Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có sự gia tăng mạnh mẽ, diễn ra toàn diện trên nhiều lĩnh vực: thương mại, tài chính, đầu tư, cũng như các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi t
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN HỌC
MÔN: KINH TẾ CÔNG
ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Họ và tên: Phùng Thị Thu Huyền
Lớp: 25QLKT11 Môn: Kinh tế công GVHD: Ts Lê Văn Chính
A – PHẦN MỞ ĐẦU
1, Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, chính phủ với tư cách là người quản lý nền kinh tế quốc dân, làm nhiệm vụ dẫn dắt và tạo ra môi trường để thị trường vận hành Chất lượng và hiệu quả hoạt động của thị trường đến đâu một phần lớn phụ thuộc vào năng lực của bộ máy nhà nước
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có sự gia tăng mạnh mẽ, diễn ra toàn diện trên nhiều lĩnh vực: thương mại, tài chính, đầu tư, cũng như các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường … với các hình thức đa dạng và mức độ khác nhau, tạo ra những mối quan hệ chặt chẽ, sự phụ thuộc sâu sắc và những tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế trên thế giới
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã thu đực những thành tựu quan trọng bước đầu, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, tạo môi trừng thuận lợi hơn để phát triển kinh tế Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn những tồn tại cần khắc phục
Trang 2Từ đó tôi đã chọn đề tài “Vai trò của chính phủ trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế”
2, Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: vai trò của chính phủ trong quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế
- Phạm vi nghiên cứu: Vai trò của chính phủ từ năm 1991 đến nay
3, Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung cơ bản đã đặt ra dựa trên lền tảng phương pháp luận chung là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Và một số phương pháp như: Phương pháp logic, lịch sử, phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh …
4, Kết cấu của tiểu luận
Tiểu luận gồm 3 phần:
A – Phần mở đầu
B – Phần nội dung
C – Kết luận, kiến nghị
B – PHẦN NỘI DUNG
I – Cơ sở lý luận
1.1 Khái niệm về toàn cầu hóa
Thuật ngữ “toàn cầu hóa” xuất hiện lần đầu tiên trong từ điển của nước Anh vào năm 1961 và được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối thập niên 1980 đến nay để diễn đạt một nhận thức mới của loài người về một hiệ tượng, một xu hướng toàn cầu mang tính chủ đạo trong quan hệ thuốc tế hiện đại Do tầm quan trọng, tính bao trùm, cũng như tác động của nó, xu hướng toàn cầu hóa đang được coi là vấn
đề trung tâm cả về lý luận và thực tiễn
Trong cuốn sách “Toàn cầu hóa với các nước đang phát triển”, các tác giả sử dụng khái niệm “Toàn cấu hóa là sự phân công lao động ngày càng mạnh mẽ trên
Trang 3phạm vi toàn thế giới, thể hiện qua phân chia các quá trình sản xuất thành nhiều bậc tại các địa điểm khác nhau Điều này biểu hiện trước hết trong sự tăng trưởng nhanh chóng của việc kinh doanh hàng hóa quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như sự hòa nhập của các thị trường vốn, dẫn tới sự phụ thuộc ngày càng tăng cao vào các thị trường và quá trình sản xuất ở các nước khác nhau”
Các nhà phân tích của Ban thư ký Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) lại cho rằng “Toàn cầu hóa là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát cả kĩnh vực kinh tế xã hội, chính trị và các hậu quả của sự phân phối”
Có thể nhận thấy các cách định nghĩa đều tập trung vào sự tăng lên của các mối quan hệ, sự tùy thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội giữa các quốc gia và các nền kinh tế trên thế giới, cũng như sự tăng lên của các dòng nhân tố xuyên quốc gia, sự tăng lên của các quá trình theo đó thế giới, ở một số khía cạnh, đang trở thành một địa điểm duy nhất,
Từ những khái niệm khác nhau về toàn cấu hóa trên đây, có thể rút ra một định nghĩa khái quát về toàn cấu hóa như sau:
Toàn cầu hóa có thể được hiểu là một quá trình, trong đó các quốc gia trên thế giới liên hết, hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc trên mọi phương hiện từ kinh tế, chính trị, quân sự, đến văn hoá, xã hội … Đường biên giới giữa các quốc gia mờ đi, các bức tường ngăn cách dần bị xóa bỏ Sự phân công lao động và hợp tác sản xuất vượt ra khỏi giới hạn các quốc gia, sự vận động của các dòng vốn
