc dân và tg về sự
ra đời của nước VN DC CH đồng thờ đập tan luận điệu xảo trá của bọn đế quốc Mĩ, Anh,Pháp
- TNĐL là một văn bản chính luận mẫu mực, bố cục chặt chẽ, dânc chứng xác thực, lí
lẽ đanh thép, lập luận chặt chẽ
- Nội dung:
+ Tg trích dẫn hai bản tuyên ngôn của P, Mĩ làm cơ sở lí luận cho bản TN
+ Đưa ra những dẫn chứng xác thực tố cáo tội ác thực dân P để vạch trần luận điệucướp nước của chúng
+ Khẳng định và tuyên bố quyền độc lập chính đáng của nd VN Tg khẳng định chínhngười Vn đã tự dành được quyền độc lập và sẽ bảo vệ nó đến cùng
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - HỒ CHÍ MINH
I Hoàn cảnh lịch sử
-19/8/1945 chính quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân ta 23/8/1945, tại Huếtrước hàng vạn đồng bào ta, vua Bảo Đại thoái vị 25/8/1945, gần 1 triệu đồng bào Sài Gòn
Trang 6- Chợ Lớn quật khởi đứng lên giành chính quyền Chỉ không đầy 10 ngày, Tổng khởi nghĩa
và Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ
Cuối tháng 8/1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minhsoạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Và ngày 2/9/1945; tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội,Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đọc bản Tuyênngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa, mở ra một kỷ nguyên mới Độc lập, Tự do
Cách mở bài rất đặc sắc, từ công nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng thờiđại đi đến khẳng định Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các dân tộc Câu văn
“Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” là sự khẳng định một cách hùng hồn chân líthời đại: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân tộc cần đượctôn trọng và bảo vệ
Cách mở bài rất hay, hùng hồn trang nghiêm Người không chỉ nói với nhân dânViệt Nam ta, mà còn tuyên bố với thế giới Trong hoàn cảnh lịch sử thời bấy giờ, thế chiến
2 vừa kết thúc, Người trích dẫn như vậy là để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến
bộ thế giới, nhất là các nước trong phe Đồng minh, đồng thời ngăn chặn âm mưu tái chiếmĐông Dương làm thuộc địa của Đờ Gôn và bọn thực dân Pháp hiếu chiến, đầy tham vọng
2 a Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp.
- Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng,bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”
- Năm tội ác về chính trị: 1- tước đoạt tự do dân chủ, 2- luật pháp dã man, chia để trị,3- chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, 4- ràng buộc dư luận và thi hành chính sáchngu dân, 5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện
- Năm tội ác lớn về kinh tế: 1- bóc lột tước đoạt, 2- độc quyền in giấy bạc, xuất cảng vànhập cảng, 3- sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, 4- đè nén khống chế các nhà
tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, 5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta
b Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta
- Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộcđịa của Pháp nữa Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng Đồng minh
- Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân và chế độ quân chủ mà lập nên chế
độ Dân chủ Cộng hoà Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị
Trang 7- Chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta vĩnh viễn chấm dứt và xoá bỏ.
- Trên nguyên tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết khôngthể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”:
“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gangóc về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do Dân tộc đóphải được độc lập
Phần thứ hai là những bằng chứng lịch sử không ai chối cãi được, đó là cơ sở thực tế
và lịch sử của bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh lập luận một cách chặt chẽ vớinhững lí lẽ đanh thép, hùng hồn
3 Lời tuyên bố với thế giới
- Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành mộtnước tự do, độc lập (từ khát vọng đến sự thật lịch sử hiển nhiên)
- Nhân dân đã quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy (được làm nên bằngxương máu và lòng yêu nước)
Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá của dân tộc ta, thể hiện phong cách chínhluận của Hồ Chí Minh
*Câu hỏi tham khảo
1) Chứng minh TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP (Hồ Chí Minh) là một văn bản chính luận mẫu mực…
2) Phân tích nghệ thuật của văn bản TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP…
3 TỐ HỮU
1 Những nhân tố tác động đến con đường thơ của Tố Hữu :
- Quê hương: sinh ra và lớn lên ở xứ Huế, một vùng đất nổi tiếng đẹp, thơ mộng , trầm mặcvới sông Hương, núi Ngự, đền đài lăng tẫm cổ kính,… và giàu truyền thống văn hóa, văn học baogồm cả văn hóa cung đình và văn hóa dân gian mà nổi tiếng nhất là những điệu ca, điệu hò nhưnam ai nam bình mái nhì, mái đẩy…
- Gia đình: Ông thân sinh ra nhà thơ là một nhà nho không đỗ đạt nhưng rất thích thơ phú
và ham sưu tầm văn học dân gian Mẹ nhà thơ cũng là người biết và thuộc nhiều ca dao, tục ngữ
Từ nhỏ Tố Hữu đã sống trong thế giới dân gian cùng cha mẹ Phong cách nghệ và giọng điệu thơsau này-+ chịu ảnh hưởng của thơ ca dân gian xứ Huế
- Bản thân Tố Hữu: là người sớm giác ngộ lí tưởng cách mạng, tham gia cách mạng từ năm
18 tuổi, bị bắt và bị tù đày từ năm 1939- 1942, sau đó vượt ngục trốn thoát và tiếp tục hoạt độngcho đến Cách mạng tháng Tám, làm chủ tịch ủy ban khởi nghĩa ở Huế Sau cách mạng ông giữnhiều trọng trách ở nhiều cương vị khác nhau, nhưng vẫn tiếp tục làm thơ
2 Con đường thơ của Tố Hữu :
Thơ Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh cách mạng Việt Nam từ những năm
1940 cho đến sau này
a Tập thơ Từ ấy(1946) gồm 71 bài sáng tác trong 10 năm (1936 – 1946) Tác phẩmđược chia làm ba phần:
- Máu lửa (27 bài) được viết trong thời kì đấu tranh của Mặt trận dân chủ ĐôngDương, chống phát xít, phong kiến, đòi cơm áo, hòa bình…
- Xiềng xích (30 bài) được viết trong nhà giam thể hiện nỗi buồn đau và ý chí, khíphách của người chiến sĩ cách mạng
- Giải phóng (14 bài) viết từ lúc vượt ngục đến 1 năm sau ngày độc lập nhằm ngợi ca
lí tưởng, quyết tâm đuổi giặc cứu nước và thể hiện niềm vui chiến thắng
Những bài thơ tiêu biểu:Mồ côi, Hai đứa bé, Từ ấy,…
b Tập thơ Việt Bắc (1954)
- Gồm 24 bài sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp
Trang 8- Việt Bắc là bức tranh tâm tình của con người VN trong kháng chiến với nhữngcung bậc cảm xúc tiêu biểu: tình yêu quê hương đất nước, tình đồng chí đồng đội, tình quândân, lòng thủy chung cách mạng Đồng thời thể hiện quyết tâm bảo vệ sự toàn vẹn của đấtnước.
- Những bài thơ tiêu biểu: Phá đường, Việt Bắc, Bà mẹ Việt Bắc, Bầm ơi, Ta đi tới,…
c Gió lộng (1961):
+ Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
+ Phong trào đấu tranh chống Mĩ - Ngụy ở miền Nam
- Tác phẩm thể hiện niềm vui chiến thắng, cuộc sống mới với những quan hệ xã hộitốt đẹp Còn là lòng tri ân nghĩa tình đối với Đảng, Bác Hồ và nhân dân
- Những bài thơ tiêu biểu: Trên miền Bắc mùa xuân, Thù muôn đời muôn kiếpkhông tan, Mẹ Tơm, bài ca mùa xuân 1961,…
d Ra trận (1971), Máu và Hoa (1977)
Phản ánh cuộc đấu tranh của dân tộc kêu gọi cổ vũ tinh thần chiến đấu của dân tộc
Ca ngợi Bác Hồ, tổng kết lịch sử đấu tranh
3 Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
- Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị thể hiện nồng nhiệt tự hào lý tưởng cách mạng,
đời sống cách mạng của nhân dân ta
- Thơ Tố Hữu chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, màu sắc
lịch sử được diễn tả bằng bút pháp lãng mạn, hình tưởng thơ kì vĩ, tráng lệ
- Nét đặc sắc trong thơ Tố Hữu là có giọng điệu riêng Thơ liền mạch, nhất khí tự nhiên, giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết.
- Nghệ thuật thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc Phối hợp tài tình ca dao, dân ca các
thể thơ dân tộc và “thơ mới” Vận dụng biến hoá cách nói, cách cảm, cách so sánh ví vonrất gần gũi với tâm hồn người Phong phú vần điệu, câu thơ mượt mà, dễ thuộc dễ ngâm
4 TÂY TIẾN – (QUANG DŨNG)
1 Hoàn cảnh sáng tác
“Tây Tiến” là đơn vị bộ đội được thành lập đầu năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ độiLào bảo vệ biên giới Việt – Lào ,tiêu hao lực lượng địch ở thượng Lào cũng như miền Tây Bắc bộVN
Địa bàn hoạt động khá rộng từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa rồi vòng về ThanhHóa Lính Tây Tiến phần đông là sinh viện, học sinh Hà Nội Quang Dũng là đại đội trưởng
Năm 1948, sau một năm hoạt động đoàn bình tây tiến về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52,Quang Dũng chuyển sang đơnvị khác
Tại đại hội thi đua toàn quân (Phù Lưu Chanh) Quang Dũng viết bài thơ, lúc đầu có tên
“NHỚ TÂY TIẾN” Bài thơ in lần đầu năm 1949 – đến năm 1957 được in lại và đổi tên “TÂY TIẾN”
2 Tìm hiểu bài thơ
Đoạn 1: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ - thơ mộng
Quang Dũng là một nghệ sĩ tài hoa nhiều mặt: viết văn xuôi, làm thơ và cả hội họa Thơ ôngviết ít nhưng lưu được ấn tượng sâu trong lòng người đọc vì vẻ đẹp lãng mạn, tài hoa Viết về đề tàingười lính Quang Dũng khá thành công ở bài thơ “Tây Tiến”
“Tây Tiến” thể hiện lối cảm nghĩ riêng đó chính là tấm lòng Quang Dũng đối với một thờilịch sử đã qua Cả bài thơ là một nỗi nhớ dài: Nhớ những miền đất mà tác giả đã từng qua, nhớnhững đồng đội thân yêu, nhớ những kỷ niệm ấm áp tình quân dân kháng chiến Tất cả những điều
ấy được thể hiện bằng cái nhìn đầy lãng mạn của người lính Đoạn thơ đầu gồm 14 câu như nhữngthước phim quay chậm tái hiện địa bàn chiến đấu của người lính Tây Tiến Đó là thiên nhiên TâyTiến, là những người lính Tây Tiến cùng những kỷ niệm ấm tình quân dân
Mở đầu đoạn thơ Quang Dũng nhớ ngay đến dòng sông Mã Dòng sông ấy hiện lên trongbài thơ nh một nhân vật, chứng kiến mọi gian khổ, nỗi buồn, niềm vui, mọi chiến công và mọi hy
Trang 9sinh của đoàn binh Tây Tiến Sông Mã gắn liền với miền đất đã từng qua, những kỷ niệm từng trảicủa đoàn quân Tây Tiến Nhắc tới sông Mã cũng là nhắc tới núi rừng thiên nhiên Tây Bắc Nhà thơnhớ về những miền đất trong nỗi nhớ “chơi vơi” “Chơi vơi” là nỗi nhớ không có hình, không cólượng, không ai cân đong đo đếm được nó lửng lơ mà đầy ắp ám ảnh tâm trí con người, khiến conngười như sống trong cõi mộng Chữ “chơi vơi” hiệp vần với chữ “ơi” ở câu thơ trên khiến cho lờithơ thêm vang vọng.
Trong nỗi nhớ “chơi vơi” ấy hiện lên cả một không gian xa xôi hiểm trở Tính chất “xa xôi”thể hiện rõ ở một số địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu Nghetên đất đã lạ vì đó là những vùng sâu, vùng xa của các dân tộc ít người từ Sơn La, Lai Châu, HòaBình Những địa danh này đi vào nỗi nhớ của nhà thơ bởi vậy nhớ về Tây Tiến thì cũng chính lànhớ về những vùng đất heo hút, hiểm trở đầu tiên Điều này cũng dễ hiểu Bởi những người línhTây Tiến vừa mới ra đi kháng chiến từ một mái trường, một góc phố nào đó của thủ đô Hà Nội thì
ấn tượng sâu đậm nhất về Tây Tiến trong họ lẽ đương nhiên là những gian khổ, những địa danh nêutrên càng trở nên xa hơn khi nó gắn liền với hình ảnh “sương lấp”, “đoàn quân mỏi” hiện về “trongđêm hơi”
Câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm” với điệp từ “dốc” gối lên nhau cộng với tính
từ “khúc khuỷu”, “thăm thẳm” làm sống dậy con đường hành quân hiểm trở, gập ghềnh, dài vô tận
Âm điệu câu thơ như cũng khúc khuỷu như bị cắt đoạn như đường núi khúc khuỷu, có đoạn lên caochót vót có đoạn xuống thăm thẳm Con đường mà người lính Tây Tiến phải trải qua cao tới mứcbóng người in trên những cồn mây, đến mức “súng ngửi trời”
Đây là cách nói thậm xưng thể hiện sự độc đáo của Quang Dũng Nếu chỉ thấy súng chạmtrời thì ta mới chỉ thấy được cái thế cao của dốc còn hình ảnh “Súng ngửi trời” hàm chứa một ýnghĩa khác Đó là vẻ tinh nghịch, chất lính ngang tàng như thách thức cùng gian khổ của người línhTây Tiến Điều này khiến cho hình ảnh người lính Tây Tiến được nâng cao rõ nét trong một khônggian rộng lớn vời vợi, và đây cũng chính là chất lãng mạn bay bổng của tâm hồn người lính TâyTiến, của Quang Dũng Câu thơ còn gợi cho ta cảm giác về độ cao, độ sâu không cùng của dốc Tabắt gặp ý thơ này ở câu thơ: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” Cả hai câu đều ngắt nhịp4/4 Thực ra ý của câu sau điệp lại ý của câu trước nhưng lối điệp vô cùng sáng tạo, khiến cho ngư-
ời đọc khó phát hiện ra ý thơ gấp khúc giữa hai chiều cao thăm thẳm, sâu vòi vọi, dốc tiếp dốc, vựctiếp vực nhấn mạnh địa bàn hoạt động của những người lính vô cùng khó khăn, hiểm trở, vượt quanhững khó khăn, hiểm trở đó đã là một kỳ tích của những người lính
Tổng hợp những chi tiết đã phân tích ở trên ta có được một phần chính về bức tranh củathiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ, hoang dại, hiểm trở mà đầy sức hút Những câu thơ phần lớn là thanhtrắc càng gợi cái trúc trắc, trục trặc, tạo cảm giác cho độc giả về hơi thở nặng nhọc, mệt mỏi củangười lính trên đường hành quân Giữa những âm tiết toàn thanh trắc ấy chen vào câu thơ gần cuốiđoạn thơ dài man mác toàn thanh bằng: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Đây chính là hình ảnhthơ mộng mà hoang dã về thiên nhiên Tây Tiến Thiết nghĩ nếu câu thơ này vì lí do nào đó màkhông có thì sức hấp dẫn của đoạn thơ sẽ giảm đi rất nhiều bởi lẽ chính câu thơ tạo nên nét thứ haicho bức tranh về thiên nhiên Tây bắc Thiên nhiên Tây bắc hùng vĩ, hoang sơ, hiểm trở nhưng đầythơ mộng Chất tài hoa của Quang Dũng được thể hiện khá trọn vẹn ở chỗ nhà thơ nhắc đến mưarừng mà tạo cảm giác đứng trước biển lại người lên vẻ đẹp của người lính chân đứng trên dốc caođầu gội trong mưa lớn Cứ một nét bút gân guốc lại xen vào một nét bút mềm mại, trữ tình tạo chobức tranh về thiên nhiên Tây Tiến cân đối hài hòa
Nhắc lại những thử thách khắc nghiệt cũng là để nói đến sức chịu đựng bền bỉ của con ười Từ đây Quang Dũng vụt nhớ đến hình ảnh những đồng đội, dù can trường trong dãi dầu nhưng
ng-có khi gian khổ đã vượt quá sức chịu đựng khiến cho người lính đã gục ngã, nhưng gục ngã trên tưthế hành quân
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục trên súng mũ bỏ quên đời”
Nói đến cái chết mà lời thơ cứ nhẹ như không Dường như người lính Tây Tiến chỉ bỏ quênđời một lát rồi lại bừng tỉnh và bước tiếp Nói về cái chết mà lời thơ không bi lụy Đó cũng là mộtnét trong phong cách biểu hiện của nhà thơ Quang Dũng Những ngày chiến đấu bảo vệ biên giới,
để giúp bạn giữa núi rừng Tây Bắc thật lắm gian nan khó nhọc Những gian nan khó nhọc còn hằnsâu trong trí nhớ Quang Dũng không khoa trương tính cách anh hùng dũng cảm, cũng không nóiđến cảnh bách chiến bách thắng Nhưng sống và chiến đấu trong một địa bàn hiểm trở dữ dội,hoang dã đã là anh hùng rồi
Trang 10Vùng đất xa xôi hiểm trở với những nét dữ dội hoang dã:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Cảnh hiểm trở cheo leo nhưng đâu có tĩnh lặng thanh bình Với những từ “oai linh”, “gầmthét” thác nước như một sức mạnh thiêng liêng, đầy quyền uy, đầy đe dọa, và những con hổ đi langthang hoành hành ngang dọc coi mình là chúa tể của núi rừng làm cho cảnh rừng núi thêm rùng rợnghê sợ
Đang nói đến cái rùng rợn bí hiểm của rừng già nhà thơ bỗng nhớ lại một kỷ niệm ấm áptình quân dân
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Trong gian khổ thiếu thốn người ta càng nâng niu càng quí trọng nghĩa tình Hình ảnhnhững nồi cơm lên khói, những mùa màng thơm nếp xôi và đặc biệt là “em” biểu tượng cho ngườidân Tây Bắc hiện về trong cảm xúc nhà thơ vừa tự nhiên vừa tinh tế Sự xuất hiện của những hìnhảnh này khiến cho đoạn kết của khổ thơ có sức bay bổng Đoạn thơ ấm lại trong tình quân dân mặnnồng Hai câu cuối gieo vào tâm hồn độc giả một cảm xúc ấm nóng Cái ấm nóng của tình người.Đây chính là chất lãng mạn bay bổng của đoạn thơ và nó như một nét vẽ tươi sáng của bức tranh
Đoạn thơ là sự phối kết hợp hài hòa giữa hai bút pháp hiện thực và lãng mạn Cả đoạn thơnhư một bức tranh thủy mặc cổ điển được phác thảo theo lối tạo hình phương đông Quang Dũng làmột hoạ sĩ Ông có tài chấm phá trong việc phác thảo cảnh vật Quang Dũng đã xây một đài kỷniệm trong thơ cho thiên nhiên Tây Bắc và người lính Tây Tiến
Đoạn 2: Con người Tây Bắc duyên dáng và tài hoa
Cả đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên diễm lệ có sức hòa hợp diệu kỳ giữa thiên nhiên và conngười Cảnh trí miền Tây ở khổ thơ dường như được tạo hình theo thi pháp truyền thống: “Thitrung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc” Một miền Tây thơ mộng thi vị giàu sức cuốn hút Đoạn thơ thứ
2 này được xem là đoạn thơ tiêu biểu cho bút pháp nghệ thuật của Quang Dũng Câu mở đầu đoạntạo cảm giác đột ngột bừng sáng:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
“Bừng lên” vừa đột ngột, bất ngờ vừa thú vị Cả cảnh vật và lòng người đều bừng sáng lên.Chất hào hoa trong bút pháp thể hiện của Quang Dũng đã bộc lộ ngay từ câu thơ đầu Hai cụm từ
“bừng lên” “hội đuốc hoa” thể hiện sự tinh tế trong việc sử dụng từ ngữ của Quang Dũng Hai cụm
từ này vừa có tính tả thực vừa đậm chất lãng mạn “Bừng lên” vừa có nghĩa bừng sáng lung linhvừa như bừng tỉnh
“Hội đuốc hoa” đây là cảnh thực Đêm liên hoan văn nghệ diễn ra dưới những cánh rừng,người đến dự đều cầm trên tay ngọn đuốc, gió thổi làm những ngọn đuốc lung linh phát ra nhữngtia lửa Cảnh tượng này trong đêm quả thật nhìn như hoa đuốc Cảm nhận của Quang Dũng vừatinh tế vừa lãng mạn, câu thơ gợi sức liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc Trên cái nền khônggian ấy “em” xuất hiện.”Em” xuất hiện lập tức trở thành trung điểm của mọi điểm nhìn
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
“Kìa em” lời chào đón đầy ngạc nhiên sung sướng đến ngỡ ngàng Lời chào đón mang tínhphát hiện Em lạ mà quen, quen mà lạ Quang Dũng phát hiện ra vẻ đẹp rực rỡ của cô gái bằng cảniềm yêu, niềm say đến cảm phục Yêu say từ vóc dáng đến trang phục Chính trang phục truyềnthống đậm đà bản sắc văn hóa của các thiếu nữ Tây Bắc càng tôn vinh lên vẻ đẹp của họ QuangDũng không khỏi không thán phục đến ngạc nhiên trước vẻ đẹp ấy Em trở thành hạt nhân của bứctranh với vẻ đẹp xứ lạ phương xa Câu thơ thứ ba xuất hiện lập tức khổ thơ như tràn đầy âm nhạc
Khèn lên man điệu nàng e ấp.
