Sự tuyệt chủng và mất cân bằng sinh thái Sự mất đi của hàng loạt các loài sinh vật trong một thời kỳ nhất định nào đó được gọi là hiện tượng tuyệt chủng... • Ngày nay, do sự phát triển
Trang 1Chương IV- BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
I CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Khái niệm chung
Sự đa dạng của các sinh vật trên Trái đất ngày nay là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài trong lịch sử phát triển của sinh giới
Ngày nay, người ta dự đoán có khoảng trên 30 triệu loài sinh vật hoặc
có thể lên tới 100 triệu loài hiện sống trên Trái đất, trong đó chỉ có hơn 1,7 triệu loài đã được phát hiện và mô tả Số loài bị tuyệt chủng để lại hoá thạch trong các địa tầng dự đoán khoảng 100 lần lớn hơn các loài hiện sống
Việt Nam được Quốc tế công nhận là một trong 10 trung tâm ĐDSH cao nhất trên Thế giới Với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, rạn san hô, tạo nên môi trường sống cho 3.498 loài cá, 296 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, 1.009 loài chim, 310 loài thú hoang dã, 7.750 loài côn trùng, 7.894 loài động vật không xương sống thủy sinh, 1.973 loài tảo, 687 loài rong, gần 12.000 loài thực vật
Trang 2Đặc biệt gần đây các nhà khoa học đã công bố nhiều loài mới cho khoa học bổ sung vào danh lục các loài động, thực vật của Việt Nam và trên Thế giới Việc mô tả các cá thể Tê giác một sừng liên quan đến các bức ảnh chụp được vào tháng 8/2001 ở VQG Cát Tiên
đã cho thấy Việt Nam là một trong những quốc gia có ĐDSH cao
Việt Nam còn là một trong 12 “trung tâm giống gốc” của nhiều loài cây trồng, vật nuôi với hàng chục giống gia súc và gia cầm trên Thế giới
Đặc biệt các giống lúa, khoai, có những loài được coi là có nguồn gốc từ Việt Nam Việt Nam còn là trung tâm phát tán của các loài cá thuộc họ cá Chép (Cyprinidae) và nhiều nòi chó (loài phụ) trên Thế giới đều bắt nguồn từ loài Chó Phú Quốc ở Việt Nam
Trang 3• Tuy nhiên, vào những năm cuối của thế kỷ XX, các hoạt động công nghiệp của con người ngày một gia tăng, việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên quá mức,…các chất thải không được kiểm soát nên ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu
• Tình hình đó đã ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người và suy giảm ĐDSH Nhiều loài động, thực vật bị suy giảm nhanh về số lượng, thậm chí một số loài đang đứng trước bờ vực bị tuyệt chủng
Trong khi đó, nhu cầu cơ bản và sự sống còn của con người lại phụ thuộc rất lớn vào ĐDSH của Trái đất Nếu những nguồn tài nguyên này bị giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và các đời con cháu mai sau sẽ bị đe dọa và phải đối mặt với những hiểm họa khôn lường về môi trường, tài nguyên sinh học
• Theo Tổ chức y tế Thế giới (WHO) mỗi năm có khoảng 160.000 người chết do ảnh hưởng của sự nóng lên toàn cầu, trung bình hàng ngày có 5.000 người chết vì các bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí trong nhà và con số này có thể tăng lên gấp đôi vào năm 2020
Trang 4• Với tốc độ suy giảm ĐDSH như hiện nay, sẽ có khoảng 5-10% số loài trên Thế giới bị tiêu diệt vào những năm 2020 và đến năm 2050
số loài bị tiêu diệt có thể lên đến 25% số loài đã mô tả Nếu trước đây cứ khoảng một Thế kỷ có một loài bị tiệt chủng thì vài năm gần đây người ta tính rằng bình quân cứ 7 phút có một loài bị tiệt chủng
• Khi ở các nước phát triển và đang phát triển phải trả giá cho sự mất mát này thì con người mới bắt đầu chú ý đến việc bảo tồn ĐDSH
Trang 5• Bắt đầu là từ Hội nghị Thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và
ĐDSH được tổ chức tại Brazil vào tháng 6 năm 1992 Sau hội nghị
đó có 156 Quốc gia đã ký vào công ước về ĐDSH và bảo vệ chúng
• Từ đó, nhiều hội thảo được tổ chức và nhiều cuốn sách mang tính
