Ngày nay, với vai trò quan trọng của y tế trong cuộc sống, lĩnh vực điện tử y tế đ• chiếm vị trí quan trọng của công nghệ điện tử và được sự quan tâm thích đáng của nhiều nhà khoa học. Trong số các thiết bị điện tử y tế, điện châm là một trong những thiết bị điều trị không thể thiếu được của nền y học cổ truyền. Nó giúp cho các bác sĩ điều trị tốt hơn trong kỹ thuật châm tê cổ, hơn nữa nó còn có thể dùng để chuẩn đoán một số bệnh. Hiện nay trên thị trường thiết bị y tế Việt Nam có rất nhiều loại máy điện châm của nhiều h•ng, nhiều nước sản xuất, với nhiều mẫu m• chủng loại, với những tính năng khác nhau. ở trong nước cũng đ• có nhiều cơ sở chế tạo máy điện châm một tần số, hai tần số như xí nghiệp điện tử Giảng Võ, viện Y học châm cứu, ... với giá thành rẻ hơn rất nhiều lần so với các máy điện châm khác của Nhật, Trung Quốc... nhưng chúng đều hiển thị thông qua mức độ nhanh chạm của điốt phát quang, ứng với nấc đặt tần số của máy vì vậy làm giảm độ chính xác trong việc điều trị. Dựa trên những giới hạn về thực trạng thị trường Việt Nam hiện nay với sự giúp đỡ về kỹ thuật xung của thầy giáo Nguyễn Quốc Trung tôi xin trình bày về phần "Thiết kế máy điện châm dùng dao động nghẹt", một ứng dụng của kỹ thuật xung trong điều trị và chữa bệnh với hy vọng sẽ giúp cho các bác sỹ điều trị tốt hơn mà vẫn đảm bảo giá thành phù hợp với người Việt Nam.
Trang 1Lời nói đầu
Ngày nay, với vai trò quan trọng của y tế trong cuộc sống, lĩnh vực
điện tử y tế đã chiếm vị trí quan trọng của công nghệ điện tử và đợc sự quantâm thích đáng của nhiều nhà khoa học
Trong số các thiết bị điện tử y tế, điện châm là một trong những thiết
bị điều trị không thể thiếu đợc của nền y học cổ truyền Nó giúp cho cácbác sĩ điều trị tốt hơn trong kỹ thuật châm tê cổ, hơn nữa nó còn có thểdùng để chuẩn đoán một số bệnh
Hiện nay trên thị trờng thiết bị y tế Việt Nam có rất nhiều loại máy
điện châm của nhiều hãng, nhiều nớc sản xuất, với nhiều mẫu mã chủng
chế tạo máy điện châm một tần số, hai tần số nh xí nghiệp điện tử Giảng
Võ, viện Y học châm cứu, với giá thành rẻ hơn rất nhiều lần so với cácmáy điện châm khác của Nhật, Trung Quốc nhng chúng đều hiển thịthông qua mức độ nhanh chạm của điốt phát quang, ứng với nấc đặt tần sốcủa máy vì vậy làm giảm độ chính xác trong việc điều trị
Dựa trên những giới hạn về thực trạng thị trờng Việt Nam hiện nayvới sự giúp đỡ về kỹ thuật xung của thầy giáo Nguyễn Quốc Trung tôi xin
trình bày về phần "Thiết kế máy điện châm dùng dao động nghẹt", một
ứng dụng của kỹ thuật xung trong điều trị và chữa bệnh với hy vọng sẽ giúpcho các bác sỹ điều trị tốt hơn mà vẫn đảm bảo giá thành phù hợp với ng ờiViệt Nam
Do thời gian và trình độ có hạn, nên không tránh khỏi những thiếusót, rất mong đợc sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo, PTSNguyễn Quốc Trung khoa điện tử viễn thông, kỹ s Long trờng sửa chữathiết bị y tế đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp này đúng thờigian quy định
1
Trang 2phần I
KháI Niệm Chung
Châm cứu là một trong các phơng pháp phòng bệnh và chữa bệnh cổnhất đơn giản nhất của Đông Y Nó có trớc phơng pháp chữa bệnh bằng dợcliệu