và các hoạt động xuất khẩu tư bản diễn ra với tốc độ nhanh chóng, với quy mô khổng lồ Các yếu tố sản xuất và lực lượng lao động di chuyển dễ dàng, thuận tiện giữa các quốc gia, tạo nên một tốc độ vận động, tốc độ biến đổi nhanh nhạy của các quá trình, hình thành một hệ thống kinh tế thống nhất toàn cầu, với quy mô toàn thế giới, đạt tới trình độ và chất lượng mới, cao hơn
1.2 Nền kinh tế thị trường
Trang 4Kinh tế thị trường mở ta cơ sở, điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho quy mô sản xuất không bị bó hẹp trong phạm vi của từng quốc gia mang tầm quốc tế, thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, gắn các quốc gia vào sự ràng buộc của hệ thống sản xuất và tiêu thụ trên phạm vi thế giới Sự tồn tại
cơ chế thị trường trong các nền kinh tế có nghĩa là cùng tồn tai cơ chế và phương thức phân bổ các nguồn lực từ sức lao động, đến tư liệu sản xuất … Điều này rõ ràng là có ý nghĩa cho thúc đẩy mở rộng đầu tư, giao dịch thương mại và tiếp nhận nguồn lao động … Kinh tế thị trường càng phát triển có nghĩa là độ mở cửa nền kinh tế càng cao, đồng thời kéo theo sự hình thành, phát triển của nhiều thị trường với những công cụ và phương thức giao dịch mới, điều này cũng là cơ sở cho sự gia tăng quá trình toàn cầu hóa
Như vậy, bản chất của nền kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế mởi, coi trọng hiệu quả, dựa trên phân công lao động và chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc, nhằm phát huy tối đa lợi thế của mỗi đơn vị kinh tế cũng như cả nền kinh tế Điều này thúc đẩy mạnh mẽ sự liên kết giữa các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải mở rộng quan hệ giao lưu với các nước khác về nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, không bị giới hạn bởi các đường biên giới lãnh thổ quốc gia và ranh giới dân tộc, chủng tộc, tôn giáo Chính vì vậy, sự hình thành
và hội nhập của các nền kinh tế thị trường vào hệ thống kinh tế thế giới là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định, tạo cơ sở kinh tế cho quá trình toàn cầu hóa, đẩy mạnh các quan hệ hợp tác và cạnh tranh về nhiều mặt giữa các chủ thể của nền kinh tế thế giới
1.3 Đặc trưng của toàn cầu hóa.
Toàn cầu hóa không phải là một hiện tượng mới Nó đã có một quá trình lịch
sử phát triển lâu dài của mình Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hòa hiện nay có những đặc trưng riêng, những nét khác biệt về chất so với toàn cầu hóa ở các thời
kỳ trước trong lịch sử Toàn cầu hóa trong kỷ nguyên này diễn ra trên nền tảng các
Trang 5công cụ mới, với sự xuất hiện của những nhân vật mới, những thị trường mới, giá trị mới và vận động dựa trên khuôn khổ những quy tắc điều chỉnh mới
II – Thực trạng
Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới, sau mấy chục năm liên tiếp bị chiến tranh tàn phá Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ thực hiện chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, trong điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều thử thách khắc nghiệt Từ một nền kinh tế tự cung tự cấp, nghèo nàn lạc hậu, bắt đầu mở cửa, tiếp xúc trực diện với một thị trường rộng lớn, nơi có nhiều quan hệ kinh tế cạnh tranh khốc liệt, đang có nhiều quốc gia, tập đoàn kinh tế tư bản giàu mạnh luôn gây sức ép, muốn thao túng cả nền kinh tế tài chính thế giới
Đại hội Đảng VIII năm 1996 xác định nhiệm vụ “mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao
vị thế nước ta trên trường quốc tế Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” Cùng với việc tăng cường và thúc đẩy các mối quan hệ song phương với các nước, Việt Nam
đã tích cực và chủ động tham gia cào các tổ chức và thể chế hợp tác khu vực và quốc tế Chủ trương này đã được khẳng định trong các nghị quyết trung ương II (6/1992), nghị quyết đại hội Đảng VIII và nghị quyết 04 của BCHTW Đảng khóa VIII (12/1997) đã đề ra nhiệm vụ “giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với khu vực và thế giới” và đến đại hội IX năm 2001 khẳng định chủ trương “phát huy tối đa nội lực và tranh thủ ngoại lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững”
Hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế quốc tế là điều kiện cần thiết không thể thiếu được để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ theo định hướng XHCN Đồng thời có tự chủ về nền kinh tế mới có thể chủ động hội nhập quốc tế có hiệu quả, đảm bảo được chủ quyền quốc và lợi ích dân tộc
Trang 6Thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, hơn 10 năm qua chúng ta đã
có những bước đi ban đầu tương đối bài bản trong quá trình từng bước hội nhập kinh tế thế giới
* Thành tựu đạt được:
- Nước ta đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do Liên Xô
và hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã và cuộc khủng hoảng khu vực gây nên, đồng thời mở rộng thị trường xuất nhập khẩu Trong quá trình hội hập, chúng ta đã nhanh chóng mở rộng ruất nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tạo thêm việc làm, tăng ngân sách Từ chỗ là một nước chỉ nhập hàng viện trợ và xuất hàng trả nợ mỗi năm vài triệu USD, đến nay chúng ta đã có nhiều mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD/năm như dầu thô, hàng dệt may, dày dép
- Thu hút một nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), bổ dung cho nguồn vốn trong nước, kết hợp nội lực với ngoại lực, tạo được những thành tựu kinh tế to lớn quan trọng Đến nay, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 166 quốc gia trên thế giới
- Tranh thủ được nguồn vốn viện trợ chính thức (ODA) ngày càng lớn, đồng thời giảm đáng kể nợ nước ngoài
- Tiếp thu khoa học và công nghệ, kĩ năng quản lý, góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động, sáng tạo
- Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, đói nghèo giảm
- Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
* Một số yếu kém:
- Nhận thức hội nhập chưa đạt được sự nhất trí cao
- Thiếu sót đáng kể là công tác triển khai chậm, chất lượng thấp
- Đội ngũ cán bộ yếu Công tác tổ chức chỉ đạo chưa thích hợp
Trang 7- Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh
tế và lộ trình chưa hợp lý cho việc thực hiện cam kết: Thời gian qua, chúng ta vừa tiến hành hội nhập, vừa triển khai nghiên cứu nội dung cam kết để xây dựng chủ trương, phương hướng hành động nên thường vị động đối phó với nhiều khuyến nghị cho các đối tác nước ngoài nêu ra
- Doanh nghiệp nước ta còn yếu cả về sản xuất quản lý và khả năng cạnh tranh doanh nghiệp
- Ở giai đoạn đầu tốc độ tăng trưởng và hội nhập kinh tế của Việt Nam có nhiều tiến bộ nhưng trên thực tế vẫn chưa cho phép chúng ta thật sự lạc quan Bởi
vì so với nhiều nước trong khu vực, giá trị kim ngạch xuất khẩu tính bằng USD bình quân đầu người ở nước ta vẫn còn thấp
III – Những giải pháp
1, Chính phủ cần đưa ra lộ trình hợp lý trong khuôn khổ quy định chung, điều chỉnh pháp luạt, chính sách cho phù hợp, điều hành kinh tế trong nước nhằm nâng cao không ngừng khả năng cạnh tranh không chỉ trong thị trường nội địa và
cả trên thị trường quốc tế
2, Đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế và nước ta đang tham gia
3, Đổi mới chính sách và kiện toàn hệ thống tài chính tiền tệ
C – KẾT LUẬN
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế được xem như là một trong những yếu tó quan trọng để tạo động lực phát triển cho từng quốc gia, khu vực cũng như yêu cầu chung của cộng đồng quốc tế
Trong giai đoạn vừa qua, thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Bộ Công Thương đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương triển khai chủ trương của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế;
Trang 8tiến hành nghiên cứu, đàm phán và ký kết nhiều thỏa thuận kinh tế thương mại quốc tế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1, http://baochinhphu.vn/Dua-Nghi-quyet-Dai-hoi-XII-cua-Dang-vao-cuoc-song/Hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-va-nhung-van-de-dat-ra-cho-giai-doan-toi/
246682.vgp
2,http://philosophy.vass.gov.vn/nghien-cuu-theo-chuyen-de/Chinh-tri-Xa-hoi/Toan-cau-hoa-va-su-tac-dong-cua-no-doi-voi-Viet-Nam-hien-nay-277.html
3, https://123doc.org//document/2575566-vai-tro-kinh-te-cua-nha-nuoc-trong-boi-canh-toan-cau-hoa-va-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te-cua-viet-nam-pdf.htm