Những âm thanh phát ra từ nhạc cụ của đồng bào Tây Bắc đối với người lính Tây Tiến vừa
lạ vừa có vẻ hoang dại mang tính sơ khai mà đậm bản sắc văn hóa dân tộc Chính cái lạ ấy làmđắm say tâm hồn những chàng trai Tây Tiến gốc Hà Nội hào hoa Từ “man điệu” mà Quang Dũng
sử dụng ở đây cũng rất tài hoa Ngời đọc như được chứng kiến những vũ khúc hoang sơ của vănhóa Âu Lạc Vũ khúc ấy hòa với vũ điệu Em duyên dáng, e ấp, tình tứ Ta chú ý tác giả sử dụng từ :Ban đầu là “em” tiếp đến là “nàng” rồi sau lại là “em” Từ cách sử dụng ấy ta cảm nhận được emnhư một nàng tiên kiều diễm và ta như lạc vào cõi thần tiên với không khí mê say đến ngây ngất.Chính trong không khí của âm nhạc, vũ điệu ấy đã chắp cánh cho tâm hồn những người lính TâyTiến thực sự ngất ngây trước người và cảnh
Trang 11Sẽ rất thiếu sót nếu như chúng ta dừng lại ở đây Bởi lẽ bốn câu sau của đoạn thơ mới thực
sự thi vị Cả bốn câu là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.
Một không gian bảng lảng khói sương như trong cõi mộng cứ thế hiện ra Cái thực của khítrời Tây Bắc, cái mộng của không khí bảng lảng sương khói hiện lên như một miền cổ tích Ta nhớrằng Quang Dũng là một họa sĩ bởi vậy đoạn thơ đậm màu sắc hội họa Nét bút phác thảo củaQuang Dũng thật là tài hoa Chỉ một vài nét chấm phá vậy mà cái hồn của cảnh vật và con ngườihiện lên thật sinh động đầy sức cuốn hút
Không gian dòng sông buổi chiều giăng mắc một màu sương, sông nước bến bờ hoang dạinhư một bờ tiền sử “Hồn lau” những cây lau không còn vô tri vô giác mà có linh hồn Phải là mộthồn thơ nhạy cảm, tinh tế, tài hoa và lãng mạn mới cảm nhận được hồn lau đang dăng mắc dọc nẻobến bờ Không gian nên thơ ấy làm nền cho người thơ xuất hiện:
Có nhớ dáng ngời trên độc mộc
Câu thơ không tả mà gợi, gợi cái dáng mềm mại uyển chuyển của cô gái trên chiếc thuyềnđộc mộc Cảnh rất thơ và người cũng rất tình Bởi vậy tác giả như ngây ngất đắm say trước cảnh vàngười ở đây cảnh như làm duyên với người
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Duyên dáng đến độ và tình tứ cũng hết lời: Bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên vớingười Cảnh và người hòa quyện đồng điệu, tình tứ đến mê say trong cái nhìn lãng mạn của QuangDũng Ta có cảm nhận đây là thế giới của cõi mộng, cõi mơ, cõi thơ và cõi nhạc Thơ và nhạc là haiyếu tố tạo nên bức tranh Tây Bắc nên thơ, mĩ lệ Ai nói rằng Tây Bắc là xứ rừng thiêng nước độcxin hãy một lần để cho tâm hồn mình lắng lại để chất thơ Tây Bắc ngấm vào hồn
Đoạn thơ bộc lộ chất tài hoa, chất lãng mạn của Quang Dũng đến tuyệt vời Cảm ơn nhà thơ
đã cho ta một chuyến hành trình về với Tây Bắc thơ mộng để khám phá Tây Bắc và yêu Tây Bắc
Đoạn 3: Người lính Tây Tiến hào hùng và hào hoa
Quang Dũng đã dựng bức tượng đài về người lính vô danh trong khổ thơ thứ ba của bài thơTây Tiến Ta có thể xem khổ thơ thứ ba này là những nét bút cuối cùng hoàn thiện bức tượng đài vềchân dung người lính Tây Tiến hào hùng, hào hoa Chân dung người lính hiện lên ở khổ thơ thứ 3
có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vẻ đẹp tâm hồn, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất hy sinh anhdũng Có thể nói cả bài thơ là một tượng đài đầy màu sắc bi tráng về một đoàn quân trên một nềncảnh khác thường
Chân dung đoàn binh Tây Tiến được chạm khắc bằng nét bút vừa hiện thực vừa lãng mạn.Các chi tiết như lấy từ đời sống hiện thực và khúc xạ qua tâm hồn thơ Quang Dũng để rồi sau đóhiện lên trên trang thơ đầy sức hấp dẫn Dọc theo hành trình, vẻ đẹp hào hùng kiêu dũng cứ lấp lánhdần lên, đến khi người lính Tây Tiến đối mặt với dịch bệnh, đối mặt với cái chết thì nó thật chóingười, nét nào cũng sắc sảo lạ lùng và đầy lãng mạn:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Chữ dùng của Quang Dũng ở đây thật lạ Nếu mở đầu đoạn thơ tác giả dùng từ “Đoànquân” thì ở đây tác giả dùng “Đoàn binh” Cũng đoàn quân ấy thôi nhưng khi dùng “Đoàn binh” thìgợi hình ảnh đoàn chiến binh có vũ khí, có khí thế xung trận át đi vẻ ốm yếu của bệnh tật Ba chữ
“không mọc tóc” là đảo thế bị động thành chủ động Không còn đoàn quân bị sốt rét rừng lâm tiềutuỵ đi rụng hết cả tóc Giọng điệu của câu thơ cứ y như là họ cố tình không mọc tóc vậy Nghengang tàng kiêu bạc và thấy rõ sự bốc tếu rất lính tráng
Các chi tiết “không mọc tóc, quân xanh màu lá” diễn tả cái gian khổ khác thường của cuộcđời người lính trên một địa bàn hoạt động đặc biệt Di chứng của những trận sốt rét rừng triền miên
là “tóc không mọc” da xanh tái Nhưng đối lập với ngoại hình tiều tụy ấy là sức mạnh phi thường tựbên trong phát ra từ tư thế “dữ oai hùm” Với nghệ thuật tương phản chỉ 2 dòng thơ Quang Dũnglàm nổi bật vẻ khác thường của đoàn quân Tây Tiến Họ hiện lên như hình ảnh tráng sĩ trượng phumột thuở qua hai câu tiếp:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Trang 12“Mắt trừng” biểu thị sự dồn nén căm uất đến cao độ như có khả năng thiêu đốt quân thù quaánh sáng của đôi mắt Hình ảnh thơ làm nổi bật ý chí của đoàn binh Tây Tiến ở đây người lính TâyTiến được đề cập đến với tất cả thực trạng mệt mỏi, vất vả qua các từ “không mọc tóc”, “quân xanhmàu lá” Chính từ thực trạng này mà chân dung người lính sinh động chân thực Thế nhưng vượtlên trên khó khăn thiếu thốn, tâm hồn người lính vẫn cất cánh “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.Câu thơ ánh lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến Ban ngày “Mắt trừng gửi mộng” giấcmộng chinh phu hướng về phía trận mạc nhưng khi bom đạn yên rồi giấc mộng ấy lại hướng vềphía sau cũng là hướng về phía trớc, phía tương lai hẹn ước Một ngày về trong chiến thắng để nốilại giấc mơ xưa ý chí thì mãnh liệt, tình cảm thì say đắm Hai nét đẹp hài hòa trong tính cách củanhững chàng trai Tây Tiến.
Quang Dũng đã dùng hình ảnh đối lập: một bên là nấm mồ, một bên là ý chí của những ười chiến binh:
ng-Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gần lên khúc độc hành.
“Mồ viễn xứ” là những nấm mồ ở những nơi xa vắng hoang lạnh Những nấm mồ rải ráctrên đường hành quân, nhng không thể cản được ý chí quyết ra đi của người lính Câu thơ sau chính
là câu trả lời dứt khoát của những con người đứng cao hơn cái chết:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Chính tình yêu quê hương đất nước sâu nặng đã giúp người lính coi cái chết nhẹ tựa lônghồng Khi cần họ sẵn sàng hy sinh cho nghĩa lớn một cách thanh thản bình yên như giấc ngủ quên.Câu thơ vang lên như một lời thề đúng là cái chết của bậc trượng phu
“áo bào thay chiếu anh về đất”
Nếu như người tráng sĩ phong kiến thuở trước coi da ngựa bọc thây là lí tưởng thì anh bộđội cụ Hồ ngày nay chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc một cách tự nhiên thầm lặng Hình ảnh “áo bào”làm tăng không khí cổ kính trang trọng cho cái chết của người lính Hai chữ “áo bào” lấy từ vănhọc cổ tái tạo vẻ đẹp của một tráng sĩ và nó làm mờ đi thực tại thiếu thốn gian khổ ở chiến trường
Nó cũng gợi được hào khí của chí trai “thời loạn sẵn sàng chết giữa sa trường lấy da ngựa bọc thây.Chữ “về” nói được thái độ nhẹ nhõm, ngạo nghễ của người tráng sĩ đi vào cái chết “Anh về đất” làhình ảnh đầy sức mạnh ngợi ca Sau khi hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng, người lính Tây Tiến trở
về trong niềm chở che của đất mẹ quê hương, của đồng đội Trở về với nơi đã sinh dưỡng ra mình ước những cái chết cao cả ở địa bàn xa xôi hẻo lánh sông Mã là nhân vật chứng kiến và tiễn đưa
Tr-Mở đầu bài thơ ta gặp ngay hình ảnh sông Mã, con sông ấy gắn liền với lịch sử đoàn quânTây Tiến Sông Mã chứng kiến mọi gian khổ, mọi chiến công và giờ đây lại chứng kiến sự hy sinhcủa người lính Đoạn thơ kết thúc bằng khúc ca bi tráng của sông Mã
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Dòng sông Mã là chứng nhân của một thời kỳ hào hùng, chứng kiến cái chết của ngườitráng sĩ, nó gầm lên khúc độc hành bi phẫn, làm rung động cả một chốn hoang sơ Câu thơ có cái khôngkhí chiến trận của bản anh hùng ca thời cổ Câu thơ đề cập đến mất mát đau thương mà vẫn hùng tráng
Đoạn kết.
Bốn câu thơ kết thúc được viết như những dòng chữ ghi vào mộ chí Những dòng sông ấycũng chính là lời thề của các chiến sĩ vệ quốc quân
“Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy”
“Mùa xuân” có thể được dùng nhiều nghĩa: thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùaxuân 1947), mùa xuân của đất nước, mùa xuân (tuổi thanh xuân) của đời các chiến sĩ
Hình ảnh “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”, “chẳng về xuôi” bỏ mình trên đường hànhquân “Hồn về Sầm Nứa”: chí nguyện của các chiến sĩ là sang nước bạn hợp đồng tác chiến vớiquân tình nguyện Lào chống thực dân Pháp, thực hiện lý tưởng đến cùng Bởi vậy dù đã ngã xuốngtrên đường hành quân hồn (tinh thần của các anh) vẫn đi cùng với đồng đội, vẫn sống trong lòngđồng đội: Vang vọng âm hửơng văn tế của Nguyễn Đình Chiểu: “Sống đánh giặc, thác cũng đánhgiặc”
Câu hỏi
Đề Phân tích bốn câu thơ sau đây trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳmHeo hút cồn mây súng ngửi trời
Trang 13Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuốngNhà ai Pha Luông mưa xa khơi
a Hai câu thơ đầu: Diễn tả được sự hiểm trở, trùng điệp và độ cao ngất trời của núi đèo
Tây Bắc (chú ý các từ đầy giá trị tạo hình: khúc khuỷu, thăm thẳm, cồn mây, súng ngửi trời) Câuthứ nhất nghe như có hơi thở nặng nhọc của người lính Cách dùng từ “ngửi trời” của câu thơ thứhai táo bạo, đồng thời có chất tinh nghịch của người lính
b Hai câu thơ sau: Câu thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc vút lên, đổ xuống gần như thẳng
đứng Đọc câu thứ tư, có thể hình dung đoàn quân tạm dừng chân bên một dốc núi, phóng tầm mắt
ra xa thấy nhà ai thấp thoáng qua một không gian mịt mùng sương rừng mưa núi
Hai câu 3 và 4 phối hợp với nhau tạo ra một âm hưởng đặc biệt (câu thứ 4 toàn thanh bằng)
Có thể liên hệ đến âm hưởng của hai câu thơ của Tản Đà trong bài Thăm mả cũ bên đường:
“Tài cao phận thấp chí khí uất - Giang hồ mê chơi quên quê hơng” (Tản Đà tả tình, còn QuangDũng tả cảnh)
Đề 2 Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ thứ ba của bài Tây Tiến
a Đây là hình tượng tập thể của người lính Tây Tiến Quang Dũng đã chọn lọc những néttiêu biểu của từng người lính để tạc nên bức tượng đài tập thể mang tinh thần chung của cả đoànquân
b Bốn câu thơ đầu nói về vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến Quang Dũng, khi viết
về người lính Tây Tiến không hề che giấu những khó khăn gian khổ, chỉ có điều, những cái đó đềuđược nhìn bằng con mắt lãng mạn
c Bốn câu thơ sau nói tới vẻ đẹp bi tráng của người lính Tây Tiến Cái bi thương ở đây bị
mờ đi trước lí tư
ởng quên mình của người lính (Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh) Cái sự thật bi thảmnhững người lính gục ngã bên đường không có đến cả manh chiếu để che thân được vợi đi nhờcách nói giảm (anh về đất) và rồi bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã Thiênnhiên đã tấu lên khúc nhạc hào hùng để tiễn đưa linh hồn những người lính Tây Tiến:
Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gần lên khúc độc hành.
5 VIỆT BẮC - Tố Hữu
1 Hoàn cảnh sáng tác :
- Việt Bắc là quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc của cuộc kháng chiến, nơi đãche chở đùm bọc cho Đảng, Chính Phủ, bộ đội trong suốt những năm kháng chiến chống Pháp giankhổ
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dươngđược kí kết, hòa bình trở lại, miền Bắc nước ta được giải phóng
- Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu ViệtBắc về thủ đô Hà Nội
- Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra Nhân sự
kiện trọng đại này, Tố Hữu viết bài thơ Việt Bắc.
- Bài thơ được trích trong tập Việt Bắc (1946 - 1954)
2 Lời Việt Bắc đối với người cán bộ cách mạng
Mở đầu là một câu hỏi ngọt ngào bâng khuâng:
Mình về mình …nhìn sông nhớ nguồn
Tố Hữu đã khơi rất sâu vào nguồn mạch đạo lý ân nghĩa thủy chung của dân tộc để thể hiệntình cảm cách mạng Mười lăm năm ấy là trở về với cội nguồn những năm tiền khởi nghĩa sâu nặngbiết bao ân tình 4 câu thơ điệp lại 4 chữ mình, 4 chữ nhớ, 1 chữ ta hòa quyện 1 câu hỏi về thời gian(10 năm ) một câu hỏi về không gian (nhìn cây ) Khổ thơ ngắn nhưng đã dồn góp lại cả một thờicách mạng Tấm lòng người ở đã tỏ lộ giãi bày trong không gian, theo thời gian
Trang 14Tiếng ai tha thiết …nói gì hôm nay
Quyến luyến không nỡ rời, xúc động nghẹn ngào nói không nên lời, tình cảm cồn cào bối rối
ấy làm thay đổi cả nhịp thơ Tiết tấu 2/2 của nhịp lục bát bỗng xao động trong nhịp 3/3/2 diễn tảthật đắt tấm lòng người đi với người ở lại Dấu chấm lửng như khoảng trống khó lấp đầy, sự imlặng hàm chứa bao xao xuyến không lời
Mình đi có nhớ những ngày
… Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa.
Có câu hỏi cụ thể : nhớ Tân Trào, Hồng Thái, trám bùi, măng mai; có câu hỏi trừu tượng: chiến khu, mối thù, lòng son ;phép tiểu đối 4/4 (hắt hiu lau xám > < đậm đà lòng son) Tất cả, đã
giúp Tố Hữu diễn tả thật đắt nỗi xao xuyến nhớ thương của người ở với người đi Đặc biệt câu thơlục bát cuối khổ:
Mình đi mình có nhớ mình Tân Trào Hồng Thái, mái đình, cây đa
Ba chữ mình trong câu thơ 6 chữ đồng nhất tâm sự người đi, người ở đã tạo ra sự hô ứng
đồng vọng giữa người hỏi, người đáp, hòa thành bản hợp ca ngân vang những hòa âm tâm hồn 12câu cấu tạo thành 6 câu hỏi, mỗi câu thơ đều khắc khoải tâm tình da diết, khắc khảm vào lòng ng-ười đi những kỉ niệm từ ngày đầu cách mạng Mái đình Hồng Thái, Cây đa Tân Trào được chuyển
vế thành Tân Trào, Hồng Thái mái đình, cây đa mang đến cho ta một liên tưởng: Việt Bắc đã thật
sự trở thành quê hương thứ hai của người cán bộ miền xuôi Bởi hình ảnh mái đình, cây đa ở đâu
và khi nào cũng khơi gợi trong tâm hồn người Việt hình ảnh quê hương
3 Lời người cán bộ cách mạng
Ta với mình, mình với ta … Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu Cách nói mình –ta của ca dao dân ca, điệp từ mình cùng với biện pháp nghệ thuật so sánh nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu khẳng định lòng thủy chung son sắt với cách mạng, với
quê hương kháng chiến của người cán bộ vê xuôi
Nhớ gì như nhớ người yêu … Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy
- Hình ảnh so sánh như nhớ người yêu thể hiện sự gắn bó tha thiết trong tình cảm.