chất chỉ dẫn ra đời nhằm hướng dẫn và đưa ra các phương pháp
để bảo tồn ĐDSH, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững trong tương lai
• Bảo tồn ĐDSH là một nguyên lý khoa học được xây dựng trên
những nỗ lực đó
2 Sự tuyệt chủng và mất cân bằng sinh thái
Sự mất đi của hàng loạt các loài sinh vật trong một thời kỳ nhất định nào đó được gọi là hiện tượng tuyệt chủng
Trang 6Theo Raup, 1979 thì hiện tượng tuyệt chủng lớn nhất
có lẽ xảy ra vào cuối kỷ Permi (khoảng 250 triệu năm trước công nguyên) làm cho khoảng 77 đến 96% số loài động vật biển bị tuyệt chủng
Những biến động khác của khí hậu do động đất, hoạt động trở lại của nhiều núi lửa, làm cho nhiều loài động, thực vật không còn điều kiện sống thích hợp để tồn tại
Sự tuyệt chủng này phải cần đến khoảng 50 triệu năm sau thông qua quá trình tiến hóa thì số lượng loài động vật biển mới có thể phục hồi lại được
Trang 7• Ngày nay, do sự phát triển càng cao của xã hội, con người đã can thiệp và khai thác tự nhiên quá mức nên đã góp phần làm cho tốc độ tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật tăng hơn nhiều so với việc hình thành các loài mới Quá trình này không còn tuân theo quy luật tự nhiên nên sự mất cân bằng sinh thái là điều không thể tránh khỏi.
• Cân bằng sinh thái là sự cân bằng của các mối quan hệ giữa sinh vật với môi trường Trong quá trình tiến hóa của sinh vật, sự cân bằng này được
gọi là sự cân bằng tự nhiên
• Tuy nhiên cân bằng sinh thái tự nhiên là cân bằng động, nó luôn bị mất đi
sự cân bằng tương đối và luôn được phục hồi Một khi sự cân bằng bị phá
vỡ thì người ta gọi là mất cân bằng sinh thái Hậu quả của mất cân bằng sinh thái dẫn đến sự tiêu diệt các cá thể, quần thể, quần xã thậm chí phá hủy cả HST
• Ngày nay khi nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa,… đang phát triển nhanh trên Thế giới thì hiện tượng mất cân bằng sinh thái đã và đang xảy ra ở nhiều nơi và ngày càng nghiêm trọng
Trang 8II BẢO TỒN ĐDSH TRONG SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1 Khái niệm về bảo tồn ĐDSH
Bảo tồn ĐDSH là một khoa học đa ngành, được xây dựng nhằm hạn chế các mối đe dọa đối với ĐDSH Sự đe dọa làm suy thoái ĐDSH là do: sự khai thác tự nhiên quá mức, sự thoái hóa và biến mất sinh cảnh, nạn ô nhiễm môi trường, các loài nhập nội, sự du canh, du cư, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, Vì vậy, nội dung của bảo tồn ĐDSH cần phải đạt được 2 mục tiêu chính :
• Tìm hiểu những tác động tiêu cực do các hoạt động của con người gây ra cho các loài, các quần xã và đối với các HST.
• Xây dựng các phương pháp tiếp cận để hạn chế sự tuyệt chủng của các loài và nếu có thể được sẽ cứu các loài đang bị đe dọa bằng cách đưa chúng trở lại với HST tương
Trang 92 Tại sao phải bảo tồn ĐDSH
* Lý do đạo đức
Cơ sở đạo đức của bảo tồn thiên nhiên được nhấn mạnh tại hiến chương
“Thế giới vì thiên nhiên” do Đại hội đồng Liên hợp Quốc đưa ra:“Mỗi một dạng
của sự sống là độc nhất, nó cần được tồn tại mà không kể tới giá trị của
nó đối với con người và để sống hòa hợp với các sinh vật khác, hành động của con người cần chịu sự hướng dẫn của một quy tắc về đạo đức”
Theo nguyên tắc đó, mọi sinh vật sống trên hành tinh chúng ta đều có quyền tồn tại, bình đẳng ngang nhau Các sinh vật phải nương tựa vào nhau
để sinh sống, sinh vật này là chỗ dựa của sinh vật kia Chúng tạo thành một chuỗi liên hoàn tồn tại trong thiên nhiên, mà mỗi sinh vật là một mắt xích trong chuỗi liên hoàn đó
Khi chúng ta làm suy giảm sự phong phú về ĐDSH trên Thế giới, xem như đã vô tình loại trừ nhiều dạng sống mà chúng có quyền được tồn tại, phát triển, đồng thời chúng ta đã hủy hoại nền tảng của nguồn cảm hứng về thẩm
mỹ, nghệ thuật và văn hóa của con người.
