“Nghiên cứu thành phần loài, phân bố của bộ bọ cạp (Scorpiones) ở Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng” 1. Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn Nhằm có được những dẫn liệu cơ bản và đầy đủ hơn về tính đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của bọ cạp ở khu vực Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng chúng phục vụ đời sống con người. 2. Nội dung nghiên cứu của Luận văn Xác định thành phần loài bọ cạp ở khu vực nghiên cứu, loài mới cho khu vực nghiên cứu và loài mới cho khoa học; Mô tả đặc điểm loài mới cho khoa học (nếu có); Tìm hiểu đặc trưng phân bố của bọ cạp ở khu vực nghiên cứu theo sinh cảnh (rừng tự nhiên trên núi đá vôi, rừng tự nhiên trên núi đất, rừng trồng, trảng cây bụi, hang động) và theo mùa (mùa mưa và mùa khô).
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành bản luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Phạm Đình Sắc và PGS.TS Nguyễn Văn Quảng, là những người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thành bản luận văn này Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi cũng nhận được giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của Quý Thầy, Cô trong Bộ môn Động vật học – Động vật không xương sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Trong khuôn khổ thời gian có hạn nên bản luận văn này khó tránh khỏi những hạn chế, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô và bạn bè để có thể tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và nghiên cứu về sau
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
Trần Thị Hằng
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài Luận văn 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn 1
3 Nội dung nghiên cứu của Luận văn 1
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.2 Phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu về bọ cạp trên thế giới 3
1.2 Lịch sử nghiên cứu bọ cạp ở Việt Nam 4
1.3 Nghiên cứu bọ cạp ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng 5
1.4 Đặc điểm hình thái bọ cạp: 5
CHƯƠNG 2 6
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 6
2.2 Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 3 10
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 10
3.1 Thành phần loài bọ cạp tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng 10
3.1.1 Danh sách các loài bọ cạp ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu 10
3.1.2 Tỉ lệ phần trăm giống, loài ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu 11
3.2 Mô tả đặc điểm hình thái của hai loài mới cho khoa học 11
3.2.1 Loài Vietbocap aurantiacus sp n 11
3.2.2 Loài Vietbocap quinquemilia sp n 15
3.2.3 Thảo luận: 18
Trang 33.3 Đặc trưng phân bố của bọ cạp 20
KẾT LUẬN 22
KIẾN NGHỊ 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
CÁC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 27
PHỤ LỤC 28
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Danh sách loài bọ cạp ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu
Bảng 2: Tỷ lệ phần trăm của giống và loài
Bảng 3: Kích thước phần bụng sau (mm) của loài Vietbocap aurantiacus sp n Bảng 4: Kích thước chân kìm (mm) của loài Vietbocap aurantiacus sp n
Bảng 5: Kích thước (mm) của của mẫu cá thể cái đực và cá thể cái của loài Vietbocap quinquemilia sp
Bảng 6: Phân bố của loài bọ cạp ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1 : Hình thái bên ngoài của bọ cạp
Hình 2: Bản đồ vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng
Hình 3: Bọ cạp phát quang dưới ánh sáng đèn UV
Hình 4: Loài Vietbocap aurantiacus sp n