Châm là dùng đá mài nhọn hay kim châm vào huyệt Cứu là dùngngải (Mồi ngải hay điếu ngải) đốt cháy gây sức nóng trên huyệt Phơngpháp này đợc truyền bá từ lâu tới nhiều nớc ở phơng Đông và hiện nay thìcàng ngày càng đợc các nhà y học trên thế giới chú ý nghiên cứu và thựchành
Việt Nam là một trong hai nớc đã áp dụng phơng pháp châm cứu vàoviệc chữa bệnh sớm nhất Lịch sử ngàn năm của châm cứu Việt Nam đã ghilại tên tuổi của nhiều nhà châm cứu nổi tiếng nh :
An Kỳ Sinh đời Hùng Vơng (2879 - 257 TCN)
Thôi Vĩ đời Thục ( 257- 207 TCN )
Bảo Cô (309 - 363 sau CN)
Trâu Canh đời Trần (TK 14)
Nguyễn Đại Năng đời Hồ (1400 - 1407)
Sau CM T8, nhất là sau hoà bình lập lại năm 1945, châm cứu đã đợc
đảng và chính phủ chú ý coi trọng Tháng 10 năm 1968 hội châm cứu ViệtNam đợc thành lập nằm trong tổng hội y học Việt Nam
Ngày nay châm cứu đã đợc dùng rộng rãi từ các trạm y tế đến một sốviện, bệnh viện tỉnh, thành và trung ơng
Qua nhiều năm thừa kế và phát huy môn châm cứu, chúng ta đã cónhiều cố gắng và đã đạt đợc những thành công đáng kể trong công tác điềutrị bệnh nh:
Trang 3- Châm cứu có tác dụng giảm đau (nhất là đau cấp) rất nổi bật vớiviệc châm tê giảm đau trớc, sau và trong khi phẫu thuật.
- Có tác dụng để điều hoà chức năng (điều khí)
- Đã thành công trong điều trị nhiều chứng bệnh thờng gặp trongnhân dân nh: đau thần kinh toạ, đau đầu, đau lng, mất ngủ, liệt thần kinh
- Châm cứu còn mở ra một hớng điều trị những bệnh khó cha nh câm
điếc, giảm thị lực
Có thể thấy kết quả của công tác nghiên cứu khoa học và việc ứngdụng châm cứu trên thực tiễn lâm sàng về chữa bệnh Châm tê đã chứngminh rõ tiềm năng thực sự của châm cứu
Dựa vào những tiềm năng thực sự của châm cứu cùng với những sắcthái đặc biệt của đất nóc trong việc thừa kế và phát huy vốn quý về châmcứu của cha ông, châm cứu VN đã biết kết hợp với y học hiện đại, ngàycàng phát triển với nhiều hình thức nh thể châm, nhĩ châm, thuỳ châm, maihoa châm, châm tê, chiếu tia hồng ngoại, tử ngoại lên huyệt, châm bằng tiaLade Một trong những hình thức đợc coi là thành công nhất trong việckết hợp giữa cổ truyền và hiện đại là sản phẩm u việt nhằm đa châm cứuvào lĩnh vực mới, tiếp cận với hiện đại, trở thành một phơng pháp hiện đại,
đó là hình thức tiêm vào huyệt rồi kích thích điện lên huyệt vừa phát huytác dụng của thuốc, của tần số xung điện, vừa phát huy tác dụng của huyệt.Hình thức này còn đợc gọi là điện châm
3
Trang 4Một dòng xung điện hoặc còn gọi là dãy xung là những xung điện kế
1.2-/ Các dạng hình thể xung và cấu phần một xung điện.
Tuỳ theo mục đích công tác mà ngời ta sử dụng các dãy xung có hìnhdạng khác nhau nh xung hình chữ nhật (H1 - a), hình thang (H1 - b), hìnhtam giác (H1 - c) hoặc xung dạng hàm số mũ (H1 - d)
Các dạng xung này có thể là một dạng xung tuần hoàn theo thời gianvới dãy lặp lại T có cực tính (+), (-) hoặc cực tính thay đổi
Để đặc trng cho dạng của tín hiệu xung, ngời ta thờng sử dụng một
Trang 5- Biên độ xung Um (hoặc Im) xác định bằng giá trị lớn nhất của đáp tínhiệu xung có đợc trong thời gian tồn tại của nó.