Sự mất mát về ĐDSH có thể làm cho chất lượng cuộc sống của con người bị giảm sút và cản trở xã hội loài người trong quá trình phát triển
Trang 10* Lý do cân bằng sinh thái
ĐDSH cần phải được bảo tồn nhằm giữ cho sinh quyển ở trạng thái cân bằng và thực hiện được chức năng của nó Trong HST, không có một loài sinh vật nào là không cần thiết cho sự duy trì các quá trình sinh thái cơ bản trên Trái đất
Chẳng hạn, sự phá hủy rừng trên diện rộng làm thay đổi chu kỳ carbon, dẫn tới tăng hàm lượng carbon trong không khí Hàng năm
có tới 17 triệu - 25 triệu ha rừng trên Thế giới bị đốt cháy
Vì vậy, đã làm mất đi cả hai nguồn tái tạo O2, gia tăng CO2 do đốt cháy, giảm khả năng hấp thụ từ thực vật của rừng quang hợp
Từ đó, hàm lượng CO2 tăng từ 0,028% vào những năm 1950 đã lên tới 0,035% vào năm 2000 Điều đó đã tác động mạnh đến khí hậu toàn cầu, làm biến đổi nhiệt độ theo xu thế ấm lên của bầu không khí tầng đối lưu và tác động nghiêm trọng đến ĐDSH, sức khỏe và cuộc sống bình thường của con người…
Do vậy mất rừng, mất cân bằng sinh thái là mất tất cả
Trang 11* Lý do kinh tế
Phát triển bền vững là nguyên tắc cơ bản của phát triển kinh tế, xã hội và xu thế tự nhiên của HST Vì vậy, bảo tồn ĐDSH tức là đã bảo vệ được nền kinh tế một cách bền vững.
ĐDSH còn là nguồn nguyên liệu quý trong việc tăng sản lượng lương thực, thực phẩm, phát triển giống cây trồng, vật nuôi cả chất lượng sản phẩm, tính chống chịu và mức độ an toàn lương thực, thực phẩm sạch Nguồn tài nguyên này có một ý nghĩa thương mại cung cấp kim ngạch cho nền kinh tế trên nhiều mặt.
Lý do rất quan trọng trong nhiệm vụ bảo tồn ĐDSH là cần phải sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên sinh vật cho hiện tại và cho tương lai nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng lớn cho nhân loại
Vấn đề là nguồn tài nguyên ĐDSH có vai trò kinh tế đặc biệt như vậy, nhưng đang bị suy thoái nghiêm trọng cần phải được bảo tồn và phát triển bền vững chúng
Trang 12* Lý do thẩm mỹ
Những cảnh đẹp thiên nhiên bao giờ cũng gắn liền với cảnh
quan, cây cỏ và muông thú Các
tác phẩm văn học nghệ thuật chỉ
có thể được hình thành khi con
người gắn với thiên nhiên Đó là
nguồn cảm hứng cho các nhà văn,
Trang 13* Những giá trị tiềm ẩn
Cho đến nay, phần lớn giá trị của ĐDSH chưa được phát hiện và khai thác, nghĩa là tiềm năng của ĐDSH chưa được nhận thức một cách đầy đủ
Các nhà khoa học cho rằng mới có khoảng 5% tổng số loài cây được nghiên cứu để tìm kiếm các chất phục vụ cho đời sống của con người và có 2.000 loài, chiếm 20% tổng số sinh vật đã được nghiên cứu về tiềm năng Số còn lại đang ẩn chứa nhiều tiềm năng lớn về giá trị của chúng, nhưng vì trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay chưa cho phép con người có thể phát hiện tất cả những bí mật của thiên nhiên
Như vậy, con người mới chỉ biết khai thác và sử dụng một phần nhỏ nguồn tài nguyên ĐDSH trên Trái đất, nhiều tiềm năng có giá trị khác chưa được biết đến Những tiềm năng này sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với con người nếu chúng được phát hiện và được khai thác hợp
lý
Trang 143 Nội dung của bảo tồn ĐDSH
Để bảo vệ một loài nào đó thì bảo tồn ĐDSH ngoài việc phải nắm rất
kỹ các đặc điểm sinh học, sinh lý, sinh thái, tập tính của loài đó còn phải biết được các đặc điểm thích nghi với môi trường của chúng
Tiếp theo, phải nghiên cứu chúng trong mối quan hệ giữa các cá thể cùng loài, giữa các loài trong quần xã, Biết được những nguyên nhân làm cho loài đó có nguy cơ tuyệt chủng để từ đó tìm ra được biện pháp bảo tồn thích hợp
Các nội dung này đòi hỏi bảo tồn ĐDSH phải tổng hợp nhiều nguồn tư liệu liên quan, kết hợp với nghiên cứu trong thực tế đối với từng điều kiện
cụ thể, mới có được phương pháp tiếp cận đúng
Có thể nêu lên một số nội dung cơ bản của sinh học trong bảo tồn ĐDSH là:
- Điều tra thành phần các loài hiện có trong các HST của khu vực cần được bảo tồn hoặc đề xuất các giải pháp khả thi cho việc bảo vệ.