- Hình ảnh gợi cảm đầy thi vị :bản khói cùng sương, bếp lửa, trăng lên đầu núi… gợinhớ những nét mang đậm hồn người
Ta đi ta nhớ những ngày …Chày đêm nện cối đều đều suối xa
- Hình ảnh đắng cay ngọt bùi, thương nhau chia củ sắn lùi, bát cơm xẻ nửa chăn sui đắp cùng là hình ảnh đậm đà giai cấp (Người Việt Bắc trong nỗi nhớ người về thật đáng yêu, đáng
quý, nặng tình nặng nghĩa, biết chia sẽ ngọt bùi
* Bức tranh tứ bình:
Ta về mình có nhớ ta … Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung
a Đoạn này được xem là đặc sắc nhất Việt Bắc 10 câu lục bát thu gọn cả sắc màu 4 mùa,
cả âm thanh cuộc sống, cả thiên nhiên con người Việt Bắc
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Tố Hữu lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng : hoa - người Hoa là vẻ đẹp tinh tuý nhất củathiên nhiên, kết tinh từ hương đất sắc trời, tương xứng với con người là hoa của đất Bởi vậy đoạnthơ được cấu tạo: câu lục nói đến thiên nhiên, câu bát nói tới con người Nói đến hoa hiển hiện hìnhngười, nói đến người lại lấp lóa bóng hoa Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện với nhautỏa sáng bức tranh thơ Bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc
b Trước hết đó là nỗi nhớ mùa đông Việt Bắc - cái mùa đông thuở gặp gỡ ban đầu, đến
hôm nay vẫn sáng bừng trong kí ức
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Trang 15Câu thơ truyền thẳng đến người đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ, trầm tĩnh của rừnggià Cái màu xanh ngằn ngặt đầy sức sống ngay giữa mùa đông tháng giá Cái màu xanh chứa chấtbao sức mạnh bí ẩn “Nơi thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng” Màu xanh núi rừng Việt Bắc:
Rừng giăng thành lũy thép dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù
Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tơi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn làm
ấm cả không gian, ấm cả lòng người Hai chữ “đỏ tươi” không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu, mà chứađựng cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân
Có thể thấy cái màu đỏ trong câu thơ Tố Hữu như điểm sáng hội tụ sức mạnh tiềm tàngchốn rừng xanh đại ngàn, lấp lóa một niềm tin rất thật, rất đẹp Trên cái phông nền hùng vĩ và thơmộng ấy, hình ảnh con người xuất hiện thật vững trãi, tự tin Đó là vẻ đẹp của con người làm chủnúi rừng, đứng trên đỉnh trời cùng tỏa sáng với thiên nhiên, “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
c Cùng với sự chuyển mùa (mùa đông sang mùa xuân) là sự chuyển màu trong bức tranh
thơ: Màu xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến Cảkhông gian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Trắng cả không gian “trắng rừng”, trắng cả thời gian “ngày xuân” Hình ảnh này khá quen
thuộc trong thơ Tố Hữu, hình ảnh rừng mơ sắc trắng cũng đi vào trường ca Theo chân Bác gợi tả
mùa xuân rất đặc trưng của Việt Bắc:
Ôi sáng xuân nay xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn người ở, thẫn thờ kẻ đi.Người đi không thể không nhớ sắc trắng hoa mơ nơi xuân rừng Việt Bắc, và lại càng không thểkhông nhớ đến con người Việt Bắc, cần cù uyển chuyển trong vũ điệu nhịp nhàng của công việc laođộng thầm lặng mà cần mẫn tài hoa:
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Hai chữ “chuốt từng” gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa, dường như bao yêu thương đợi chờmong ngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nón Cảnh thì mơ mộng, tình thìđượm nồng Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân vậy Tài tình như thế thật hiếmthấy
d Bức tranh thơ thứ 3 chuyển qua rừng phách - một loại cây rất thường gặp ở Việt Bắc hơn
bất cứ nơi đâu Chọn phách cho cảnh hè là sự lựa chọn đặc sắc, bởi trong rừng phách nghe tiếng veran, ngắm sắc phấn vàng giữa những hàng cây cao vút, ta như cảm thấy sự hiện diện rõ rệt của mùa
hè Thơ viết mùa hè hay xưa nay hiếm, nên ta càng thêm quí câu thơ của Tố Hữu:
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình
Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: Tiếng ve kêu - ấn tượng của thính giác đã đemlại ấn tượng thị giác thật mạnh Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc
cỏ cây: Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh, những nụ hoa còn náu kín trong kẽ
lá, khi tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổ bông, đồng loạt tung
phấn, cả rừng phách lai láng sắc vàng Chữ đổ được dùng thật chính xác, tinh tế Nó vừa gợi sự
biến chuyển mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt mưa hoa rừng phách khi có ngọn gióthoảng qua, vừa thể hiện chính xác khoảng khắc hè sang Tác giả sử dụng nghệ thuật âm thanh đểgọi dậy màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian Bởi vậy cảnh thực mà vô cùng huyền ảo
Trên nền cảnh ấy, hình ảnh cô em gái hiện lên xiết bao thơ mộng, lãng mạn: “Cô em gái háimăng một mình” nghe ngọt ngào thân thơng trìu mến Nhớ về em, là nhớ cả một không gian đầy h-ương sắc Người em gái trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng Vẻ đẹp lãng mạn thơmộng ấy còn được tô đậm ở hai chữ “một mình” nghe cứ xao xuyến lạ, như bộc lộ thầm kín niềm mến th-ương của tác giả Nhớ về em, nhớ về một mùa hoa
e Khép lại bộ tứ bình là cảnh mùa thu Đây là cảnh đêm thật phù hợp với khúc hát giao
duyên trong thời điểm chia tay giã bạn Hình ảnh ánh trăng dọi qua kẽ lá dệt lên mặt đất một thảmhoa trăng lung linh huyền ảo
Trang 16Dưới ánh trăng thu, tiếng hát ân tình càng làm cho cảnh thêm ấm áp tình người Đại từphiếm chỉ “ai” đã gộp chung người hát đối đáp với mình làm một, tạo một hòa âm tâm hồn đầybâng khuâng lu luyến giữa kẻ ở, ngời đi, giữa con người và thiên nhiên.
g Mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình Mỗi bức tranh có vẻ đẹp riêng
hòa kết bên nhau tạo vẻ đẹp chung Đó là sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc Tiếng ve của mùa
hè, tiếng hát của đêm thu, màu xanh của rừng già, sắc đỏ của hoa chuối, trắng tinh khôi của rừng mơ,vàng ửng của hoa phách Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên thật bình dị, thơ mộngtrong công việc lao động hàng ngày
4 Nhớ Việt Bắc kháng chiến, Việt Bắc anh hùng :
- Nhịp thơ sôi nổi náo nức gợi lên khung cảnh những ngày kháng chiến chống Pháp thật hàohùng nó được vẽ bằng bút pháp tráng ca
- Hình ảnh Việt Bắc sôi động trong những ngày chuẩn bị kháng chiến để đi đến thắng lợicuối cùng
- Đoạn cuối: khẳng định vị trí quan trọng của VB lòng tin của toàn dân đối với BH ,khẳngđịnh tình cảm thủy chung đối với quê hương cách mạng
- Điệp từ nhớ: với những sắc thái khác nhau theo
cấp độ tăng dần thể hiện tình cảm lưu luyến, nỗi nhớ da diết theo đó cũng được nâng cao
5 Kết luận:
Tiếng thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu đã mượn đợc hình thức cấu tứ giã bạn, kết cấu theolối đối đáp giao duyên và thể loại lục bát đậm đà tính dân tộc Nhờ vậy Tố Hữu đã thơ hoá sự kiệnchính trị một cách hiệu quả không ngờ Những câu thơ cân xứng trầm bổng, ngọt ngào vừa thểhiện được tình cảm đối với cách mạng, vừa nói được vấn đề rất to lớn của thời đại, vừa chạm đượcvào chỗ sâu thẳm trong tâm hồn dân tộc: truyền thống ân nghĩa, thủy chung Việt Bắc đã đạt tớitính dân tộc, tính đại chúng Đó là sức sống trường tồn của bài thơ
* CÂU HỎI THAM KHẢO
Đề 1: Hoàn cảnh sáng tác bài thơ VB ? Vì sao có thể nói: VB không chỉ là tình cảm riêng của
TH mà còn là tiêu biểu cho suy nghĩ, tình cảm cao đẹp của con người kháng chiến đối với VB, với
nd, với kháng chiến, với cm.
Gợi ý:
Hoàn cảnh sáng tác: Sau chiến thắng ĐBP , hoà bình trở lại, miền bắc được giải phóng.Tháng 10 – 1954 các cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ rời chiến khu VB về HN Bài thơđược tg sáng tác trong hoàn cảnh này Bài thơ thể hiện tình quân dân thắm thiết, tái hiện cuộc chiatay VB là đỉnh cao của thơ TH & là một tp xuất sắc của VHVN thời kì kc chống P
Bài thơ nói lên tình nghĩa thắm thiết với Vb quê hương cm, với nd, với cuộc kháng chiến gian khổnay đẫ trở thành kỉ niệm sâu nặng…
Bài thơ phác hoạ những tháng ngày gian lao nhưng vẻ vang của CM và kháng chiến…
Đề 2: Hoàn cảnh sáng tác VIỆT BẮC – Tố Hữu
Việt Bắc là căn cứ địa của cách mạng và kháng chiến
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết (tháng 1954) hòa bình lập lại, m Bắc nước ta được giải phóng Một trang sử mới của đất nước,một giaiđoạn mới của CM được mở ra
7- Tháng 10 năm ấy, các cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắctrở về Hà Nội Nhân sự kiện lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài “Việt Bắc”
“Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Namthời kháng chiến chống thực dân Pháp
Bài thơ gồm 150 câu lục bát ,là khúc hát trữ tình hay nhất trong tập thơ cùng tên của nhà thơ, đoạntrích (90 câu lục bát ) là phần mở đầu và phần I, nói về những kỉ niệm với kháng chiến
Đề 3: Phân tích bài thơ “Việt Bắc”
Hai mươi câu đầu là lời nhắn gửi, những câu hỏi của “ta” (người ở lại nhắn gửi hỏi “mình”(người về) Cảnh tiễn đưa, cảnh phân ly ngập ngừng, lưu luyến bâng khuâng: “Tiếng ai tha thiếtbên cồn… áo chàm đưa buổi phân li…” Có 8 câu hỏi liên tiếp (đặt ở câu 6): “Có nhớ ta… có nhớkhông… có nhớ những ngày… có nhớ những nhà… có nhớ núi non… mình có nhớ mình…” Sự
Trang 17láy đi láy lại diễn tả nỗi niềm day dứt khôn nguôi của người ở lại Bao kỷ niệm sâu nặng một thời
gian khổ như vương vấn hồn người:(…) Mình đi có nhớ, những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son…
Các câu 8 hầu như ngắt thành 2 vế tiểu đối 4/4, ngôn ngữ thơ cân xứng, hài hòa, âm điệuthơ êm ái, nhịp nhàng, nhạc điệu ngân nga thấm sâu vào tâm hồn người, gợi ra một trường thươngnhớ, lưu luyến mênh mông
“Mình” và “ta” trong ca dao, dân ca là lứa đôi giao duyên tình tự “Mình”, “ta” đi vào thơ
Tố Hữu đã tạo nên âm điệu trữ tình đậm đà màu sắc dân ca, nhưng đã mang một ý nghĩa mới trongquan hệ: người cán bộ kháng chiến với đồng bào Việt Bắc; tình quân dân, tình kẻ ở người về
Sáu mươi tám câu tiếp theo là người về trả lời kẻ ở lại Có thể nói đó là khúc tâm tình củangười cán bộ kháng chiến, của người về Bao trùm nỗi nhớ ấy là “như nhớ người yêu” trong mọithời gian và tràn ngập cả không gian:
- Nhớ cảnh Việt Bắc, cảnh nào cũng đầy ắp kỷ niệm:“Nhớ từng bản khói cùng sương,
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”
- Nhớ con người Việt Bắc giàu tình nghĩa cần cù gian khổ:“… Nhớ bà mẹ nắng cháy lưng
… Nhớ người đan nón chuốt từng sợi dang…Nhớ cô em gái hái măng một mình… Nhớ ai tiếng hát
ân tình thủy chung”
Điều đáng nhớ nhất là nhớ người ở lại rất giàu tình nghĩa, “đậm đà lòng son”:“Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”
Nhớ cảnh 4 mùa chiến khu Nỗi nhớ gắn liền với tình yêu thiên nhiên, tình yêu sông núi,đầy lạc quan và tự hào Nhớ cảnh nhớ người, “ta nhớ những hoa cùng người” Nhớ mùa đông
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” Nhớ “Ngày xuân mơ nở trắng rừng” Nhớ mùa hè “Ve kêu rừngphách đổ vàng” Nhớ cảnh “Rừng thu trăng rọi hòa bình” Nỗi nhớ triền miên, kéo dài theo năm
tháng - Nhớ chiến khu oai hùng: - Nhớ con đường chiến dịch: “Những đường Việt Bắc của ta,
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay…”
Âm điệu thơ hùng tráng thể hiện sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân và dân ta Từnúi rừng chiến khu đến bộ đội, dân công, tất cả đều mang theo một sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam
thần kỳ quyết thắng - Nỗi nhớ gắn liền với niềm tin… Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ chí bền”
- Nhớ Việt Bắc là nhớ về cội nguồn, nhớ một chặng đường lịch sử và cách mạng:
“Mười lăm năm ấy ai quên Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa”
6 ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀMI.Giới thiệu chung
Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mỹ Cũng như một số nhà thơhàng đầu của thời kỳ này, Nguyễn Khoa Điềm tâm huyết với chủ đề lớn của thơ ca đươngthời là “Đất nước” Trường ca “Mặt đường khát vọng”, là thành công không chỉ riêngNguyễn Khoa Điềm mà của cả nền thơ ca kháng chiến chống Mĩ trong việc chiếm lĩnh đềtài Tổ quốc
Ra đời 1974 trên chiến truờng Bình Trị Thiên khói lửa, Trường ca Mặt đường khát
vọng đã thành công nhiệm vụ thức tỉnh tinh thần dân tộc của tuổi trẻ đô thị miền Nam, giúp
thanh niên vùng địch tạm chiếm nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhândân đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhập vớicuộc chiến đấu của toàn dân tộc
Đoạn trích “Đất nước” chiếm gần trọn vẹn chương V của bản trường ca Đây là ơng hay nhất tập trung những suy nghĩ cảm nhận mới mẻ về đất nước, đồng thời thể hiệnsâu sắc tư tưởng cốt lõi của tác phẩm: Đất nước là của nhân dân
Trang 18chư-II.Phân tích
1.Đề tài và cấu tứ
Đất nước là chủ đề được quan tâm hàng đầu của nền Văn học Việt Nam - nền văn học củamột dân tộc 4000 năm dựng nước cũng là 4000 năm giữ nước Tư tưởng Đất nước của nhân dânthực ra đã manh nha từ trong lịch sử xa xưa Những nhà tư tưởng lớn, những nhà văn lớn của dântộc ta đã từng nhận thức sâu sắc vai trò của nhân dân trong lịch sử”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yêndân” (Nguyễn Trãi)
“Trăm việc nghĩa không việc nghĩa nào ngoài việc nghĩa vì nước Trăm điều nhân khôngđiều nhân nào ngoài điều nhân thương dân”
Song phải đến nền văn h
c hiện đại Việt Nam, được soi sáng bằng tư tưởng Hồ Chí Minh, bằng quan điểm Mác xít
về nhân dân, được trải nghiệm trong thực tiễn vĩ đại của cuộc cách mạng mang tính nhân dân sâusắc, văn học từ sau cách mạng tháng Tám đã đạt đến sự nhận thức sâu sắc về nhân dân và cảmhứng về đất nước đã mang tính dân chủ cao Đặc biệt giai đoạn chống Mỹ, tư tưởng đất nước củanhân dân một lần nữa lại được nhận thức sâu sắc thêm bởi vai trò và những đóng góp hi sinh vô vàncủa nhân dân trong cuộc kháng chiến dài lâu và cực kì ác liệt Các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ đãphát biểu một cách thấm thía cảm nhận mới mẻ về đất nước Song tư tưởng Đất nước là của nhândân có lẽ được kết tinh hơn cả trong trích đoạn “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm trong Trường
ca MĐKV
Nguyễn Khoa Điềm đã kết hợp giữa chính luận và trữ tình để trình bày những cảm nhận vàsuy tưởng về Đất Nước dưới hình thức lời trò chuyện tâm tình giữa đôi lứa yêu nhau Đất Nước đ-ược cảm nhận toàn vẹn từ nhiều bình diện: Trong chiều dài của thời gian lịch sử, trong bề rộng củakhông gian địa lý, trong tầm cao của đời sống văn hóa, phong tục, tâm hồn tính cách cha ông Baphương diện đó gắn bó với nhau làm nổi bật tư tưởng cơ bản: Đất Nước này là Đất Nước của nhândân Tư tưởng đó là hệ qui chiếu mọi xúc cảm suy tưởng của tác giả để từ đó nhà thơ có thêmnhững phát hiện mới làm phong phú sâu sắc hơn quan niệm về đất nước trong thơ ca chống Mĩ
2.Cảm nhận mới mẻ về Đất Nước
Hai chữ Đất nước trong toàn chương và trong đoạn trích được viết như một mĩ từ thể hiệntình cảm thiêng liêng sâu sắc của nhà thơ với đất nước và tạo nên nỗi xúc động thiêng liêng cho ng-ười đọc Sự vỡ tách và nhập ghép 2 âm tiết: đất nước trong một phát hiện đượm phong vị triết học:
“Đất là nơi anh đến trờng nồng thắm”
Anh là đất - phù hợp với khí chất vững vàng kiên định, em là nước thật dịu dàng nữ tính.Khi nói về anh, về em thì Đất - nước tách riêng, khi anh em hò hẹn đại từ nhân xng chuyển hóathành “Ta” thì đất nước gắn liền bên nhau hài hòa nồng thắm Khi tách riêng ra thì “Đất là hòn núibạc”, Nước là “Biển khơi”, khi hợp nhất lại “Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ” Khi tách riêng ra
“Đất là nơi chim về”, “Nước là nơi rồng ở” khi hợp nhất lại “Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồngthắm” Nguyễn Khoa Điềm thể hiện đầy xúc động cảm nhận mới mẻ về đất nước: Đó là sự thốngnhất giữa riêng và chung, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa thế hệ này với thế hệ khác Đất nướckhông chỉ bên ta, quanh ta mà cả trong ta Điệp ngữ Đất Nước vang lên như một khúc nhạc thiêngtấu lên suốt chiều dài đoạn thơ Đất Nước là 2 tế bào khởi đầu cho mọi sự sinh thành
Chúng kết hợp giao hòa để tạo nên có thể đất đai, dáng hình xứ sở, cứ thể đất nước lớn lêntrong tình yêu đôi lứa, trong thời gian đằng đẵng Trong không gian mênh mông, trong nỗ lực củamỗi con người hết lòng yêu thơng Tổ quốc mình Đất nước chân thực như “búi tóc của mẹ, miếngtrầu của bà” mà vô cùng huyền ảo với “chim về, rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm có khả năng đánh thức tình cảm cội nguồn trongđáy tâm linh Việt:
“Hàng năm ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ”
Bằng những câu thơ cấu tạo như định nghĩa Nguyễn Khoa Điềm đã tổng kết lịch sử trongquá trình sinh thành đất nước, tạo nên địa bàn cư trú của người Việt suốt mấy nghìn năm qua Nhàthơ đã chỉ rõ chủ nhân chân chính của đất nước là nhân dân Đằng sau mỗi tên đất tên sông là mỗicuộc đời và kì tích cha ông Chính nhân dân đã xây dựng mở mang và giữ gìn đất nước Họ lànhững con người bình dị, vô danh:
“Họ đã sống và đã chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên
Trang 19Nhưng họ đã làm ra Đất nước”.