- Độ sụt đỉnh xung là độ giảm biên độ xung ở phần đỉnh xung kýhiệu là U
- Tần số xung là số chu kỳ xung trong một giây
- Chu kỳ lặp lại xung T là khoảng thời gian giữa các điểm tơng ứngcủa 2 xung kế tiếp nhau
điện xung trong y học Đó là dòng điện xung thấp tần gây hiện tợng co giật
do kích thích thần kinh - cơ Tới nay các dòng điện xung còn mang tên một
số nhà vật lý nh dòng Faradic, dòng Leduc, dòng Lapic, dòng Becna
Điều trị điện xung có nhiều phát triển về cả nguyên lý và thực hành,
là một phần cơ bản của điện trị liệu hiện nay Ngày nay dòng điện xungtrong vật lý trị liệu gồm:
- Dòng xung tam giác kinh điển và cải biên
- Dòng xung chữ nhật kinh điển và cải biên
5
Trang 6- Dòng xung Trabert 2 - 5 (Ultra Reiz).
- Dòng xung giao thoa (Interferential current)
- Dòng xung kích thích Nga (Russian Stim)
- Vi dòng (micro current)
- Dòng trung tần 4000 - 8000 Hz (medium frequency)
- Dòng kích thích thần kinh TENS
Có dòng ở dạng cố định, có dòng một chiều hoặc xoay chiều và dòng
điều biến về tần số, biên độ cho nên phạm vi tác dụng phong phú và hiệuquả cao
Trong thực hành, dòng điện xung vừa đợc ứng dụng trong điều trịphục hồi chức năng vừa đợc ứng dụng trong chuẩn đoán và theo dõi kết quả(chuẩn đoán điện cổ điển, ghi thời trị, vẽ biểu đồ đáp ứng thần kinh cơ )
Nếu kích thích tế bào thần kinh với cờng độ dới ngỡng không gây
điện thế động, kích thích với cờng độ tới ngỡng gây điện thế động theo địnhluật “tất cả hay không có gì” (all or none) Tuy vậy khi kích thích với c ờng
độ dới ngỡng vẫn có sự thay đổi điện thể tại chỗ bị kích thích: nếu làcathode gây khử cực tại chỗ, nếu là anode gây tăng phân cực màng tại chỗ.Khi điện thế đủ gây khử cực đến 15mV sẽ gây điện thế động Các kíchthích bởi anode có tác dụng ức chế do tăng phân cực màng điện thế xa mứcngỡng Các kích thích bởi cathode làm tăng hng phấn do gây tăng khử cựcmàng gần mức ngỡng
Đáp ứng của tế bào thần kinh tùy thuộc vào thời gian xung và cờng
độ kích thích của dòng điện xung Ngỡng là cờng độ tối thiểu của kíchthích đủ gây đáp ứng
Thời gian hữu hiệu là thời gian cần để kích thích này tạo ra một đápứng - cơ sở của đo thời trị (chronaxie) Ngỡng và thời trị là những đặc tínhcủa tế bào thần kinh
Tần số xung điện có ý nghĩa rất quan trọng vì đặc tính sự lan truyền
điện thế động và thời gian trơ của thần kinh; sợi trục chỉ có thể phát sinhmột điện thế động thứ hai sau điện thế động trớc vài milli giây, gọi là giai
đoạn trơ tuyệt đối Sau giai đoạn này sợi trục có thể phát sinh một điện thế
động thứ hai chỉ khi màng bị khử cực nhiều - gọi là giai đoạn trơ tơng đối
Trang 7Giai đoạn trơ tơng đối là thời gian xác định tần số nhanh nhất mà sợi trục
có thể phát sinh điện thế động, có ý nghĩa rất quan trọng trong sử dụngdòng điện xung Ngỡng biểu hiện mức đáp ứng của tổ chức cơ thể một cáchtổng quát, ví dụ:
Có nghĩa là tại vùng chịu tác động của dòng điện xung 50 - 100Hz,nâng cờng độ lên từ từ tới 1,2 mA ngời bệnh cảm nhận dòng điện đi qua nhkim châm nhè nhẹ đó là ngỡng cảm giác, tiếp tục tăng cờng độ cảm giáccàng rõ, tới 3 mA thì có hiện tợng cơ co rút theo nhịp xung (rung), đó là ng-ỡng co cơ, tiếp tục tăng cờng độ cảm giác rung càng mạnh, tới 4 mA cảmthấy đau, đó là ngỡng đau nếu tăng nữa đau không chịu nổi
Mức đáp ứng này thay đổi lệ thuộc nhiều yếu tố:
Từ kích thích gây hng phấn các cơ quan cảm thụ ở da, cơ và các tổchức dòng điện đi qua gây nên nhiều phản xạ nh dãn mạch, tăng tuần hoàn
và dinh dỡng cục bộ, tăng chuyển hóa kèm theo hiện tợng co rút cơ khôngtheo ý muốn là sự tăng cờng các phản ứng oxy hóa khử, tiêu hao các chấtglycogen
Nếu là dòng xung một chiều còn có tác dụng vận chuyển điện tíchgây cực hóa nh dòng một chiều đều
Vì vậy, ứng dụng dòng điện xung trong thực hành rất phong phú vàtùy thuộc nhiều yếu tố Có thể nêu tác dụng tổng hợp sau đây:
7
Trang 8- Tăng tuần hoàn tại chỗ do kích thích trực tiếp các mạch máu và do
co cơ
- Giảm đau do ức chế dẫn truyền cảm giác, ức chế trung tâm cảmgiác bằng tăng sinh chất chống đau, giảm phù nề giải phóng chèn ép tạichỗ, tăng thải trừ các chất chuyển hóa tại chỗ
- Tăng trơng lực cơ và kích thích phục hồi sức cơ bị liệt
- Giảm viêm do tăng tuần hoàn, tăng chuyển hóa và tăng thực bào tại chỗ
Đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế tác dụng của các dòng điện xung,
đặc biệt là kiểm soát đau và kích thích có chọn lọc
Về đại cơng sợi thần kinh có nhiều loại và đặc tính khác nhau, ví dụ:
Loại Ly tâm Hớng tâm Đờng kính (m) truyền (m/s) Tốc độ dẫn
Sợi có myelin và không có myelin (myelin không dẫn điện)
Các cơ chế chống đau của dòng điện xung dựa vào các thuyết:
- Thuyết về cổng kiểm soát của Melzack và Wall: dựa vào giả thuyết
là kích thích các sợi thần kinh dầy có bao myelin sẽ gây ức chế thần kinh ởmức tủy sống, ức chế này sẽ ngăn cản các sợi mảnh không có myelin nêncắt đứt sự dẫn truyền đau về não Nói cách khác kích thích chọn lọc các sợithần kinh nhóm II và III sẽ gây ra ức chế xuôi chiều với kích thích nảy sinhtrong các sợi thần kinh nhóm IV Hiện nay thuyết này vẫn đợc coi là cơ chếhàng đầu của giảm đau bằng kích thích điện
Thuyết về sự phóng thích Endorphin của Sjolund và Eriksson: kíchthích bởi dòng điện xung từng nhóm xung điện nh dòng BURST - TENS hệthần kinh trung ơng có thể phóng thích endorphin là chất giảm đau (sử dụngdòng BURST - TENS hoặc xung ngắt quãng trong điện châm) Còn dòngTENS có thể phóng thích tại chỗ các chất morphin nội sinh ở mức tủy sống(encephaline)
- Thuyết về sự ngừng trệ sau kích thích của hệ thần kinh giao cảmcủa Sato và Schmidt: kích thích các sợi thần kinh nhóm II và III sẽ hạn chếhoạt động quá mức của thần kinh giao cảm
Trang 9Ngoài ra một số tác giả qua nghiên cứu về khả năng kích thích chọnlọc các sợi thần kinh nh nhóm II và III để ức chế đau, nhóm I (A - ) đểkích thích vận động Howson (1978) cho rằng với thời gian xung (ti) rấtngắn để kích thích các sợi nhóm II, III và A - là tốt nhất, ti < 200 s gâykích thích dây thần kinh cảm giác và vận động mà không gây kích thích sợithần kinh mảnh không có myelin (gây đau) Do thời gian xung (ti) ngắn nên
Có thể nói tới nay phát triển của dòng điện xung rất đa dạng phongphú, đã có những tiến bộ lớn về cơ chế tác dụng cũng nh hiệu quả Nhngtrong thực tế do tính phức tạp của bệnh sinh nên còn nhiều vấn đề cha đợcgiải thích một cách thỏa đáng, một phần do những thay đổi của quá trìnhbệnh lý gây nên những đáp ứng khác nhau thậm chí ngợc lại Cho nên khi
sử dụng dòng điện xung cần vận dụng những nguyên lý cơ bản kết hợp vớidiễn biến thực tế của từng trờng hợp để chọn kỹ thuật tối u
4.1-/ Tác dụng của tần số xung.