- Nghiên cứu về động thái các loài liên quan, đánh giá các tác động đến sinh cảnh nơi các loài đó sinh sống.
- Theo dõi diễn biến các HST dưới tác động của tự nhiên và của con người.
- Đánh giá, so sánh những khác nhau của HST còn tương đối nguyên vẹn
và những HST bị các tác động tiêu cực
Trang 15III CÁC VẤN ĐỀ CẤP THIẾT TRONG CÔNG TÁC BẢO
Đối với một số quần thể trong tự nhiên, một vài cá thể vẫn còn sống sót thêm vài năm hay vài chục năm và về lý thuyết chúng vẫn
có thể sinh sản để duy trì nòi giống, phát triển bình thường Nhưng thực tế những loài trong tình trạng như vậy sẽ rất dễ bị tuyệt chủng nếu không có các biện pháp can thiệp
Trang 16Loài Nhái vàng là loài điển hình
cho việc suy thoái
của các loài Lưỡng
cư Hình ảnh tụ tập
đông đúc của các con
đực bên một vũng
nước nhỏ vào mùa
giao phối ở vùng núi
và 2 con cái, đến năm
Trang 17Chim Bồ Câu Viễn Khách (Ectopistes migratorius)
ở vườn thú Cincinnati vào lúc
13 giờ chiều ngày 14 tháng
9 , năm 1914
Trang 18Bò Rừng Châu Mỹ (Bison bison)
• Bò rừng Châu Mỹ là loài thú ưu thế nhất ở Bắc Mỹ Dây chuyền thức ăn đồng cỏ - bò rừng - con người vẫn duy trì hàng ngàn năm.
• Khi người Châu Âu đến định cư vào cuối thế kỷ XIX, thì cuộc thảm sát bò rừng bison bắt đầu Hơn 1,5 triệu da bò được bán cho thị trường Phương đông trong mùa đông 1872 - 1873
• Từ quần thể ước tính khoảng 60 triệu con năm 1860, chỉ còn 150 sót lại ngoài tự nhiên năm 1889 Năm 1894, con bò hoang cuối cùng ngoài tự nhiên ở nước Mỹ, bị bắn chết bởi một người chủ trại tại tỉnh Parke, bang Colorado
Trang 19Bò rừng Châu Mỹ (Bison bison)
Trang 20Đầu thế kỷ XIX chỉ còn
lại vài trăm con, ở vùng
rừng Bialowiesa, Balan
Việc săn bắn trộm tiếp tục
giảm số lượng của bò cho
đến Thế chiến thứ I với
bom đạn và việc tìm thực
phẩm làm cho bò hoang
hoàn toàn huỷ diệt
Con bò hoang Châu Âu
cuối cùng bị bắn chết vào
ngày 9, tháng 1 năm 1921
Bò Rừng Châu Âu (Bison bosanus)
Trang 21Nguyên nhân tuyệt chủng
Săn bắn trái phép
Buôn bán vật nuôi, cây cảnh
Vật dữ
và kiểm soát sâu hại
Ô nhiễm
Thay đổi khí hậu
Nguyên nhân sâu xa
•Tăng dân số
•Gia tăng tiêu thụ tài nguyên
•Không quan tâm đến MT
•Nghèo đói
Trang 22Tốc độ tuyệt chủng của các loài tăng dần vào khoảng thời gian 150
năm trở lại đây Đối với các loài thú và
chim trong các năm 1600 – 1700 thì
tốc độ tuyệt chủng là 1 loài/10 năm và
đã tăng lên 1 loài/1năm vào những
năm 1850 – 1950
Vào những năm 90 của thế kỷ
XX, người ta đã ghi nhận được có
khoảng 11% số loài chim còn lại trên
thế giới đang bị đe dọa tuyệt chủng
Nhiều loài thú, một số loài thực vật,
nhóm thực vật hạt trần và cọ là những
nhóm rất dễ bị tuyệt chủng
Nếu là quy luật tự nhiên thì số nhóm, loài bị tuyệt chủng chỉ là 1%,
nhưng rất đáng tiếc, trên thực tế con
người lại gây nên đến 99% sự tuyệt
chủng cho các loài sinh vật
→ ĐDSH bị đe dọa nghiêm trọng là
điều hoàn toàn có thể xảy ra nếu
% số loài bị
đe dọa tuyệt chủng
Động vật
Cá Lưỡng cư
Bò sát Chim Thú
Thực vật
Hạt trần Hạt kín
Cọ
24.000 3.000 6.000 9.000 4.500
