TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA HÁO HỌC --- PHẠM THỊ THÚY HẰNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ ”- SGK HÓA HỌC 9 KHÓA LUẬN TỐT N
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC -
PHẠM THỊ THÚY HẰNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC LOẠI HỢP CHẤT
VÔ CƠ ”- SGK HÓA HỌC 9
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học hóa học
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÁO HỌC -
PHẠM THỊ THÚY HẰNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC LOẠI HỢP CHẤT
VÔ CƠ ”- SGK HÓA HỌC 9
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Hóa học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS ĐÀO THỊ VIỆT ANH
HÀ NỘI – 2018
Trang 3Trong quá trình nghiên cứu và làm đề tài chắc không tránh khỏi những thiếu sót, do vậy tôi rất mong nhận được những nhận xét, góp ý của các Thầy (Cô) giáo và các bạn để đề tài này càng hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Phạm Thị Thúy Hằng
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cái mới của đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.2 Tổng quan về môi trường 5
1.2.1 Môi trường và chức năng chủ yếu của môi trường 5
1.2.1.1.Môi trường 5
1.2.1.2 Các chức năng chủ yếu của môi trường 7
1.2.2 Ô nhiễm môi trường 9
1.2.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường – Suy thoái môi trường 9
1.2.2.2 Các dạng ô nhiễm môi trường 9
1.3 Giáo dục bảo vệ môi trường 15
1.3.1 Quan niệm về giáo dục bảo vệ môi trường 15
1.3.2 Vai trò của môn Hóa học trong việc GDBVMT 16
1.3.3 Một số phương thức đưa GDBVMT vào dạy học Hóa học 16
1.3.3.1 Tích hợp 17
1.3.3.2 Lồng ghép 17
1.4 Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học sử dụng trong giáo dục BVMT qua môn hóa học 18
Trang 61.4.1 Một số phương pháp dạy học 18
1.4.1.1 Phương pháp dạy học trực quan 18
1.4.1.2 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề 21
1.4.1.3 Phương pháp dạy học theo nhóm 22
1.4.2 Một số kỹ thuật dạy học tích cực 23
1.4.2.1 Kĩ thuật sơ đồ tư duy 23
1.4.2.2 Kỹ thuật thu nhận thông tin phản hồi 24
1.4.2.3 Kỹ thuật khăn phủ bàn 25
1.5 Thực trạng GDBVMT thông qua dạy học Hóa học ở trường THCS hiện nay 25
1.5.1 Mục đích điều tra 25
1.5.2 Cách thức điều tra 26
1.5.3 Kết quả điều tra 26
CHƯƠNG 2: TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ” – SGK HÓA HỌC 9 28
2.1 Tích hợp nội dung GDBVMT trong dạy học Hóa học ở trường THCS 28
2.1.1 Khả năng tích hợp GDBVMT trong dạy học Hóa học ở trường THCS 28 2.1.2 Mục tiêu GDBVMT thông qua môn Hóa học ở trường THCS 28
2.1.2.1 Kiến thức 28
2.1.2.2 Kĩ năng 30
2.1.2.3.Thái độ 30
2.2 Mục tiêu, cấu trúc nội dung trong chương “Các loại hợp chất vô cơ” – SGK hóa học 9 30
2.2.1 Mục tiêu của chương “Các loại hợp chất vô cơ” 30 2.2.2 Cấu trúc nội dung của chương “Các loại hợp chất vô cơ” Hóa học 9 31
Trang 72.2.3 Một số điểm cần lưu ý về nội dung kiến thức 32
2.3 Nội dung GDBVMT trong chương “Các loại hợp chất vô cơ” – SGK Hóa học 9 33
2.4 Thiết kế kế hoạch bài dạy có tích hợp nội dung GDBVMT 36
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65
3.1 Mục đích thực nghiệm 65
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 65
3.3 Nội dung thực nghiệm 65
3.4 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 65
3.4.1 Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm 65
3.4.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 66
3.4.3 Tiến hành thực nghiệm 66
3.4.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 66
3.4.4.1 Về mặt định tính 66
3.4.4.2 Về mặt định lượng 67
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
PHỤ LỤC 78
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Kết quả bài kiểm tra chất lượng 68 Bảng 3.2 Phân loại kết quả kiểm tra của 2 bài kiểm tra 69 Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần số lũy tích bài kiểm tra số 1
70 Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần số tích lũy bài kiểm tra số 2
71 Bảng 3.5 Mô tả và so sánh dữ liệu kết quả 2 bài kiểm tra 72
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Biểu đồ tần suất biểu diễn phân loại kết quả điểm bài kiểm tra số 1
69 Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra số 1 70 Hình 3.3 Biểu đồ tần suất biểu diễn phân loại kết quả điểm bài kiểm tra số 2
71 Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích kết quả bài kiểm tra số 2 72
Trang 9và các nước trên thế giới, bởi lẽ đó là việc làm để bảo tồn và phát triển bền
vững “cái nôi của nhân loại ”
GDMT trong nhà trường lại càng có ý nghĩa quan trọng, được xem là một trong những biện pháp hàng đầu để bảo vệ môi trường (BVMT ) có hiệu quả GDMT sẽ giúp con người có nhận thức đúng đắn về môi trường, về việc khai thác sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và có ý thức thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ môi trường Nhà trường là nơi đào tạo thế hệ trẻ những người chủ nhân tương lai của đất nước, những người làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sau này Nếu họ có đầy đủ những nhận thức về BVMT, thì từ khi đang học trên ghế nhà trường và cho đến khi ra đời, dù họ làm việc gì, ở bất cứ nơi đâu, bất kì cương vị nào hoạt động nào, cũng đều có thể thực hiện nhiệm vụ BVMT một cách có hiệu quả