- Cờng độ: Là trị số trung bình của các xung trong thời gian đó Khicắm kim qua da vào trong cơ, vì diện tích của kim rất nhỏ trong khi cơ lại
có điện trở thấp hơn da nhiều lần nên cờng độ gây kích thích từ 10 - 200A
đã có thể làm co cơ Nếu mũi kim phần sát dây thần kinh thì cờng độ cần là
5 10 A
- Hình thể xung: Nếu độ dốc của xung lớn hơn sẽ gây kích thíchmạnh (sử dụng cho tổ chức lành) Bề mặt của xung rộng sẽ tác dụng nhiềutrên chuyến hoà dinh dỡng
- Thời gian tồn tại của xung: Muốn gây đợc kích thích thì thời giantồn tại của xung phải lớn hơn 0,005 ms nhng không dài quá 1/3s Nếu ngắnhơn thì dù biên độ có lớn hơn cũng không gây đợc kích thích
Muốn gây đợc co cơ thì độ dốc lên và xuống của xung phải dài hơnthời trị cơ tức phải dài hơn thời gian tồn tại tối thiểu của một xung điện cóbiên độ bằng hai lần ngỡng đủ để gây một co cơ tối thiểu khi kích thích cơtại điểm vận động hoặc tại thần kinh chi phối cơ, thờng là 0,05 0,15ms
9
Trang 10- Tần số xung: Nh đã nói ở mục trớc, tần số xung có ý nghĩa rất quantrọng trong sử dụng dòng điện xung để điều trị vì đặc tính sự lan truyền
điện thế động và thời gian trơ của thần kinh Sợi trục chỉ có thể phát sinhmột điện thế động thứ hai sau điện thế động trớc vài ms gọi là giai đoạn trơtuyệt đối Sau giai đoạn này, sợi trục có thể phát sinh một điện thế động thứhai chỉ khi màng bị khử cực nhiều gọi là giai đoạn trơ tơng đối Giai đoạntrơ tơng đối là thời gian xác định tần số nhanh nhất mà sợi trục có thể phátsinh điện thế động Có thể có khả năng phản ứng với một dải tần số khárộng cụ thể là:
+ Với thần kinh cảm giác: dòng xung điện có tác dụng kích thích rõrệt từ 1 - 20.000 Hz/s Trong đó nếu dới 20 Hz thì mỗi xung tạo một cảmgiác nh vật gì chạm vào da Từ 20 50 Hz cảm giác rung liên tục ở mặt da,
điện cực trợt trên da Với 100 Hz, cảm giác rung yếu dần
+ Với thần kinh vận động (đợc thể hiện bằng co cơ) Nếu dới 20 Hz
co cơ từng cái Từ 20 50 Hz có rung lên vì co liên tục Từ 50 100 Hzcơ co cứng liên tục (cơ không kịp trùng ra do xung liên tiếp kích thích quánhanh) Trên 200 Hz cơ co yếu dần
+ Với thần kinh thực vật (đợc thể hiện bằng phản xạ vận mạch vàdinh dỡng chuyển hóa) Từ 1 0 Hz kích thích giao cảm Từ 25 100Hz
250 Hz ức chế đau
Tóm lại với tần số thấp hơn 50 Hz/s sẽ gây hng phấn cho thần kinhgiao cảm, thần kinh cảm giác, thần kinh vận động, làm trơng lực thần kinhtăng lên Với tần số lớn hơn 100 Hz/s sẽ có tác dụng ngợc lại đối với hệthần kinh
Nhìn chung, các tác dụng kích thích đều do biên độ, thời gianxung, độ dốc của xung quy định, còn tác dụng ức chế thì chủ yếu là dotần số quyết định
4.2-/ Tác dụng của huyệt.