758 240.000 2.820
452 59 167 1.029 505
242 21.895
925
2 2 3 11 11
32 9
33
Trang 23* Sự phá hủy những nơi cư trú
Một trong những đe dọa chính đối với ĐDSH là nơi cư trú bị phá hủy hoặc bị làm thay đổi
Trong đó, phá rừng là một trong những việc làm nguy hại nhất
Người ta đã tính được hơn 50% những nơi cư trú là các cánh rừng nguyên sinh bị phá hủy tại 47 trong tổng số 57 Quốc gia nhiệt đới trên Thế giới Các nhà khoa học đã tính dược rằng hàng năm trên Thế giới có khoảng 17 – 25 triệu ha rừng/năm bị đốt cháy và tàn phá Theo đó, cứ trung bình một phút có trên 20ha rừng bị tàn phá và 3ha rừng bị sa mạc hóa
Sự đốt cháy, tàn phá và sa mạc hóa rừng kéo theo những hiểm họa lớn về môi trường Mất rừng là mất các nguồn tái tạo ôxy, tăng khí thải carbonic vào môi trường, HST đất bị xói lở, bào mòn, rửa trôi, bạc màu và tài nguyên đất suy thoái kéo theo các sinh cảnh bị phá hủy, mất nơi sống, cư trú của các loài,…
Trang 24Nạn phá rừng làm nương rẫy ở Madagascar
Trang 25Khi các khu rừng bị chia cắt thành nhiều phần nhỏ sẽ làm cho lượng gió tăng lên, độ ẩm giảm xuống và nhiệt độ phần biên cao hơn, tạo ra nguy cơ dễ cháy rừng nhiều hơn Sự kiện mùa khô năm
2002 làm cho rừng tràm U Minh ở Cà Mau bị cháy hàng nghìn ha rừng là một ví dụ Tình trạng này xảy ra sẽ làm cho môi trường sống
bị thay đổi, theo đó nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật cũng bị ảnh hưởng
Nơi cư trú bị chia nhỏ còn làm tăng khả năng xâm nhập của các loài ngoại lai xa lạ và bùng phát dịch hại bản địa Do đường biên của rừng có môi trường mẫn cảm và dễ bị biến động, ở đó các loài côn trùng tăng trưởng nhanh về số lượng và xâm nhập sâu vào bên trong khu vực trung tâm Mặt khác, các loài ăn tạp cũng phát triển mạnh, các loài chim ký sinh tổ có điều kiện phát triển và xâm nhập vào rừng làm suy giảm một số loài bên trong khu rừng bị chia cắt
Nơi cư trú bị chia nhỏ cũng làm tăng khả năng tiếp xúc giữa các loài hoang dã với các loài vật nuôi đã thuần dưỡng tạo cơ hội lây lan các loại dịch bệnh
Trang 26*Sự ô nhiễm môi trường sống
Ô nhiễm môi trường là một trong những nguyên nhân làm
cho sinh cảnh bị suy thoái và
tính ĐDSH bị suy giảm Hoạt
động của con người trong việc
phục vụ cho đời sống của mình
và cho xã hội đã làm mất đi sự
cân bằng sinh thái vốn có của
nó Nguyên nhân chủ yếu của
tình trạng này là do con người
đã sử dụng quá mức các loại
thuốc trừ sâu, hóa chất, các
chất thải công nghiệp, chất thải
sinh hoạt, khai thác tài nguyên
thiên nhiên quá mức, đô thị
hóa,
Trang 27- Ô nhiễm không khí
+ Biến đổi khí hậu trên Trái đất: Các hoạt động của con
người đã làm biến đổi và làm ô nhiễm bầu khí quyển của Trái đất Trong vòng 100 năm qua hàm lượng các khí nhà kính như CO2, CH4, NO2, H2O, O3, CFC và các khí khác trong khí quyển không ngừng tăng lên do việc đốt các năng lượng hóa thạch và khí tự nhiên
Việc chặt phá rừng và đốt rừng lấy đất trồng trọt cũng góp phần làm cho lượng CO2 tăng lên Từ 1910 đến 1950 lượng CO2 thải vào không khí trung bình mỗi năm khoảng
