1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đạo đức sinh thái phật giáo và việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên đại học sư phạm đà nẵng hiện nay

78 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng giống như nhiều tôn giáo lớn trên thế giới, Phật giáo quan tâm đến đạo đức sinh thái không phải là một nhận thức tiên tri đi trước thời đại, nó thực chất là một phần giáo lý của tôn

Trang 1

HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện : Lưu Thị Trang Lớp : 14SGC

GV hướng dẫn : ThS Lê Đức Tâm

Đà Nẵng tháng 04 năm 2018

Trang 2

HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

Sinh viên thực hiện : Lưu Thị Trang Lớp : 14SGC

GV hướng dẫn : ThS Lê Đức Tâm

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Và được sự hướng dẫn khoa học của Ths Lê Đức Tâm Các nội dung nghiên cứu , kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kì hình thức nào trước đây Những số liệu và thông tin thu thập phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc Nếu phát hiện có bất kì sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình

Đà Nẵng, ngày 24 tháng 4 năm 2018

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô khoa Giáo dục Chính trị, các thầy cô khoa Kinh tế Chính trị Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, các thầy cô trong trường ĐHSP Đà Nẵng đã tận tình dạy dỗ tôi trong 4 năm học vừa qua

Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Lê Đức Tâm, người

đã trực tiếp chỉ dạy, hướng dẫn và luôn hết lòng động viên tôi để hoàn thành đề tài này

Xin chân thành cảm ơn những lời động viên, những tình cảm thân thiết nhất cùng với sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập và thời gian hoàn thành đề tài này

Mặc dù đã có sự cố gắng nhưng do hạn chế của bản thân về điều kiện thời gian, trình độ nên đề tài còn nhiều thiếu sót Kính mong các thầy cô và các bạn nhận xét và đóng góp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Đà Nẵng, ngày 24 tháng 4 năm 2018

Trang 5

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục của đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

B NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 ĐẠO ĐỨC SINH THÁI PHẬT GIÁO 8

1.1 Nguồn gốc, cơ sở hình thành Đạo đức sinh thái Phật giáo 8

1.1.1 Nguồn gốc, cơ sở về lịch sử, xã hội 8

1.1.2 Nguồn gốc, cơ sở về nhận thức, tư tưởng 10

1.1.2.1 Thuyết Duyên khởi 10

1.1.2.2 Thuyết vạn vật bình đẳng 13

1.1.2.3 Thuyết nhân quả Phật giáo 13

1.2 Một số vấn đề của đạo đức sinh thái Phật giáo 15

1.2.1 Thực hiện lối sống thân thiện với môi trường và đề cao chuẩn mực đạo đức hiếu sinh, không sát sinh 16

1.2.2 Khơi dậy Phật tính, tránh xa sân hận 21

1.2.3 Tạo dựng nghiệp thiện, tránh xa nghiệp ác 24

1.2.4 Nhận thức cuộc đời là vô ngã, vô thường 26

1.2.4.1 Vô ngã là thuyết về bản chất của sự tồn tại 27

1.2.4.2 Vô thường là bản chất tồn tại thế giới 28

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2 NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG HIỆN NAY……… 32

2.1 Vấn đề môi trường và ý thức bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay 32

2.1.1 Khái niệm Môi trường và Ý thức bảo vệ môi trường 32

2.1.2 Ý thức bảo vệ môi trường tự nhiên ở nước ta hiện nay 35

2.1.2.1 Thực trạng môi trường trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay 35

Trang 6

2.1.2.2 Ý thức bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay 43

2.2 Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay 48

2.2.1 Vị trí, tầm quan trọng của sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng 48

2.2.2 Nhận thức về môi trường và bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học sư phạm Đà Nẵng hiện nay 51

2.2.3 Vấn đề nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay 54

2.2.4 Một số đề xuất để nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay 55

Tiểu kết chương 2 62

C KẾT LUẬN 64

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 7

1

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đạo đức Phật giáo, đặc biệt là đạo đức sinh thái Phật giáo, là một trong những đóng góp tích cực của Phật giáo vào nhận thức đạo đức nói chung và nhận thức đạo đức sinh thái của loài người nói riêng Dựa trên các học thuyết triết học căn bản như: Thuyết Duyên khởi, Thuyết Vạn vật bình đẳng, Thuyết Nhân quả báo ứng, v.v Phật giáo đã xây dựng nên các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức sinh thái căn bản và có một ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với bản thân Phật giáo mà còn đối với

sự nghiệp giáo dục đạo đức sinh thái của nhân loại Đạo đức sinh thái tưởng chừng như đó là vấn đề của đời sống xã hội hiện đại nhưng thực ra nó lại có nguồn gốc sâu

xa trong lịch sử phát triển trong các học thuyết tư tưởng, các tôn giáo Cũng giống như nhiều tôn giáo lớn trên thế giới, Phật giáo quan tâm đến đạo đức sinh thái không phải là một nhận thức tiên tri đi trước thời đại, nó thực chất là một phần giáo

lý của tôn giáo này trong quan niệm về thế giới, về nhân sinh, ở đó việc đặt ra và tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức sinh thái như là một trong những giải pháp nhằm giúp mỗi chúng sinh tự tìm thấy con đường đi đến giải thoát

Vấn đề môi trường sinh thái đang là một trong các vấn nạn của thế giới ngày nay, đang được quan tâm hàng đầu hiện nay Ngày nay môi trường đang bị đe dọa trầm trọng vì tình hình thế giới phát triển càng lúc càng cao, các nhà máy, công trình, xưởng sản xuất mỗi ngày thải ra ngoài môi trường rất nhiều khí thải, chất thải nguy hại, dẫn đến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng Môi trường toàn cầu hiện nay đầy những yếu tố, nào là hạn hán, đói kém, thiên tai, lũ lụt…

Dưới đây chúng ta thử phân tích các vấn đề nghiêm trọng mà trái đất đang phải chống chọi, đối mặt Nguồn nước sạch cần cho cuộc sống con người đang ngày càng bị khan hiếm Hiện nay trên trái đất, diện tích nước chiếm tới khoảng 70% bề mặt, tuy nhiên chỉ có khoảng 2% là nước phù hợp cho tiêu dùng, được coi là nước sạch sử dụng được Nhiều khu vực vẫn phụ thuộc vào lượng nước mưa dự trữ, nếu khí hậu biến đổi thì nguồn nước cung cấp từ thiên nhiên là vô cùng khan hiếm, dẫn đến thiếu nước nước cho sinh hoạt Nhưng có nơi lại lũ lụt thiên tai, lũ quét làm phá hủy hệ sinh thái tự nhiên và các công trình của con người xây dựng nên trong các

Trang 8

Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là chủ đề nóng trên các mặt báo và nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân trên thế giới và ở Việt Nam Thông qua các phương tiện truyền thông, chúng ta có thể dễ dàng thấy được các hình ảnh, cũng như các bài báo phản ánh về thực trạng môi trường hiện nay Mặc dù các ban ngành, đoàn thể ở Việt Nam ra sức kêu gọi bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước Nhưng có vẻ là chưa đủ để cải thiện tình trạng ô nhiễm đang ngày càng trở nên trầm trọng hơn Đầu tiên, đó chính là sự nhận thức chưa thật đầy đủ, chưa thật đúng và

sự thờ ơ của người dân Sự thiếu sót trong các khâu quản lí Chính những vấn đề này đã và đang có ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục ý thức bảo vệ môi

trường của các thế hệ trẻ hiện nay và về sau

Là một trong những tôn giáo lớn và có truyền thống lâu đời và bậc nhất trên thế giới nên những di sản tư tưởng mà Phật giáo để lại cho nhân loại có ý nghĩa vô cùng lớn lao, trong đó có các tư tưởng về đạo đức học sinh thái Không chỉ phản ánh trung thực mục tiêu, tôn chỉ cũng như những triết lý căn bản về thế giới quan và nhân sinh quan của tôn giáo này trong suốt tiến trình hình thành và phát triển mà nó còn có ý nghĩa hết sức thiết thực đối với việc nghiên cứu và giáo dục đạo đức sinh thái trong giai đoạn hiện nay

Việc nghiên cứu khoa học về đạo đức sinh thái Phật giáo nhằm tiếp thu các tinh hoa Phật giáo để bổ sung vào nhận thức của con người hiện nay về môi trường sinh thái để qua đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường hiện nay…

Ở Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng hiện nay, không chỉ có sinh viên Khoa Sinh - Môi trường mà cả sinh viên các khoa khác, cả tự nhiên và xã hội trong toàn trường đều có ý thức quan tâm đến những vấn đề về môi sinh Các hoạt động tình nguyện như: Truyền thông về môi trường sinh thái, mùa hè xanh, bảo vệ

Trang 9

3

Vooc Chàvá chân nâu núi Sơn Trà, dọn vệ sinh môi trường, Khóa tập huấn thường niên “Bảo tồn linh trưởng của Việt Nam” đã được khởi động trở lại Đây là những hoạt động ý nghĩa nhằm chung tay góp sức cùng cộng đồng địa phương thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ môi trường và xây dựng Đà Nẵng thành một thành phố sinh thái đáng sống

Để nâng cao hơn nữa ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng, với tư cách là một sinh viên năm tư chuyên ngành giáo dục chính

trị, giáo dục công dân sắp tốt nghiệp ra trường, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Đạo đức sinh thái Phật giáo và việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho Khóa luận tốt

nghiệp của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục tiêu nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu đạo đức sinh thái Phật giáo để có cái nhìn sâu sắc hơn

về môi trường, về mối quan hệ giữa con người và môi trường Để từ đó xây dựng, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học Sư phạm ở Đà Nẵng hiện nay

b Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài đề ra và thực hiện một số nhiệm vụ sau: + Nghiên cứu làm rõ những nội dung cơ bản của đạo đức sinh thái Phật giáo; + Nghiên cứu và đánh giá về thực trạng về ý thức sinh thái của sinh viên Đại học Sư Phạm-Đại học Đà Nẵng hiện nay;

+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao ý thức môi sinh và hành động bảo vệ môi trường của sinh viên Đại học sư phạm- Đại học Đà Nẵng hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do thời gian và điều kiện không cho phép, đề tài chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu về đạo đức sinh thái Phật giáo, giá trị và ý nghĩa của những tư tưởng đạo đức sinh thái Phật giáo; về môi trường sinh thái Việt Nam và ý thức bảo vệ môi trường trong lớp trẻ, đặc biệt là sinh viên hiện nay; về việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên trong phạm vi Trường Đại học sư phạm Đà Nẵng hiện nay