Hình 5: Đặc điểm chân xúc giác và chân kìm loài Vietbocap aurantiacus sp n Hình 6: Loài Vietbocap quinquemilia sp n
Hình 7: Chân kìm và chân xúc giác của loài Vietbocap quinquemilia sp n
Hình 8: Tác giả thu mẫu tại động Thiên Đường
Hình 9: Loài Lychas mucronatus (Fabricius, 1798),
Hình 10: Loài Liocheles australasiae
Hình 11: Loài Vietbocap thienduongensis Lourenco & Pham, 2012
Hình 12: Loài Vietbocap canhi Lourenco & Pham, 2010
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài Luận văn
Trên thế giới, bọ cạp đã ghi nhận được trên 2000 loài Bọ cạp có giá trị cao trong kinh tế, y dược học và góp phần cân bằng sinh học [14, 40]
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là khu vực có địa hình đặc trưng bởi hệ thống núi đá vôi và có nhiều hệ thống hang động Bọ cạp là động vật rất đặc trưng cho sinh cảnh núi đá vôi cũng như hang động, trong khi các nghiên cứu về bọ cạp ở khu vực này còn ít và rải rác Đến nay, mới chỉ có một vài khảo sát bước đầu thực hiện, kết quả đã ghi nhận được 2 loài mới cho khoa học Chính vì vậy việc điều tra, khảo sát về bọ cạp làm cơ sở để bảo vệ, khai thác và sử dụng chúng một cách hợp lý
ở khu vực này là rất quan trọng Do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài, phân bố của bộ bọ cạp (Scorpiones) ở Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng”
2 Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn
Nhằm có được những dẫn liệu cơ bản và đầy đủ hơn về tính đa dạng thành phần loài, đặc điểm phân bố của bọ cạp ở khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng chúng phục
vụ đời sống con người
3 Nội dung nghiên cứu của Luận văn
- Xác định thành phần loài bọ cạp ở khu vực nghiên cứu, loài mới cho khu vực nghiên cứu và loài mới cho khoa học;
- Mô tả đặc điểm loài mới cho khoa học (nếu có);
- Tìm hiểu đặc trưng phân bố của bọ cạp ở khu vực nghiên cứu theo sinh cảnh (rừng tự nhiên trên núi đá vôi, rừng tự nhiên trên núi đất, rừng trồng, trảng cây bụi, hang động) và theo mùa (mùa mưa và mùa khô)
Trang 72
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu các loài thuộc bộ bọ cạp (Scorpiones), lớp hình nhện (Arachnida), phân ngành chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành chân khớp (Arthropoda)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình (bao gồm cả vùng lõi và khu vực mở rộng)
Trang 83
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu về bọ cạp trên thế giới
Nói đến lịch sử nghiên cứu bọ cạp không thể không nói đến sự đóng góp của các thầy thuốc phương Đông Từ xa xưa trong khi người phương Tây còn đang nhìn
bọ cạp với ánh mắt đầy ác cảm, thậm chí căm thù và tìm cách tiêu diệt chúng thì người phương Đông, đặc biệt là người Trung Hoa, Việt Nam đã có cách nhìn hoàn toàn khác về chúng Với quan điểm dĩ độc trị độc" các thầy thuốc phương Đông đã đầu tư nghiên cứu về chúng và sử dụng để chữa bệnh cho con người [1, 3]
Một số nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu về hình thái, sinh thái, sinh học của các loài bọ cạp như: Ab Delkrim (1977) nghiên cứu về hình thái, sinh thái của các loài bọ cạp ở Tunisie; Mahsberg (1994) nghiên cứu về sinh học, sinh thái học của bọ cạp Emperor; Venkatanarasimhaiah, Rajasekarasetty (1964) nghiên cứu sâu
về tế bào của một số loài bọ cạp ở Ấn Độ, đặc biệt chú ý tới số lượng nhiễm sắc thể của các loài này; Sasirababu và các đồng sự (1988) nghiên cứu về hoạt động ngày
đêm của bọ cạp Hetecometrus flavipes trong các chế độ chiếu sáng khác nhau; Fred
(1991) nghiên cứu về ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái như nhiệt độ, độ ẩm