Cùng với những tác dụng của dòng điện, huyệt cũng có tác dụng tiếpthu kích thích, góp phần điều khí và giảm đau
Tùy từng loại huyệt, có thể có tác dụng chữa bệnh tại chỗ, chữa bệnhvùng lân cận (theo kinh, không theo kinh), chữa bệnh ở xa (theo kinh), chữabệnh toàn thân Cơ chế chính là điều khí, khí hành huyết hành, âm dơng đ-
ợc điều hòa, kinh mạch thông lợi thì hết đau
Trang 115-/ Tính thích ứng của cơ thể với dòng xung.
Tính thích ứng của cơ thể là hiện tợng sinh lý bình thờng của cơ thểdần dần thích nghi với kích thích điện Trong điều trị, khi ta nâng cờng độ
đạt đến mức xung mạch nhng chỉ sau đó khoảng một phút, cảm giác rungyếu dần mặc dù cờng độ vẫn giữ nguyên, muốn có đợc cảm giác rung mạnhphải tăng cờng độ lên nữa Do vậy để đảm bảo tính hiệu ứng tác dụng trongsuốt thời gian điều trị phải hạn chế hiện tợng quen này Mặt khác khôngnên kéo dài thời gian mỗi lần điều trị Tốt nhất là mỗi làn điều trị khôngnên quá 15 phút Có hai biện pháp hạn chế hiện tợng quen là tăng dần dầnhoặc băng biến điệu cờng độ, thay đổi tần số
11
Trang 12Phần III
Thiết bị điện châm
Để thay thế cho kỹ thuật dùng tay để vè kim sau khi châm trong
ph-ơng pháp điều trị bằng châm cứu, ngời ta chế tạo ra thiết bị phát xung điệnkích thích lên huyệt hoặc còn gọi là điện châm
Khoảng những năm 30, Jolly, Roger, Dela Fuye và Nogier đã cho
điện kích thích qua kim và đặt tên là Electro puncture
Đến năm 1950 Chu Ngọc đã sử dụng dòng điện xung kích thích lênhuyệt qua kim hoặc kích thích dây thần kinh ngoại vi để chữa bệnh (gọi làphơng pháp kích thích thần kinh)
Năm 1960 viện Y học dân tộc đã sử dụng một số máy của TrungQuốc để chữa bệnh
Vào những năm 70 châm điện đợc phát triển nhanh và trở thành mộtphơng pháp châm cứu mới, hiện đại và đợc xem là một trong những phơngpháp đem lại hiệu quả cao
Điện châm là phơng pháp cho một dòng xung điện qua kim châm vàohuyệt Đây là một bớc phát triển mới của châm cứu, là sự kết hợp giữa điệnliệu pháp và châm cứu, sử dụng những tác dụng của dòng xung điện và củahuyệt châm cứu đề phòng và chữa bệnh
- Tác dụng giảm co thắt, chống co thắt cơ, điều hòa lại trơng lực cơtrong chấn thơng đau lng vẹo cổ, kích thích phục hồi sức cơ bị liệt
Trang 13- Tác dụng tăng tuần hoàn tại chỗ do kích thích trực tiếp các mạchmáu và do co cơ.
- Tác dụng tăng dinh dỡng, chống rối loạn dinh dỡng nh ngứa, tănggiảm cảm giác, sẹo, loét
đoán.