12 triệu tấn, những năm của thập kỷ 80 trung bình là khoảng 150 triệu tấn, còn vào đầu những năm của thập kỷ
90 là trung bình mỗi năm khoảng 3.000 triệu tấn, còn đến năm 1996 đã đạt tới 5.600 triệu tấn
Đỉnh cao phát thải khí carbonic vào tầng đối lưu do hoạt động sống của con người là vào năm 2000 lên tới 6.500 triệu tấn Đây là đỉnh cao nhất trong vòng 160.000 năm qua
Trang 28Các khí nhà kính tăng đã làm biến đổi khí hậu của trái đất Người ta dự đoán vào khoảng giữa thế kỷ XXI khí hậu trái đất sẽ nóng lên khoảng 20C đến 60C nữa Sự nóng lên của trái đất sẽ làm cho một số loài sinh vật không có khả năng thích ứng kịp thời để tồn tại
Khi nhiệt độ trái đất tăng lên sẽ làm cho các khối băng ở vùng cực tan ra, nước biển nở, theo đó hậu quả
là làm cho mực nước biển dâng cao Người ta dự đoán rằng, trong vòng 50 đến 100 năm tới mực nước biển sẽ dâng lên 0,3 đến 1,0 m Điều này sẽ nhấn chìm nhiều vùng đất thấp trên Thế giới Theo đó, các công trình xây dựng cũng như cơ sở hạ tầng cũng bị ngập và sẽ ngăn cản việc di cư của các loài sống trong vùng đất thấp Mặt khác, khi mực nước biển dâng lên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện sống của các rạn San hô vì bọn này chỉ sống ở những độ sâu nhất định, nơi có ánh sáng và dòng chảy phù hợp
Trang 29+ Hiện tượng mưa axit:
Do tốc độ công nghiệp hóa diễn ra nhanh trên Thế giới nên các ngành công nghiệp luyện thép, các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than hay dầu đã thải ra một lượng lớn nitrat, sunphat vào không khí Các loại khí này gặp hơi nước trong khí quyển sẽ tạo ra axit nitric và axit sunphuric
Theo WRI/UNEP/UNDP hàng năm nước Mỹ thải ra khoảng
21 triệu m3 khí nitrat và khoảng 19 triệu m3 khí sunphat Các gốc axit này liên kết với các đám mây tạo thành mưa axit Mưa axit đã làm tăng độ axit trong nước ở các ao, hồ, sông, suối,
và kéo theo là điều kiện sống trong các vùng này bị thay đổi Kết quả là làm suy giảm đáng kể các quần thể động, thực vật ở đây Vào năm 1994, người ta đã tính được có 39% số hồ tại Thủy Điển, 34% số hồ của Na Uy đã bị axit hóa.
Trang 30+ Sự sản sinh ôzôn và sự lắng đọng khí nitơ:
Xe ô tô, các nhà máy điện và các hoạt động công nghiệp thải ra các khí hyđrôcarbon, khí nitơ ôxit Dưới ánh sáng mặt trời, các chất này tác dụng với khí quyển tạo ra khí ôzôn và các
phụ phẩm khác Các chất này được gọi là “mù quang hóa”.
Khi nồng độ ôzôn tăng cao ở tầng khí quyển gần mặt đất
sẽ giết chết các mô thực vật, làm cây cối bị tổn thương Hậu quả là làm giảm năng suất nông nghiệp và làm hại các quần xã sinh vật
Lỗ thủng tầng ôzôn ở vùng Nam cực, vào năm 2000 có kích thước lớn hơn nước Mỹ (hơn 28,2 triệu km2 và hiện nay nhờ giảm thiểu được phát thải CFC, CO2,… nên lỗ thủng này đã được hàn nhỏ lại Hiện tượng suy giảm tầng ôzôn đã góp phần làm cho nhiều loài thực vật mất đi khí khổng và diệp lục, các loài động vật bị bệnh hiểm nghèo và những triệu chứng gây chết khác cho sinh vật.