tới tỷ lệ sống sót cũng như hoạt động trao đổi chất của bọ cạp Centruroides henzi; Stahuke (1971) nghiên cứu về sinh học của bọ cạp Centruroides marka và C sculpturatus Ngoài ra các đặc điểm hình thái, sinh học của bọ cạp còn được đề cập
đến trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác của Pháp[36]
Một lĩnh vực cũng thu hút khá nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu từ những năm 60,70 của thế kỷ 20 là nọc độc của bọ cạp và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người
Nói đến bọ cạp không thể không nói đến sự đóng góp của các nhà nghiên cứu Nga Đó là Gijiaropva, Pravdina (1984), Maricovxkii (1954), Taluwdin (1970)
với các nghiên cứu về sinh học của bọ cạp Buthus eupeus ở Azerbaidzan; Orlov và
các đồng sự (1968, 1971, 1985), Kamenxkaia (1982), Xutanov (1963, 1972),
Trang 91.2 Lịch sử nghiên cứu bọ cạp ở Việt Nam
Nghiên cứu về bọ cạp ở các nước Đông Dương được thực hiện bởi các nhà khoa học người Pháp, chỉ mới được bắt đầu từ thế kỉ 20.[34]
Các nghiên cứu về bọ cạp ở Việt Nam còn rất ít và rải rác Lê Xuân Huệ và cộng sự (1998) đã ghi nhận có 8 loài thuộc 3 giống 2 họ bọ cạp phân bố ở khu vực phía Nam Việt Nam [9]
Những năm sau đó, Lourenco & Phạm (2010, 2012, 2013, 2014a, 2014b, 2015a, 2015b) đã công bố 1 giống, 1 phân giống và 7 loài bọ cạp mới cho khoa học Như vậy, cho đến nay, Việt Nam mới ghi nhận được 31 loài bọ cạp (Pham, Tran & Lourenco, 2017) [27, 29-32]
Nghiên cứu về hình thái, sinh học, sinh thái và nhân nuôi của bọ cạp Việt
Nam, kết quả cho thấy Bọ cạp đen loài H spinnifer và bọ cạp nâu loài Lychas mucronatus trong quá trình sống đều trải qua 5 lần lột xác Chiều dài cơ thể của bọ
cạp trưởng thành nuôi trong phòng thí nghiệm nhỏ hơn ngoài tự nhiên [11]
Nọc của bọ cạp Việt Nam đã được chú ý nghiên cứu Lê Xuân Huệ và cộng
sự phân tích thành phần, tính chất, độ độc của nọc bọ cạp ở Việt Nam Kết quả cho thấy nọc bọ cạp có thể khai thác quanh năm 2 lần/ tháng Bọ cạp nâu có thể khai thác từ 0,13-0,28 mg nọc khô/ lần/ con, bọ cạp đen từ 1,38-2,56 mg nọc khô/ lần/
con[8, 10]
Gần đây, nghiên cứu của Phạm Đình Sắc và cộng sự (2017) về thành phần và phân bố của các loài bọ cạp tại Việt Nam Nghiên cứu đã đưa ra các số liệu thống kê chi tiết về số lượng loài, đặc tính sinh sống cũng như vị trí sinh sống của các loài bọ cạp [27, 29-32]
Trang 105
1.3 Nghiên cứu bọ cạp ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Cho đến nay, nghiên cứu về bọ cạp ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha –
Kẻ Bàng còn rất ít và rải rác Chỉ có vài nghiên cứu về bọ cạp trong hang động tại
khu vực này, kết quả đã công bố 1 giống và 2 loài mới cho khoa học (Vietbocap thienduongensis Lourenco & Phạm, 2012 và Vietbocap canhi Lourenco & Phạm,
2010) Chưa có khảo sát nào về bọ cạp ở sinh cảnh rừng ở khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng[28, 31]
Hai loài bọ cạp hang động, Vietbocap thienduongensis Lourenco & Phạm và Vietbocap canhi Lourenco & Phạm được xác định đang ở tình trạng bị đe dọa, có
nguy cơ biến mất nếu không được bảo tồn (Lourenco & Phạm, 2012)[28]
1.4 Đặc điểm hình thái bọ cạp:
Cơ thể bọ cạp chia ra 2 phần: phần đầu ngực và phần bụng (Hình 1) Phần đầu ngực bao gồm mặt lưng, mặt bụng, các mắt, chân kìm, miệng (môi trên và môi dưới), các chân bò và chân xúc giác Phần bụng chia ra 2 phần là phần bụng trước
và phần bụng sau (còn gọi là đuôi); phần bụng bao gồm bộ phận sinh dục, đôi tấm lược, các lỗ thở (phổi sách), hậu môn và kim độc
Hình 1 : Hình thái bên ngoài của bọ cạp
(theo Encyclopædia Britannica)
a: mặt lưng; b: mặt bụng
Trang 116
CHƯƠNG 2 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong 2 năm (2016 - 2017) Thu theo 2 đợt:
- Đợt 1: từ 10 – 25 tháng 9 năm 2016 (mùa mưa)
- Đợt 2: từ 5 – 20 tháng 4 năm 2017 (mùa khô)
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Hình 2: Bản đồ vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng [15]
Vị trí địa lý
Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng có tọa độ từ 17°21’12’’ tới 17°44’51’’
vĩ bắc và từ 105°46’33’’ tới 106°23’19’’ kinh đông, nằm trong địa bàn các xã Tân Trạch, Thượng Trạch, Phúc Trạch, Xuân Trạch và Sơn Trạch thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.[15]
Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng có tổng diện tích là 343.391 ha, trong
đó vùng lõi là 123.336 ha và vùng đệm là 220.055 ha.[15]
Đặc điểm khí hậu
Trang 127
Khí hậu ở Vườn Quốc gia này mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23-25 °C, với nhiệt độ cao nhât là 41
°C vào mùa hè và mức thấp nhất có thể xuống 6 °C vào mùa đông
Đặc điểm địa hình – địa chất – thổ nhưỡng
Phong Nha - Kẻ Bàng hiện tại là kết quả tổng hợp của 4 giai đoạn phát triển lớn trong lịch sử phát triển vỏ Trái đất trong vùng:
1) Giai đoạn Devon (410 - 355 triệu năm)
2) Giai đoạn Devon muộn - Carbon sớm (370 - 320 triệu năm)
3) Giai đoạn Carbon – Permi (355 - 250 triệu năm)
4) Giai đoạn Mesozoi (250 - 65 triệu năm)
Địa hình hiện nay của vùng Phong Nha - Kẻ Bàng là hệ quả của chuyển động kiến tạo Cenozoi và các quá trình địa chất ngoại sinh như xói mòn và quá trình Karst do hoạt động của nước diễn ra trong suốt 65 triệu năm trở lại đây thể hiện qua
sự phân bậc địa hình
Địa hình khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là một vùng núi đá vôi chiếm hầu hết diện tích, nhìn tổng quát trong khu vực có 3 dạng địa hình tiêu biểu: Địa hình phi Karst, địa hình chuyển tiếp, địa hình Karst
Về thổ nhưỡng, khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng có nhiều hoại đất hình thành từ các nguồn đá mẹ khác nhau Đất chủ yếu là đất feralit đỏ vàng trên núi đá vôi, đất Feralit vàng trên đá mácma axít, đất Feralit vàng nhạt và đất phù sa bồi tụ ven sông
Đa dạng sinh học
Chính do đặc điểm khí hậu, địa chất, địa hình - địa mạo như vậy cho nên Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng có đa dạng sinh học rất cao, có thể nói là cao nhất của Việt Nam
3.1 Về khu hệ thực vật:
Trang 138
Với 96,2% rừng kín thường xanh che phủ cho Vườn, trong đó rừng nguyên sinh chiếm 92,2% Đây là một tỷ lệ lớn nhất trong các khu rừng đặc dụng của nước
ta Đặc biệt ở đây có loài Bách xanh núi đá là loài đặc hữu phân bố trên núi đá vôi
có độ cao lớn 700 - 1000m Tại cây số 37 Đường 20 Quyết Thắng về phía Nam có một cánh rừng Bách xanh này với diện tích hơn 2.400 ha với những cây cao 20-30m Loài Bách xanh này là loài có nguy cơ bị tuyệt chủng trên thế giới nhưng ở Phong Nha - Kẻ Bàng lại phong phú với nhiều cây có tuổi trên 500 năm[14]
3.2 Về khu hệ động vật:
Do đặc điểm nằm chuyển tiếp giữa hai miền Nam - Bắc nước ta và các đặc điểm khác, khu hệ động vật Phong Nha - Kẻ Bàng cũng rất phong phú, nó đại diện cho khu hệ Bắc Trường Sơn và gồm đủ các loại: thú, chim, cá, dơi, bò sát - ếch nhái, côn trùng với 813 loài động vật có xương sống Trong đó có 76 loài động vật được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam và 35 loài được liệt kê trong IUCN [15]
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp kế thừa
Thu thập, phân tích, xử lý các mẫu vật, số liệu, dẫn liệu điều tra và các thông tin khoa học đã có từ trước liên quan đến các đối tượng nghiên cứu tại địa bàn nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp điều tra, thu thập mẫu ngoài thực địa
- Phương pháp thu mẫu:
Thu mẫu bọ cạp chủ yếu bằng phương pháp quan sát và thu bắt bằng panh
Bọ cạp hoạt động vào ban đêm nên chủ yếu thu mẫu vào ban đêm Ban đêm, bọ cạp thường phát quang, nên sử dụng đèn UV để phát hiện và thu bắt bọ cạp Ngoài ra,
có thể kết hợp thu bọ cạp bằng bẫy hố và rây lá rác[17]
Trang 149
Hình 3: Bọ cạp phát quang dưới ánh sáng đèn UV
(Ảnh: Trần Thị Hằng)
- Nghiên cứu phân bố:
+ Nghiên cứu được tiến hành ở 5 sinh cảnh điển hình tại khu vực, bao gồm: rừng tự nhiên trên núi đá vôi, rừng tự nhiên trên núi đất, rừng trồng, trảng cây bụi, hang động
+ Điều tra thu thập mẫu vật theo mùa: mùa mưa và mùa khô
2.2.3 Phương pháp xử lí mẫu và định loại trong phòng thí nghiệm
Mẫu vật được bảo quản trong cồn 75%
Định loại dựa theo các tài liệu chuyên ngành của Pocock (1941), Couzijn (1981), Lourenco và cs (2011, 2013, 2014),… và được giám định bởi PGS Phạm Đình Sắc và GS Wilson Lourenco
Trang 1510
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần loài bọ cạp tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng
3.1.1 Danh sách các loài bọ cạp ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu
Kết quả phân tích, định loại mẫu vật thu được, chúng tôi đã ghi nhận được 6 loài thuộc 3 giống, 3 họ bọ cạp tại khu vực nghiên cứu (bảng 1)
Trong 6 loài ghi nhận được, bao gồm 2 loài mới cho khoa học (Vietbocap aurantiacus sp.n., Vietbocap quinquemilia sp.n.) và 1 loài mới cho khu vực nghiên cứu (Liocheles australasiae)
Bảng 1: Danh sách loài bọ cạp ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu
I Họ Hormuridae, Laurie, 1896
1 Liocheles australasiae (Fabricius, 1775)
- Đồng Nai: Vĩnh Cửu
- Quảng Bình: VQG Phong Nha
Kẻ Bàng (ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu)
II Họ Buthidae, C L Koch, 1837
2 Lychas mucronatus (Fabricius, 1798) - Phân bố rộng
III Họ Pseudochactidae, Gromov, 1998
3 Vietbocap canhi Lourenco & Pham, 2010 - Quảng Bình: VQG Phong Nha
6 Vietbocap quinquemilia sp n Lourenco,
Trần & Phạm, 2018
- Quảng Bình: VQG Phong Nha
Kẻ Bàng, động Thiên Đường (loài mới cho khoa học)
Trang 1611
3.1.2 Tỉ lệ phần trăm giống, loài ghi nhận được ở khu vực nghiên cứu
Từ dẫn liệu thu được ta thấy số lượng thành phần loài bọ cạp ở khu vực nghiên cứu còn tương đối ít Trong đó, họ Pseudochactidae có số lượng loài chiếm
ưu thế nhất với 4 loài (chiếm 66.6% tổng số loài); họ Hormuridae và Buthidae đều
có 1 loài (chiếm 16.7% tổng số loài)
Bảng 2: Tỷ lệ phần trăm của giống và loài
3.2 Mô tả đặc điểm hình thái của hai loài mới cho khoa học
3.2.1 Loài Vietbocap aurantiacus sp n
Mẫu vật:
Mẫu bọ cạp cái (holotype), 2 mẫu bọ cạp cái (paratypes) Mẫu vật được thu ở giữa hang động Thiên Đường (17°31’10.3” Bắc -106°13’22.9”Đông), thuộc Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình; cách cửa vào khoảng 3000m
Trang 1712
Hình 4: Loài Vietbocap aurantiacus sp n
A: mặt lung, B: mặt bụng (Ảnh: Lourenco, Trần & Phạm, 2018)
Đặc điểm hình thái
Phần đầu ngực:
Mặt lưng: Giáp đầu ngực có hình thang cân Giữa giáp có 1 rãnh dọc chia giáp
thành 2 phần đều nhau Bọ cạp không có mắt
Mặt bụng: Bề mặt bụng nhẵn, không có cấu trúc hạt, chỉ phân bố một số lông tơ
Phần bụng trước:
Mặt lưng: mỗi đốt mặt lưng có 2 dải chạy ngang Từ đốt 1 đến đốt 5 có một gờ nổi
mờ chạy dọc giữa lưng Đến đốt 6 gờ này chỉ chạy tới 1/3 đốt thì dừng lại
Mặt bụng: mặt bụng bọ cạp nhẵn, không có gờ hay các hạt nhỏ Mỗi đốt mặt bụng
có 2 dải màu chạỵ ngang: dải màu nhạt phía trên, dải màu đậm phía dưới
Phần bụng sau:
Khác với phần bụng trước, các đốt đuôi của phần bụng sau không có các hạt
nhỏ trên bề mặt Bề mặt bụng sau nhẵn, có lông tơ trải đều Trên các đốt đuôi có