Ở nước ta GDMT đã được đưa vào chương trình đào tạo của một số trường đại học và trường Phổ thông ở các môn: Địa lý, Sinh học, Vật lí…là những môn mà ta có thể đưa nội dung GDMT vào trong chương trình dạy học Tuy nhiên việc áp dụng vẫn chưa được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng và đầy đủ Vì vậy, những hiểu biết về môi trường (MT) của học sinh còn ít, ý thức BVMT còn chưa trở thành thói quen
Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, đóng góp một phần rất quan trọng vào việc giải thích các hiện tượng trong thực tế Bên cạnh những kiến thức từ nội dung bài học, các em còn có thể tích lũy được các kiến thức về
Trang 102
môi trường từ đó hình thành ý thức bảo vệ, giữ gìn Tuy nhiên, trong thực tế cho thấy việc giảng dạy Hóa học còn mang nặng tính lí thuyết, thụ động, và chưa phù hợp với yêu cầu xã hội Chính vì vậy việc tích hợp nội dung GDMT vào môn học này vẫn chưa được sâu sắc và triệt để Là một sinh viên chuyên ngành sư phạm Hóa học, đứng trước vấn đề MT như hiện nay, tôi luôn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để nâng cao hiệu quả của việc tích hợp GDMT trong bài giảng một cách hiệu quả.Chính từ những lí do trên đã thôi thúc tôi lựa
chọn đề tài: Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học chương
“Các loại hợp chất vô cơ ”- SGK Hóa học 9 với mong muốn góp phần khai
thác tốt hơn việc tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) trong dạy học Hóa học
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu về việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào các bài giảng Hóa Học ở trung học cơ sở (THCS), giúp cho HS hiểu rõ được mối quan hệ giữa kiến thức hóa học với thực tiễn với môi trường Từ đó hình
thành ở học sinh ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường sống
3 Đối tƣợng nghiên cứu
- Phần nội dung kiến thức chương “Các loại hợp chất vô cơ”- SGK Hóa
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục môi trường
- Nghiên cứu về các vấn đề cơ bản liên quan đến việc tích hợp nội dung giáo dục môi trường trong dạy học hóa học ở THCS
Trang 113
- Khảo sát thực trạng về vấn đề tích hợp GDMT thông qua dạy học môn hóa học
- Xây dựng hệ thống kiến thức tìm ra phương pháp và tích hợp nội
dung giáo dục môi trường trong chương “Các loại hợp chất vô cơ” – SGK
hóa học 9
- Thiết kế một số bài giảng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm
6 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được một số chủ đề tích hợp GDMT và tổ chức dạy học một cách hợp lí trong dạy học Hóa học chương “Các loại hợp chất vô cơ” thì
sẽ giúp học sinh hiểu rõ vai trò của hóa học trong đời sống, trong sản xuất, ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường THCS
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: đọc tài liệu, phân tích, khái quát
và tổng hợp kiến thức Từ đó chọn lọc kiến thức về giáo dục môi trường có
liên quan mật thiết đến hóa học làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng việc tích hợp
giáo dục môi trường trong dạy học hóa học ở THCS
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành dạy một số bài đã
thiết kế có tích hợp giáo dục môi trường
- Phương pháp chuyên gia: Lập phiếu hỏi ý kiến chuyên gia để hoàn
thiện đề tài
- Phương pháp nghiên cứu toán học: Sử dụng toán học để xử lí các số
liệu thực nghiệm
8 Cái mới của đề tài
Thiết kế được các chủ đề tích hợp GDMT trong dạy học Hóa học chương I
“Các loại hợp chất vô cơ” – SGK Hóa Học 9
Trang 124
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN DỀ TÍCH HỢP GIÁO DỤC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay, vấn đề môi trường đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở nước ta Giáo dục môi trường được bắt đầu nghiên cứu từ những năm cuối của thập niên 70, còn giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông được thực hiện vào đầu năm 1981 với một số nội dung của sách giáo khoa
được cải tiến
Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học nói chung và trong dạy học hóa học nói riêng là một trong những nội dung từ lâu đã được Bộ giáo dục hết sức chú trọng Đã có một số công trình nghiên cứu về tích hợp giáo dục môi trường ở các cấp học trong nhiều môn học như Địa lí, Hóa học,
Sinh học, Tự nhiên xã hội…
Có thể điểm qua một vài nghiên cứu về dạy học tích hợp ở Việt Nam như sau:
Tác giả Trần Thị Tú Anh nghiên cứu “Tích hợp các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong dạy học môn hóa học lớp 12 trung học phổ thông” Tác giả đã xây dựng được các bài học gắn với các vấn đề xã hội và môi trường bằng cách tích hợp một số môn học ( Sinh học, Địa lí, Giáo dục công dân…)[1]
Tác giả Hoàng Thị Tuyết phân tích lí thuyết tích hợp, chương trình giáo dục tích hợp và ứng dụng lí thuyết này ở Việt Nam trong việc xây dựng chương trình phổ thông, đặc biệt là xây dựng chương trình tiểu học sau năm 2015.[6]
Trang 13Sinh viên Vũ Khánh Duyên K37C – Sư phạm Hóa học năm 2016 đã bảo vệ thành công khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học hóa học phần phi kim lớp 10 nâng cao”
Các đề tài trên đã đề cập đến vấn đề dạy học có tích hợp giáo dục bảo