Đây là cảm quan lịch sử mới về vai trò của nhân dân dới ánh sáng của hệ tư tưởng mới:Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử Lần theo những địa danh suốt 3 miền Bắc, Trung, Nam,Nguyễn Khoa Điềm dã dựng nên diện mạo non sông dáng hình xứ sở qua cuộc đời con người: nhất
là những con người bình thường, vô danh Nguyễn Khoa Điềm đã góp thêm một thành công trongdàn hợp xướng về đất nước của thơ ca thời chống Mĩ, làm sâu sắc thêm nhận thức về nhân dân vàĐất nớc của Văn hóa thời kỳ này
3.Chất liệu văn hóa dân gian góp phần thể hiện tư tưởng: đất nước của nhân dân.
Thành công của đoạn trích còn ở việc tạo ra một không khí, giọng điệu không gian nghệthuật riêng đưa ta vào thế giới gần gũi mĩ lệ và giàu sức bay bổng của ca dao truyền thống, của vănhóa dân gian, nhưng lại mới mẻ qua cảm nhận và tư duy hiện đại Đoạn thơ mở đầu bằng nhữngcâu thơ bình dị vừa thân thiết gần gũi vừa huyền diệu thiêng liêng: “Khi ta lớn lên Đất nớc đã córồi” Nó tạo mối liên hệ máu thịt giữa mỗi con người với đất nước Tình cảm mỗi con người đối vớiđất nước lớn lên theo năm tháng, sự trưởng thành của mỗi người làm đất nước thêm lớn mạnh Từkhông gian huyền thoại, thời gian cổ tích: “từ ngày xửa ngày xa” chuyển hóa nhanh chóng sangkhông gian đời thường, thời gian hiện tại “Miếng trầu của bà, búi tóc của mẹ bây giờ” Sự co giãntrong từng câu thơ (ngắn, dài xen kẽ), cách mở rộng nghĩa trong trường liên tưởng, lối đối xứng xanay để tương sinh, cái huyền ảo và đời thường đặt cạnh nhau mà không tương khắc khiến Đất nướcđược cảm nhận như sự thống nhất của các phương diện văn hóa, truyền thống phong tục, cái hàngngày và cái vĩnh hằng, trong đời sống của mỗi cá nhân và cả cộng đồng
Nguyễn Khoa Điềm đã đạt tới thống nhất giữa trữ tình và triết lí, xúc cảm và suy tư, khiếngiọng thơ vừa tha thiết vừa trang nghiêm có sức lay động hàng “triệu trái tim trong hàng triệu nămdài Thành công của đoạn thơ mà còn ở chỗ Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng chất liệu văn hóa dângian để làm nên chất kết dính các hình ảnh thơ của mình Không chỉ sử dụng vẹn nguyên mà tác giảcòn sáng tạo, tái tạo từ những gì quen thuộc nhất trong nền văn hóa dân gian lâu đời, cho chúngmột sức sống mới, một ý nghĩa mới Những câu thơ thấm đẫm chất dân gian truyền thống mà rấthiện đại Những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, truyền thuyết quen thuộc nhng khi đi vào bài thơ
đã lấp lánh ánh sáng tài năng, tâm hồn tình cảm Nguyễn Khoa Điềm:
“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nối nhớ thầm”
Đất nớc có trong tình yêu thương của mẹ cha trong khoảnh khắc bồi hồi thầm thương trộmnhớ của mỗi người Chúng ta có thể bắt gặp trong đoạn trích rất nhiều những câu thơ đầy tính sángtạo, làm nên những hình tượng thơ vừa gần gũi mới mẻ, vừa đẹp đẽ đến như thế Sự đậm đặc củayếu tố dân gian và cách nhìn cách thể hiện mới mẻ đã tạo ra một bầu khí quyển độc đáo huyền ảobao trùm suốt đoạn thơ với những câu thơ có khả năng ngân vang trong cõi tiềm thức và cả vô thứccủa người Việt Ngày xưa khi định nghĩa về đất nước, Lý Thường Kiệt phải thiêng hóa qua “đế cư”
“thiên thư” Nguyễn Đình Chiểu phải mượn hình ảnh kì vĩ “Nhật nguyệt chói lòa”, “xa thư đồ sộ”
để trang trọng hóa đất nước Hệ thống thi pháp cổ điển ấy đã tạo ra khoảng cách thiêng thể hiệnniềm ngỡng vọng vô biên của con ngời đối với đất nước Còn ở đây, trong trích đoạn “Đất nước”của Nguyễn Khoa Điềm, ngôn từ đậm chất liệu văn hóa dân gian đã nỗ lực bình dị đất nước,Nguyễn Khoa Điềm có công đưa đất nước từ trời cao thượng đế, ngai vàng đế vương xuống miếngtrầu của bà, búi tóc của mẹ, hạt gạo một nắng hai sương nuôi dưỡng cộng đồng Việt, cái cột cái kèotrong mái ấm thân thương của mỗi gia đình Đất nước thân thương giản dị xiết bao Sử dụng chấtliệu văn hóa dân gian không còn là thủ pháp nghệ thuật mà là một khám phá mới mẻ sâu xa của tìnhyêu về hình tượng Đất nước Văn hóa dân gian là của nhân dân Chất liệu văn hóa dân gian trong ngônngữ và hình ảnh thơ đã tập trung thể hiện chủ đề của toàn tác phẩm: Đất nước này là đất nước của nhândân
Tư tưởng đó là điểm qui tụ mọi cách nhìn về đất nước từ thắng cảnh thiên nhiên kì thú: Núivọng phu, hòn trống mái trong mối liên hệ máu thịt với đời sống dân tộc Từ cảm nhận cụ thể, tác
giả đã qui nạp hàng loạt hiện tượng để đi đến một khái quát sâu sắc đầy sức thuyết phục: “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi /Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống của ông cha
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
Khi nghĩ về lịch sử 4000 của đất nước, tác giả không điểm lại các vương triều phong kiến,các anh hùng nổi tiếng mà nhấn mạnh công đức những con người bình dị vô danh: “Trong 4000 lớpngười ra đất nước” chính những người vô danh bình dị ấy đã giữ gìn và truyền lại cho đời sau bó
Trang 20đuốc truyền thống trong cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ các giá trị văn hóa, văn minh tinh thầnvật chất của Đất nước, dân tộc: Hạt lúa, ngọn lửa, tiếng nói, ngôn ngữ, Nguyễn Khoa Điềm trở vềvới cội nguồn văn hóa dân gian để định nghĩa một cách bất ngờ
Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại
Nguyễn Khoa Điềm sử dụng hai vế song song đồng đẳng nhân dân - ca dao thần thoại.Bằng cách đó đã định nghĩa đất nước là kết tinh cao quý nhất đời sống trí tuệ, tình cảm của nhândân Bởi vẻ đẹp tinh thần của nhân dân kết tinh hơn đâu hết là ở ca dao dân ca, cổ tích Câu thơ với
2 vế song song đồng đẳng đã khiến định nghĩa Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm vừa giản dị vừahuyền ảo Tác giả chọn trong kho tàng dân gian 3 câu nói về 3 phương diện quan trọng nhất củaĐất nước được tác giả cảm nhận và phát hiện trong cái nhìn tổng hợp toàn vẹn mang đậm tư tưởngtruyền thống dân tộc: Rất say đắm trong tình yêu (yêu em) Rất quí trọng tình nghĩa (Quý công cầmvàng ) nhng cũng thật quyết liệt trong căm thù và chiến đấu (biết trống tre lâu
4.Trách nhiệm bổn phận của mỗi cá nhân đối với đất nớc: Đất nước không ở đâu xa
mà kết tinh hóa thân trong cuộc sống mỗi con người:
“Em ơi em Đất nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất nước muôn đời ”
Đoạn thơ nh một lời nhắn nhủ thiết tha Mở đầu bằng tiếng gọi tha thiết: Em ơi em khiếntính chính luận không mang màu sắc giáo huấn mà như một lời tự nhủ tự dặn chân thành: sự sốngcủa mỗi cá nhân không phải là chỉ riêng của cá nhân mà còn là của đất nước, bởi mỗi cuộc đời đềuđược thừa hưởng những di sản văn hóa tinh thần vật chất của dân tộc, mỗi cá nhân phải có tráchnhiệm gìn giữ, phát triển nó, truyền lại cho các thế hệ tiếp theo Trách nhiệm của mỗi cá nhânkhông chỉ là bổn phận bảo vệ biên cương địa giới, tiếp nối truyền thống lịch sử, mà còn ở việc bảolưu văn hóa phong tục, giữ gìn nét đẹp tâm hồn tính cách dân tộc Quá khứ luôn có mặt trong hiệntại, lịch sử luôn hiện diện với hôm nay, trong miếng trầu của bà, búi tóc của mẹ là cả truyền thống
4000 năm tuổi Hạt gạo một nắng hai sương hôm nay cũng là những hạt gạo nuôi dưỡng dân tộcViệt 4000 năm qua Trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước trong hiện tại là sự trân trọng đốivới quá khứ là xây dựng nền tảng cho tương lai, làm nên huyết mạch nuôi dưỡng có thể đất đai, tạosức sống trường cửu của dân tộc Có lẽ trong thơ ca chưa có ai nói một cách chân thành, xúc động
và thấm thía đến thế về trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với dân tộc đất nớc nh Nguyễn KhoaĐiềm trong trích đoạn “Đất nớc” này: Đất nớc không chỉ là một khách thể ở ngoài mỗi chúng ta màtồn tại ngay trong cơ thể, sự sống của mỗi con người Sự sống của mỗi cá nhân chỉ có ý nghĩa trong sựtrường tồn của đất nớc
III.Kết luận
Đất nước là đề tài, cảm hứng chủ đạo của thơ ca kháng chiến chống Mĩ Mỗi nhà thơ lại cócảm nhận riêng về Đất nước nhưng tất cả đều xuất phát từ tấm lòng chung đó là tình yêu thiết thavới quê hương đất nước Từ thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm nhậnthức sâu sắc vai trò và sự đóng góp to lớn, những hi sinh vô vàn của nhân dân trong cuộc chiếntranh dài lâu và cực kì ác liệt này Tư tưởng đất nước của nhân dân từ trong văn học truyền thống
đã được Nguyễn Khoa Điềm phát triển đến đỉnh cao, mang tính dân chủ sâu sắc Chất liệu văn hóadân gian được nhà thơ sử dụng nhuần nhuyễn, biến ảo đầy sáng tạo chính là nét đặc sắc thẩm mĩthống nhất với tư tưởng “đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại” của bài thơ Nhưvậy tác giả đã vượt qua tính thời sự của một thời để nói lên tiếng nói của muôn đời
Định hướng đề và gợi ý giải
*Câu hỏi tham khảo
Đề 1 Phân tích và phát biểu cảm nghĩ của mình về đoạn sau:
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước…
……Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời
Trong phần đầu của đoạn thơ, tác giả đã cảm nhận về đất nước một cách trọn vẹn, tổng hợp
từ nhiều bình diện: thời gian lịch sử và không gian địa lý, huyền thoại, truyền thuyết và đời sốngsinh hoạt hàng ngày của mỗi gia đình Đất nước được cảm nhận vừa thiêng liêng, sâu xa lại vừa gần
Trang 21gũi thân thiết Những dòng thơ ở cuối phần là một sự cảm nhận sâu sắc và phát hiện mới mẻ của tácgiả về đất nước trong sự sống, tình yêu, trong vận mệnh và trách nhiệm của mỗi cá nhân.
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần đất nước.
Đất nước không chỉ là núi sông, rừng, biển, không chỉ là lịch sử dựng nước và giữ nước màĐất nước còn được kết tinh và tồn tại trong sự sống của mỗi cá nhân, mỗi chúng ta hôm nay Quảvậy, sự sinh thành của mỗi cá nhân đều có cội nguồn sâu xa từ dân tộc và đợc thừa hưởng thànhquả vật chất và tinh thần do bao thế hệ tạo dựng lên Nhưng sự sống của mỗi cá nhân chỉ có thể tồntại và có ý nghĩa trong sự hài hòa với những cá nhân khác và toàn thể cộng đồng: Khi hai đứa cầmtay … Đất nước vẹn toàn to lớn
Đất nước được trường tồn qua sự tiếp nối của các thế hệ và các thế hệ mai sau sẽ đưa đấtnước tới sự phát triển xa hơn, đến “Những tháng ngày mơ mộng”
Những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện một chân lí giản dị mà sâu sắc về đấtnước Đất nước không chỉ là một khách thể ở ngoài mỗi chúng ta mà tồn tại ngay trong cơ thể,trong sự sống mỗi người Đất nước trở nên hết sức thiêng liêng mà gần gũi với mỗi người Chân lí
ấy một lần nữa được tác giả nhắc lại như lời nhắn nhủ tha thiết “Em ơi em, đất nước là máu xươngcủa mình” Từ đó dẫn đến lời nhắc nhở về trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người với đất nước
“Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên đất nước muôn đời”.
Đề 2 Vì sao có thể nói tư tư ởng “ Đất n ước của nhân dân ” đã qui tụ mọi cách nhìn và đ ưa đến những phát hiện độc đáo của tác giả về đất nư ớc ?
Tư tưởng “Đất nước của nhân dân” đã được tác giả phát biểu trực tiếp trong phần hai củađoạn thơ “Đất nước” nhưng đó cũng chính là tư tưởng bao trùm, là điểm xuất phát và nơi quy tụmọi cảm xúc và phát hiện của tác giả về đất nước trong đoạn thơ
Đất nước được cảm nhận trong chiều rộng của không gian, trong vẻ đẹp và sự phong phú của núisông với những thắng cảnh kì thú Nhưng điều quan trọng là tác giả đã phát hiện ra sự gắn bó sâu
xa, mật thiết của thiên nhiên đất nước với cuộc sống và số phận của nhân dân, của vô vàn nhữngcon người bình dị:
Những người vợ nhớ chồng góp cho đất nước những núi Vọng phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống mái
Người học trò nghèo góp cho đất nước mình núi Bút non Nghiên
Nhìn vào thiên nhiên đất nước, nhà thơ đã “đọc” được tâm hồn, những ước vọng và sự gửigắm của bao thế hệ con người Từ đó tác giả cảm nhận được một chân lí hiển nhiên và sâu xa:
Ôi đất nước, sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy, Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Khi nói về lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc tác giả không nêu cáctriều đại, các anh hùng nổi tiếng mà mọi người đều nhớ, mà trước hết nhắc đến vô vàn những conngười bình thờng, vô danh, những người “không ai nhớ mặt đặt tên, họ đã sống và chết, giản dị,bình tâm Nhng chính họ đã làm ra đất nước”
Đất nước còn được cảm nhận trong chiều sâu của văn hóa, lối sống, phong tục, của tâm hồn
và tính cách dân tộc Để nói về những phơng diện đó, Nguyễn Khoa Điềm cũng lại tìm về vớinguồn phong phú của văn hóa dân gian Nhân dân không chỉ là người sáng tạo lịch sử, tạo dựngnên các giá trị vật chất mà còn là người sáng tạo và lưu truyền các giá trị văn hóa, tinh thần của dântộc Họ đã “truyền lửa qua mỗi ngôi nhà, truyền giọng điệu mình cho con tập nói” Còn vẻ đẹp tâmhồn dân tộc đã được kết đọng trong kho tàng phong phú, mĩ lệ của ca dao, dân ca, tục ngữ, truyềnthuyết và cổ tích Bởi vậy Nguyễn Khoa Điềm đã rất có lí khi nêu một định nghĩa “Đất nước của cadao thần thoại” tiếp liền sau mệnh đề “Đất nước của nhân dân”
Đề 3 Đoạn thơ có sử dụng nhiều chất liệu của văn học dân gian Hãy nêu một số ví dụ cụ thể và nhận xét về cách sử dụng chất liệu dân gian của tác giả
Đoạn thơ đã sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian trong đó có văn học dân gian Từ cáctruyền thuyết vào loại xa xưa nhất của dân tộc ta như Lạc Long Quân và Âu Cơ, Thánh Gióng, Hùng V-ơng đến truyện cổ tích, nh Trầu Cau, đặc biệt là nhiều câu ca dao, dân ca, của nhiều miền đất nước:
Ví dụ: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Là từ câu ca dao:
Tay bưng chén muối đĩa gừng
Trang 22Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
“Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi” gợi nhớ đến câu ca dao:
“Yêu em từ thuở trong nôi
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru”
“Biết quí trọng công cầm vàng những ngày lặn lội” là được rút từ câu ca dao:
Cầm vàng mà lội qua sôngVàng rơi chẳng tiếc, tiếc công cầm vàng
Chất liệu văn học dân gian đã được tác giả sử dụng vào đoạn thơ một cách linh hoạt và sángtạo Không lặp lại hoàn toàn các câu ca dao, dân ca, nhà thơ thờng chỉ dùng một hình ảnh hoặc mộtphần của các câu ca đó để đa vào tạo nên câu thơ của mình Các truyền thuyết và truyện cổ tíchcũng được sử dụng theo cách gợi nhắc tới bằng một hình ảnh hoặc tên gọi Tác giả vừa đa ngườiđọc nhập cả vào môi trường văn hóa, văn học dân gian đồng thời lại thể hiện được sự đánh giá, cảmnhận được phát hiện của tác giả về kho tàng văn hoá tinh thần ấy của dân tộc
7 SÓNG – Xuân Quỳnh
A Vài nét về thơ XQ:
Xuân Quỳnh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường Thơ chị là tiếng lòng của mộttâm hồn tơi trẻ, luôn khát khao tình yêu, “nâng niu chi chút” từng hạnh phúc bình dị đờithường Trong số các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Xuân Quỳnh xứng đáng được gọi là nhàthơ tình yêu Chị viết nhiều, viết hay về tình yêu trong đó “Sóng” là một bài thơ đặc sắc
Đặc điểm nổi bật trong thơ tình yêu của Xuân Quỳnh là chị vừa khát khao một tìnhyêu lý tưởng và hướng tới một hạnh phúc bình dị thiết thực: “Đến Xuân Quỳnh, thơ hiệnđại Việt Nam mới có một tiếng nói bày tỏ trực tiếp những khát khao tình yêu vừa hồn nhiênchân thực, vừa mãnh liệt sôi nổi của một trái tim phụ nữ
“Sóng” là bài thơ đã kết tinh những gì sở trường của hồn thơ Xuân Quỳnh Nhưngthành công đáng kể nhất là Xuân Quỳnh đã mượn hình tượng sóng để diễn tả những cảmxúc vừa phong phú phức tạp, vừa thiết tha sôi nổi của một trái tim phụ nữ đang rạo rựckhao khát yêu đương
B Kiến thức cơ bản:
1 Xuất xứ:
- “Sóng” (được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”- 1968) là bài thơ tiêu biểu cho
hồn thơ của Xuân Quỳnh Bài thơ bộc lộ một khát vọng vừa hồn nhiên, chân thật vừa dadiết, sôi nổi về tình yêu mãnh liệt rộng lớn và vĩnh hằng của trái tim người phụ nữ
2 Ý nghĩa hình tượng sóng:
- “Sóng” là hiện tượng ẩn dụ của tâm trạng người phụ nữ đang yêu Sóng là một sựhòa nhập và phân tán của nhân vật trữ tình “ em” Nhà thơ đã sáng tạo hình tượng sóng kháđộc đáo nhằm thể hiện những cung bậc tình cảm và tâm trạng của người phụ nữ đang yêu
- Cả bài thơ được kiến tạo bằng thể thơ 5 chữ với một âm hưởng đều đặn, luân phiênnhư nhịp vỗ của sóng
3 Trạng thái tâm lý đặc biệt của người phụ nữ đang yêu (khổ 1+2):
- Sóng được nhà thơ hình tượng hóa, thể hiện những trạng thái tâm lý đặc biệt củangười phụ nữ đang yêu:
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
- Sóng thể hiện khát vọng vươn tới, tìm kiếm trong tình yêu của người phụ nữ:
Sóng không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể
- Đối diện với biển, nhà thơ liên tưởng đến sự bất diệt của khát vọng tình yêu Biển
muôn đời cồn cào xáo động, như tình yêu muôn đời vẫn “bồi hồi trong ngực trẻ” (Ôi con
sóng ngày xưa Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ).
Trang 23- Người con gái trong bài thơ muốn cắt nghĩa nguồn gốc của sóng để tìm lời giải đápcho câu hỏi về sự khởi nguồn của tình yêu trong trái tim mình:
Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?
Nhưng tình yêu muôn đời vẫn là điều bí ẩn, không dễ cắt nghĩa Xuân Quỳnh thú nhận
sự bất lực ấy một cách rất dễ thương: “Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau”.
4 Nỗi nhớ trong tình yêu (khổ 5):
- Người con gái đang yêu nhờ sóng diễn tả nỗi nhớ trong lòng mình:
Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được
- Nhân vật em còn trực tiếp diễn tả nỗi nhớ da diết của mình: “Lòng em nhớ đến
anh Cả trong mơ còn thức”.
=> Nỗi nhớ dâng trào, tràn ngập trong không gian và thời gian, nỗi nhớ hiện về trong
- Hình tượng sóng là minh chứng cho một tình yêu chân chính, một tình yêu vượtqua mọi cách trở để đến bên nhau vớimột niềm tin mãnh liệt:
Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở
6 Khát vọng tình yêu vĩnh hằng: (khổ 8+9):
- Người con gái khi yêu cũng bộc lộ một thoáng lo âu:
Cuộc đời tuy dài thế Năm tháng vẫn đi qua Như biển kia dẫu rộng Mây vẫn bay về xa.
- Nhà thơ ý thức được sự hữu hạn của đời người và sự mong manh của hạnh phúcnên có khát vọng hóa thân vào sóng để được trường tồn, bất diệt:
Làm sao tan được ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ
C Kết luận:
- Bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh là tiếng nói trái tim của những con người đang
yêu, biết yêu và biết giữ mãi tình yêu cao đẹp của mình
- Sóng là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh giai đoạn đầu Một bàithơ vừa xinh xắn duyên dáng vừa ý nhị sâu xa, mãnh liệt mà hồn nhiên, sôi nổi mà đằmthắm Sau này nếm trải nhiều cay đắng trong tình yêu, giọng thơ Xuân Quỳnh còn phơiphới bốc men say nhng khát vọng tình yêu luôn khắc khoải trong trái tim nữ thi sĩ Trái tim
“mãi yêu anh” ngay cả khi ngừng đập, bởi cái chết có thể kết thúc một cuộc đời chứ khôngthể kết thúc một tình yêu
Trang 24II CÂU HỎI THAM KHẢO
Đ
ề 1 Hình t ượng “sóng” trong bài thơ đ ược miêu tả nh ư thế nào ?
Sóng là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái yêu đương, là sự hóa thân, phân thâncủa cái tôi trữ tình của nhà thơ Cùng với hình tượng sóng, bài thơ này còn có một hình tượng nữa
là em - cái tôi trữ tình của nhà thơ Tìm hiểu hình tượng “sóng”, không thể không xem xét nó trongmối tương quan với “em”
Hình tượng sóng trớc hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ Đó lànhịp của những con sóng trên biển cả liên tiếp, triền miên, vô hồi vô hạn Đó là âm điệu của mộtnỗi lòng đang tràn ngập, khao khát tình yêu vô hạn, đang rung lên đồng điệu, hòa nhịp với sóngbiển
Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã diễn tả vừa cụ thể vừa sinh động nhiều trạng thái,tâm trạng, những cung bậc tình cảm khác nhau trong trái tim của người phụ nữ đang rạo rực khaokhát yêu đương Mỗi trạng thái tâm hồn cụ thể của người con gái đang yêu đều có thể tìm thấy sự t-ương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng
Đề 2 Qua bài thơ Sóng , vẻ đẹp tâm hồn của ng ời phụ nữ trong tình yêu đ ợc thể hiện nh thế nào ?
Qua bài thơ Sóng, ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tìnhyêu Người phụ nữ ấy mạnh bạo, chủ động bày tỏ những khao khát yêu đương mãnh liệt và nhữngrung động rạo rực trong lòng mình Người phụ nữ ấy thủy chung, nhưng không còn nhẫn nhục, camchịu nữa Nếu “sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó, để “tìm ra tậnbể”, đến với cái cao rộng, bao dung Đó là những nét mới mẻ, “hiện đại” trong tình yêu
Tâm hồn người phụ nữ đó giàu khao khát, không yên lặng: “vì tình yêu muôn thuở - Có baogiờ đứng yên” (Thuyền và biển) Nhưng đó cũng là một tâm hồn thật trong sáng, thủy chung vôhạn Quan niệm tình yêu như vậy rất gần gũi với mọi người và có gốc rễ trong tâm thức dân tộc
Đề 3: Phân tích bài “Sóng” của Xuân Quỳnh
I.Đặt vấn đề
Biển và sóng là những đề tài quen thuộc của thơ ca Mỗi nhà thơ nhìn biển theo cảm hứngriêng của mình V.Hugo trong “Đêm đại dương” khi đứng trước biển cả mênh mông sâu thẳm, đãnghe được”Những tiếng người tuyệt vọng kêu la” Puskin thì liên tưởng những đợt sóng thét gàovới nỗi cay đắng trong tình yêu Xuân Quỳnh tìm được những suy nghĩ tinh tế và thú vị về tình yêu quahình ảnh những con sóng biển
II.Giải quyết vấn đề
1.Sóng biển và tình yêu
Tác giả đã nhìn thấy sóng qua hai tính cách gần như đối lập nhau “dữ dội”, “ồn ào” với “êmdịu”, “lặng lẽ” Đấy là hình ảnh thực tế về sóng biển Nhưng nhà thơ còn hình dung ra sóng như thểmột con người, con người của suy tư, tìm kiếm:
Dữ dội và êm dịu……… Sóng tìm ra tận bể
Từ hình ảnh sóng đi ra khơi xa rồi sóng lại vỗ vào bờ, nhà thơ liên tưởng tới tình yêu:
Ôi con sóng ngày xa………… Bồi hồi trong ngực trẻ
Đây là một liên tưởng thú vị, bởi vì cũng như sóng biển tự bao giờ cho tới nay, tình yêu vẫnluôn luôn là nỗi khao khát của con người Nếu tình yêu là nỗi khát vọng của con người thì đối vớituổi trẻ, tình yêu càng trở nên thân thiết đến nỗi có thể tuổi trẻ gắn liền với tình yêu Đấy phảichăng là điều mà Xuân Diệu từng phát biểu:
Làm sao sống được mà không yêu /Không nhớ không thương một kẻ nào.
2.Tình yêu của anh và em
Cả đoạn thơ trên nói về sóng biển và tình yêu một cách chung, như một quy luật của cuộcsống Đến đoạn thơ tiếp theo, tình yêu trở nên cụ thể, đó là tình yêu của anh và của em ý thơ pháttriển rất hợp lý, tứ thơ sâu sắc làm nên dáng nét suy tư trong thơ của Xuân Quỳnh:
Trước muôn trùng sóng bể ……… Từ nơi nào sóng lên
Tại sao “trước muôn trùng sóng bể”, “em nghĩ về anh, em” ?
Thắc mắc về biển cả, chính là thắc mắc về tình yêu Bởi vì tình yêu chính là thắc mắc về ngườimình yêu Đó là một hiện tượng tâm lý thông thường trong tình yêu - yêu có nghĩa là hiểu rất rõ vềngười mình yêu và đồng thời người yêu vẫn là một ẩn số kỳ thú đối với mình Cũng như vậy, ngườiđang yêu rất hiểu về tình yêu nhưng đồng thời vẫn luôn luôn tự hỏi không biết thế nào là tình yêu ở
Trang 25đây, nhà thơ Xuân Quỳnh đã liên hệ tâm lý ấy bằng hình tượng nghệ thuật hồn nhiên, dễ thương và gợicảm:
Sóng bắt đầu từ gió ……… Khi nào ta yêu nhau
Yêu, rõ ràng là thế mà đôi khi cũng không biết nó là gì Nó cụ thể mà mơ hồ, nó gần gụi mà xaxôi, nó đơn giản mà phức tạp Nó là con sóng Nhà thơ lại trở về nghệ thuật nhân hóa:
Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được
Tưởng tượng đã giúp nhà thơ lý giải một hiện tượng của thiên nhiên: con sóng nhớ biển nhớ bờcho nên ngày đêm liên tục vỗ vào bờ Đâu đây có hình ảnh ý thơ của Xuân Diệu:
Bờ đẹp đẽ cát vàng/Thoai thoải hàng thông đứng/Như lặng lẽ mơ màng/Suốt ngàn năm bên sóng (Biển)
Cũng như vậy, yêu có nghĩa là nhớ Nhớ cả trong mơ cũng như khi còn thức Yêu anh cónghĩa là nghĩ đến nay, luôn luôn nghĩ đến anh:
Cái nhớ của tình yêu chính là nỗi khát khao vô hạn, là nỗi nhớ không nguôi:
Uống xong lại khát là tình Gặp rồi lại nhớ là mình của ta
(Xuân Diệu)
Những liên tưởng trên đây giúp ta thấy cách diễn tả của Xuân Quỳnh chân thật và hồnnhiên biết chừng nào ở thơ của Xuân Quỳnh có sự liên kết giữa cái hồn nhiên chân thật ấy với chấtsuy tư một cách tinh tế và chặt chẽ làm cho bài thơ ánh lên vẻ đẹp của một tâm hồn suy nghĩ
Ngời ta nói yêu nhau tức là cùng nhau nhìn về một hướng Còn nhà thơ Xuân Quỳnh củachúng ta thì lại bảo:
Dẫu xuôi về phương Bắc Dẫu ngợc về phương Nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh - một phương
Hình ảnh “hướng về anh một phương” làm ta nhớ tới mấy câu ca dao:
Quay tơ thì giữ mối tơ Dẫu trăm nghìn mối vẫn chờ mối anh
Đó phải chăng, từ nỗi nhớ trong tình yêu, nhà thơ muốn làm nổi bật tình cảm thủy chungduy nhất của người con gái Dù đi đâu, dù xuôi ngược bốn phương, tám hướng, thì em cũng chỉ h-ướng về một phương của anh, có anh, cho anh Nhà thơ lại trở về với hình ảnh những con sóng đểlàm điểm tựa cho ý tưởng của mình Bởi vì, dù có xa vời cách trở bao nhiêu, con sóng vẫn tới đượcbờ:
Ở ngoài kia đại dương
Dù muôn vời cách trở
3.Tình yêu và cuộc đời
ở trên, tác giả liên tưởng sóng với tình yêu Đoạn thơ cuối cùng so sánh cuộc đời và biển cả:
Cuộc đời tuy dài thế
Mây vẫn bay về xa
Tình yêu là một biểu hiện của cuộc đời Tình yêu chính là cuộc sống Cho nên đoạn thơcuối cùng mở rộng tứ thơ - tình yêu không phải chỉ là của anh và em mà tình yêu phải hòa trongbiển lớn nhà thơ gọi là Biển lớn tình yêu:
Làm sao tan được ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ
III.Kết luận
Trang 26Bài thơ trữ tình tình yêu nhưng không quá hời hợt, dễ dãi Từ âm điệu cho tới tứ thơ.
“Sóng” toát lên phong cách của Xuân Quỳnh Bài thơ giúp ta hiểu sâu sắc ý nghĩa tình yêu trongcuộc đời
Dường như biển cả bao la luôn luôn thu hút cảm hứng của Xuân Qùnh Biển là tình yêu,sóng là nỗi nhớ, và cả sóng biển sẽ giúp nhà thơ xua đi bao điều cay cực:
Biển sẽ xóa đi bao nhiêu cay cực Nước lại dềnh trên sóng những lời ru.
8.ĐÀN GHI TA CỦA LORCA
tâm trí độc giả bình thường khi tiếp nhận bài thơ Nếu không chịu bỏ cuộc trên hành trình giải mã
văn bản này và quyết tìm tới những văn bản khác đã làm nền cho nó (theo sự chỉ dẫn của các câuthơ trong bài), độc giả sẽ thực sự được đền bù Trước mắt chúng ta lúc đó sẽ là một thế giới thi cachói loà của thiên tài Lor-ca, là bức tranh bi tráng về thân phận người nghệ sĩ trong một thời đạibiến động như bão táp, là vẻ đẹp lung linh của nghệ thuật vượt lên trên mọi sự đe doạ của các thếlực bạo tàn, hung hiểm Từ những điều vừa thấy, nhìn ngược lại văn bản thơ đã tạo cơ hội mở rộng
chân trời hiểu biết cho mình - bài Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo - ta sẽ nhận ra từ đây một
sự cộng hưởng của những khát vọng sáng tạo, một khả năng nhập cảm sâu sắc vào thế giới nghệthuật thơ Lor-ca, một suy nghiệm thâm trầm về nỗi đau và niềm hạnh phúc của những cuộc đời đãdâng hiến trọn vẹn cho cái đẹp
Trong nửa đầu bài thơ, một không gian Tây Ban Nha đặc thù, nhất là không gian miền quêAn-đa-lu-xi-a yêu dấu của Lor-ca đã được gợi lên Giữa không gian đó, nổi bật hình tượng ngườinghệ sĩ lãng du có tâm hồn phóng khoáng, tha thiết yêu người, yêu đời, nhưng nghịch lí thay, lại
không ngừng đi theo một tiếng gọi huyền bí nào đó hướng về miền đơn độc :
những tiếng đàn bọt nước
Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt
li-la li-la li-la
đi lang thang về miền đơn độc
với vầng trăng chếnh choáng
trên yên ngựa mỏi mòn
.
tiếng ghi ta nâu
bầu trời cô gái ấy
tiếng ghi ta lá xanh biết mấy
tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan
Tại sao tác giả lại có thể gợi lên được những điều ấy ? - Trước hết là nhờ "đàn ghi ta củaLor-ca" Tất nhiên, ở đây ta không nói tới một cây đàn cụ thể, dù vẫn biết Lor-ca là nghệ sĩ trình tấurất xuất sắc ghi ta và dương cầm Đàn ghi ta ở đây chính là thơ Lor-ca, là bản mệnh của Lor-ca
Trang 27Đọc thơ Lor-ca, ta thường bắt gặp hình tượng một chàng kị sĩ đi mải miết, vô định dưới vầng trăngkhi đỏ, khi đen, khi rạng ngời, khi u tối, khi nồng nàn, khi buốt lạnh, Ta cũng thường được ngậpmình trong phong vị, hương sắc riêng không thể nào quên được của miền quê Gra-na-đa thuộc xứAn-đa-lu-xi-a, nơi ngày xưa từng được xem là "một trong những vương quốc đẹp nhất của châuPhi" do người ả-rập dựng nên ở đó có những chàng hiệp sĩ đấu bò tót khoác trên mình tấm áochoàng đỏ, có những cô gái Di-gan nước da nâu gợi tình tràn trề sức sống, có những vườn cam,những rặng ô-liu xanh một màu xanh huyền hoặc Đặc biệt, ở đó luôn vang vọng tiếng đàn ghi ta -
âm thanh nức nở, thở than làm vỡ toang cốc rượu bình minh, tựa tiếng hát của một con tim bị tử
thương bởi năm đầu kiếm sắc, không gì có thể bắt nó im tiếng (ý thơ trong bài Đàn ghi ta) Thanh
Thảo quả đã nhập thần vào thế giới thơ Lor-ca để lẩy ra và đưa vào bài thơ của mình những biểutượng ám ảnh bồn chồn vốn của chính thi hào Tây Ban Nha Nhưng vấn đề không đơn giản chỉ là
sự "trích dẫn" Tất cả những biểu tượng kia đã được tổ chức lại xung quanh biểu tượng trung tâm làcây đàn, mà xét theo "nguồn gốc", vốn cũng là một biểu tượng đặc biệt trong thơ Lor-ca - người mêdân ca, "chàng hát rong thời trung cổ", "con sơn ca xứ An-đa-lu-xi-a" Cây đàn từ chỗ mang hàmnghĩa nói về một định hướng sáng tạo gắn thơ với dòng nhạc dân gian, rộng ra, nói về một tình yêu
vô bờ và khắc khoải đối với quê hương, đến Thanh Thảo, nó đã nhập một với hình tượng Lor-ca,hay nói cách khác, nó đã trở thành hình tượng "song trùng" với hình tượng Lor-ca Cây đàn cất lêntiếng lòng của Lor-ca trước cuộc sống, trước thời đại Nó là tinh thần thơ Lor-ca, là linh hồn, và caohơn cả là số phận của nhà thơ vĩ đại này Bởi thế, trên những văn bản thơ trước đây của Lor-ca làmột văn bản mới của nhà thơ Việt Nam muốn làm sống dậy hình tượng người con của một đấtnước, một dân tộc yêu nghệ thuật, ưa chuộng cuộc sống tự do, phóng khoáng Hơn thế nữa, tác giảmuốn hợp nhất vào đây một "văn bản" khác của đời sống chính trị Tây Ban Nha mùa thu 1936 - cái
"văn bản" đã kể với chúng ta về sự bạo ngược của bọn phát xít khi chúng bắt đầu ra tay tàn phá nềnvăn minh nhân loại và nhẫn tâm cắt đứt cuộc đời đang ở độ thanh xuân của nhà thơ được cả châu
Âu yêu quý : Tây Ban Nha
hát nghêu ngao
bỗng kinh hoàng
áo choàng bê bết đỏ
Lor-ca bị điệu về bãi bắn
chàng đi như người mộng du
Lor-ca và về thân phận các nhà thơ trong thời hoành hành của bạo lực Câu thơ những tiếng đàn bọt nước ở đầu bài nếu được nối kết với các câu thơ khác là tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan và tiếng ghi ta ròng ròng - máu chảy, sẽ bộc lộ một tiềm năng ý nghĩa lớn hơn nhiều so với ý nghĩa dễ
nhận thấy gắn liền với việc diễn tả âm thanh tuôn trào, sôi động của tiếng đàn Tiếng đàn giống nhưtiếng kêu cứu của con người, của cái đẹp trong thời khắc bị đẩy tới chỗ tuyệt diệt Không có gì khó
hiểu khi dưới ngòi bút Thanh Thảo, tiếng đàn cũng có màu (nâu, xanh), có hình thù (tròn), có sinh mệnh (ròng ròng máu chảy), bởi tiếng đàn ở đây chính là sự cảm nhận của nhà thơ nay về tiếng đàn xưa Theo đó, tiếng đàn không còn là tiếng đàn cụ thể nữa, nó là sự sống muôn màu hiện hình
Trang 28trong thơ Lor-ca và là sinh quyển văn hoá, sinh quyển chính trị - xã hội bao quanh cuộc đời, sự
nghiệp Lor-ca Rồi màu đỏ gắt của tấm áo choàng, không nghi ngờ gì, là sáng tạo của Thanh Thảo.
Nó không đơn thuần là màu của một trang phục Nó có khả năng ám gợi một điều kinh rợn sẽ được
nói rõ ra trong khổ thơ sau : áo choàng bê bết đỏ - tức là tấm áo choàng đẫm máu của Lor-ca, của bao con người vốn chỉ biết hát nghêu ngao niềm yêu cuộc đời với trái tim hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng, khi bị điệu về bãi bắn một cách tàn nhẫn, phũ phàng, phi lí (câu thơ chàng đi như người mộng du có phần thể hiện sự phi lí không thể nào nhận thức nổi này) Cùng một cách nhìn
như thế, độc giả sẽ thấy những thi liệu của thơ Lor-ca (mà truy nguyên, một phần không nhỏ vốn là
thi liệu của những bài dân ca An-đa-lu-xi-a) như hình ảnh người kị sĩ đi lang thang, yên ngựa, vầng trăng đã thực sự được tái sinh lần nữa trong một hình hài mới và gây được những ấn tượng mới Các từ miền đơn độc, chếnh choáng, mỏi mòn gắn với chúng đã tạo ra một trường nghĩa chỉ sự mệt
mỏi, bất lực, bồn chồn, thắc thỏm không yên của con người khi đối diện thực sự với cái bản chấtphong phú vô tận của cuộc sống Với kiểu tạo điểm nhấn ngôn từ của Thanh Thảo, ta hiểu rằngcảm giác đó không chỉ có ở Lor-ca Nó là một hiện tượng có tính phổ quát, không của riêng ai,không của riêng thời nào, tất nhiên, chỉ được biểu hiện đậm nét và thực sự trở thành "vấn đề" trongthơ của những nhà thơ luôn thắc mắc về ý nghĩa của tồn tại Gồm một chuỗi âm thanh mơ hồ khó
giải thích, dòng thơ li-la li-la li-la xuất hiện hai lần trong thi phẩm một mặt có tác dụng làm nhoè
đường viền ý nghĩa của từng hình ảnh, biểu tượng đã được ném ra chừng như lộn xộn, mặt khác,đảm nhiệm một phần chức năng liên kết chúng lại thành một chỉnh thể, nhằm biểu hiện tốt nhất cáinhìn nghệ thuật của tác giả và giải phóng bài thơ khỏi sự trói buộc của việc thuật, kể những chuyện
đã xảy ra trong thực tế Quả vậy, dù không có sự kiện nào của cuộc đời Lor-ca được kể lại một cáchrành mạch, chi tiết, nhưng độc giả hiểu thơ không vì thế mà cho rằng thiếu Cái người ta thấy đángquan tâm lúc này nằm ở chỗ khác Đó là sự tự bộc lộ của chủ thể sáng tạo khi ráo riết suy nghĩ về
số phận đầy bất trắc của nghệ thuật và khả năng làm tan hoà những suy nghĩ ấy trong một thứ nhạcthơ tác động vào người tiếp nhận bằng hình thức ám gợi tượng trưng hơn là hình thức giãi bày, kể
lể kiểu lãng mạn Tất nhiên, chúng ta có quyền cắt nghĩa tại sao lại li-la chứ không phải là cái gì
khác Hoa li-la (tử đinh hương) với màu tím mê hoặc, nao lòng, từng là đối tượng thể hiện quenthuộc của nhiều thi phẩm và hoạ phẩm kiệt xuất trong văn học, nghệ thuật phương Tây chăng ?Hay đó là âm thanh lời đệm (phần nhiều mang tính sáng tạo đột xuất) của phần diễn tấu một cakhúc, hoặc nữa là âm thanh mô phỏng tiếng ngân mê đắm của các nốt đàn ghi ta dưới tay ngườinghệ sĩ ? Tất cả những liên hệ ấy đều có cái lí của chúng !
Ở nửa sau của bài thơ, tác giả suy tưởng về sức sống kì diệu của thơ Lor-ca nói riêng và về
sự trường tồn của nghệ thuật chân chính nói chung, vốn được sáng tạo bằng chính trái tim nặng trĩutình yêu cuộc sống của các nghệ sĩ :
không ai chôn cất tiếng đàn
tiếng đàn như cỏ mọc hoang
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh đáy giếng
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca bơi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
chàng ném lá bùa cô gái Di-gan
vào xoáy nước
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
li-la li-la li-la
Trang 29Câu thơ không ai chôn cất tiếng đàn có lẽ đã được bật ra trong tâm thức sáng tạo của Thanh Thảo khi ông nghĩ tới lời thỉnh cầu của Lor-ca trong bài Ghi nhớ - lời thỉnh cầu đã được dùng làm
đề từ cho bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca Không, ở đây không có thao tác đối lập sắc lẻm của lí trí
mà nhiều thi sĩ ưa dùng trong các bài thơ "chân dung" hay "ai điệu", nhằm làm nổi bật những tứ thơ
"mới" mang tính chất "ăn theo" Chỉ có sự đau đớn trước cái chết thảm khốc của một thi tài mãnhliệt, mà xác bị quăng xuống một giếng sâu (hay vực ?) gần Gra-na-đa Dĩ nhiên, ý nguyện của Lor-
ca - một ý nguyện thể hiện chất nghệ sĩ bẩm sinh hoàn hảo của nhà thơ, nói lên sự gắn bó vô cùngsâu nặng của ông đối với nguồn mạch dân ca xứ sở - đã không được thực hiện Nhưng nghĩ về điều
đó, những liên tưởng dồn tới và ta bỗng vỡ ra một chân lí : không ai chôn cất tiếng đàn và dù muốn chôn cũng không được ! Đây là tiếng đàn, một giá trị tinh thần, chứ không phải là một cây đàn vật
thể Tiếng đàn ấy trường cửu cùng tự nhiên và hơn thế, bản thân nó chính là tự nhiên Nó vẫnkhông ngừng vươn lên, lan toả, ngay khi người nghệ sĩ sáng tạo ra nó đã chết Dù thật sự thấm thíachân lí nói trên, tác giả vẫn không ngăn nổi lòng mình khi viết ra những câu thơ đau xót hết mực,
thấm đượm một cảm giác xa vắng, bơ vơ, côi cút, như cảm giác của ta khi thấy cỏ mọc hoang đang
ngao hát bài ca vắng người giữa mang mang thiên địa Không phải ngẫu nhiên mà trong ít nhất hai
phương án ngôn từ có thể dùng, Thanh Thảo đã lựa chọn cách diễn đạt không ai chôn cất chứ không phải là không ai chôn được ! Đến lượt độc giả, giọt nước mắt vầng trăng cứ mãi làm ta thao thức, dù nó long lanh trong im lặng, và hình như càng im lặng trong thăm thẳm đáy giếng, nó lại càng long lanh hơn bao giờ hết.
Từ câu đường chỉ tay đã đứt đến cuối bài, nhịp điệu, tiết tấu của thi phẩm không còn gấp gáp và dồn bức nữa Nó chậm rãi và lắng sâu Điều này tuân theo đúng lô gích tái hiện và suy ngẫm
(tạm quy về phạm trù "nội dung") mà tác giả chọn lựa Nhưng quan trọng hơn, nó tuân theo lô gíchtồn tại của chính cuộc đời : tiếp liền cái chết là sự sinh thành, sau bộc phát, sôi trào là tĩnh lặng,trầm tư, nối theo sự mù loà, khủng hoảng (của xã hội loài người) là sự khôn ngoan, chín chắn, Trong muôn nghìn điều mà con người phải nghĩ lại khi đã "khôn dần lên", sự hiện diện của nghệthuật trong đời sống là một trong những điều khiến ta trăn trở nhiều nhất Việc quy tội, kết tội chomột đối tượng cụ thể nào đó đã đối xử thô bạo với nghệ thuật không còn là chuyện thiết yếu nữa.Hãy lắng lòng để chiêm ngưỡng một sự siêu thoát, một sự hoá thân Trên dòng sông của cuộc đời,của thời gian vĩnh cửu mà trong khoảnh khắc bừng tỉnh thoát khỏi mê lầm, ta tưởng thấy nó hiện
hình cụ thể và dăng chiếu ngang trời, có bóng chàng nghệ sĩ Lor-ca đang bơi sang ngang trên chiếc ghi ta màu bạc Chàng đang vẫy chào nhân loại để đi vào cõi bất tử Chiếc ghi ta, cũng là con
thuyền thơ chở chàng, có ánh bạc biêng biếc, hư ảo một màu huyền thoại
Trên thực tế, cái chết của Lor-ca là cái chết tức tưởi do bọn phát xít Frăng-cô gây nên Nhưng nhìnsuốt chiều dài lịch sử, ta thấy Lor-ca không phải là trường hợp nghệ sĩ đầu tiên hay cuối cùng chịukết cục bi thương bởi các thế lực thù địch với cái đẹp Vậy phải chăng có thể xem những khổ nạnliên tục là một phần tất yếu trong định mệnh của họ ? Hẳn Thanh Thảo đã nghĩ vậy khi viết tiếpnhững câu thơ thật gọn nghẽ, "nhẹ nhõm" và "mênh mang" (ta hãy chú ý tới điểm rơi cuối dòng thơ
của các từ, cụm từ như đã đứt, vô cùng, sang ngang) Dù ai tiếc thương mặc lòng, đối với người nghệ sĩ như Lor-ca, khi đường chỉ tay đã đứt (đường chỉ tay như dấu ấn của số mệnh đóng lên cơ
thể con người), chàng đã dứt khoát được giải thoát Còn nuối làm chi lá bùa hộ mệnh được xem làvật tàng trữ những sức mạnh thần diệu mà cô gái Di-gan trao cho Chàng, dứt khoát và mạnh mẽ,
ném nó "chìm lỉm" (chữ của Hàn Mặc Tử) vào xoáy nước hư vô, như ném trái tim mình vào lặng yên bất chợt - cái lặng yên của sự "đốn ngộ", cái lặng yên sâu thẳm, anh minh, mà ở đó, lời nói đã
tan đi trong chính nó Chàng đã đoạt lấy thế chủ động trước cái chết của mình Chàng đã thắngkhông chỉ lũ ác nhân mà còn thắng cả chính định mệnh và hư vô nữa Từ điểm này nhìn lại, ta bỗng
thấy câu thơ chàng đi như người mộng du ở phần trên có thêm tầng nghĩa mới Bị lôi đến chỗ hành
hình, Lor-ca vẫn sống như người trong cõi khác Chàng đang bận tâm đuổi theo những ý nghĩ xavời Chàng đâu thèm chú ý tới máu lửa quanh mình lúc đó Chàng đã không chấp nhận sự tồn tại
Trang 30của bạo lực Chàng chết, nhưng kẻ bất lực lại chính là lũ giết người ! ở đây, có một cái gì gợi ta nhớtới sự tuẫn nạn của Chúa Giê-su trên núi Sọ Lại thêm một "văn bản" nữa ẩn hiện tỏ mờ dưới vănbản thơ của Thanh Thảo[1] !
Trong đoạn thơ cuối bài vừa phân tích, người đọc càng nhìn thấy rõ hơn sự vững vàng củatác giả trong việc phối trí các hình ảnh, biểu tượng lấy từ nhiều "văn bản" khác nhau vào một tổng
thể hài hoà Tưởng không có gì chung giữa đường chỉ tay, lá bùa, xoáy nước và cả lặng yên nữa.
Vậy mà, nhờ được "tắm" trong một "dung môi" cảm xúc có cường độ mạnh cùng sự suy tư cóchiều sâu triết học, tất cả chúng trở nên ăn ý với nhau lạ lùng để cùng cất tiếng khẳng định ý nghĩacủa những cuộc đời dâng hiến hoàn toàn cho nghệ thuật, cũng là cho một nhu cầu tinh thần vĩnhcửu của loài người Là sản phẩm tinh tuý của những cuộc đời như thế, thơ ca làm sao có thể chết ?
Nó tồn tại như là hơi thở xao xuyến của đất trời Nó gieo niềm tin và hi vọng Nó khơi dậy khátkhao hướng về cái đẹp Nó thanh lọc tâm hồn để ta có được tâm thế sống an nhiên giữa cuộc đờikhông thôi xáo động, vĩnh viễn xáo động Muốn mô tả nó ư ? Chỉ có thể, như Thanh Thảo, sau một
thoáng mặc tưởng, bật thốt lên : li-la li-la li-la
Để lòng mình ngân theo chuỗi âm thanh ấy, ta hiểu rằng trong cuộc tương tranh khôngngừng và hết sức thú vị giữa những cách diễn tả đặc hữu của văn học và cách diễn tả mang tínhchất ám gợi huyền hồ của âm nhạc, cuối cùng, ở bài thơ của Thanh Thảo, cách diễn tả của âm nhạc
đã chiếm ưu thế Điều này hiển nhiên là một sự lựa chọn có ý thức Để nói về nỗi cô đơn, cái chết,
sự lặng yên, "lời" vẫn thường gây vướng víu, gây nhiễu Chỉ có nhạc với khả năng thoát khỏi dấu
ấn vật chất của sự vật khi phản ánh nó, trong trường hợp này, là phương tiện thích hợp Tất nhiên,Thanh Thảo không phải đang làm nhạc mà là làm thơ Nói nhạc ở đây không có gì khác là nói tớicách thơ vận dụng phương thức của nhạc - cái phương thức ám thị, khước từ mô tả trực quan - đểthấu nhập bề sâu, "bề xa" của sự vật Từ lâu, các nhà thơ tượng trưng chủ nghĩa đã hướng tới điều này Dùkhông nhất thiết phải quy Đàn ghi ta của Lor-ca vào loại hình thơ nào, ta vẫn thấy nó đậm nét tượngtrưng Chẳng có gì lạ khi với bài thơ này, Thanh Thảo muốn thể hiện mối đồng cảm sâu sắc đối với Lor-
ca - cây đàn thơ lạ lùng trong nền thi ca nhân loại ở nửa đầu của thế kỉ XX đầy bi kịch
9 AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? (trích)
Hoàng Phủ Ngọc Tường
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả:
- Tiểu sử: + Sinh 1937 tại TP Huế
+ Quê gốc ở Quảng trị, sống, học tập và hoạt động cách mạng ở Huế -> cuộc đời tác giảgắn liền với Huế nên tình cảm, tâm hồn thấm đẫm nền văn hoá của mảnh đất này
- Sự nghiệp văn học:
+ Phong cách nghệ thuật:
* Là cây bút uyên bác, giàu chất trí tuệ
* Tài hoa, trí tưởng tượng phong phú lãng mạn đậm chất thơ
* Lối viết hướng nội, xúc tích, có chiều sâu văn hoá, cảm hứng nhân văn
+ Tác phẩm chính: (SGK)
2 Tác phẩm – Thể loại.
- Xuất xứ: - Hoàn cảnh ra đời - Cảm hứng sáng tác:
- Vị trí đoạn trích: bài kí gồm 3 phần, đoạn trích nằm ở đoạn đầu và đoạn kết của bài kí
-> Là tác phẩm tiêu biểu cho đặc trưng thể loại và văn phong của HPNT
II- Tìm hiểu văn bản
*Nội dung đoạn trích
Trang 31
1 Vẻ đẹp của dòng Sông Hương
a Vẻ đẹp được phát hiện từ cảnh sắc thiên nhiên.
* Từ Thượng nguồn
- Khi qua dãy Trường Sơn hùng vĩ.
+ Sông Hương là bản tình ca của rừng già
Rầm rộ và mãnh liệt…Dịu dàng và say đắm…
-> Sự hợp âm của những nốt bổng, nốt trầm để mãi ngân nga vang vọng giữa đại ngàn củaTrường Sơn
+ Sông Hương như 1 cô gái Di gan phóng khoáng man dại
Rừng già đã hun đúc cho nó 1 bản tính gan dạ, 1 tâm hồn tự do, phóng khoáng
Cũng chính rừng già nơi đây đã chế ngự sức mạnh bản năng của người con gái Sông Hương.-> Vẻ đẹp của một sức sống trẻ trung, mãnh liệt và hoang dại
- Khi ra khỏi rừng già.
+ Đóng kín phần tâm hồn sâu thẳm của mình ở cửa rừng…
+ Mang 1 sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của 1 vùng văn hoá xứ sở.-> Vẻ đẹp đầy bí ẩn, sâu thẳm của dòng sông
Nhận xét: Bằng óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng phong phú, bằng việc sử dụng nghệthuật so sánh, nhân hoá tài hoa, táo bạo, HPNT đã phát hiện và khắc hoạ vẻ đẹp mạnh mẽ, trẻ trungđầy cá tính của dòng sông, gợi lên ở người đọc những liên tưởng kì thú gợi cảm xác đáng đầy sứchấp dẫn
*Bình một số chi tiết đặc sắc.
(+ Bản tình ca của rừng già + Cô gái di gan phóng khoáng man dại…)
* Về Châu thổ
- Sông Hương tìm đến Huế.
+ Chuyển dòng một cách liên tục, uốn mình theo những đường cong thật mềm
Từ ngã ba Tuần -> chảy theo hướng Nam -Bắc qua Hòn Chén
Chuyển hướng sang Tây- Bắc vòng qua Nguyệt Biển, Lương Quán
Đột ngột rẽ 1 hình cung thật tròn về phía đồng bằng ôm lấy chân đồi Thiên Mục, xuôi dần
về Huế
-> Như 1 cuộc tìn kiếm có ý thức để đi gặp thành phố tương lai của nó
+ Vẻ đẹp của dòng sông trở nên biến ảo vô cùng
Qua Tam Thai, Vọng Cảnh DS mềm như tấm lụa…
DS như 1 tấm gương phản chiếu màu sắc…
Đến vùng rừng thông u tịch, lăng tẩm của vua chúa triều Nguyễn: DS mang vẻ đẹp cổ kính,trầm mặc như triết lí, như cổ thi
Tới ngoại ô Kim Long: vẻ đẹp tươi vui…
Nhận xét: -> Sông Hương qua cái nhìn đầy lãng mạn của HPNT như 1 cô gái dịu dàng mơmộng đang khao khát đi tìm thành phố tình yêu theo tiếng gọi vang vọng từ trái tim Với NT sosánh cân đối, hài hoà đậm chất thơ, với sự phong phú về ngôn ngữ hình tượng, nhà văn đã khắc hoạđược vẻ đẹp dòng sông huyền ảo, lung linh sắc màu, người đọc đặc biệt ấn tượng về vẻ đẹp trầmmặc, cổ kính của Sông Hương gắn với thành quán lăng tẩm của vua chúa thủa trước
*Chọn những hình ảnh so sánh, những câu văn giàu màu sắc, tạo hình và ấn tượng
- Cuộc gặp gỡ giữa Sông Hương – Huế
H×nh tîng S«ng H¬ng H×nh tîng T¸c gi¶
CS thiªn nhiªn CS LÞch sö
Con s«ng v¨n ho¸
Trang 32+ Cầu Tràng Tiền = vành trăng non in gần
trên nền trời.
-> một trong những biểu tượng của Huế như
mơ màng chờ đợi, như vẫy gọi dòng sông.
+ Những lâu đài của đất cố đô soi bóng xuống
dòng sông xanh biếc.
+ Uốn 1 cánh cung rất nhẹ = 1 tiếng vang vọng nói ra của tgiả.
-> Vẻ e thẹn, ngượng ngùng khi gặp người trong mong đợi,
sự thuận tình mà không nói ra.
+ Các nhánh sông toả đi khắp thành phố như muốn ôm trọn Huế vào lòng.
+ Sông Hương và Huế hoà vào làm 1, HS làm nên vẻ mộng mơ của Huế, Huế làm nên vẻđẹp trầm tư sâu lắng của Sông Hương
+ Sông Hương giảm hắn lưu tốc, suôi đi thực chậm… yên tĩnh, khát vọng được gắn bó, lưulại mãi với mảnh đất nơi đây
Nhận xét: Cuộc gặp gỡ của Huế và Sông Hương được tác giả cảm nhận như cuộc hội ngộcủa tình yêu Sông Hương được HPNT khám phá, phát hiện từ góc độ tâm trạng: Sông Hương gặpthành phố như đến với điểm hẹn của tình yêu sau 1 hành trình dài trở nên vui tươi và mềm mại.Sông Hương qua NT so sánh đầy mới lạ, bất ngờ trở nên có linh hồn, sự sống như 1 cô gái si tìnhđang say đắm trong tình yêu
*Chọn những hình ảnh, chi tiết đặc sắc để bình.
(Cầu Tràng Tiền = Vành trăng non
S.Hương uốn cong = tiếng vang không nói ra…
Lưu tốc S.Hương = Slow tình cảm dành cho Huế)
- Tạm biệt Huế để ra đi
+ Rời khỏi kinh thành, Sông Hương ôm lấy đảo
Cồn Huế, lưu luyến ra đi…
+ Đột ngột rẽ ngoặt lại để gặp thành phố yêu dấu 1
b Vẻ đẹp văn hoá của dòng sông
- Dòng sông âm nhạc + là người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya
+ Là nơi sinh thành ra toàn bộ nền âm nhạc có điểm của Huế
+ Là cảm hứng để Nguyễn Du viết lên khúc đàn của nàng Kiều
- Dòng sông thi ca-> 1 dòng sông thơ ca lặp lại mình
+ Là vẻ đẹp mơ màng “Dòng sông trắng lá cây xanh” trong thơ Tản Đà
+ Vẻ đẹp hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” của Cao Bá Quát
+ Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ bà Huyện Thanh Quan
+ Là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu
-> Sông Hương luôn đem đến nguồn cảm hứng mới mẻ, bất tận cho các thi nhân
- Dòng sông gắn với những phong tục, với vẻ đẹp tâm hồn của người dân xứ Huế
+ Màn sương khói trên Sông Hương = màu áo điền lục, 1 sắc áo cưới của các cô dâu trẻtrong tiết sương giáng
+ Vẻ trầm mặc sâu lắng của sông Hương cũng như 1 nét riêng trong vẻ đẹp tâm hồn củangười xứ Huế: “rất dịu dàng và rất trầm tư…”
c Dòng S.Hương với lịch sử hào hùng của mảnh đất Cố đô.
* Là 1 dòng sông anh hùng
- Từ xa xưa: là 1 DS biên thuỳ xa xôi của đất nước của các vua Hùng
- Thời trung đại: + Dòng Linh Giang đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ biên giới phía nam tổquốc Đại Việt
+ Vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ
-Thời chống Pháp:
+ Sống hết lịch sử bi tráng với máu của các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương + Đi vào thời đại CMT8 với những chiến công rung chuyển
- Thời chống Mĩ: + Góp mình vào chiến dịch Mùa xuân 1968 Mậu Thân
* SH cùng với thành phố Huế cũng chịu nhiều đau thương mất mát
Trang 33-> Sông Hương là dòng sông có bề dày lịch sử như 1 người con gái anh hùng, khi tổ quốcgọi nó tự biết hiến đời mình làm 1 chiến công Sông Hương là dòng sông của sử thi viết giữa màu
cỏ lá xanh biếc
-> Sử thi mà trữ tình, bản hùng ca mà cũng là bản tình ca dịu dàng tươi mát Đó là nét độc đáocủa xứ Huế, của Sông Hương được tác giả khám phá và khắc hoạ từ góc độ lịch sử
d Ai đã đặt tên cho dòng sông.
Bài kí mở đầu và kết luận bằng 1 câu hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
- Mang nghĩa hỏi: Chính nội dung bài kí là câu trả lời, 1 câu trả lời dài như 1 bài kí ca ngợi
vẻ đẹp, chất thơ của dòng sông có cái tên cũng rất đẹp và phù hợp với nó: Sông Hương
2 Hình tượng cái tôi của tác giả.
- Tình yêu thiết tha đến say đắm của tác giả đối với cảnh và người nơi xứ Huế
- Phong cách viết kí của HPNT: Phóng túng, tài hoa, giàu thông tin văn hoá, địa lí, lịch sử
và giàu chất trữ tình lãng mạn
III- TỔNG KẾT.
- Cảm nhận và hiểu được vẻ đẹp của Huế, của tâm hốn người Huế qua sự quan sát sắc sảocủa HPNT về dòng sông Hương-> HPNT xứng đáng là một thi sĩ của thiên nhiên, một cuốn từđiểm sống về Huế, một cây bút giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc
- Bài kí góp phần bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào đối với dòng sông và cũng là với quêhương đất nước
* Câu hỏi:
1- Hãy chỉ ra sự thống nhất trong các khám phá và thể hiện vẻ đẹp Sông Hương của tác giả.2- So sánh vẻ đẹp của Sông Hương với Sông Đà -> Chỉ ra nét riêng trong văn phong của 2tác giả: HPNT và Nguyễn Tuân
3- So sánh vẻ đẹp của sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho một dòng sông” (Hoàng Phủ Ngọc Tường) với vẻ đẹp của sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”(Nguyễn Tuân)
4- Sự đồng cảm của anh (chị) về những cảm xúc tinh tế và tấm chân tình đậm đà của người nghệ sĩ trong “Ai đã đặt tên cho một dòng sông” (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
10 VỢ NHẶT Kim LânI.Hoàn cảnh sáng tác
- VỢ NHẶT – Kim Lân Đầu năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân ta lâm vào tình thế một cổ hai tròng Ở miền Bắc nước ta Nhật bắt nhổ lúa trồng đay, trong khi đó, Pháp tăng thuế ra sức vơ vét, bóc lột nhân dân ta.
Đến năm 1945 hơn triệu người Việt Nam chết đói Điều này đã làm xúc động giới văn nghệ sĩ,
Kim Lân đã đóng góp thành công một truyện ngắn, đó là “Vợ Nhặt”.
Lúc đầu,truyện có tên là”Xóm ngụ cư”,hòa bình lập lại 1954, Kim Lân sửa lại in chính thức“Vợ Nhặt”.
II Phân tích và chứng minh :
a/ Hoàn cảnh túng đói , khốn khổ của người dân ngụ cư :
Bức tranh thảm đạm về nạn đói năm 1945 Cái đói đã làm xóm ngụ cư vốn nghèo khổ giờđây càng xơ xác, thê lương
Cái đói làm cho bọn trẻ “ngồi ủ rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích”.Cái đói hành hạ cả xóm khiến nhiều người “xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp các lều chợ” Cảnh tang tóc bao trùm lên xóm ngụ cư “Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ , đi làm đồngkhông gặp ba bốn cái thây nằm còng queobên đường Không
Trang 34khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”ï.Tràng kéo xe thóc tạm sống qua
ngày , nghèo không thể có vợ Người vợ nhặt lượm từng hạt thóc rơi để có miếng ăn mỗi ngày
Tâm trạng lo âu, sợ hãi cái đói, cái chết của người dân Hình ảnh thê lương của người dânNgụ Cư là bằng chứng tố cáo tội ác tày trời của Pháp – Nhật Chúng đã dẩy nhân dân ta vào vòng
cùng khổ, chết chóc “Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế”.
b/ Người dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết mà vui ,hi vọng :
Khao khát vươn lên trên cái chết , hướng đến sự sống
Người vợ nhặt : Người phụ nữ đói rách được một bửa no quyết định theo Tràng về làm vợ “cái đói làm con người biến đổi nhanh” Tội nghiệp hơn chị theo Tràng về làm vợ không một nghi thức nào
Tràng : một con người có ngoại hình xoàng xĩnh , cách nói năng thô kệch, cộc cằn Nhưng
anh có tấm lòng nhân hậu ,cưu mang người vợ nhặt , giúp người phụ nữ sống chủ yếu là “trong lòng hắn chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy” .
Bà cụ Tứ : vượt lên nỗi xót xa , tủi phận để chấp nhận nàng dâu
Tràng cảm thấy vui , thấy mới lạ , bối rối khi có vợ thấy có trách nhiệm, tình cảm gắn bó
với gia đình “Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu, gắn bó với caí nhà của hắn lạ lùng”.
Người vợ nhặt đảm đang, vén khéo việc nhà, lo cho gia đình
Bà cụ Tứ vui rạng rỡ, quét dọn nhà cửa, hi vọng làm ăn khá, chuẩn bị bữa ăn sáng chu đáo,
phát họa chuyện tương lai “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”.
Hình ảnh cách mạng xa mà gần, trừu tượng mà cụ thể Hình ảnh đó làm cho họ suy nghĩ,gây cho họ xúc động, tạo cho họ niềm tin Hiện thực khắc nghiệt vẫn còn đó, tiếng trống thúc thuế
vẫn dồn dập, nhưng trong ý nghĩ của Tràng “Vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm”.
III Kết Luận:
Vợ Nhặt là tác phẩm ca ngợi tình yêu cuộc sống ngay giữa mùa chết chóc
Khẳng định vai trò của cách mạng tháng 8 đối với cuộc đời của bao kiếp lầm than
Một số đề tham khảo:
IV CÂU HỎI THAM THAM KHẢO
1 Phân tích Tâm trạng bà cụ Tứ : Có tấm lòng nhân hậu thật đáng quý.
- Lúc đầu bà ngạc nhiên vì trong nhà xuất hiện người đàn bà lạ lại chào mình bằng
“U”.Bà hờn tủi vì chưa làm tròn trách nhiệm “ Chao ôi, người dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì…”.
Bà lo lắng “Chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói khát này không” Bà khổ tâm không lo được cho con “Kể có ra, làm được dăm ba mâm thì phải đấy, nhưng nhà mình nghèo, cũng chả ai người ta chấp nhặt chi cái lúc này”.Bà lạc quan hy vọng “Ai giàu ba họ ,ai khó ba đời” Bà vẻ ra diễn cảnh tương lai cho con “khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này nghoảnh đi nghoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem…” Điều chủ yếu là bà mừng cho hai người và khuyên họ những điều đôn
hậu, chí tình Tất cả những chi tiết ấy đã thể hiện tấm lòng thương con, thương dâu của bà mẹnghèo Trong bức tranh xã hội xám ngắt ấy, Tràng và bà mẹ là điểm sáng tươi đẹp Bà cụ Tứ tiêubiểu cho bà mẹ Việt Nam nhân hậu, bao dung
2 Phân tích: Nghệ thuật đặc sắc của “Vợ Nhặt” :
+ Cách dựng truyện : tự nhiên, đơn giản nhưng chặt chẽ Kim Lân khéo làm nổi bật sự đối
lập giữa hoàn cảnh và tính cách
+ Giọng Văn ; mộc mạc, giản dị Ngôn ngữ gần với khẩu ngữ, nhưng có sự chắt lọc kĩ lưỡng , có sức gợi đáng kể : bước “ngật ngưỡng”, đường “khẳng khiu, nhấp nhỉnh”, vẻ mặt “ phớn phở”, dãy phố
“úp súp, dật dờ “… Cách viết như thế tạo nên một phong vị và sức lôi cuốn riêng.
+ Nhân vật : Kim Lân khắc họa được hình tượng sinh động Bà cụ Tứ, Tràng tiêu biểu cho
những người lao động cơ cực, nhưng vẫn nguyên vẹn tấm lòng nhân hậu, trong sáng Hạnh phúccủa cả cái gia đình khốn khổ ấy làm cho người đọc xúc động
3
Nêu ngắn gọn hoàn cảnh ra đời của tác phẩm “ Vợ nhặt” Vì sao có thể nói rằng “ Vợ
nhặt” đã được xây dựng trên cơ sở của một tình huống lạ?
Đây là một tình huống lạ là vì một người như Tràng mà cũng lấy được vợ: nghèo (lấy vợ
phải có tiền cheo cưới) ngụ cư, xấu trai… Lạ vì quá dễ dàng đúng là “nhặt”được về Lạ nên mới
đầu không ai tin Cả xóm ngụ cư đều ngạc nhiên, coi như một điều vô lý Bà cụ Tứ là mẹ Tràng
Trang 35cũng không tin… Ngay đến bản thân Tràng cũng không tin(nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bâygiờ hắn vẫn còn ngờ ngợ, như không phải thế Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?)
4.
Phân tích giá trị nhân đạo sâu sắc trong “ Vợ nhặt” của Kim Lân
1/ Nhà văn Kim Lân (sinh năm 1920), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, người làng PhùLưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Kim Lân viết không nhiều, nhưng được coi làthuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại Ông rất sành vềcảnh quê, người quê và thế giới của hương đồng gió nội này cộng với một tấm lòng thiết tha hiếm
có đã tạo nên những trang viết sâu sắc, cảm động nhất của ông Con người có một đời văn hóakhá dài ấy (trên năm mươi năm) không hiểu kĩ tính thế nào mới trình làng vẻn vẹn có hai tập
truyện ngắn: Nên vợ nên chồng (1955) và Con chó xấu xí (1962) Nhưng nghệ thuật không quen
đo đếm ở số lượng Chỉ một truyện như Vợ nhặt (rút từ tập Con chó xấu xí) – vốn được coi là
truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân – cũng có thể là niềm mơ ước của nhiều người cầm bút
Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng) Hoà bình lập lại, do đơn đặt hàng của báo Văn nghệ, Kim Lân mới viết lại Riêng điều đó thôi đã thấy Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một
quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật
2/ Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim lân muốn bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của
mình Ấy là khi nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quayquắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sốnggia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai
Không phải ngẫu nhiên Vợ nhặt trước hết là thiên truyện về cái đói Chỉ mấy chữ “Cái đói
đã tràn đến…” đủ gợi lên hoài niệm kinh hoàng cho người xứ Việt về một hiểm hoạ lớn của dân tộc đãquét đi xấp xỉ gần một phần mười dân số trên đất nước này Đúng như chữ nghĩa Kim Lân, hiểm hoạ ấy
“tràn đến”, tức là mạnh như thác dữ
Cách tả của nhà văn càng gây một ám ảnh thê lương qua hai loại hình ảnh: con người nămđói và không gian năm đói Ông đặc tả chân dung người năm đói “khuôn mặt hốc hác u tối”,nhưng đáng sợ nhất là có tới hai lần ông so sánh người với ma: “Những gia đình từ những vùngNam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóngma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma” Kiểu so sánh ấy thểhiện một cảm quan đặc biệt của Kim Lân về cái thời ghê rợn: đó là cái thời mà ranh giới giữangười và ma, cái sống và cái chết chỉ mong manh như sợi tóc, cõi âm nhoà vào cõi dương, trầngian mấp mé miệng vực của âm phủ Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻchết ấy, cái tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” càng tô đậmcảm giác tang tóc thê lương Quả là cái đói đã lộ hết sức mạnh huỷ diệt cuộc sống tới mức khủngkhiếp Trong một bối cảnh như thế Kim Lân đặt vào đó một mối tình thật là táo bạo Chao ôi,toàn những chuyện cười ra nước mắt: bốn bát bánh đúc ngày đói mà làm nên một mối tình, nồicám ngày đói đủ làm cỗ tân hôn… Ngòi bút khắc khổ của Kim Lân không né tránh mà săn đuổihiện thực đến đáy, tạo cho thiên truyện một cái “phông” đặc biệt, nhàu nát, ảm đạm, tăm tối vàphải nói là có phần nghiệt ngã
Nhưng quan tâm chính của nhà văn không phải là dựng lên một bản cáo trạng trong Vợ nhặt , mà dồn về phía khác, quan trọng hơn Từ trong bóng tối của hoàn cảnh Kim Lân muốn tỏa sáng một chất thơ đặc biệt của hồn người Mảng tối của bức tranh hiện thực buồn đau là một
phép đòn bẩy cho mảng sáng của tình người tỏa ra ánh hào quang đặc biệt của một chủ nghĩanhân văn tha thiết, cảm động
Trong văn chương người ta thường nhấn mạnh chữ tâm hơn chữ tài Song nếu cái tài không đạt đến một mức nào đó thì cái tâm kia làm sao bộc lộ ra được Ở Vợ nhặt cũng thế: tấm lòng thiết tha của Kim Lân sở dĩ lay động người đọc trước hết là nhờ tài dựng truyện và sau đó là tài dẫn truyện
Tài dựng truyện ở đây là tài tạo nên một tình huống độc đáo Ngay cái nhan đề Vợ nhặt đã
bao chứa một tình huống như thế Trong một bài trả lời phỏng vấn, Kim Lân hào hứng giảithích:”nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ Trong cảnh đói năm 1945, người dân lao động dườngnhư khó ai thoát khỏi cái chết Bóng tối của nó phủ xuống xóm làng Trong hoàn cảnh ấy, giá trịmột con người thật vô cùng rẻ rúng, người ta có thể có vợ theo, chỉ nhờ có mấy bát bánh đúc
ngoài chợ – đúng là “nhặt” được vợ như tôi nói trong truyện” Như vậy thì cái thiêng liêng (vợ)
đã trở thành rẻ rúng (nhặt) Nhưng tình huống truyện còn có một mạch khác: chủ thể của cái hành
động “nhặt” kia là Tràng, một gã trai nghèo, xấu xí, dân ngụ cư, đang thời đói khát mà đột nhiên
Trang 36lấy được vợ, thậm chí được vợ theo thì quả là điều lạ Lạ tới mức nó tạo nên hàng loạt nhữngkinh ngạc cho hàng xóm, bà cụ Tứ – mẹ Tràng và chính bản thân Tràng nữa: “đến bây giờ hắnvẫn còn ngờ ngợ như không phải thế Ra hắn đã có vợ rồi đấy ư?” Tình huống trên gợi ra mộttrạng thái tinh tế của lòng người: trạng thái chông chênh khó nói – cái gì cũng chập chờn, như có,như không Đây là niềm vui hay buồn? Nụ cười hay nước mắt? Cái thế đặc biệt của tâm trạngnày đã khiến ngòi bút truyện ngắn của Kim Lân mang dáng dấp của thơ ca
Dựng truyện hay chưa đủ Tài dựng truyện giống như tài của anh châm ngòi pháo Có lửa
tốt, châm đúng ngòi nhưng dây pháo có nhiều quả điếc thì vẫn cứ xịt như thường Cho nên tài dựng truyện, phải gắn với tài dẫn truyện nữa mới tạo sự sâu sắc, hấp dẫn Tài dẫn truyện của Kim
Lân thể hiện qua lối sử dụng ngôn ngữ nông dân đặc biệt thành công, qua lời văn áp sát vào tận
cái lõi của đời thực khiến mỗi câu chữ như được “bứng” ra từ chính cái chất liệu ngồn ngộn của
cuộc sống Song quan trọng nhất vẫn là ở bút pháp hiện thực tâm lí Phải nói, tình huống truyệntrên kia thật đắc địa cho Kim Lân trong việc khơi ra mạch chảy tâm lí cực kì tinh tế ở mỗi nhânvật Rất đáng chú ý là hai trường hợp: bà cụ Tứ và Tràng Đây là hai kiểu phản ứng tâm lí trướcmột tình thế như nhau, song không ai giống ai
Anh cu Tràng cục mịch, khù khờ, có ai ngờ lại là một chàng trai thực sự hạnh phúc.Nhưng hạnh phúc lớn quá, đột ngột quá, khiến Tràng rất đỗi ngỡ ngàng Cơn say hạnh phúc thănghoa trong tâm linh, khiến Tràng mất trọng lượng, lơ lửng trong cõi ảo, cõi mơ Ngòi bút thực củaKim Lân từng tỉnh thế, bây giờ ngòi bút trữ tình của ông cũng sao mà say thế Nói đúng hơn, nhàvăn phải đứng giữa cái say / tỉnh ấy mới “cảm thụ” tới tận đáy cuộc đời, mới tạo ra được những
áng “thần bút” như văn Kim Lân trong “Vợ nhặt” Rồi cái ngỡ ngàng trước hạnh phúc kia cũng
nhanh chóng đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể Đó là niềm vui về hạnh phúc gia đình – mộtniềm vui giản dị nhưng lớn lao không gì sánh nổi Chẳng thế mà một người nổi tiếng nhưSecnưsepxki từng mơ ước: “Tôi sẵn sàng đánh đổi cả sự nghiệp nếu biết rằng trong một cănphòng nhỏ ấm áp nào đó, có một người đàn bà đang ngóng đợi tôi về bữa ăn tối” Chàng thanhniên nghèo khó của Kim Lân đã thực sự đạt được một niềm vui như thế: “Bỗng nhiên hắn thấyhắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinhcon đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn độtngột tràn ngập trong lòng” Một niềm vui thật cảm động, lẫn lộn cả hiện thực lẫn giấc mơ Điềunày thì anh Tràng của Kim Lân may mắn hơn Chí Phèo của Nam Cao: hạnh phúc đã nằm gọntrong tay Tràng.Còn Thị Nở mới chấp chới tầm tay Chí Phèo thì đã bị cái xã hội đen tối cướpmất Có một chi tiết rất đắc của Kim Lân: “Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làmmột việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà” So với cái dáng “ngật ngưỡng” mở đầu tác phẩm,hành động “xăm xăm” này của Tràng là một đột biến quan trọng, một bước ngoặt đổi thay cả sốphận lẫn tính cách của Tràng: từ khổ đau sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dạisang ý thức Chẳng thế mà Kim Lân đã thấy đủ điều kiện đặt vào dòng suy nghĩ của Tràng một ýthức bổn phận sâu sắc: “Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận lo lắngcho vợ con sau này” Tràng thật sự “phục sinh tâm hồn” đó là giá trị lớn lao của hạnh phúc
Bình luận truyện Vợ nhặt, không hiểu sao có một câu rất quan trọng của Kim Lân mà nhiều người hay bỏ qua Đó là câu kết truyện “Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ
đỏ bay phấp phới…” Một câu kết như thế, chứa đựng bao sức nặng về nghệ thuật và nội dung
cho thiên truyện Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng là tín hiệu thật mới mẻ về một sự đổi thay xã hội rấtlớn lao, có ý nghĩa quyết định với sự đổi thay của mỗi số phận con người Đây là điều mà các tácphẩm văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945 không nhìn thấy được Số phận con người trongvăn học hiện thực đồng nghĩa với bế tắc Nền văn học mới sau Cách mạng tháng tám đã đặt vấn
đề và giải quyết vấn đề số phận con người theo một cách khác, lạc quan hơn, nhiều hi vọng hơn
Quá trình tâm lí ở cụ Tứ có phần phức tạp hơn nhân vật Tràng Nếu ở đứa con trai, niềm
vui làm chủ, tâm lí phát triển theo chiều thẳng đứng phù hợp với một chàng rễ trẻ tuổi đang tràn trề hạnh phúc thì ở bà mẹ, tâm lí vận động theo kiểu gấp khúc hợp với những nỗi niềm trắc ẩn
trong chiều sâu riêng của người già từng trải và nhân hậu
Cũng như con trai, khởi đầu tâm lí ở bà cụ Tứ là ngỡ ngàng Anh con trai ngỡ ngàng trướcmột cái đã biết, còn bà mẹ ngỡ ngàng trước một cái dường như không hiểu được Cô gái xuấthiện trong nhà bà phút đầu là một hiện tượng lạ Trạng thái ngỡ ngàng của bà cụ Tứ được khơisâu bởi hàng loạt những câu hỏi nghi vấn: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà ấy nhỉ ?Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?Không phải con cái Đục mà Ai thế nhỉ?” Rồi lại:”Ô hay, thế là thế nào nhỉ?” Trái tim người mẹ
Trang 37có con trai vốn rất nhạy cảm về điều này, vậy tại sao Kim Lân lại để cho nhân vật người mẹ ngơngác lâu đến thế? Một chút quá đà, một chút “kịch” trong ngòi bút Kim Lân chăng? Không, nhàvăn của đồng nội vốn không quen tạo dáng Đây là nỗi đau của người viết: chính là sự cùng quẩncủa hoàn cảnh đánh mất ở người mẹ sự nhạy cảm đó
Nếu ở Tràng, sự ngỡ ngàng đi thẳng tới niềm vui thì bà cụ Tứ, sự vận động tâm lý phứctạp hơn Sau khi hiểu ra mọi chuyện, bà lão”cúi đầu nín lặng” Sự nín lặng đầy nội tâm Đó là nỗiniềm xót xa, lo, thương lẫn lộn Tình thương của bà mẹ nhân hậu mới bao dung làm sao: “…
chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?” Trong chữ “chúng nó” người mẹ đã đi từ lòng thương con trai sang con dâu Trong chữ cúi đầu, bà mẹ tiếp nhận hạnh
phúc của con bằng kinh nghiệm sống, bằng sự trả giá của một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thứcsâu sắc trước hoàn cảnh, khác hẳn con trai tiếp nhận hạnh phúc bằng một nhu cầu, bằng một ước
mơ tinh thần phơi phới
Rồi tình thương lại chìm vào nỗi lo, tạo thành một trạng thái tâm lí triền miên day dứt.Tác giả xoáy vào dòng ý nghĩ của bà mẹ: nghĩ đến bổn phận làm mẹ chưa tròn, nghĩ đến ông lão,đến con gái út, nghĩ đến nỗi khổ đời của mình, nghĩ đến tương lai của con…, để cuối cùng dồn tụbao lo lắng, yêu thương trong một câu nói giản dị:”chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…”Trên ngổn ngang những nỗi buồn lo, niềm vui của mẹ vẫn cố ánh lên Cảm động thay, Kim Lânlại để cái ánh sáng kỳ diệu đó tỏa ra từ… nồi cháo cám Hãy nghe người mẹ nói: “chè đây – Bà
lão múc ra một bát – chè khoán đây, ngon đáo để cơ” Chữ “ngon”này cần phải cảm thụ một cách
đặc biệt Đó không phải là xúc cảm về vật chất, (xúc cảm về cháo cám) mà là xúc cảm về tinhthần: ở người mẹ, niềm tin về hạnh phúc của con biến đắng chát thành ngọt ngào Chọn hình ảnhnồi cháo cám, Kim Lân muốn chính mình cho cái chất người: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tìnhnghĩa và hi vọng không thể bị tiêu diệt, con người muốn sống cho ra sống, và cái chất người thểhiện ở cách sống tình nghĩa và hi vọng Nhưng Kim Lân không phải là nhà văn lãng mạn Niềmvui của cụ Tứ vẫn cứ là niềm vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngã với miếng cháo cám
3/ Thông điệp của Kim Lân là một thông điệp mang ý nghĩa nhân văn Trong tiểu thuyết
nổi tiếng Thép đã tôi thế đấy, nhà văn Nga Nhicôlai Oxtrôpxki đã để cho nhân vật Paven
Coocsaghin ngẫm nghĩ: “Hãy biết sống cả những khi cuộc đời trở nên không thể chịu được nữa”
Vợ nhặt là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ đã “biết sống” như con người ngay
giữa thời túng đói quay quắt
Thông điệp này đã được Kim Lân chuyển hóa thành một thiên truyện ngắn xuất sắc vớicách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiếntác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn
5
Phân tích tâm trạng của bà cụ Tứ trong “ Vợ nhặt” của Kim Lân
Bà cụ Tứ vốn là một nông dân từng trải, trung hậu Cụ hiểu rõ hoàn cảnh của gia đìnhmình; Con trai mình trong những ngày tháng bị cái đói hành hạ ghê ghớm
Khi trông thấy người đàn bà ở trong nhà với con mình, bà cụ Tứ vô cùng ngạc nhiên
“Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà nhỉ? (…) Sao lại chào mình bằng u (…) Ai thế nhỉ? (…) Ô hay, thế là thế nào nhỉ?” Đến lúc biết được người đàn bà kia chính là vợ của con trai
mình, tâm trạng của bà cụ diễn biến khá phức tạp, phong phú
Trước hết, nghĩ đến cảnh túng thiếu, đói khát của gia đình mình cụ Tứ thấy tủi thân, tủiphận Cụ ý thức rất rõ lấy vợ cho con trai lẽ ra phải thế này, thế nọ; nhưng cái khó bó cái khônnên chỉ còn cách nghĩ ngợi tủi thân, tủi phận Rồi cụ thương con đẻ, thương đến cả con dâu Cụ
biết duyên cớ vì đâu người ta phải theo con mình (“Bà lão nhìn người đàn bà lòng đầy thương xót”, và cụ nói với vợ chồng Tràng “Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá”
Việc Tràng “nhặt” được vợ vừa là nỗi buồn rầu lo lắng, vừa là niềm vui mừng của bà lão
tội nghiệp này Mừng vì người con thô lậu, quê kệch đã có vợ Lo vì đúng lúc đói khát, chết chóc
này, liệu lấy gì mà nuôi nhau Tuy vậy, dẫu sao niềm vui vẫn nhiều hơn Bà lão “tươi tỉnh khác hẳn ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên Bà lão xăn xắn thu dọn quét tước nhà cửa” Đến bữa ăn, bà cụ Tứ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này Cụ cố giấu cái lo, động viên các con “nhà ta thì còn nghèo con ạ Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo
Trang 38nhau làm ăn Rồi ra may mà ông trời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì con cái chúng mày về sau”
Nhưng “nghĩ ngợi mãi”, “bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt chảy xuống ròng ròng” Bởi bà cụ nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út, nghĩ đến cuộc đời khổ cực của
mình, nghĩ đến tương lai của con trai và con dâu… và chẳng thể thoát ra khỏi không khí chếtchóc đang bủa vây xung quanh
Qua diễn biến tâm trạng của bà cụ Tứ Chúng ta có thể nhận thấy biệt tài phát hiện vàmiêu tả tâm lí một cách chân thật và sắc sảo của Kim Lân Điều này có tác dụng to lớn, khắc hoạ
rõ nét chủ đề của tác phẩm: cho dù phải sống trong một tình thế hết sức bi đát, bà cụ Tứ nói riêng
và những người lao động nói chung vẫn hướng tới tương lai, vẫn khao khát một mái ấm gia đình
11 VỢ CHỒNG A PHỦ
Tô Hoài
A Tác giả :
- Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, người Hà Nội, sinh năm 1920 Là một nhà văn có
nguồn sáng tạo to lớn Có trên 100 tác phẩm Trước cách mạng, nổi tiếng với truyện “Dế
mèn phiêu lưu ký” Sau năm 1945, có “Truyện Tây Bắc”, “Mười năm”, “Miền Tây”, “Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ”, “Tự truyện”…
- Sáng tác của Tô Hoài thể hiện vốn hiểu biết phong phú về đời sống và phong tục,chất tạo hình và chất thơ qua miêu tả và kể chuyện đầy thú vị Là một nhà văn viết truyện
về miền núi rất thành công
- Tô Hoài là nhà văn có nhiều đóng góp cho văn xuôi Việt Nam hiện đại
B Kiến thức cơ bản:
1 Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ :
- “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn tiêu biểu của văn xuôi chống Pháp về đề tài
miền núi Truyện là kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc của nhà văn(1952)
- Trích từ tập Truyện Tây Bắc (1952)
- Thông qua số phận của Mị và A Phủ, tác giả thể hiện tấm lòng yêu thương, trântrọng con người và ngợi ca ý nghĩa nhân đạo của sự nghiệp giải phóng con người thoát khỏitối tăm và áp bức
2 Tác phẩm đã miêu tả được những thân phận nô lệ dưới ách thống trị của bọn phong kiến miền núi (giá trị hiện thực):
a) Thông qua cuộc đời nhân vật Mị :
- Mị là nạn nhân của sự vùi dập về thể xác: (bị bóc lột sức lao động thậm tệ; bị đánhđập, bị trói và bỏ đói bất cứ lúc nào…)
- Mị là nạn nhân của sự vùi dập về tinh thần : (căn buồng Mị ở tối tăm, chỉ thông ra
thế giới bên ngoài qua một cửa sổ “lỗ vuông bằng bàn tay”; Mị sống “lùi lũi như con rùa
nuôi trong xó cửa”…)
b) Thông qua cuộc đời A Phủ :
- Là chàng trai khỏe mạnh, giỏi giang, con gái trong làng nhiều người mê
- Vì không chịu được sự bất công cũng như thái độ hống hách, cậy quyền thế của A
Sử - con trai thống lý Pá Tra, A Phủ đã đánh A Sử A Phủ bị bắt, phải vay nhà thống lý mộttrăm đồng bạc hoa xòe để nộp vạ cho làng và trở thành người ở trừ nợ
- Vì để hổ ăn mất một con bò, A Phủ bị thống lý Pá Tra trói đứng và bỏ đói đến gầnchết
-> Thân phận con người không bằng con vật
Trang 393 Tác phẩm miêu tả sức sống tiềm tàng của người dân miền núi (giá trị nhân đạo):
a) Qua nhân vật Mị :
- Dù bị áp chế về cả thể xác và tinh thần, tâm hồn Mị vẫn không hoàn toàn giá lạnh
Bên trong cái dáng lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa, Tô Hoài vẫn nhận ra một sức
sống tiềm tàng trong con người Mị mà khi có đủ điều kiện nó sẽ vùng lên để tìm lại cuộcsống đích thực cho mình
- Sức sống của nhân vật Mị được miêu tả trực tiếp trong tác phẩm
+ Trong lần định ăn nắm lá ngón tự tử : Mị định chết vì ý thức được cuộc sống tủinhục, vô nghĩa của mình
+ Trong đêm tình mùa xuân : Điều kiện có tác dụng trực tiếp cho việc biểu hiện sứcsống của Mị là không gian của đêm tình mùa xuân, hơi rượu và tiếng sáo Sức sống của Mịthể hiện trong cảm xúc, trong sự hồi tưởng và hành động Sức sống tiềm tàng thể hiện ngay
cả khi bị trói
+ Trong đêm cởi trói cho A Phủ : Từ sự đồng cảm với A Phủ (khi nhìn thấy haidòng nước mắt của A Phủ khi bị trói), Mị nhận ra gia đình thống lý Pá Tra độc ác thật, tróingười cho đến chết và Mị đã cắt dây mây cởi trói cho A Phủ
- Kết quả của sức sống tiềm tàng: Mị cởi trói cho A Phủ và cùng A Phủ trốn hỏiHồng Ngài đến với cuộc sống tự do
b) Qua nhân vật A Phủ :
- Nếu như trong phần đầu nhà văn chú ý miêu tả Mị thì ở phần sau, khi hai ngườichạy thoát khỏi Hồng Ngài và nên vợ nên chồng, nhà văn lại quan tâm miêu tả quá trìnhgiác ngộ cách mạng của A Phủ nhiều hơn
- Thoát khỏi gông cùm của bọn phong kiến, A Phủ lại đối đầu với bọn thực dân Dầndần, anh ý thức rõ hơn về mình và tội ác của thực dân Pháp Từ căm thù thực dân, A Phủ đãđến với A Châu, đến với cách mạng bằng một tấm lòng thành thật, trong sáng Và nhiềulúc chính anh là người nâng đỡ tinh thần cho Mị
- A Phủ dã khẳng định bản thân mình bằng chính hành động đấu tranh cách mạng
Trang 40- Là một cây bút có biệt tài trong việc tả cảnh vật, thiên nhiên Thiên nhiên trong tácphẩm sống động, có hồn, khêu gợi, góp phần đắc lực cho việc biểu hiện nội tâm nhân vật.
- Sử dụng thành thạo lời nửa trực tiếp, đó là lời kể của tác giả nhưng người đọc vẫn
cảm nhận như chính lời của nhân vật đang tự bộc lộ “Mị trẻ lắm Mị vẫn còn trẻ Mị muốn
đi chơi” , có nhiều chi tiết giàu chất thơ
C Kết luận:
- Truyện có giá trị nhân đạo sâu sắc : Phát hiện và ngợi ca sức sống tiềm tàng mãnh
liệt của con người Giá trị nhân đạo của “Vợ chồng A Phủ” gắn liền với đường lối cách
mạng và chính sách dân tộc của Đảng : Giải phóng cho những người lao động bị áp bức bóclột, đem đến cho họ một cuộc sống tốt đẹp hơn
- Qua hai nhân vật Mỵ và A Phủ, tác phẩm cho thấy : Xã hội phong kiến miền núi dù
có tàn bạo đến đâu cũng không giam hãm được khát vọng sống của con người
E CÂU HỎI THAM KHẢO
Đề 1: Phân tích nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài để thấy được giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm
1 Phân tích nhân vật:
-Mị trước khi làm dâu nhà thống lý: Cô gái người Mèo xinh đẹp, yêu đời, có tài thổisáo, khao khát yêu và đã được yêu
- Mị, con dâu gạt nợ nhà thống lý: Người đàn bà sống nhẫn nhục trong tăm tối
=>Danh nghĩa là con dâu song kì thực là nô lệ, Mị là nạn nhân của sự đầu độc, áp chế vềtinh thần
- Sức sống mãnh liệt của Mị:
+ Lần 1: Mới bị bắt về làm dâu=> định tìm đến cái chết vì không chấp nhận sống nôlệ
+ Lần 2: Trong đêm tình mùa xuân=> Mị muốn đi chơi
+ Lần 3: Chứng kiến cảnh A Phủ bị trói, Mị đã cắt dây cởi trói và chạy theo APhủ=> hành động bất ngờ, bột phát thể hiện tinh thần phản kháng và khát vọng hạnh phúc
đã chiến thắng
- Mị đến với cách mạng như là một tất yếu của quy luật có áp bức có đấu tranh, từđấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác
2 Giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện qua nhân vật Mị:
- Nhân đạo là thương người vì con người mà lên tiếng
- Câu chuyện đau buồn của Mị không phải là chuyện riêng của Mị mà tiêu biểu chongười phụ nữ miền núi trong chế độ phong kiến- thực dân
- Nhân vật Mị là một hình tượng nghệ thuật đẹp tiêu biểu cho khát vọng sống khátvọng hạnh phúc của người dân miền núi và hành trình tất yếu tìm đến cách mạng của họ
=> Truyện mang giá trị nhân đạo sâu sắc: xót xa với những số phận bất hạnh, ngợi
ca những tâm hồn tuổi trẻ yêu đời trong sáng, bất bình với những tội ác man rợ của bọnquan lại miền núi và đồng tình với khát vọng giải phóng của người dân miền núi với chế độthực dân phong kiến xưa
Đề 2: Phân tích Nhân vật MỴ :
a/ Là cô gái trẻ , đẹp , tài hoa :
Thổi sáo giỏi, thổi kèn cũng hay như thổi sáo
Có bao nhiêu người mê, ngày đêm đi theo Mỵ “đứng nhẵn vách buồng nhà Mỵ”
Mỵ có đủ phẩm chất được sống hạnh phúc Tâm hồn Mỵ đầy ắp hạnh phúc , ước mơ
Mất hết cảm giác, thậm chí mất hết ý thức sống, sống mà như đã chết“lúc nào mặt cũng
buồn rười rượi”.