Trang 10

4

4 Phương pháp nghiên cứu

a Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận là các quan điểm triết học

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ Đại hội VI đến nay

b Phương pháp nghiên cứu: Đề tài khóa luận sử dụng các phương pháp duy

vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử với các nguyên tắc: khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể, thực tiễn Trong đó, chú trọng các phương pháp cụ thể như: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc, kết hợp cái đặc thù và cái phổ biến, so sánh, phân tích, tổng hợp…

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận gồm 2 chương (4 tiết)

Chương 1: Đạo đức sinh thái Phật giáo

Chương 2: Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học sư phạm Đà Nẵng hiện nay

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Vấn đề về đạo đức nói chung và đạo đức sinh thái nói riêng đã được các phái triết học, các nhà triết học trong lịch sử ở phương Đông và phương Tây đề cập đến

từ rất sớm Quản Trọng một triết gia Trung Hoa cổ đại có viết: “Nhất niên thụ cốc Thập niên thụ mộc Bách niên thụ nhân Thiên niên thụ đức” Cũng giống như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Vì lợi ích mười năm phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm phải trồng người Nhấn mạnh vai trò của việc chăm lo cho giáo dục và với kế ngàn năm quan tâm đến đạo đức, trong đó có đạo đức sinh thái Vấn đề đạo đức luôn được đặt lên hàng đầu trong việc thành bại của con người Đạo đức thể hiện chuẩn mực dẫn dắt cách ứng xử của con người như một thói quen Đạo đức không chỉ thể hiện thông qua các mối quan hệ giữa con người với con người, mà còn thể hiện mối quan hệ với tự nhiên

Từ xa xưa, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên đã được quan tâm Ở phương Đông thể hiện nó như một triết lý sống hài hòa với thiên nhiên “Thiên nhiên hợp nhất” Tư tưởng về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được C.Mác

đề cập từ khá sớm Ngay trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1884, C.Mác đã

Trang 11

5

viết: “Giới tự nhiên - cụ thể là cái giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó, con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thể chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [28; tr.135]

Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng có các luận giải khoa học về đạo đức sinh thái,

đạo đức môi trường Đúng như C.Mác, trong Luận cương về L.Feuerbach, có viết:

“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” Tuy nhấn mạnh mặt xã hội như là nhân tố quyết định Nhưng chủ nghĩa Mác cũng không hề phủ nhận mặt sinh học tự nhiên, trái lại thừa nhận vai trò to lớn của

nó trong sự hình thành con người có nhân cách, có ý thức, có đạo đức

Vấn đề về đạo đức nói chung và đạo đức sinh thái nói riêng từ rất sớm cũng đã được đề cập đến trong các kinh sách Phật giáo, được các cao tăng, học giả Phật giáo luận bàn và đã có nhiều công trình biên khảo có giá trị Trong thời hiện đại,

Hòa thượng Tinh Vân trong cuốn Phật giáo và sinh thái tự nhiên đã chứng minh

theo triết học Phật giáo: Cỏ cây, hoa lá (thực vật) đều có Phật tính; Cá chim, muôn thú (động vật) đều có Phật tâm; Sông núi đất đai đều có Phật thể; Mặt trời, mặt

trăng, mưa gió, sấm sét đều có Phật dụng… Trong Đạo Phật và Môi trường tập hợp

các nghiên cứu của các học giả Đông Á Nhật Bản, Đài Loan… do Hòa thượng Thích Nhuận Đạt (dịch), đã cố gắng xác định tư tưởng bảo vệ môi trường theo quan điểm Phật giáo như: Khắc phục dục vọng và tính tham lam; thay đổi quan niệm về hạnh phúc; thay đổi cách sống; nhận thức chính xác về mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên; v.v… Trình bày quan điểm của Phật giáo đại thừa về con người, trái đất

và vũ trụ, cuốn Đạo đức Phật giáo do Hòa Thượng, Tiến sĩ Thích Minh Châu giới

thiệu, được Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1995, gồm những bài tham luận của nhiều tác giả, cũng cho chúng ta các kiến giải uyên bác về đạo đức sinh thái Phật giáo

Vấn đề về đạo đức nói chung và đạo đức sinh thái nói riêng cũng được các nhà triết học và khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đề cập đến qua các công trình biên

Trang 12

Cuốn Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay do GS.Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 có

đề cập đến ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo ở Việt Nam Vài năm gần đây, ngày có nhiều công trình nghiên cứu, luận giải chuyên sâu vấn đề bảo vệ môi trường và phương thức xử lý theo quan niệm Phật giáo Trong đó phải kể đến công trình

nghiên cứu, bài viết bàn về đạo đức sinh thái Phật giáo như: Giáo dục đạo đức sinh thái vì sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên của Phan Thị Hồng Duyên Đạo đức sinh thái theo quan điểm của Phật giáo của PGS.TS.Phạm Công

Nhất, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã

khái quát được một số nguyên tắc Đạo đức sinh thái theo quan điểm Phật giáo; v.v…

PGS.TS.Phạm Thị Ngọc Trầm, thuộc Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học

xã hội Việt Nam đã đề cập đến các vấn đề: Về giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá; về xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường; xây dựng đạo đức sinh thái một trách nhiệm xã hội của con

người đối với tự nhiên; những giá trị văn hoá sinh thái nhân văn Hồ Chí Minh, v.v

Các công trình nghiên cứu khoa học về Phật giáo trên đây có cách khai thác

riêng về nhiều khía cạnh khác nhau trong đạo đức sinh thái Phật giáo Đề tài “Đạo đức sinh thái Phật giáo và việc nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sinh viên Đại học Sư phạm Đà Nẵng hiện nay” là sự kế thừa một số thành tựu, kết quả

nghiên cứu về Phật giáo nói chung và đạo đức sinh thái Phật giáo nói riêng, kết hợp

Trang 13

7

với những kiến thức, khả năng của bản thân tác giả Khóa luận này là bước đầu trong sự nghiên cứu, tìm hiểu, tóm lược một số kiến thức về đạo đức sinh thái Phật giáo, như: Về các khái niệm, nguyên tắc, chuẩn mực để hình thành đạo đức sinh thái Phật giáo; Về môi trường và ý thức bảo vệ môi trường, trong đó có ý thức bảo

vệ môi trường trong sinh viên; Về sự vận dụng các tư tưởng đạo đức sinh thái Phật giáo để nâng cao nhận thức cho sinh viên Sư phạm ở Đà Nẵng hiện nay

Khóa luận này có thể còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, các nhà nghiên cứu Phật học, các bạn sinh viên Sư phạm có quan tâm đến đạo đức môi trường, để tác giả khóa luận học tập và tiếp tục hoàn thiện nội dung luận văn khoa học này về sau

Trang 14

8

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐẠO ĐỨC SINH THÁI PHẬT GIÁO

1.1 Nguồn gốc, cơ sở hình thành Đạo đức sinh thái Phật giáo

1.1.1 Nguồn gốc, cơ sở về lịch sử, xã hội

Ấn Độ với nền văn minh lâu đời, mang nhiều dấu ấn lịch sử của nhân loại Vào khoảng thế kỉ VI đến V TCN, Ấn Độ là cái nôi đầu tiên cho sự hình thành và phát triển của đạo Phật, và là một nền văn hóa tâm linh phát triển mạnh mẽ lúc bấy giờ Một nhà hiền triết, một nhà triết học có thật trong lịch sử của nền Triết học Ấn

Độ cổ đại là Shidhartha Gauthama, Đức Phật lịch sử xuất hiện mở ra kỷ nguyên Phật giáo Thời kỳ này lịch sử Ấn Độ có sự chuyển biến rất lớn Các quan hệ kinh

tế, chính trị, văn hóa, học thuật dường như đang nằm trong một cuộc vận động mạnh mẽ Trước khi Đức Phật ra đời vài trăm năm, nền văn minh Ấn Độ nằm ở các khu vực thượng lưu sông Hằng như Kuruksetna, Pancàla, Matsya và Suracena,

v.v…

Ở thời kỳ này, những quan điểm của tầng lớp Bà-la-môn chi phối tất cả Đến thời đại Đức Phật ra đời thì cuộc vận động văn hóa đã làm cho vũ đài chính trị, kinh

tế, thứ tự giai cấp gần như đảo lộn Bằng chứng là trong tư tưởng thời kỳ trước nặng

về hình thức, tĩnh tại và nhuốm nặng chất thi ca, hình nhi thượng (siêu hình học hiểu theo nghĩa triết học Phương Tây); đến thời kỳ Đức Phật thì tư tưởng thực tế, năng động, gần gũi với con người hơn Sự phát triển của Phật giáo gắn liền với sự thúc đẩy, sự liên hệ vô cùng mật thiết với tình hình xã hội Việc tu hành của tăng nhân là nỗ lực tìm sự thanh đạm giản dị, không xâm phạm nguồn tài nguyên thiên nhiên, thể hiện một mối quan hệ cộng sinh với vạn vật, một triết lý nhân sinh mang tính chất đạo đức sinh thái nhân văn đã định hình từ khá sớm trong lịch sử

Nhận thức được chân lý và quy luật của vũ trụ, đồng thời xuất hiện từ nền văn hóa đang tồn tại, Phật giáo đã xây dựng nên một hệ thống nhân sinh quan và thế giới quan riêng biệt, mang đậm dấu ấn Phật giáo Ra đời và phát triển trong điều kiện không gian nước Ấn đang trong thời kì nông nghiệp biến đổi mạnh Và về sau

sự phát triển của đạo Phật diễn ra mạnh mẽ, truyền đạo, du nhập vào nhiều quốc gia trên thế giới

Trang 15

9

Cùng với sự phát triển của xã hội, từ thế kỉ XVIII bước vào nền văn minh công nghiệp về sau, con người đã vô tình hay hữu ý phá hủy môi trường sinh thái ngày càng nghiêm trọng hơn Nhân loại và tự nhiên ở trong nguy cơ đang đâm vào nhau, hoạt động của con người đã mang đến tổn thương cho môi trường tự nhiên Vào thập niên 70 của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhà sinh vật học người Đức là Emst Haeckel (1834 - 1919) đã đưa ra thuật ngữ Sinh thái học (Ecology) Từ thập niên 60 của thế kỷ XX trở về sau, vấn đề môi trường sinh thái đã có được sự quan tâm thực sự của nhân loại có lương tri và tiến bộ

Phật giáo ngay từ khi mới ra đời là tôn giáo rất chú trọng đến hệ sinh thái tự nhiên Là một tôn giáo lớn, đạo Phật ý thức được vai trò, tầm quan trọng của môi sinh ngay từ mới sơ khai hình thành, Đức Phật luôn ca ngợi thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên Có thể nói cỏ hoa, cây cối, con trùng, tôm cá, chim muông, sông suối đất đai, mặt trời mặt trăng, gió bão, sấm chớp đều là cơ duyên ngộ đạo của hành giả, và dần dần gắn chặt cuộc đời Đức Phật vào tự nhiên Phật đã tu hành trong rừng sâu núi thẳm, dưới gốc cây Bồ đề nhìn thấy ánh sao mai vừa mới mọc Người đã chứng ngộ chân lí của vũ trụ Kiến trúc chùa chiền dung hòa với rừng núi, tôn trọng và không hủy hoại môi trường rừng; việc tu hành của Tăng nhân là sự nổ lực tìm kiếm sự thanh đạm trong cuộc sống không xâm phạm làm biến đổi đến tài nguyên thiên nhiên, thể hiện một sự cộng sinh với vạn vật Với lối sống thanh nhã, với những hoạt động trồng cây gây rừng, trân quý nguồn tài nguyên thiên nhiên, đề xướng không sát sanh, ăn chay, phóng sinh, bảo vệ sự sống muôn loài, đây là thực tiễn trong việc giáo dục đạo đức sinh thái, bảo vệ môi trường cho tất cả nhân loại của Phật giáo

Bên cạnh đó, Phật giáo rất đề cao con người, hay nói cách khác là tiền đề xuất phát của Phật giáo là con người sống hiện hữu Con người là trọng tâm trong học thuyết đạo đức Phật giáo Theo quan niệm của Phật giáo, con người phải chịu trách nhiệm về kết quả hành động của chính mình trước cuộc sống của mình và trước thiên nhiên

Trước sự phát triển vượt bậc về khoa học kĩ thuật sẽ đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu của con người nhưng kéo theo đó là sự lo âu, khốn khổ với sự biến đổi bất thường của tự nhiên, môi trường sinh thái tự nhiên Hành động của con người đã

Trang 16

10

mang đến tổn thương sâu nặng lên môi trường tự nhiên, tạo ra một sự đe dọa cho tương lai của xã hội Trước những sự lo âu, sự tàn phá và biến đổi bất thường của tự nhiên, Phật giáo với triết lý từ bi, hỷ xả, khuyến khích con người hướng thiện, thay đổi lối sống, thay đổi phương pháp quản lí về trái đất và sự sống Điều đó sẽ thay đổi khổ nạn thành phúc đức Phật giáo cũng đã dễ dàng đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức, hướng con người đến lối sống vị tha, bình đẳng, bác ái Triết lý nhân sinh, đạo đức sinh thái Phật giáo phù hợp với đạo đức, lẽ sống của con người, trong đó có người Việt Nam ta, qua các thời đại lịch sử và cho đến ngày nay

Dựa trên hệ thống giáo lý của mình, đưa ra phương pháp giải thoát cho tất cả chúng sinh Nổ lực nắm bắt sự cân bằng trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, tìm kiếm sự phát triển hài hòa giữa con người là nền tảng đảm bảo để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển Phật giáo xây dựng đạo đức sinh thái trên cái nhìn của lịch sử, thực tiễn của nhân loại, nhằm tìm kiếm sự giải thoát

1.1.2 Nguồn gốc, cơ sở về nhận thức, tư tưởng

Đạo Phật là một tôn giáo mang dấu ấn đặc sắc riêng Những tư tưởng đạo đức sinh thái Phật giáo được hình thành trong suốt lịch sử phát triển của tôn giáo này

Là một học thuyết triết học nhân sinh, Phật giáo đặc biệt quan tâm đến các vấn đề

về môi trường sinh thái Biểu hiện thông qua lối sống và ý thức chi phối các hoạt động thực tiễn như: Ăn chay, niệm Phật, không sát sinh, hài hòa hòa quyện với thiên nhiên, được quy định trong các giới khi quy y tam bảo- quay về chổ sáng, giác ngộ, giải thoát, hành động theo con đường Phật dạy, tuân theo giáo pháp của Phật trở thành con Phật, … Những tư tưởng đạo đức sinh thái Phật giáo được hình thành, hoàn thiện và phát triển cùng với thực tiễn xã hội Và dựa trên hệ thống các luận thuyết chủ yếu của Phật giáo có từ thời Phật giáo nguyên thủy, như: Thuyết Duyên khởi, thuyết Vạn vật bình đẳng và thuyết Nhân quả

1.1.2.1 Thuyết Duyên khởi

Trong kinh Phật Tự Thuyết, Đức Phật có nói: “Vì cái này có, cái kia có Vì cái này sinh, cái kia sinh Vì cái này không, cái kia không Vì cái này diệt, cái kia diệt.”

liên tục của mọi sự vật Cái này, cái kia tạo thành một chỉnh thể không thể chia cắt

Trang 17

11

được, sự tồn tại hay không tồn tại của một sự vật được quyết định bởi điều kiện Căn cứ vào những nguyên tắc này mà thuyết Duyên khởi được thành lập Quan niệm về Duyên khởi của Đức phật cho rằng toàn thế giới là một chỉnh thể thống nhất, quan hệ khắn khít chồng chéo vào nhau Xoay quanh 12 nhân duyên, hay 12 chi hoặc gọi là 12 mắt xích liên kết với nhau như sợi dây chuyền không thể chia cắt Cái mắc xích này là nhân tạo ra quả là cái mắt xích kia nhờ duyên là điều kiện, năng lực xúc tác Hay nói dễ hiểu hơn là cái này là duyên để cái kia tồn tại, vạn vật trong thế giới này vì thế mà tồn tại đa dạng và sống động

Duyên khởi luận là thế giới quan độc đáo của Đạo Phật Duyên khởi luận đại khái cho rằng sự tồn tại và hủy diệt của thế giới do sự hình thành và tan rã của các điều kiện, “Có nhân có duyên thế gian tập thành; có nhân có duyên thế gian hủy diệt” Nói cách khác mọi thứ trong vũ trụ đều được kết nối bằng sợi dây nhân duyên [49; tr.236]

Hay nói rõ hơn, học thuyết Duyên khởi cho chúng ta biết mọi sự hiện hữu trên thế giới đều là sự kết hợp của rất nhiều nhân duyên Chúng không thể tồn tại độc lập

mà nương tượng với nhau trong mối tương quan mật thiết Thuyết Duyên khởi được diễn tả qua một tiến trình “Nhân - Duyên - Quả” Mọi sự vật kế tiếp liên tục để sinh khởi, cái này có thì cái kia có; hay cái này sinh dẫn đến cái kia sinh Không có cái gì hiện hữu độc lập, mọi thứ đều liên kết tùy thuộc vào nhau Cái này là hổ tương của cái kia và ngược lại Nếu chẳng may một cái mất đi sẽ kéo theo sự mất đi hoặc biến đổi hoặc xáo trộn của cái khác

Trong đạo Phật khi nhìn nhận các sự vật dưới con mắt của quan niệm về “Tứ đại” thì thuyết duyên khởi một lần nữa được chứng thực một cách cụ thể và khoa học Tứ đại là đất (Pathari), nước (Apo), gió (Vayo), lửa (Tejo) 4 yếu tố cấu thành nên bất cứ vạn vật nào trong vũ trụ này Con người nhân duyên sinh thành từ tứ đại, lục căn đầy đủ cũng nhờ sự liên kết của tứ đại Xét trên chính cơ thể con người chúng ta: xương, thịt, da, lông, tóc,… đó là chất rắn; máu, dịch,… là chất lỏng; hơi thở lưu thông là chất khí; thân nhiệt, hơi ấm là lửa Bốn yếu tố này như một mắc xích tạo thành một con người hài hòa, từ đó sinh thức, bắt đầu có cảm nhận, suy nghĩ, ý thức và hình thành tri thức Duyên khởi vừa là điểm bắt đầu nhưng cũng là điểm cuối của hành trình đi đến “Giải thoát”

Trang 18

12

Duyên khởi quan hệ mật thiết giữa con người với xã hội, con người với văn hóa truyền thống Không được xem con người đứng độc lập với xã hội, văn hóa và truyền thống Nhưng ngược lại, cũng không được đặt nặng xã hội, văn hóa, truyền thống trước con người và hạnh phúc con người Như vậy, xuất phát từ tư tưởng Duyên khởi cho rằng con người và giới tự nhiên có sự tương nhập lẫn nhau Con người nương giới tự nhiên để sinh tồn, giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Bởi vì,đúng như C.Mác đã viết: “Bản chất con người của tự nhiên chỉ tồn tại đối với xã hội; vì chỉ có trong xã hội, tự nhiên đối với con người mới là một cái

khâu liên hệ con người với con người; chỉ có trong xã hội, tự nhiên mới biểu hiện

ra là cơ sở của sự tồn tại có tính chất người của bản thân con người Chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có tính chất người của con người

đối với con người và tự nhiên mới trở thành con người đối với con người” [25; tr.170]

Xét trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên là mối quan hệ cộng sinh, cùng sinh tồn và phát triển Điều quan trọng bậc nhất trong Duyên khởi là nói lên sự tồn tại trong mối liên hệ phụ thuộc giữa con người với xã hội và tự nhiên Sinh thái là một điều kiện nhất định, là nguyên nhân cùng nương tựa vào con người, con người và sinh thái tác động lẫn nhau Cá nhân, nhân loại, xã hội đều không thể tồn tại độc lập mà tồn tại trong mối quan hệ tương quan chặt chẽ với thiên nhiên Thiên nhiên như là dung môi xúc tác cho mọi phản ứng, hay là môi trường cho hoạt động sống của con người được duy trì và phát triển Làm tổn hại môi trường sinh thái là tự làm tổn hại chính cuộc sống của bản thân nhân loại Phá hoại môi trường thiên nhiên là phá hoại sự tồn tại của bản thân nhân loại Trong thuyết Duyên khởi

có ý nói rằng: “Một hiện hữu trong tất cả và tất cả hiện hữu trong một”, điều này có nghĩa là sự ô nhiễm hay mất cân bằng, xáo trộn nơi này chính là sự ô nhiễm hay mất cân bằng, xáo trộn ở các nơi khác trên thế giới Từ những luận điểm này đã đặt ra những câu hỏi cho chính cuộc sống con người: Làm sao ngăn ngừa sự phá hoại môi trường sinh thái do con người gây ra, làm sao duy trì, bảo vệ sự cân bằng sinh thái bình thường, làm sao tạo ra những điều kiện tương sinh, tương quan, nhân tố có lợi nâng cao sinh thái, đó là trách nhiệm quan trọng của mọi con người, của nhân loại

để bảo toàn được bản thân

Trang 19

Do đó đức Phật mới nói: “Tất cả mọi người trong trăm chủng tộc khác nhau ấy đều có thể mang bột tắm đến nước và tắm rửa, trừ khử các cấu bẩn cho thật sạch Tất cả những người trong trăm chủng tộc khác nhau kia đều có thể dùng bất cứ loại

gỗ nào làm mồi lửa, rồi lấy dùi mà dùi cho phát ra lửa và cháy lớn lên” [32] Tất cả các sự vật đều do tứ đại hình thành nên, mọi sự vật chỉ khác nhau dưới con mắt của mỗi con người Do con người có tánh phân biệt, cái này hay cái kia dở; cái này xấu cái kia đẹp… Kể cả con vật cũng có tánh giác nhưng ở mức độ bản năng tánh giác

Từ đó, Phật giáo khuyên chúng sinh thực hành lối sống từ bi, hình thành Phật tánh, không tranh đoạt và làm tổn hại đến môi trường xung quanh, lối sống thiện lương, không sát sinh (bất sát) cũng là xuất phát từ triết lý vạn vật bình đẳng như đã phân tích ở trên

1.1.2.3 Thuyết nhân quả Phật giáo

Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả [39; tr.292]

Hiện tượng giới luôn luôn trôi chảy theo một quy luật gọi là nhân quả Nhân quả trong giáo lý Phật giáo đều là pháp duyên sinh, chúng vô ngã, chúng luôn luôn nhìn dưới ánh sáng của Duyên khởi Theo Phật giáo, con người hiện tại là kết quả của nguyên nhân quá khứ Trong thế giới tương quan của hiện tượng, mỗi hiện hữu đều có nguyên nhân của nó Nguyên nhân của sự có mặt của các hiện hữu gọi là nhân, hiện hữu gọi là quả Ví dụ như là mưa là quả, mây là nguyên nhân, hay hạt thóc là quả cây lúa là nguyên nhân Tương quan nhân quả của các hiện hữu là một

Trang 20

14

vòng tròn tương quan xoắn ốc Mỗi hiện tượng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của cái kia Trong một vòng tròn nhân quả còn có yếu tố duyên ảnh hưởng Duyên trong quá trình này tác động đến sự hình thành chất lượng và tiến độ của quả, quả

có thể hình thành sớm hay muộn, và cũng có thể không hình thành Thời gian từ nhân đến quả khác nhau ở các loại nhân khác nhau và ở những người tạo nghiệp khác nhau

Đây là một trong những lý thuyết căn bản của triết học Phật giáo về nhân sinh quan Nhân duyên đó không phải là sự ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của những tác động từ luật nhân quả (còn gọi là Nghiệp) Nghiệp của mỗi người gặp phải trong đời có thể là “nghiệp xấu” (cuộc đời gặp nhiều bất trắc, kém an toàn) hoặc “nghiệp tốt” (cuộc sống gặp nhiều thuận lợi, hanh thông) Con người tạo

ra “nghiệp” của chính mình trong quá trình sống và tích đức của chính bản thân Nhưng những tác động của nghiệp (báo hoặc quả báo) đến cuộc đời thực của mỗi người lại khá phức tạp, có khi trực tiếp có khi lại gián tiếp Chẳng hạn như đời này tạo ra nghiệp nhưng rất có thể nghiệp đó lại thể hiện ra kết quả và tác động đến con cháu đời sau Nói một cách đơn giản, “nhân quả báo ứng” chính là làm thiện được quả báo thiện, còn làm các điều ác bị quả báo ác Luật nhân quả chính là phương thức, qui tắc cùng định luật cố định của nhân quả báo ứng, nó ứng nghiệm cho bất kỳ ai không kể thân sơ, sang giàu hay hèn kém Nhân quả là một quá trình tạo tác và thọ lãnh

Nhân quả là chiều thời gian chuyển biến liên tục trong tự thân của vật thể và trong hoạt động tâm lí Vũ trụ nhân sinh luôn chuyển biến vận hành trong mọi thời khắc Quá khứ, hiện tại và tương lai luôn chuyển hướng theo chiều hướng nhân quả Đạo Phật khám phá về nhân quả, vô thường, duyên sinh giúp con người hiểu đạo lí, sống biết cách đối nhân xử thế Nhân quả thể hiện qua ba phạm trù thời gian, gọi là hiện báo, sanh báo và hậu báo Hiện báo là kết quả trổ ngay trong hiện kiếp, có thể ngay tức khắc, hoặc một ngày, một tháng, một năm, nhiều năm…trong một đời này Sanh báo là kết quả trổ ở kiếp sau khi vừa thọ nhận một thân mới Vì vậy, có những người tạo việc lành bây giờ mà vẫn gặp điều không tốt vì nhơn ác đã tạo từ kiếp trước Hậu báo là khi mình tạo việc lành hay việc dữ ở kiếp này, quả không trổ liền

Trang 21

Tuy cũng có đôi chút sắc thái thần bí, huyền hoặc Kiếp này là kết qủa của kiếp trước nhưng lại là nguyên nhân của kiếp sau này Phần nào có khác với định luật nhân quả trong khoa học Nhưng tư tưởng nhân quả này trong triết học Phật giáo, vẫn chứa đựng các yếu tố biện chứng đặc sắc có giá trị và rất đáng được trân trọng, học tập

1.2 Một số vấn đề của đạo đức sinh thái Phật giáo

Nhân loại đã và đang chứng kiến sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai Do bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định tính bằng hàng thập kỷ, hay hàng trăm năm Trong những năm gần đây, sự thay đổi khí hậu đã và đang diễn ra hết sức gay gắt với hiện tượng nóng lên của trái đất và trở thành một vấn đề của toàn cầu Chưa bao giờ loài người lại đứng trước rất nhiều khó khăn, thử thách đặc biệt là những khó khăn và thử thách từ sự thay đổi dẫn đến khủng hoảng môi trường và những tác động tiêu cực của nó đến cuộc sống của chính con người Tất cả đang đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe và sự an toàn của cả nhân loại Nhân loại phải sớm thay đổi tư duy, thay đổi lối sống của mình nếu không sẽ khó tránh khỏi khổ nạn Bắt đầu thay đổi từ trong nhận thức đến những hành động đơn giản nhất Phải có ý thức bảo vệ sinh thái, tôn trọng không gian sinh tồn của các giống loài khác, trái đất của chúng ta mới hy vọng có thể tồn tại dài lâu

Đạo Phật với sự hình thành và phát triển hàng nghìn năm Là một tôn giáo lớn, gần gũi, gắn bó mặt thiết với đời sống văn hóa Việt Nam, Phật giáo dễ dàng đi sâu

Trang 22

1.2.1 Thực hiện lối sống thân thiện với môi trường và đề cao chuẩn mực đạo đức hiếu sinh, không sát sinh

Như đã phân tích Phật giáo cho rằng vạn vật dù nhỏ bé hay to lớn nhưng một khi đã sinh ra và tồn tại trong thế gian đều có vai trò, vị trí bình đẳng như nhau Cỏ cây hoa lá đều có Phật tính; trùng cá chim thú đều có Phật tâm; sông núi đất đai là Phật thể; mặt trời, mặt trăng, gió bão, sấm sét đều là Phật dụng [49; tr.20]

Cuộc sống của muôn loài là một sinh thái đa dạng, vừa mang tính độc lập, cá biệt nhưng cũng vừa phụ thuộc lẫn nhau Đó cũng là lý do Phật giáo đề ra nguyên tắc thực hiện lối sống thân thiện với môi trường, phải đặt cuộc sống của mỗi cá nhân nằm trong mối liên hệ với các cá nhân và cá thể khác

Thực vật, theo quan niệm Phật giáo, là một loại có năng lực tùy thuận nhân duyên thích ứng với môi trường, thực vật có tri giác, suy nghĩ, năng lực tự vệ Cỏ hoa cây cối đều có Phật tính từ chính sự cống hiến của nó Thực vật với chức năng

và khả năng riêng của mình cung ứng hằng ngày cho nhân loại những thứ vô cùng quý giá Thực vật là sinh vật tự chế tạo lương thực bởi nhờ vào ánh sáng mặt trời, kết hợp với nước không khí, tạo thành thức ăn cần thiết để duy trì và nuôi sống bản thân Thực vật còn là một sự cung ứng hằng ngày cho chúng ta, từ nhu cầu về lương thực, thực phẩm, là một loại dược phẩm quý trong y học Làm dịu tâm hồn ta bằng

Trang 23

17

sự quyến rũ của nó, với màu sắc rực rỡ giúp con người có được sự bình yên từ bên trong Thõa mãn nhu cầu vật chất của ta về nhu cầu làm đẹp như các loại bàn ghế được chạm khắc nghệ thuật; các vật liệu như dây thừng, nệm… Đặc biệt hơn, là tính năng điều hòa khí hậu là lá phổi xanh của nhân loại, góp phần duy trì và bảo vệ đất nước

Tuy có sắc thái Vật hoạt luận trong triết học, cho rằng thực vật cũng có ý thức, biết tư duy Nhưng các luận giải của Phật giáo trong vấn đề này là sâu sắc, chứa đựng các yếu tố biện chứng và khoa học rất có giá trị, đáng trân trọng và chúng ta

có thể chia sẻ

Từ các lý giải như trên của Phật giáo cho chúng ta thấy giá trị tồn tại của thực vật là vô cùng to lớn và cực kỳ quan trọng đối với cuộc sống của nhân loại Nhưng

ít người thấu hiểu được điều ấy Không mấy ai ý thức được việc phá hoại sinh thái

có thể mang lại hậu quả nghiêm trọng như thế nào đối với nhân loại Thực vật thể hiện một sự cống hiến vĩ đại cho nhân loại Khai sáng dưới góc nhìn của Phật giáo thì thực vật đã thể hiện một loại Phật tính vô cùng quý báu mà nhân loại phải hết sức trân trọng Ngoài ra, đạo Phật đã phát hiện ra Phật tính linh động của thực vật,

từ sâu trong nhiều tư thái của chúng Từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về sự bình đẳng

và bằng những thuyết giải của mình hướng con người đến lối sống thiện, tôn trọng

tự nhiên, hài hòa với thiên nhiên Vạn vật đều bình đẳng dưới góc nhìn của Phật giáo Cho đến nay, điều này dần bộc lộ rõ tính khoa học, không siêu việt

Để chứng minh điều đó thì đã có rất nhiều nhà khoa học đã làm rõ được sự chuyển động, sự ý thức của thực vật như nhà sinh vật học người Áo trong đầu thế kỉ

20 là Raoul France cũng nói: Thực vật có thể di động thân thể một cách tự do, nhẹ nhàng, thanh nhã, sự tinh tế thành thục của chúng không thua động vật và con người Bằng sự hiển bày của Phật tính: từ bi, thanh bình, tự tại, bình đẳng sẽ phát khởi tâm con người Thực hiện một lối sống thân thiện và gần gũi hơn với thiên nhiên

Hãy tưởng tượng rằng một ngày thế giới của chúng ta không có sự tồn tại của động vật như trùng cá, chim muông… Cuộc sống sẽ trở nên đơn sắc, nhân loại

sẽ không thể đơn độc kéo dài cuộc sống của họ Bởi chính sự tồn tại của những sinh thể trên thế giới này theo Phật giáo là một mắc xích gắn kết với nhau, có vị trí và

Trang 24

18

giá trị ngang nhau để góp phần cân bằng một cuộc sống tươi đẹp Không thể khẳng định tuyệt đối rằng, con người là bậc vĩ đại nhất có thể vượt qua tất cả các loại động vật khác bởi chính trí tuệ của họ Đó là một sự khập khiển trong sự so sánh, thực thế chứng minh rằng: thính giác của con người không bằng con dơi, khứu giác không bằng con chó, thính giác chẳng hơn được loài cá heo… Sẽ là một thách thức gay go nếu chúng ta phân cao thấp với các giống loài khác trên trái đất

Xét trong một điều kiện hoàn cảnh cụ thể, có chăng con người sẽ hơn loài động vật ở chổ biết vận dụng trí tuệ của mình vào việc khai thác chính khả năng của các loài động vật… Như là, các nhà khoa học lợi dụng bản năng “định vị hồi âm” phát ra một loại sóng siêu âm, hồi âm ở tần số cao của con dơi để phát minh ra máy

xô na, ra đa- dò tìm định vị góc bằng sóng vô tuyến Khứu giác của loài kiến có thể nhận biết, phân biệt được độ ẩm của đất, con người có thể nhìn vào đó và dự đoán được thời tiết sắp xảy ra sẽ như thế nào Ở động vật có nhiều bản lĩnh siêu phàm mà con người không thể có được

Vẫn biết là con người, về một số phương diện nào đó, có các hạn chế như trên nhưng con người do có tư duy, ý thức họ có thể khắc phục các hạn chế ấy bằng cách chế tạo ra các phương tiện vật chất như: Kính hiển vi, kính thiên văn, máy gia tốc, máy tính điện tử, tàu ngầm, tàu du hành vũ trụ, v.v… Mặc dù vậy, con người cũng không được phép cho mình cái quyền hành xử như kẻ xâm lược đi chinh phục tự nhiên, tàn sát các loài động vật trong thiên nhiên

Hiện nay, với cuộc sống ngày càng phát triển con người có thể đấu đá nhau vì một mục đích duy nhất là phục vụ lợi ích cá nhân Điều này chúng ta cần thay đổi

và học hỏi ở các loài động vật Ở động vật còn mang trên mình những tình cảm mà con người cần đáng nhìn nhận và trân trọng Động vật sống trong đời sống mang tính xã hội lại càng có luân lí xã hội như tình thân, tình yêu, tình bạn, tình đồng đội, chiến hữu… Sư tử mẹ sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù để bảo vệ con của mình, nhưng cũng rất nghiêm khắc khi dạy dỗ con nên thường cố ý mang sư tử con đẩy xuống khe núi để hình thành cho con những năng lực sinh tồn cần thiết Như ở loài ngựa

“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” Cảm động trước sự trung thành và tình cảm thiên liêng của loài chó dành cho chủ của nó, trong một vụ cháy ở chung cư Carina ở Thành Phố Hồ Chí Minh tháng 3 năm 2018, chú chó đã cứu gia đình chủ của mình

Trang 25

“tâm từ bi”, với quan điểm yêu thương chúng sinh, bảo vệ chúng sinh Cấm sát sinh, bảo vệ sự sống chính là tôn trọng tất cả sinh mệnh hiện hữu trên thế giới này Giới luật Phật giáo cũng đã được đề ra để bảo vệ động vật Với quan điểm của Phật giáo tất cả chúng sinh đều bình đẳng Thay đổi sự “tùy tiện” bắt giết các loài động vật một cách tàn nhẫn bằng việc quan tâm chăm sóc và hành xử có nguyên tắc nhân đạo của con người đối với các loài động vật, để động vật có một cuộc sống mà chúng đáng có

Con người hãy thoát khỏi khỏi sự đắm chìm trong ngũ dục, nhận thức đời sống chỉ là vô thường, là sự bất bách trong cuộc sống sinh tử Thay đổi cách nhìn, cách đối xử với động vật như một cách chịu trận, mà thay vào đó là một sự trân quý cho sự tồn tại của nó trong cuộc sống này Trong quy luật sinh tồn đơn thuần của các loài động vật, chúng dùng hết năng lực, tình cảm, đạo nghĩa, trí tuệ… của mình

để mở ra một sức sống mới, mở ra Phật tâm tự tại sáng trong, là hạt giống ấm áp, sinh động, thơm nồng trong nhân gian Đó cũng là một sự lương sư giáo dục (hướng giáo dục con người đạt được phẩm chất đạo đức và có tài trí) đối với con người Đức Phật thuyết minh sự hình thành của vũ trụ là do nghiệp lực duyên khởi, tâm thức biến hiện, sông núi đất đai đều là sinh mệnh tự nhiên do Pháp thân hiện ra Vạn vật của giới tự nhiên đều do một hoặc nhiều loại vật chất tạo thành Là một sự phối hợp điều kiện quan hệ hỗ tương, vừa mang lại sự hỗ trợ cho nhau vừa ảnh hưởng xấu đến sự tồn tại và phát triển của sự vật khác Nhận thức được vạn vật tồn tại là một vòng tròn mắc xích Vạn vật cùng làm duyên khởi cho nhau để tạo thành

Trang 26

ác sẽ phải gánh chiụ mọi sự khổ đâu của trần thế, trái lại khi tạo nhân thiện thì con người sẽ cảm thấy được sự an vui, hạnh phúc Khổ vui trên đời đều do nhân quả Do nhân quả khổ vui thiện ác như vậy nên các hoạt động đời sống của con người luôn chuyển biến, thay đổi khác nhau Bắt nguồn từ sự vô minh của con người mà tạo thành nhiều quả ác Con người quá đề cao vật chất, do lòng tham, sân, si, dẫn đến không nhận thức được mọi sự vật, vật chất hữu hạn đều là vô thường Cùng với không hiểu được quy luật nhân quả, con người dần tạo ra sự nhận định mọi thứ là của ta, phụ vụ cho chính mình và cuộc sống của mình Biết bao nhiêu công trình được công nhận di sản văn hóa thế giới, được kì công xây dựng hàng nghìn năm trong phút chốc trở thành khói bụi với sự nổi giận của thiên nhiên, động đất, bão táp

Trước sự chứng kiến cảnh tượng con người giết hại loài động vật không thương xót; nhận thức được chấp ngã quá lớn của con người, chỉ biết có mình, chỉ muốn phục vụ cho mình, Đức phật ban lòng thương xót cho sự vô minh của con người, đào sâu và khai thác lại tính thiện của loài người, từ đó Đức Phật triển khai rèn luyện cho chúng sinh “ngũ giới” (năm điều răn) để tìm đến niết bàn Khái niệm

“Giới sát” là không giết hại chúng sinh, là hành động cao đẹp tuyệt vời của con người, để hình thành nên đức hiếu sinh Đây là giới đầu tiên trong ngũ giới mà Phật giáo muốn truyền dạy cho tất cả chúng sinh và toàn bộ các tu sĩ Phật giáo Con đường đi tìm bát chánh đạo phải trãi qua giới thứ nhất - giới luật “Đức hiếu sinh” Đức hiếu sinh là lòng thương yêu sự sống trên hành tinh này Sống là một con người có tâm hồn cao thượng, đầy lòng yêu thương, lòng vị tha bao dung với tất cả

sự sống trên hành tinh Ban phát tình yêu thương là xây dựng một hạnh phúc nhất trần gian Với quy luật nhân quả, con người sẽ gặt hái mọi khổ đâu khi tàn sát và giết hại sự sống của chúng sinh; tu dưỡng đạo đức hiếu sinh, thương yêu tất cả sự sống thì cuộc sống thế gian sẽ trở thành cuộc sống an lạc

Trang 27

21

Không sát sinh là một trong năm giới của đạo Phật Thể hiện một lối sống đạo đức thanh cao, vị tha bao dung Không sát sanh vì ta cùng loài vật đều ham sống, sợ chết như nhau Tất cả chúng sinh đều ngang hàng như nhau, luân hồi trong lục đạo Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, chúng ta phải dùng lòng thương xót, lòng từ bi

để cứu vớt, nỡ nào cắt xẻ chúng để no bụng ta Đời này chúng ta được làm người đó

là quả thiện định đời trước, phải nên gìn giữ thiện quả này khiến cho nó được tỏa rạng rộng lớn, duy trì vĩnh cửu Nếu tạo sát nghiệp ắt sẽ chịu ác đạo, đền trả nợ cũ, xoay vần giết hại nhau Để tránh khỏi khổ đau luân hồi điều đầu tiên là không nên sát nghiệp

Do đó, phải lấy lối sống hiếu sinh, thân thiện với muôn loài thay cho lối sống ích kỷ, hiếu sát hủy diệt môi trường như đức Phật thường dạy: “Người phật tử không được hoặc tự mình giết, hoặc bảo người giết, dùng phương tiện giết, khen tặng sự giết, thấy giết mà tùy hỷ, nhẫn đến dùng bùa chú để giết, vân vân, phàm tất

cả các loài hữu tình có mạng sống, đều không được cố ý giết chúng” Hoặc: “Người thường sinh tâm sát hại, càng tăng trưởng nghiệp khổ, mãi xoay vần trong sinh

tử, không có ngày ra khỏi” (Kinh Lăng Già).[32]

Tuy không tránh khỏi một số mâu thuẫn lôgíc, chẳng hạn như, con người làm sao có thể thực hiện được một cách triệt để giới sát (không sát sinh), khi mà họ vẫn thường phải ăn rau, quả, củ, thịt, cá, trứng… hàng ngày Nhưng rất rõ ràng là, các luận giải của Phật giáo về vấn đề này là sâu sắc, mang đậm màu sắc sinh thái nhân văn, rất đáng trân trọng và chúng ta có thể chia sẻ được

1.2.2 Khơi dậy Phật tính, tránh xa sân hận

Khái niệm “Phật tính” ở đây cần được hiểu là tính thiện lương hay lòng trắc

ẩn, thái độ khoan dung vốn có của con người Sự hy sinh, vị tha, cống hiến của tất

cả cho chúng sinh Phật giáo quan niệm tất cả chúng sinh, không kể loài hữu tình hay loài vô tình, đều có Phật tính Vì mỗi loài khác nhau sẽ có đặc tính, khả năng khác nhau mà nó trở thành dễ hay khó, nhanh hay chậm Cũng theo Phật giáo, vạn vật sinh ra và tồn tại trong thế giới vốn nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau,

là mối nhân duyên của nhau Nhìn bề ngoài mỗi người, mỗi kiếp tuy có sự khác nhau, nhưng đều ẩn chứa chung một đặc tính là tính thiện lương Cái bên trong của mỗi con người, của mỗi sự vật là điều kiện để chúng gắn chặt với nhau hơn, bình

Trang 28

22

đẳng hơn Do đó, Phật tính là sợi dây gắn kết giữa cuộc sống con người và con người, giữa con người với con vật hay vạn vật tồn tại trong không gian này Phật tính là mục tiêu là điểm đích của con người hướng đến một cuộc sống an lạc hạnh phúc, từ bi và an vui trong cuộc sống trần thế Mục đích cao nhất của Phật giáo là hướng thiện và cuộc sống đức độ Là phương tiện giải thoát con người khỏi vòng luân hồi bất tận Do chính đạo Phật được xây dựng trên chính cuộc đời và tư tưởng Phật Thích Ca Mâu Ni, ngài đã thấu hiểu được tác hại của việc sân hận của đời người Sân hận có thể làm cho con người trở nên tàn nhẫn, mất kiểm soát với mọi hành vi Do nhìn thấu được bản chất thiện trong mỗi con người, Đức Phật xây dựng

và truyền giảng những tư tưởng giáo lý phổ độ chúng sinh, hướng con người đến việc xây dựng Phật tính với lòng vị tha, bao dung Tránh xa sân hận để tìm đến một cuộc sống an lạc, tươi vui

Tuy nhiên, cũng theo Phật giáo, Phật tính vốn là tiềm năng sẵn có trong mỗi người nhưng để khơi dậy được tiềm năng đó cũng không hề dễ dàng Với cuộc sống

và nhận thức hiện tại của con người, con người đã vô minh trong cách đối xử với vạn vật có sự sống trên trái đất này Xem con người là sự trường tồn duy nhất, là bậc tối cao được hưởng mọi đặc quyền sống Mọi hoạt động, hành vi của chính con người chỉ biết đến lợi ích của chính mình và chỉ mình Coi trọng quá mức giá trị vật chất, không hiểu được của cải vật chất chỉ là vô thường Sẵn sàng chà đạp, giết hại đến những sinh vật bé nhỏ Lý do là dù mỗi người đều mang tiềm năng Phật tính nhưng trong cuộc sống trần tục con người đôi khi còn chịu sự ràng buộc bởi những sân hận, là sự tác động qua lại giữa danh và sắc nên dẫn tới tham, sân, si… Chính yếu tố sân hận này khi phát triển đến mức thái quá có thể trở thành vật cản, che lấp tính thiện lương, lòng trắc ẩn của mỗi người đã làm cho cái xấu, cái ác cũng từ đó

mà ra

Sân hận là biểu hiện cho năng lượng của tâm khi tham ái không được thỏa mãn Sân hận sinh khởi bắt nguồn từ yêu thích cái ta hay thích cái của ta Con người vui vẻ tỏ ra thích thú với những lời khen ngợi ta, và trở nên sân hận khi ai đó mắng nhiếc, chê bai ta, hại tài sản của ta, cảm thấy khó chịu, sinh lòng nóng giận Sân hận

là cánh cửa mở vào địa ngục vì nó dẫn đến sự hủy diệt bản ngã Vì chê bai nổi sân hận, nóng giận thì con người không còn đủ bình tĩnh để tự kiểm soát ngôn ngữ và

Trang 29

23

hành vi của mình Khi sân hận phát khởi có thể thiêu rui mọi công đức, tâm an lạc,

nhấn chìm bản tính thiện lương của con người Như Kinh Hoa Nghiêm có viết:

“Một niệm lòng sân hận nổi lên, thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng đều mở ra” “Một đốm lửa sân, có thể đốt hết muôn rừng công đức.” Từ đó Đức Phật khuyên: “Hãy từ

bỏ nóng giận thì phiền não sẽ không đến với các ngươi.” Chế ngự được sân, đủ nhẫn nại để huấn luyện mình để tạo quả ngọt

Sân hận là tình trạng bất ổn của tâm Sự sân hận dù ở mức độ nào cũng bất ổn

Nó được xem như là thuốc độc hại cho tâm Từ đó, Đức Phật kêu gọi chúng ta lấy tình yêu thương báo đáp thay vì thù hận Lấy oán báo oán thời oán chất chồng Lấy oán báo ân thời oán mới tiêu tan Nếu chúng ta muốn một cuộc sống an yên, không bạo động, không thiên tai, dich bệnh thì trước hết chúng ta phải đối đãi với tất cả chúng sinh bằng lòng nhân ái, phải an hòa và trầm tĩnh Rèn luyện bản thân tránh xa sân hận, tâm bình hạnh phúc an nhiên

Lãnh tụ tinh thần Phật giáo Tây Tạng Đạt lai Lạt ma đã từng nói: “Không ai cảm thấy hạnh phúc khi tâm mình nổi cơn giận dữ Bao lâu trong lòng chúng ta còn chứa đầy sự thù hận, thì sẽ không bao giờ có hạnh phúc lâu dài Để đạt được sự an lạc, thanh bình và chân thực, chúng ta phải biết chế ngự tính giận dữ và phát triển tình thương với cõi lòng rộng mở.”

Phải tu tâm để đạt đến vô sân Cũng từ quan niệm đó, Phật giáo cho rằng để khơi dậy được Phật tính, đồng thời tránh xa được sân hận thì mỗi người không có cách nào khác là phải lấy sự khoan dung cùng với tình yêu thương vô điều kiện giữa bản thân với muôn loài làm cứu cánh như đức Phật thường nói với đệ tử của mình:

“Không có lý do gì để thân thiện với người này và thù địch với kẻ khác Để gặt hái quả thiện, ngọt ngào và hạnh phúc nhất Tất cả mọi người đều bình đẳng như nhau,

vì ai cũng đều muốn hưởng hạnh phúc an lạc và không ai thích bệnh tật khổ đau Do

đó, chúng ta phải đối xử với mọi người bằng tình thương không phân biệt” Bình đẳng với sự sống của các sinh thể trên trái đất này, chúng cũng được cấu thành từ tứ đại như con người, đều có Phật tính, Phật tâm… Vì vậy, không thể nâng cao sự sống của con người mà chà sát các sinh thể còn lại

Giá trị nhân văn của đạo Phật nằm ở chỗ khởi dậy được Phật tính ở bản ngã con người Mong muốn và thực hành việc giáo hóa, giác ngộ chúng sinh Từ đó con

Trang 30

24

người hình thành ý thức làm chủ mọi hành vi, làm chủ số phận của chính mình, góp phần kiềm hãm sự tức giận của thiên nhiên làm cho xã hội được an lạc và thanh tịnh

1.2.3 Tạo dựng nghiệp thiện, tránh xa nghiệp ác

Chữ nghiệp dịch từ chữ Karma hay Kamma, có nghĩa là hành động có tác ý của thân, khẩu và ý Các hành động không có tác ý thì chải là hành động mà không được gọi là nghiệp [39; tr.309]

Luật Nhân quả theo Phật giáo thể hiện thành quy luật thiện, ác theo nguyên tắc: “Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai!” Khi Nhân quả được hình thành sẽ tạo ra một kết quả chung gắn với cuộc đời của mỗi người hay sự vật gọi là

“Nghiệp” Nghiệp là kết quả của một xâu chuỗi của sự tác động nhân - quả nhưng nghiệp cũng tạo ra quả báo trong tương lai

Quả báo khi đủ nhân duyên sẽ làm chúng sinh tái sinh vào một cuộc đời, một hoàn cảnh nhất định, một điều kiện sống cụ thể, nhưng hành động của chúng sinh trong cuộc đời đó vẫn có sự tự do và dựa theo nhận thức của chúng sinh đó Hành động do chúng sinh lựa chọn thực hiện sẽ tạo ra nghiệp mới và quả báo mới như đức Phật thường nói: “Ác nghiệp chính do mình tạo, tự mình sinh ra Ác nghiệp làm hại kẻ ngu dễ dàng như kim cương phá hoại bảo thạch Làm dữ bởi ta,

mà nhiễm ô cũng bởi ta; làm lành bởi ta, mà thanh tịnh cũng bởi ta Tịnh hay không tịnh đều bởi ta, chứ không ai có thể làm cho ai thanh tịnh được” [63]

Nghiệp là hành động có tác ý, là một sự chủ tâm, một ý muốn trong tâm thức Nghiệp chính là sự tác động lớn đến cuộc sống hiện tại của nhân loại Nghiệp có bốn đặc tính: Thứ nhất, thể tánh của nghiệp có nghĩa là nghiệp là quả luôn luôn mang bản chất với nghiệp làm phát sinh ra nó Thứ hai, nghiệp luôn luôn sinh động, nghiệp sẽ liên tục tăng trưởng cho đến khi gặp điều kiện thích hợp thì nó sẽ phát sinh ra quả, đây gọi là sự tăng trưởng của nghiệp Thứ ba, nghiệp không thực thi là một hành động không có tác ý, nghiệp sẽ không tạo thành Thứ tư, nghiệp hoàn tất, nếu đủ thời gian, đủ điều kiện hoàn tất thì nghiệp sẽ không tan biến mà nó sẽ tạo quả, tất nhiên là nghiệp có thể hóa giải bằng việc tu tập Như một loại nhân quả, gieo nghiệp thiện thì cuộc sống tươi đẹp và thuận ý với chính ta Do bản thân ta, trong quá trình sống, quá trình nhận thức và hành động gieo nghiệp ác thì với hiện

Trang 31

25

tại ta phải trả giá cho điều đó Với cuộc sống hiện nay, hành động tham, sân, si của con người và ý thức về thiên nhiên như là một cá thể biệt lập, vô tri vô giác và sẵn sàng là miếng mồi cho con người càng quét không chút thương xót Điều đấy tạo nên một nghiệp ác đối với chúng sinh Số người thiệt mạng, của cải nhà cửa bị nhấn chìm trong biển lũ ngày càng tăng, biến đổi khí hậu, bệnh tật ngày càng nhiều… Con người phải có trách nhiệm đối với chính ta, bởi con người là chủ nhân của nghiệp, vừa là kẻ thừa tự của nghiệp Như Thế Tôn đã dạy “ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp

là điểm tựa Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” [39, tr.310]

Nghiệp theo Phật giáo, ta có thể chuyển hóa được, làm chủ được Chuyển hóa bằng cách phải nổ lực ý chí mạnh mẽ, phải có sự cố gắng thì sự báo ứng của nghiệp xấu không làm thụt lùi ý chí của ta trong cuộc sống này

Nghiệp theo Phật giáo có hai loại: gồm nghiệp tốt (hay nghiệp thiện) và nghiệp xấu (hay nghiệp ác hay nghiệp khổ) Một nghiệp tốt có thể mang lại kết quả tốt trong một sự tái sinh, là cơ hội để thoát khỏi vòng luân hồi Trái lại nếu gặp phải nghiệp xấu (theo Phật giáo: dù nghiệp tốt hay nghiệp xấu cũng đều do con người tự tạo ra) có thể mang lại kết quả xấu trong một sự tái sinh, cuộc đời còn bế tắc trong kiếp luân hồi như lời dạy của đức Phật: “Người thường sinh tâm sát hại, càng tăng trưởng nghiệp khổ, mãi xoay vòng trong sinh tử, không có ngày ra khỏi” [32] Nghiệp cũng có thể thay đổi từ nghiệp xấu thành nghiệp tốt nếu ta biết điều chỉnh ý thức của bản thân, quyết tâm tránh xa tham, sân, si Phải nổ lực sống thiện, sống bao dung, rộng lượng, nhân từ để chuyển xoay nghiệp ác tạo thành nghiệp thiện

Nghiệp không có nghĩa gì khác hơn là “cái đang tác động” Nghiệp là cái mà theo đó chúng sinh biểu hiện hoạt động của mình theo nhiều thể khác nhau Mỗi chúng sinh đều là một pháp duy nhất, nghiệp của mỗi chúng sinh không thể đem ra

đo đếm hay so sánh Bởi dù một người có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ, hay suy nghĩ cùng một thứ sẽ khác với một người khác thấy, nghe, ngửi, nếm, hay suy nghĩ

vì đó là điều độc nhất của mỗi người Mỗi người sẽ có pháp duy nhất, một tính cách duy nhất bởi nghiệp của riêng họ Nghiệp là một nội lực cố hữu của mỗi người phụ thuộc vào tính chất liệu tạo thành nó Theo Phật giáo, chính chất liệu tạo thành

Trang 32

Từ những sự phân tích trên đây cho ta thấy tư tưởng “Tạo nghiệp thiện, tránh

xa nghiệp ác” do đó trở thành một trong những nguyên tắc đạo đức sinh thái phổ biến của Phật giáo, để thực hành một lối sống thân thiện của chúng sinh, trên con đường diệt khổ Bởi những yếu tố do chính con người tạo ra và dĩ nhiên con người thừa hưởng, đối với những hành động tốt, hoặc gánh chịu những hành động xấu là kết quả của nó Nghiệp là một sự cảnh giác, một niềm hy vọng lớn lao, một ý thức trách nhiệm đối với chính mình và mọi thực thể sống Có nhiều cách để “tạo nghiệp tốt, tránh xa nghiệp ác” nhưng theo Phật giáo cách tốt nhất là thực hiện

“Thập thiện” (mười điều thiện) và “Ngũ giới” (năm điều răn, cấm) trong học thuyết Phật giáo đã có từ ngàn đời nay

1.2.4 Nhận thức cuộc đời là vô ngã, vô thường

Triết học Phật giáo cho rằng, không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên cho sự hình thành vũ trụ, vì vũ trụ là vô thủy, vô chung, vạn vật trong thế giới biến hóa vô thường, vô định, không do một vị thần nào tạo ra cả Con đường thành Phật của thái

tử Tất Đạt Đa là con đường giác ngộ tìm ra chân lý của mọi sự khổ đau trên trần thế

và cách dứt bỏ nó Giáo huấn, giảng giải với học trò của mình bằng sự nhận thức cuộc đời con người cũng là vô ngã, vô thường

Đức Phật tuyên bố: “Hết thảy các Pháp là vô ngã”, “Hết thảy các hành là vô thường và khổ đau” đây gọi là “Ba Pháp ấn” Cái nhìn trí tuệ vô ngã của Đức Phật

Trang 33

27

là cái nhìn giải phóng khổ đau, tù ngục Con đường nhận thức cuộc đời là vô ngã, là con đường “Trung đạo” của hai mặt: Nhận thức và hành động Từ đấy Đức Phật vạch mở con đường giải thoát, dứt sạch sinh tử, khổ đau [39; tr.51]

1.2.4.1 Vô ngã là thuyết về bản chất của sự tồn tại

Quan điểm vô ngã cho rằng vũ trụ chỉ là sự giả hợp, do hội tụ đủ nhân duyên

mà thành Ngay bản thân tồn tại của thực tại hữu hình con người cũng do nhân duyên kết hợp được tạo thành bởi hai phần: Thể xác và tinh thần, là kết hợp của ngũ uẩn đó là “Sắc, thụ, tưởng, hành, thức” Vô ngã còn cho ta biết được cái tuyệt đối của vũ trụ là bản chất của con người Khi xem xét, nhận thức về mọi thứ là của ta Tai, mắt, mũi, miệng này là của ta Dung nhan này là của ta, bàn ghế,… là của ta,

đó là cái tự ngã Khi cá nhân con người đề cập và nhấn mạnh cái tự ngã của mình thì người đấy sẽ khó tìm đến hạnh phúc, hay đau khổ và chán nản Như là cái mũi này là của ta, ta mong muốn nó được cao đẹp nhưng duyên sinh nó không được như

ta mong muốn thì dẫn đến suy nghĩ buồn rầu, đau khổ Từ quá khứ, hiện tại và vị lai không có cái gì là tự ngã của ta

Vô là không, ngã là ta Vậy bản thể nhất định đã không, làm sao có tài sản là của ta, vợ con là của ta? Vậy mà bao nhiêu người mê lầm nên chấp vào những gì của ta rồi sinh ra ngã kiến Thời đại văn minh hôm nay, nền công nghệ tiên tiến đưa đến cho con người một cuộc sống khá đầy đủ với nhiều tiện nghi trong cuộc sống Cũng vì vật chất mà con người chạy theo tiền tài, danh vọng, địa vị… không ngừng đưa bản ngã của mình lên cao Nên sự ra đời của Phật giáo trên thế gian này trên

2500 năm lịch sử, đã xem vô ngã là chứng nhận tính xác thực của chánh pháp, quan trọng trong Tam pháp ấn (giáo pháp, sự hành trì, chứng đắc quả vị), không những xác định chánh pháp còn mang tính đặc thù của giáo lý

Sống với vô ngã tức là nhận thức đầu tiên ở thân tâm của mình, thấy được bản chất vô thường Sự sống của ta là sự vay mượn thân xác từ đó không làm tù nhân cho tham ái hay nô lệ cho dục vọng điên cuồng phát khỏi từ tham, sân, si Vô ngã là

sự sống trong sáng, là chân trời giải thoát, là tên gọi của niết bàn Cuộc sống lý tưởng phải là vô ngã, quên cái Ta đi để hòa mình vào chung sống với mọi người, với vạn vật sinh thái đất trời bao la

Trang 34

28

Thẩm định giá trị khoa học trong quan niệm vô ngã của Phật giáo là điều không đơn giản, có nhà nghiên cứu cho tư tưởng ấy của Phật giáo là duy tâm chủ quan, mang màu sắc chủ nghĩa hư vô, nhưng nhiều luận giải trong ấy, lại gần với khoa học hiện đại, nhất là những vấn đề có liên quan đến con người trong hệ sinh thái tự nhiên, chống chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, sự tham lam – Những luận giải ấy lại mang một tính chất sinh thái học nhân văn phù hợp ngày nay

1.2.4.2 Vô thường là bản chất tồn tại thế giới

Thuyết vô thường cho thế giới là một dòng biến ảo vô thường, vạn vật đều biến đổi vô cùng theo chu trình sinh - trụ - dị - diệt hay là thành - trụ - hoại - không theo luật nhân quả, mọi vật hữu hạn không có cái gì là vĩnh hằng là tuyệt đối

Các hiện tượng tâm lý và vật lý chuyển biến liên tục Phật giáo gọi sự chuyển biến đó không ngừng nghỉ đó là “vô thường” Vô thường là một trạng tái, hay sự tồn tại không bền chắc Sự chuyển biến từ trạng thái này sang trạng thái khác Đời người cũng thế, cũng phải tan theo định luật thành trụ hoại không

Nhận thức rằng: “Thân này vô thường, tâm này vô thường, hoàn cảnh là vô thường” Thân vô thường, thân thể sanh diệt từng giây từng phút, vì các tế bào cấu tạo nên thân thể này từng giây từng phút lớn lên và thay thế bằng các tế bào khác, thân này là vô thường và giả tạm Trong kinh A Hàm Phật dậy: “Tất cả không ai thoát khỏi sinh lão bệnh tử” nên thân xác ta chỉ tạm bợ trong cõi này Thân tứ đại của chúng ta là vô thường, nhưng trong thế gian này con người vẫn đang cố tình bồi

bổ, cung phụng thân xác của họ bằng cách tạo tác ra biết bao nhiêu tội ác ghê gớm [55]

Hiện nay, để cung phụng đáp ứng những nhu cầu làm thỏa mãn thân xác vô thường đó, con người chà đạp tàn nhẫn giết hại các loài động vật, phá hủy tạo tác của thiên nhiên Với tư tưởng cho rằng, con người là điều đáng trân quý còn các loài động thực vật kia chỉ là những thứ vô tri vô giác, đó là kiếp sống của chúng Tâm

vô thường, ngoại cảnh đã làm cho tâm niệm của con người thay đổi từng giây, từng phút Phút trước chúng ta đang vui, bỗng vài giây sau chuyển sang buồn

Tâm con người bất định, tâm của chúng ta được cấu tạo bởi từng niệm sanh diệt, vì không nhận biết được sự chuyển biến mau lẹ của nó, nên chúng ta cứ tưởng

là nó bất biến Có thể phút này ta nghĩ vậy nhưng phút sau ta có thể nghĩ khác đi đó

Trang 35

29

là sự vô thường của tâm Tâm chứa đầy vọng thức (ham muốn, dục vọng), chân tâm

sẽ dần biến mất và những tạp nhiễm tham, sân, si sẽ dần lấn sâu vào tâm thức của con người, liên tục hành hạ con người và đưa họ lún sâu vào vòng sinh tử luân hồi Thế mà đời người hoang tưởng cho tâm này là thật, là trung tâm và bám víu nó, nhơn danh nó để tham lam và làm bao nhiêu điều tội lỗi, cũng như gây biết bao nhiêu đau thương cho kẻ khác, nhất là đối với thế giới tự nhiên, với muôn loài vạn vật

Con người không hiểu được nhân duyên chi phối khiến cho vạn vật kể cả con người đều vô thường, vạn pháp đều vô ngã, nên người ta lầm tưởng rằng cái gì cũng thường định, cái gì cũng là của ta, có ta, tham dục hành động chiếm lấy khổ đau không dứt Với sự vô minh đó, con người cho rằng thiên nhiên này là của ta, nó bất diệt, và mọi thứ đã là của ta thì ta có quyền đặc dụng chúng theo hành thức của ta Không thấy được vô thường trong mọi sự vật và cơ thể của chính ta, từ đó làm tăng

sự khổ đau cho tất cả chúng sinh

Trong Kinh “Cú pháp” viết: “Không có lửa nào như lửa tham, không có ngục

tù nào như lòng sân”, nếu loại bỏ được sự ham muốn (tham, sân, si) thì chúng ta sẽ

dễ dàng nhận thấy đời người là “vô ngã, vô thường” (tạm thời và luôn thay đổi,

“chư hành-vạn vật và con người là vô thường, chư thức vô ngã”) Từ đó, Phật giáo tin rằng: một khi chúng ta nhận thức được cuộc đời là vô ngã, vô thường thì nó cũng giúp chúng ta thay đổi về mục đích, lối sống và các chuẩn mực đạo đức trong cuộc sống

Thay vì việc đeo đuổi một mục đích và lối sống tranh đoạt, ích kỷ cho cá nhân, cho bản thân mỗi người chúng ta sẽ tự nguyện lựa chọn một cuộc sống xả thân, dâng hiến cho cộng đồng, cho đồng loại Trong lối sống này mọi nguyên tắc

và chuẩn mực đạo đức ích kỷ truyền thống sẽ bị lên án và thay vào đó bằng các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức mới – đạo đức của lối sống cộng đồng bền vững hay đạo đức sinh thái Hoàn cảnh là vô thường, dịch chuyển một giây thì có biết bao nhiêu điều thay đổi Chẳng riêng gì sinh vật là biến đổi từ trẻ sang già rồi chết Sông núi cũng có khi lỡ khi bồi và trăng sao cũng khi tròn khi khuyết Trên đời nói chung không có gì là tồn tại vĩnh viễn

Trang 36

30

Biết được cuộc đời là vô ngã, vô thường, chúng ta cũng hạn chế được các việc

ác và phát triển được mặt thiện Cố gắng học hỏi và tu tập, đem tình yêu thương san

sẻ với muôn loài bằng trái tim hiểu biết Chúng ta đừng quá say mê, tham đắm vào thân xác này mà làm khổ lụy cho nhau Hiểu được giáo lý vô thường để mọi người chúng ta sống có ý nghĩa hơn, làm được nhiều điều thiện lành, tốt đẹp, luôn sống có ích cho mình và người trong hiện tại và tương lai

Thẩm định giá trị khoa học trong quan niệm vô thường của Phật giáo cũng là một điều không đơn giản Có nhà nghiên cứu đánh giá tư tưởng ấy là một tư tưởng biện chứng đặc sắc có giá trị Nhưng cũng có người cho đó là một tư tưởng cực đoan Phái Jaina giáo cùng thời với Phật giáo ở Ấn Độ cổ đại đã đối lập tư tưởng này của Phật giáo với tư tưởng về tồn tại đầu tiên (Brahman) vô thủy, vô chung và

bất biến trong Kinh Upanishad của Bà La Môn giáo Thực ra, có vận động vì có

đứng im và ngược lại, có đứng im vì có vận động Mọi cái hữu hạn đều vô thường, không vĩnh hằng nhưng vật chất, vận động vật chất nói chung, không gian, thời gian nói chung là vĩnh cửu, vĩnh hằng Triết học Mác Lênin và cả khoa học tự nhiên hiện đại đều khẳng định như vậy Tuy nhiên ở đây, cũng không thể phủ nhận trong tư tưởng vô thường của triết học Phật giáo, chứa đựng nhiều yếu tố biện chứng đặc sắc

có giá trị, đáng trân trọng

Các tư tưởng vô ngã, vô thường, nhân duyên trong Phật giáo cho chúng ta các luận giải hợp lý về các vấn đề đạo đức sinh thái nhân văn của thế giới ngày nay

Trang 37

31

Tiểu kết chương 1

Chương 1 trình bày những nội dung cơ bản của đạo đức sinh thái Phật giáo Nghiên cứu, tìm hiểu về nguồn gốc, cở sở lịch sử, xã hội Nguồn gốc, nhận thức, tư tưởng, làm rõ những luận thuyết Phật giáo tạo nên đạo đức sinh thái phật giáo như: Thuyết duyên khởi, thuyết vạn vật bình đẳng, thuyết nhân quả Mọi sự vật tồn tại và phát triển trên thế giới này, theo Phật giáo là đều có duyên của nó, có sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau Đều bình đẳng, và là nhân quả của nhau Và điều nhìn thấy được và đáng học tập ở tôn giáo này là lối sống thân thiện, hài hòa với thiên nhiên và tất cả mạng sống trên trái đất này Xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với thiên nhiên trên con đường tu hành của mình

Đồng thời khai thác làm rõ một số vấn đề khi luận bàn về đạo đức sinh thái Phật giáo Để tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề môi trường sinh thái ngày nay Định ra các nguyên tắc ứng xử, các chuẩn mực về hành vi trong lối sống hài hòa, cân bằng giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên Như một triết lý nhân sinh, đạo Phật phổ độ chúng sinh, xây dựng lối sống tinh khiết, hài hòa Thực hiện lối sống thân thiện với môi trường và đề cao chuẩn mực đạo đức

hiếu sinh, không sát sinh Khơi dậy Phật tính, tránh xa sân hận Tạo dựng nghiệp

thiện, tránh xa nghiệp ác Nhận thức cuộc đời là vô ngã, vô thường Những thuật ngữ khi nghiên cứu về Phật giáo được diễn giải cụ thể trong từng phần Như nghiệp

là gì? Hay Phật tính là như thế nào?

Chương 1 đã đi khai thác các khía cạnh của đạo đức sinh thái Phật giáo, triển khai được các vấn đề liên quan, tạo nên một cơ sở để nghiên cứu trong chương 2 của đề tài

Trang 38

32

CHƯƠNG 2 NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG

SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

2.1 Vấn đề môi trường và ý thức bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay 2.1.1 Khái niệm Môi trường và Ý thức bảo vệ môi trường

Có không ít những định nghĩa khác nhau về môi trường Những định nghĩa ấy phụ thuộc nhiều vào phương diện nhìn nhận và cách tiếp cận môi trường Từ một khía cạnh này có thể cho chúng ta một khái niệm này về môi trường nhưng bắt đầu

từ khía cạnh khác sẽ cho chúng ta một khái niệm khác hơn hơn, mới lạ hơn Có thể nhìn từ góc độ của sinh học, kiến trúc, khoa học bảo hộ lao động, triết học sinh thái, đạo đức học nói chung và đạo đức học sinh thái nói riêng, v.v…

Trong sinh vật học: Môi trường có thể định nghĩa như là tổ hợp các yếu tố khí hậu, sinh thái học, xã hội, thổ nhưỡng tác động lên cơ thể sống và xác định các hình thức sinh tồn của chúng Vì thế, môi trường bao gồm tất cả mọi thứ mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của các cơ thể sống hay các loài bao gồm ánh sáng, không khí, nước và các cơ thể sống khác, v.v…

Trong kiến trúc, khoa học lao động và bảo hộ lao động thì môi trường là toàn

bộ các yếu tố trong phòng hay của tòa nhà có ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và hiệu quả làm việc của những người sống trong đó - bao gồm kích thước và sự sắp xếp không gian sống và các vật dụng, ánh sáng, sự thông gió, nhiệt độ, tiếng ồn, v.v Nó cũng có thể nói đến như là tập hợp của kết cấu xây dựng

Triết học - đạo đức học sinh thái cũng có cái nhìn riền về môi trường Nó tiếp cận mô trường trong mối tương quan với con người và xã hội Môi trường như là không gian và thời gian sinh tồn của con người và xã hội Nó cũng chính là cuộc sống của con người và xã hội

Về phương diện Luật học, pháp lý, theo khoảng 1, điều 3, chương 1 Luật Bảo

vệ Môi trường nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2014 thì: "Môi trường

bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên"

Như vậy, môi trường ở đây là môi trường sống của con người và xã hội Nó bao gồm những điều kiện địa lý – tự nhiên, sinh thái và những điều kiện vật chất do

Trang 39

33

con người sáng tạo ra Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng Môi trường sống của con người, theo chức năng, được chia thành các loại: Một là; Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Ðó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú Môi trường tự nhiên này cũng đã được tái tạo lại bởi con người, là giới tự nhiên thứ hai, hay tự nhiên được nhân loại hóa, như C.Mác đã quan niệm Một môi trường tự nhiên trong sạch, an lành, không có các khủng hoảng về sinh thái đó sẽ là một thiên đường cho cuộc sống của con người nơi trần thế

Hai là: Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Ðó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, v.v Môi trường xã hội, với những nguyên tắc pháp luật, đạo đức… của nó, định hướng cho hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác Một môi trường xã hội lành mạnh, không có các khủng hoảng, không có bóc lột, chiến tranh, tội ác, con người sống trong tình người… đó sẽ là một niết bàn đối với con người trên thế gian

Ba là; Cùng với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, người ta còn phân biệt môi trường nhân tạo, cũng là môi trường xã hội, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như: ôtô, tàu hỏa, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo, v.v

Như vậy, môi trường theo nghĩa rộng nhất, là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,

Ngày đăng: 24/05/2019, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w