Từ trớc tới nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về cơ chế ứng dụng cácdòng điện xung trong điều trị cũng nh trong việc kiểm soát đau và kíchthích có chọn lọc cụ thể là:
- Với bệnh mãn tính có thể sử dụng dòng điện một chiều vì nó tác
động lên hoạt động điện sinh vật, làm tăng dinh dỡng chuyển hóa, điều hòatrơng lực thần kinh Nó không gây ảnh hởng đến cảm giác và co cơ song nó
kích thích đợc lu lại và tiếp tục phát huy tác dụng kích thích nh lu kim.Cũng có thể dùng dòng xung điện có f = 10 50 Hz/s để tăng tuần hoàn,dinh dỡng, chuyển hóa và điều hòa trơng lực thần kinh
- Với bệnh cấp tính nên chọn dòng xung hình tam giác vì bệnh mớimắc, tổ chức cha bị thơng tổn nghiêm trọng
- Với thần kinh có phản ứng thoái hóa mà cơ bị teo liệt nên dùngdòng xung nghẹt hình sin hay hàm số mũ với tàn số f = 20 30 Hz Nhịpkích thích này phù hợp với sinh lý của tổ chức bệnh
Có thể thấy dòng điện xung đợc ứng dụng trong thực hành rất phongphú và đa dạng không chỉ trong điều trị phục hồi chức năng mà còn đợc ứngdụng trong chẩn đoán và theo dõi kết quả
Trang 14hình 6
5.1.1- Khối nguồn:
Nhiệm vụ của khối này là tạo ra năng lợng cần thiết để cung cấp chothiết bị làm việc Tuỳ theo từng loại máy mà thực tế ta gặp các dạng nguồncung cấp là nguồn một chiều: pin hoặc acquy hay nguồn xoay chiều lấy từmạng điện lới đổi ra nguồn một chiều có ổn định
Sơ đồ khối nguồn xoay chiều
a, Biến áp nguồn: Làm nhiệm vụ biến đổi điện áp xoay chiều của
mạng điện thành điện áp xoay chiều có trị số thích hợp cần thiết cho máy,
đồng thời ta có thể thể hiện việc ngăn cách mạch máy với mạng điện ngaytrên biến áp bằng cách quấn biến áp theo kiểu cảm ứng
Sơ đồ cấu trúc biến áp
b, Mạch chỉnh lu: Làm nhiệm vụ biến đổi điện áp (hay dòng điện)
xoay chiều thành điện áp (hay dòng điện) một chiều
Các phần tử cấu tạo nên mạch chỉnh lu là các phần tử tích cực có đặctuyến V - A không đối xứng sao cho dòng điện qua nó chỉ đi theo một chiều
Việc chọn Điốt chỉnh lu cần phải quan tâm tới các thông số sau:dòng trung bình, dòng cực đại, điện áp ngợc cực đại, dải n.độ làm việc
220V ~
Trang 15Các mạch chỉnh lu thờng dùng là các mạch chỉnh lu nửa sóng, mạchchỉnh lu cả sóng gồm chỉnh lu cầu và chỉnh lu cân bằng trong đó chỉnh lucần có nhiều u điểm hơn cả.
* Mạch chỉnh lu nửa sóng
dòng điện không qua đợc, mạch coi nh bị ngắt và trên tải không có dòng
hai lần điện áp ra của biến áp vì trong nửa chu kỳ sau, D phải chịu điện ápngợc đặt trên hai đầu bằng tổng điện trên hai đầu biến áp với điện áp nạp
* Mạch chỉnh lu cả sóng
Là mạch tạo ra dòng điện chạy qua tải theo một chiều trong cả haichu kỳ của điện áp xoay chiều đa vào chỉnh lu Có hai loại mạch chỉnh lu cảsóng là mạch chỉnh lu cầu và cân bằng
- Mạch chỉnh lu cân bằng:
15
Trang 16- Mạch chỉnh lu cầu:
bằng
So với hai mạch trên mạch chỉnh lu cầu có nhợc điểm là phải dùngtới 4Đ Tuy nhiên nó lại có những đặc điểm nổi bật là chỉnh lu đợc cả hainửa chu kỳ (nên yêu cầu lọc điện áp thấp hơn, điện áp sau chỉnh lu bằngphẳng hơn) Biến áp nguồn chỉ cần có hai đầu ra thứ cấp (do đó, biến ápquấn đơn giản, gọn hơn, tận dụng đợc công suất biến áp), khi không dẫn
điện, mỗi Đ chỉ phải chịu một điện áp ngợc bằng điện áp ra của biến ápnguồn
c, Mạch ổn áp.