vệ môi trường trong dạy học hóa học phổ thông Tuy nhiên có rất ít đề tài nghiên cứu về tích hợp GDBVMT ở THCS Chính vì vậy, tôi triển khai nghiên cứu đề tài “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học chương “Các loại hợp chất vô cơ” giúp học sinh có những kiến thức về môi trường, bảo vệ môi trường
1.2 Tổng quan về môi trường
1.2.1 Môi trường và chức năng chủ yếu của môi trường
1.2.1.1.Môi trường
Điều 3 – Luật bảo vệ môi trường 2005 sử dụng các định nghĩa [9]
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật
Trang 146
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế và cải thiện môi trường; khai thác sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học
- Thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các
hình thái vật chất khác
Môi trường sống của con người được phân thành:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lí, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng ít nhiều cũng chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động và thực vật, đất và nước….Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc con người thêm phong phú
- Môi trường xã hội là các mối quan hệ giữa con người với con người
Đó là các luật lệ, thể chế, cam kết, qui định ở các cấp khác nhau, các phong tục tập quán… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
- Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên hoặc biến đổi theo, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu
đô thị, công viên…nhằm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống và lao động sản xuất của con người Các dạng tài nguyên và môi trường phản ánh các mối quan hệ của con người với môi trường sống trên các mặt:
+ Các mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên
Trang 157
+ Các mối quan hệ giữu con người cới con người
+ Các mối quan hệ giữa con người với kinh tế
+ Các mối quan hệ giữa con người với các thiết chế xã hội
Môi trường có thể tác động và ảnh hưởng lên con người như một tổng thể các yếu tố, trong đó các thành tố hòa quyện vào nhau tạo nên những hợp lực, những tác động tổng hợp Điều này cần được chú ý đầy đủ trong khi phân tích các mối quan hệ giữa môi trường với quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội
1.2.1.2 Các chức năng chủ yếu của môi trường
Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi một người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống như: nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, kho tàng, bến cảng…Trung bình mỗi ngày mỗi người đều cần khoảng 4m3 không khí sạch để hít thở; 2,5 lít nước
để uống, một lượng lương thực thực phẩm tương ứng với 2000 – 2400 calo Như vậy, chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian
thích hợp cho mỗi con người Không gian sống của con người là Trái đất
Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời
sống và sản xuất của con người
Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua nhiều giai đoạn Bắt đầu
từ khi con người biết canh tác cách đây khoảng 14-15 nghìn năm, vào thời kỳ
đồ đá giữa cho đến khi phát minh ra máy hơi nước vào thế kỷ thứ XVII, đánh dấu sự khởi đầu của công cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong mọi lĩnh vực
Nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên
về cả số lượng, chất lượng và mức độ phức tạp theo trình độ phát triển của xã hội Chức năng này của môi trường còn gọi là nhóm chức năng sản xuất tự nhiên gồm:
Trang 168
- Rừng tự nhiên: có chức năng cung cấp nước, bảo tồn tính đa dạng sinh học và độ phì nhiêu của đất, nguồn gỗ củi, dược liệu và cải thiện điều kiện sinh thái
- Các thủy vực: có chức năng cung cấp nước, dinh dưỡng, nơi vui chơi giải trí và các nguồn hải sản
- Động và thực vật: cung cấp lương thực thực phẩm và các nguồn gen quý hiếm
- Các loại quặng, dầu mỏ: cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp…
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
trong cuộc sống và hoạt động sản xuất
Trong quá trình sống, con người luôn đào thải ra các chất thải vào tự nhiên và quay trở lại môi trường Tại đây, các chất thải dưới tác động của vi sinh vật và các yếu tố môi trường khác sẽ bị phân hủy, biến đổi từ phức tạp thành đơn giản và tham gia vào hàng loạt quá trình sinh địa hóa phức tạp Có thể phân loại chi tiết chức năng này thành các loại sau:
- Chức năng biến đổi lí – hóa học: pha loãng, phân hủy hóa học nhờ ánh sáng, hấp thụ, sự tách chiết các chất thải và độc tố
- Chức năng biến đổi sinh hóa: sự hấp thụ các chất dư thừa, chu trình nito và cacbon, khử các chất độc bằng con đường sinh hóa
- Chức năng biến đổi sinh học: kháng hóa các chất hữu cơ, mùn hóa, nitrat hóa và phản ứng nitrat hóa…
Chức năng lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Môi trường trái đất được coi là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bởi vì, chính môi trường trái đất là nơi:
Trang 179
- Cung cấp nguồn cho việc ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiêu hóa của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hóa của loài người
- Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất tín hiệu, báo động sớm các hiểm họa đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như phản ứng sinh lí của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến tự nhiên và các hiện tượng tai biến tự nhiên, đặc biệt như bão, động đất, núi lửa…
- Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp, cảnh quan có giá trị thẩm mĩ để thưởng ngoạn, tôn giáo và các văn hóa khác.[11]
1.2.2 Ô nhiễm môi trường
1.2.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường – Suy thoái môi trường
Theo điều 3 – Luật bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa [9]
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật Thông thường tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực giới hạn cho phép được quy định dùng làm căn cứ để quản lí môi trường
- Suy thoái môi trường là một quá trình suy giảm mà kết quả của nó đã làm thay đổi về chất lượng và số lượng thành phần môi trường và làm suy giảm đa dạng sinh học Quá trình suy thoái môi trường gây tác hại cho đời sống sinh vật, con người và thiên nhiên
1.2.2.2 Các dạng ô nhiễm môi trường
a) Ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng trong thành phần khí quyển gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người
và các sinh vật, gây mùi khó chịu hoặc làm giảm tầm nhìn
Chất gây ô nhiễm không khí có thể có nguồn gốc trong tự nhiên hoặc
do con người gây ra
Trang 18là khói quang hóa Thành phần của khói quang hóa rất phức tạp và có tính độc cao tùy thuộc vào thành phần của chúng có khả năng gây sạm lá giòn lá mất màu lá hạn chế quá trình trao đổi chất của thực vật, gây cay, đau mắt,đau đầu, ho,mệt mỏi, gây bệnh phổi,… thậm chí gây tử vong đối với người
- SO2 có nguồn gốc từ các quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch có chứa lưu huỳnh và các quá trình sản xuất, sử dụng hợp chất có lưu huỳnh Đây là một chất khí không màu, có mùi sốc, cay gây phản ứng cáu giận ngạt thở kích thích niêm mạc và đường hô hấp,ở nồng độ cao gây bỏng tử vong là khí gây mưa axit là một hợp chất có mùi thối nguồn gốc từ phân hủy yếm khí chất hữu cơ
- O3 có nhiều trong tầng đối lưu là chất khí gây ô nhiễm Nồng độ ozon
từ 0,3-8ppm gây bất lợi cho sức khỏe con người ở nồng độ 0,2ppm ozon gây
Trang 1911
nguy hại cho cà chua thuốc lá đậu Hà Lan và nhiều cây trồng khác Ozon có tác động bất lợi đến các vật liệu sợi đặc biệt là sợi bông,nilon, sợi nhân tạo …
- Hyđrocacbon gây ô nhiễm không khí đáng kể nhất là và C6H6
CH4 phát sinh từ các quá trình sinh học biến đổi chất hữu cơ là một chất gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn cacbonic 30 lần trong không khí có nguồn gốc từ các hoạt động công nghiệp sử dụng xăng Nó có thể tạo với không khí thành một hỗn hợp dễ nổ, gây độc qua đường hô hấp, tiêu hóa, qua da , nồng
độ > 60mg/l gây ngộ độc chết người
- CFC là những hợp chất tổng hợp dùng nhiều trong kỹ nghệ làm lạnh, bọt xốp cách nhiệt, dung môi chất mang …có thể tồn tại ở dạng sol khí và không sol khí CFC gây tổn thương tầng ozon tấm lá chắn tia cực tím bảo vệ Trái Đất hiện nay
- Khói quang hóa thường xuất hiện ở các khu vực đô thị bao gồm các dạng sương khói trước hết là NO2 và các hơi hyđrocacbon bị biến đổi do các phản ứng quang hóa ở tầng thấp của khí quyển
* Bụi và sol khí
- Bụi bao gồm các hạt khoáng vô cơ không độc các hạt hữu cơ như phấn hoa các chất rắn lơ lửng có thể có tính độc như bụi chỉ kim loại nặng … bụi sinh ra từ nhiều quá trình tự nhiên và nhân tạo khác nhau Bụi lơ lửng có thể di chuyển qua hàng ngàn kilomet xuyên qua biển và đại dương
Bụi phóng xạ có nguồn gốc từ các vụ nổ hạt nhân lắng đọng xuống đất tích lũy trong sinh vật và các chuỗi thức ăn xâm nhập vào nước và từ đó gây hại cho con người
- Sol khí là những hạt chất lỏng hoặc rắn cực nhỏ như sương mù , khói ,
có thể mang điện tích tồn tại trong trạng thái lơ lửng rất khó lắng đọng sol khí và bụi lơ lửng có tác dụng hấp thụ và khuếch tán ánh sáng mặt trời, làm giảm độ trong suốt của khí quyển giảm tầm nhìn , gây mất thẩm mĩ, vệ sinh
Trang 2012
* Tiếng ồn
Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau được sắp xếp một cách không có trật tự, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, cản trở con người làm việc và nghỉ ngơi, ức chế hoạt động hệ thần kinh trung ương, gây điếc,…
Tiếng ồn ở mức 40-45 dB không gây hệ quả xấu; trên 50dB trong nhà ở
có thể gây rối loạn một số quá trình thần kinh ở vỏ não; 58-63 dB làm giảm sức nghe; > 80dB làm giảm sự chú ý tăng cường các quá trình ức chế thần kinh trung ương gây chậm mạch giảm huyết áp tâm thu và tăng huyết áp tâm trương, không được phép ở những nơi thường xuyên có người Những âm thanh rất mạnh và đột ngột như tiếng bom, sung lớn , sấm sét cường độ có thể lên tới 150dB hoặc hơn , gây rách màng nhĩ xô đẩy lệch vị trí các xương nhỏ trong tai giữa, làm tổn thương , chảy máu tai gây đau nhức dội
* Các hoạt động gây ô nhiễm không khí:
- Tự nhiên: Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng Tổng hợp các yếu tố gây ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn phân bố tương đối đồng đều trên toàn thế giới, không tập trung trong một vùng Trong quá trình phát triển, con người đã thích nghi với các nguồn này
- Công nghiệp: Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của con người Các quá trình gây ô nhiễm là quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu, khí đốt tạo ra: CO, CO2, NOx, SO2, các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội than, bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ trên dây chuyền công nghệ, các quá trình vận chuyển các hóa chất bay hơi, bụi
- Giao thông vận tải: Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và khu đông dân cư Các quá trình tạo ra các khí gây ô nhiễm là quá trình đốt nhiên liệu động cơ: CO, CO2, NOx, SO2, Pb, CH4 Các bụi đất đá cuốn theo trong quá trình di chuyển Nếu xét trên từng phương tiện thì
Trang 21b) Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm môi trường nước: là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước, không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người, sinh vật
Nguồn gây ô nhiễm nước có thể do tự nhiên hoặc con người gây ra
- Nguồn tự nhiên:
+ Nhiều quá trình xảy ra trong tự nhiên có khả năng gây ô nhiễm nước như hoạt động núi lửa, động đất, gió, nước sẽ hòa tan, rửa trôi, xói mòn và đưa các chất vào trong các thủy vực….làm thay đổi tính chất ban đầu của nước
+ Thiên tai gây nên thảm họa cho thế giới tự nhiên nói chung và cho sự sống nói riêng cũng đồng thời gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước
- Sự ô nhiễm nước nhân tạo chủ yếu do xả nước thải từ khu dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, phân bón – thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, công nghiệp… vào môi trường nước
- Sự ô nhiễm nguồn nước gây ra bởi các tác nhân hóa học và sinh học : + Tác nhân hóa học gây ô nhiễm môi trường nước gồm các kim loại nặng (Hg, Cd, Pb, Zn,…), các anion, thuốc bảo vệ thực vật…
+ Tác nhân sinh học là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, kí trùng gây bệnh tả, lị, thương hàn, sốt rét, viêm gan B…
Ngoài các nguồn nước ao, hồ, sông…(nước mặt ), nguồn nước ngầm bị
ô nhiễm cũng gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống con người Các
Trang 22Ô nhiễm đất có thể do tự nhiên hay nhân tạo:
+ Chất thải sinh hoạt:
Rác và phân xả vào môi trường đất: rác gồm cành lá cây, rau, thức ăn thừa, vải vụn, gạch, vữa…
Nước thải sinh hoạt theo cống rãnh đổ ra mương và có thể đổ ra đồng ruộng kéo theo phân rác và làm ô nhiễm đất
+ Chất thải nông nghiệp:
Phân và nước tiểu động vật
Trang 2315
Sử dụng dư thừa các sản phẩm hóa học như phân bón hóa học, chất kích thích sinh trưởng, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, tồn tại lâu trong đất, tích tụ sinh học, thay đổi cân bằng sinh học và cây trồng
Lan truyền từ môi trường đã ô nhiễm (không khí, nước), từ xác bã thực, động vật.[4]
1.3 Giáo dục bảo vệ môi trường
1.3.1 Quan niệm về giáo dục bảo vệ môi trường
Tại Hội nghị quốc tế về GDMT do IUCN/ UNESCO tổ chức tại Nevada (Mỹ), năm 1940, các quốc gia tham dự Hội nghị đã thống nhất khái niệm: “Giáo dục môi trường ”
Theo dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa [8]: “GDBVMT là một quá trình thường xuyên qua đó con người nhận thức được môi trường của họ
và thu được kiến thức, giá trị, kĩ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”
Tại hội nghị quốc tế về giáo dục bảo vệ môi trường của Liên hợp quốc
tổ chức tại Tbilisi năm 1997 đã xác định GDBVMT có mục đích: “Làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, vật lí, hóa học, kinh tế, xã hội… đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ, kĩ năng thực hành để học tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về môi trường và quản lí chất lượng môi trường”
Luật bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa [9]: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường;
Trang 2416
khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác và
sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”
1.3.2 Vai trò của môn Hóa học trong việc GDBVMT
Môi trường hiện tại đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là yếu tố mang tính chất tự nhiên như là đất, nước, không khí, hệ động thực vật Tình trạng môi trường thay đổi và bị ô nhiễm đang diễn ra trên phạm
vi mỗi quốc gia cũng như trên toàn cầu Chưa bao giờ môi trường bị ô nhiễm nặng như bây giờ, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nóng hổi trên toàn cầu Chính vì vậy, việc giáo dục bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ thiên nhiên, tài nguyên đa dạng sinh học nói riêng, là vấn đề cần thiết, cấp bách và bắt buộc khi giảng dạy trong trường phổ thông, đặc biệt với bộ môn Hóa học thì đây là vấn đề hết sức cần thiết Vì nó cung cấp cho học sinh những kiến thức
cơ bản về môi trường, sự ô nhiễm môi trường…, tăng cường sự hiểu biết về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với tự nhiên trong sinh hoạt và lao động sản xuất, góp phần hình thành ở học sinh ý thức và đạo đức mới đối với môi trường, có thái độ và hành động đúng đắn để bảo vệ môi trường Vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh là việc làm có tác dụng rộng
1.3.3 Một số phương thức đưa GDBVMT vào dạy học Hóa học
GDBVMT là giáo dục tổng thể nhằm trang bị những kiến thức về môi trường cho học sinh thông qua môn Hóa học sa cho phù hợp với từng đối tường, từng cấp học Việc đưa kiến thức GDBVMT vào môn Hóa học ở trong
Trang 25- Việc kết hợp hài hòa hợp lí giữa nội dung bài giảng và GDBVMT không chỉ giúp cung cấp kiến thức mà còn giúp bài giảng trở nên sinh động, hấp dẫn, gây hứng thú
- Quá trình khai thác các nội dung để tích hợp GDBVMT trong dạy học cần đảm bảo 3 nguyên tắc cơ bản sau:
+ Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, không biến bài học của bộ môn thành bài học giáo dục BVMT
+ Khai thác nội dung GDBVMT có chọn lọc, có tính tập trung vào chương, mục nhất định
+ Phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức của HS, các kinh nghiệm thực tế các em đã có, vận dụng tối đa mọi khả năng cho HS tiếp xúc trực tiếp với môi trường.[8]
Ví dụ: Khi giảng dạy bài 2: Một số oxit quan trọng – Lưu huỳnh dioxit ngoài những tính chất hóa học của lưu huỳnh dioxit chúng ta cần khai thác được kiến thức môi trường có liên quan như SO2 là chất khí độc, gây ô nhiễm không khí, là nguyên nhân trực tiếp gây hiện tượng mưa axit ….Từ đó giúp
HS có ý thức sử dụng an toàn các hóa chất khi làm khí nghiệm, xử lí khí SO2
trước khi thải ra môi trường
1.3.3.2 Lồng ghép
Trang 2618
Lồng ghép là thể hiện sự lắp ghép nội dung bài học về mặt cấu trúc để
có thể đưa vào bài học một mục, một đoạn, một số câu có nội dung GDBVMT
Hình thức lồng ghép có ba mức độ: lồng ghép toàn bộ, lồng ghép một hoặc nhiều bộ phận, lồng ghép liên hệ mở rộng bài học Tùy thuộc điều kiện, mục tiêu bài học, cấu trúc nội dung bài học để có thể lựa chọn hình thức lồng ghép phù hợp để đem lại hiệu quả giáo dục cao nhất.[8]
Ví dụ: Khi giảng dạy bài 2: Một số oxit quan trọng – Lưu huỳnh dioxit
có thể lồng ghép thêm nguyên nhân và tác hại của mưa axit …
1.4 Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học sử dụng trong giáo dục BVMT qua môn hóa học
PPDH trực quan được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trình bày:
- Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, tranh, hình vẽ trên bảng…
- Trình bày thường gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, những thiết
bị kĩ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức - học tập của học sinh, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn Thông qua
sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà
Trang 27- GV trình bày các nội dung trong lược đồ, sơ đồ, bản đồ, tiến hành làm thí nghiệm, trình chiếu các thiết bị kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh,
- GV yêu cầu một số học sinh trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh
- Từ những chi tiết, thông tin học sinh thu được từ phương tiện trực quan, giáo viên nêu câu hỏi yêu cầu học sinh rút ra kết luận khái quát về vấn
đề mà phương tiện trực quan cần chuyển tải
- Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm
Trang 2820
lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng,
tư duy và ngôn ngữ của học sinh
Một số lưu ý
Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học cần chú ý các nguyên tắc sau:
- Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để lựa chọn
đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống
đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng bài học
- Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan
- Phải đảm bảo được sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của học sinh
- Phát huy tính tích cực của học sinh khi sử dụng đồ dùng trực quan
- Đảm bảo kết hợp lời nói với việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của học sinh khi xây dựng và sử dụng
đồ dùng trực quan (đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, miêu tả hiện vật, )
- Tùy theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có các cách sử dụng khác nhau Loại đồ dùng trực quan treo tường được sử dụng
Trang 2921
nhiều nhất trong dạy học hiện nay là vật mẫu, bản đồ, sơ đồ, đồ thị, bảng niên biểu, Trước khi sử dụng chúng cần chuẩn bị thật kĩ (nắm chắc nội dung, ý nghĩa của từng loại phục vụ cho nội dung nào của giờ học, )
- Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lý để có thể khai thác tối đa kiến thức từ các đồ dùng trực quan Cần chuẩn bị câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi dẫn dắt học sinh quan sát và tự khai thác kiến thức.[16]
1.4.1.2 Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Bản chất
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề sau đây gọi là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề , kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề
Quy trình thực hiện
- Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống
- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra
- Liệt kê các cách giải quyết có thể có
- Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị)
- So sánh kết quả các cách giải quyết
- Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất
- Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn
- Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác
Trang 3022
- Vấn đề có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS
- Vấn đề phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho
HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề
- Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề cần chú ý:
+ Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề hoặc các vấn đề khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động
+ HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề
+ Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau.[15]
1.4.1.3 Phương pháp dạy học theo nhóm
Trang 3123
- Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ
- Chuẩn bị báo cáo kết quả
Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận một
nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung
Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới.[15]
1.4.2 Một số kỹ thuật dạy học tích cực
1.4.2.1 Kĩ thuật sơ đồ tư duy
- Khái niệm: Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là phương pháp dễ nhất đề chuyền tải thông tin về bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nó là một phương tiện ghi chép đầy đủ, sáng tạo và rất hiệu quả nhằm sắp xếp ý nghĩ
- Cách thực hiện:
+ Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề + Từ chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng chữ in hoa Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm Chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh
Trang 3224
+ Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường
+ Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
- Ứng dụng: Sơ đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
+ Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề
+ Các hướng tư duy được để mở ngay từ đầu
+ Các mối quan hệ của các nội dung trong chủ đề trở nên rõ ràng
+ Nội dung luôn có thể bổ sung, phát triển, sắp xếp lại
+ Học sinh được luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng.[7]
1.4.2.2 Kỹ thuật thu nhận thông tin phản hồi
- Khái niệm: Kĩ thuật này hỗ trợ GV và HS thực hiện khâu đánh giá quá trình trong suốt quá trình dạy học Nó giúp GV có thể hỗ trợ HS khi cần thiết, giúp HS tự đánh giá sự tiến bộ của bản thân và tiến độ làm việc của nhóm mình để điều chỉnh các hoạt động kịp thời, hợp lí
- Quy tắc trong việc đưa thông tin phản hồi:
+ Diễn đạt thông tin một cách đơn giản và có trình tự;
+ Cố gắng hiểu được những suy tư, tình cảm (không vội vã);
+ Tìm hiểu các vấn đề cũng như nguyên nhân của chúng;
+ Giải thích những quan điểm không đồng nhất;
+ Chấp nhận cách thức đánh giá của người khác;
Trang 33+ Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực
+ Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS
+ Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
- Cách thức tiến hành:
+ Hoạt động theo nhóm (4 người / nhóm) (có thể nhiều người hơn) + Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa
+ Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề, )
+ Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề ) Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút
- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận
Trang 3426
- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về việc học khi được
tích hợp các kiến thức có liên quan đến môi trường vào trong môn học
- Việc chuẩn bị cho các tiết học có tích hợp, lồng ghép
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi nghiên cứu, tìm hiểu và học tập theo phương pháp dạy học tích hợp
- Tìm hiểu nhận thức của HS về việc tự học, tự nghiên cứu
- Tìm hiểu về vấn đề sử dụng thời gian và phương pháp học tập
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi học và các yếu tố tác động tới hiệu quả của việc tự học
b Về phía giáo viên
- Tìm hiểu về tình hình xây dựng các nội dung dạy học tích hợp của GV
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của dạy học tích hợp trong dạy học hóa học
- Tìm hiểu tình hình dạy học hóa học ở trường THCS: Mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy học tích hợp
- Tìm hiểu biện pháp xây dựng và sử dụng việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực của bộ môn
- Điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến với 212 HS tại 3 trường: THCS Khánh Trung (64HS), THCS Khánh Công (70HS), THCS Khánh Thành (78HS) với mẫu 8 câu hỏi được thiết kế ở phụ lục 1
1.5.3 Kết quả điều tra
Trang 3527
- Điều tra thăm dò ý kiến của giáo viên thu được kết quả:
+ 40,35% số GV trường THCS Khánh Trung đã thực hiện dạy học theo tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường và thu được kết quả tương đối tốt, học sinh cảm thấy hứng thú với bài học hơn, tích cực học tập hơn
+ 35,67% số GV trường THCS Khánh Công đã áp dụng dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, nhận thấy chất lượng bài học cao hơn, học sinh tích cực hơn
+ 42,5% số giáo viên trường THCS Khánh Thành áp dụng dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường, một số GV khác còn ngại đổi mới hay chưa nắm rõ về dạy học tích hợp
- Điều tra thăm dò ý kiến học sinh
90.87% HS trường THCS Khánh Trung, 86.76% HS trường THCS Khánh Công cảm thấy hứng thú với các tiết dạy tích hợp giáo dục môi trường
và làm các bài tập mang tính chất thực tế 88,62% HS trường THCS Khánh Thành cảm thấy thích học với phương pháp dạy học truyền thống
Qua điều tra thực trạng chúng tôi thấy rằng, có nhiều giáo viên đã chú trọng đến vấn đề tích hợp GDMT trong giảng dạy hóa học, tuy nhiên với tần
số tiết dạy tích hợp GDBVMT còn rất thấp Nhiều GV khi được hỏi đã rất hứng thú với việc tích hợp GDBVMT cho HS nhưng tài liệu tham khảo còn hạn chế và không có thời gian Mặt khác, các em HS cũng rất mong muốn GV tăng cường tích hợp các nội dung GDBVMT đề bài học trở nên sinh động và
Trang 3628
CHƯƠNG 2: TÍCH HỢP NỘI DUNG GIÁO DỤC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CÁC LOẠI
HỢP CHẤT VÔ CƠ” – SGK HÓA HỌC 9
2.1 Tích hợp nội dung GDBVMT trong dạy học Hóa học ở trường THCS
2.1.1 Khả năng tích hợp GDBVMT trong dạy học Hóa học ở trường THCS
Hóa học là một bộ môn khoa học thực nghiệm nghiên cứu thành phần, tính chất, ứng dụng, sự biến đổi giữa các chất, sản xuất các chất Nó rất hữu ích trong việc cung cấp cho HS những kiến thức về MT, ô nhiễm MT
Thông qua nội dung về cấu tạo chất, tính chất vật lý, tính chất hóa học, ứng dụng và điều chế các chất…Môn Hóa học có thể giúp học sinh tìm hiểu được một cách sâu sắc, bản chất về:
- Thành phần, cấu tạo của môi trường: đất, nước, không khí và thế giới sinh quyền
- Sự biến đổi của các chất trong môi trường
- Ảnh hưởng của các yếu tố tới thành phần của môi trường
- Nguồn gây ô nhiễm môi trường: các chất hóa học và tác hại sinh lý của chúng với động thực vật và con người
- Biện pháp bảo vệ môi trường và chống ô nhiễm, xử lý một số loại ô nhiễm môi trường; biện pháp bảo vệ môi trường trong học tập môn Hóa học
2.1.2 Mục tiêu GDBVMT thông qua môn Hóa học ở trường THCS
2.1.2.1 Kiến thức
Nắm được thành phần hóa học của môi trường sống xung quanh con người (đất, nước, không khí) trên cơ sở tìm hiểu tính chất của các chất hóa học:
- Môi trường đất, nước, không khí
Trang 3729
- Sự biến đổi hóa học trong môi trường, hiểu biết về chất vô cơ và hữu
cơ, thành phần tính chất hóa học, tính chất vật lí, ứng dụng điều chế Từ đó có hiểu biết về chất, về tính chất của các vật thể vô sinh, hữu sinh và một số biến đổi của chúng trong môi trường tự nhiên xung quanh
Nắm được khái niệm ô nhiễm môi trường, tác hại của ô nhiễm môi trường
- Ô nhiễm môi trường nước, tác hại của nó
- Ô nhiễm môi trường khồn khí, tác hại của nó
- Ô nhiễm môi trường đất, tác hại của nó
Hiểu được nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong đó có vai trò của sản xuất hóa học, sử dụng hóa chất và chất thải trong sinh hoạt và sản xuất
- Hiểu được nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường: không khí, nước, đất và môi trường tự nhiên nói chung là do các chất độc hại vô cơ và hữu cơ Các chất này gây tác hại cho các đồ vật, các công trình kiến trúc, văn hóa, sức khỏe của người, động vật và thực vât
- Hiểu được một số vấn đề về nhiên liệu, chất đốt, năng lượng hóa học,
sự oxy hóa, sự cháy và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí
- Hiểu được tính năng và tác dụng của một số tài nguyên thiên nhiên như: nước, quặng, dầu mỏ, than đá Vấn đề khai thác, sử dụng và việc gây ô nhiễm môi trường do các hoạt động khai thác
- Vấn đề ô nhiễm môi trường trong thực hành thí nghiệm hóa học ở trường phổ thông
- Hiểu được ô nhiễm từ xe gắn máy cũng là một loại ô nhiễm đáng lo ngại
- Hiểu được tầm quan trọng của môi trường đối với con người
Biết được cơ sở hóa học của một số biện pháp bảo vệ môi trường sống
Trang 3830
- Thu gom và xử lý chất thải , phòng chống chất độc hại trong quá trình tiếp xúc, sử dụng một cách khoa học với thuốc trừ sâu, phân bón hóa học…
- Hóa chất và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm
- Trồng nhiều cây xanh để điều hòa lượng khí CO2 tăng khí oxi giúp bảo vệ bầu không khí trong sạch
Có ý thức nhắc nhở những người xung quanh bảo vệ môi trường
Có ý thức góp phần cải tạo môi trường bằng những việc làm nhỏ như trồng cây xanh, vứt rác đúng nơi quy định…
2.2 Mục tiêu, cấu trúc nội dung trong chương “Các loại hợp chất vô cơ” – SGK hóa học 9
2.2.1 Mục tiêu của chương “Các loại hợp chất vô cơ”
1 Kiến thức
HS trình bày được:
Trang 3931
- Cách phân loại các hợp chất vô cơ
- Tính chất hóa học đặc trưng của mỗi loại hợp chất vô cơ
- Vai trò ứng dụng của các loại hợp chất vô cơ đối với công nghiệp và đời sống của con người
- Rèn cho HS kĩ năng làm thí nghiệm, quan sát movie thí nghiệm
- Rèn cho HS kĩ năng viết phương trình phản ứng hóa học
- Vận dụng kiến thức môn hóa học giải thích được nguyên nhân gây hiện tượng mưa axit và hiểu được tác hại của nó
- Vận dụng giải thích một số vấn đề liên quan đến ôn nhiễm môi trường trong thực tế, cuộc sống
- Kĩ năng giải bài tập định tính và định lượng
3.Thái độ
- Có thái độ nghiêm túc trong học tập và kiểm tra
- Nêu cao ý thức giữ gìn, bảo vệ môi trường
2.2.2 Cấu trúc nội dung của chương “Các loại hợp chất vô cơ” – Hóa học 9
Chương 1: Các loại hợp chất vô cơ (19 tiết)
Lý thuyết: 13 tiết – Luyện tập: 2 tiết – Thực hành: 2 tiết – Kiểm tra: 2 tiết
Trang 4032
1 2 Tính chất hóa học của oxit Khái quát về sự phân loại oxit
4
Một số oxit quan trọng Một số oxit quan trọng
8 15
16
Một số muối quan trọng Phân bón hóa học
2.2.3 Một số điểm cần lưu ý về nội dung kiến thức
- Từ tính chất hóa học của oxit (CaO, SO2), axit ( HCl, H2SO4), bazơ, muối từ đó giải thích được các hiện tượng trong thực tiễn, giáo dục HS ý thức bảo vệ môi trường (học về tính chất hóa học của SO2 giải thích được cho học sinh nguyên nhân của hiện tượng mưa axit… )