Mạch ổn áp có nhiệm vụ giữ cho điện áp ra của nguồn cung cấpkhông thay đổi khi điện áp vào và tải cũng nh các điều khiển môi trờng thay
đổi trong một phạm vi cho phép nào đó
Trang 17Dao động tích thoát để tạo ra các dao động không sin mà phổ tần của
nó là tổng vô hạn của các dao động điều hoà có tần số từ = 0 = .Gọi là dao động tích thoát vì chúng là các dao động rời rạc, hàm của dòng
điện hoặc điện áp theo thời gian có phần giai đoạn Trong các bộ dao độngtích thoát chỉ chứa một phần tử tích luỹ năng lợng thờng gặp nhất là tụ điện.Phần tử này đợc nạp điện và sau đó nhờ thiết bị chuyển mạch nó phóng điện
đến một mức xác định nào đó rồi lại đợc nạp điện
Một bộ tạo dao động tích thoát có dạng tổng quát nh sau:
chuyển mạch là phần tử phi tuyến có đặc tuyến V - A hình chữ S hoặc N
Các đặc tuyến hình chữ S là đặc tính của một số dụng cụ điện tử đặcbiệt (nh đèn cơ khí, dụng cụ bán dẫn loại 3 mặt ghép dạng p - n - p - n)song cũng có thể tạo đợc bằng cách sử dụng các đèn điện tử và Tranzitorthông thờng trong các mạch khuếch đại có hiện tợng (+)
Các đặc tuyến hình chữ N có thể tạo đợc nhờ một loại dụng cụ điện
tử đặc biệt khác nh Điot Tuner hoặc đèn điện tử công tác trong chế độ phátxạ thứ cấp (hiệu ứng đinatron) Qua đây ta thấy, để tạo dao động tích thoátcác đặc tuyến V - A trên không nhng có tính chất không đờng thẳng mà cònphải tạo thành một vòng kín, nghĩa là phải đa trị
Trên thực tế tồn tại hai loại thiết bị chuyển mạch ứng với hai loại đặctuyến khép kín nói trên Mg là một loại sẽ xung ra đột biến dòng điện khithay đổi một cách liên tục điện áp và một loại thì ngợc lại song cần lu ý
17
Trang 18trong cuộn dây không thể tồn tại đột biến dòng điện và trong tụ điện khôngthể đột biến điện áp, bởi vậy một bộ dao động tích thoát có đặc tuyến nh(Hình a) có thể cộng tác với tụ điện còn khi có đặc tuyến nh (Hình b) có thểcông tác với cuộn dây.
Các bộ dao động tích thoát thờng đợc dùng để tạo các xung vuông có
động rỗng khác nhau và có thể công tác ở ba chế độ: tự dao động, kíchthích từ ngoài (chế độ đợi) và đồng bộ
5.1.2.3- Dao động đa hài.
Các mạch dao động đa hài có thể công tác ở ba chế độ:
- Chế độ tự dao động (còn gọi là đa hài tự kích)
- Chế độ đồng bộ
- Chế độ đợi (còn gọi là thiết bị xúc phát)
a, Khi công tác ở chế độ tự dao động, chu kỳ lặp lại của xung tạo ra
đợc xác định bằng các thông số của bộ đa hài và điện áp cung cấp Đặc tínhcơ bản của bộ dao động loại này là tính ổn định của chu kỳ dao động bị phụthuộc vào thời gian khi thay các linh kiện trong sơ đồ, hoặc chúng bị hoágià đi, khi bị va chạm cơ học hoặc do sự biến đổi của thời tiết và nhiệt độmôi trờng, khi điện áp cung cấp biến đổi Các bộ dao động đa hài tự kích có
độ ổn định nói chung là thấp
Sơ đồ nguyên lý của mạch dao động đa hài tự kích dùng Tranzitorghép cực góp - gốc đợc vẽ ở hình dới
Mạch gồm hai tầng khuếch đại dùng Tranzitor, đầu ra của tầng nàynối với đầu vào của tầng kia Do cách nối nh vậy nên giữa chúng có tồn tạihiện tợng (+) và tạo nên dao động tích thoát Khi đó hệ số khuếch đại của
Sơ đồ này có khả năng chuyển đột biến từ một trạng thái không ổn định nàysang trạng thái không ổn định khác Giản đồ dạng sóng đợc minh hoạ nhsau: