Câu 2: Vai trò của hormom trong quá trình điều khiển chu kỳ sinh sản ở cá xương và giải thích sơ đồ sau đây: Sơ đồ cơ chế hormon điều khiển sự chín noãn bào bên trái và những hoạt chất n
Trang 1ĐỀ TIỂU LUẬN
Câu 1: Mô tả các giai đoạn phát triển buồng trứng cá xương ?
Câu 2: Vai trò của hormom trong quá trình điều khiển chu kỳ sinh sản ở cá
xương và giải thích sơ đồ sau đây:
Sơ đồ cơ chế hormon điều khiển sự chín noãn bào (bên trái) và những hoạt chất ngoại sinh có thể điều khiển quá trình này:
Câu 3: Nêu các giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng Zoea của cua biển
(Sylla serata)? Tình hình sản xuất giống cua biển ở nước ta?
Câu 4: Các giai đoạn phát triển ấu trùng thân mềm 2 mảnh vỏ ? Chọn một
đối tượng cụ thể làm ví dụ
Câu 5: Đọc bài báo “ Reproductive biology of cobia, Rachycentron
canadum, from coastal waters of the southern United States” và viết tóm tắt trong 1 trang A4
Trang 2BÀI LÀM
Câu 1: Mô tả các giai đoạn phát triển của buồng trứng cá rô phi vằn
(Oreochromis niloticus)
Cũng như các loài cá xương khác, buồng trứng cá rô phi vằn phát triển trải qua 6 giai đoạn:
Trang 3+ Giai đoạn 1 : tuyến sinh dục còn non, chỉ là 2 sợi mảnh dài, hẹp nằm ở
2 bên cột sống, mắt thường chưa phân biệt được tuyến sinh dục đực và cái Tế bào sinh dục là những noãn nguyên bào đang phát triển Tuyến sinh dục của cá ở giai đoạn này Đây là giai đoạn đặc trưng cho thời kỳ non của tuyến sinh dục cá, tế bào sinh dục là những noãn nguyên bào đang lớn lên
+ Giai đoạn 2: Các noãn nguyên bào to dần lên, đồng thời buồng trứng cũng phát triển to dần lên Kết thúc giai đoạn II của buồng trứng cũng là sự kết thúc quá trình lớn lên về nguyên sinh chất, tuyến sinh dục phát triển dày thêm hạt trứng nhỏ và trứng chuyển sang giai đoạn III.
+ Giai đoạn 3: Đây là quá trình tạo noãn hoàng hay được gọi là sự lớn lên về chất dinh dưỡng hoặc là sự sinh trưởng lần thứ hai Nang trứng được hình thành xung quanh mỗi noãn bào khi giai đoạn 3 này bắt đầu để làm nhiệm vụ nội tiết và vận chuyển chất noãn hoàng Giai đoạn này tế bào trứng bắt đầu hình thành và tích lũy noãn hoàng Noãn hoàng ở dạng hạt xung quanh noãn bào, nhân nhỏ nằm ở chính giữa Các không bào cũng xuất hiện xen lẫn với các hạt noãn hoàng.
+ Giai đoạn 4: Bắt đầu khi quá trình tạo noãn hoàng kết thúc, kích thước noãn bào đã tới hạn Noãn bào có hình tròn, nhân lệch tâm Các hạt noãn hoàng rất rõ và có màu đỏ dạng hạt hình cầu, noãn hoàng cùng với không bào chiếm hầu hết tế bào trứng Vào cuối giai đoạn IV, buồng trứng đạt cực đại, căng
Hình dạng ngoài của trứng cá rô phi vằn qua các giai đoạn phát triển
Trang 4tròn, hạt trứng đều có màu đỏ hoặc vàng nghệ Kích thước noãn bào cũng tăng dần.
+ Giai đoạn 5: Đây là giai đoạn trứng chín và rụng và tiến hành cho cá tham gia sinh sản Ở giai đoạn này trứng đạt kích thước lớn nhất, mạch máu nở to, các hạt trứng thành thục tách rời ra tự do Tế bào trứng ở giai đoạn V chiếm ưu thế
và một số ít trứng ở giai đoạn I, II.
+ Giai đoạn 6: Là tinh trạng buồng trứng cá cái sau khi đẻ, thể tích noãn sào nhỏ hẳn lại, màng noãn sào mềm, tụ nhiều máu có mầu đỏ sẫm Noãn sào
ở giai đoạn này có nhiều follicul rỗng và các hạt trứng chưa đẻ thoái hóa.
Câu 2: Vai trò của hormone trong quá trình điều khiển chu kỳ sinh sản của cá xương và giải thích sơ đồ sau đây?
a) Vai trò của hormone trong quá trình điều khiển chu kỳ sinh sản ở cá xương:
Trong cơ thể cá xương có chứa nhiều loại hormone như FSH, LH, GnRH, GRIF , các hormone này tham gia điều khiển quá trình sinh sản của
cá Mỗi một loại hormone đảm nhiệm một chức năng và hoạt động khác nhau ở các giai đoạn phát triển trong chu kỳ sinh sản của cá:
+ FSH: cá tác dụng thúc đẩy tế bào trứng phát dục thành thục, kích thích tế bào follicul hoạt động và sản sinh ra folliculin
+ LH: làm tăng sự hoạt động của thể vàng, làm vỏ màng follicul, đồng thời kích thích thể vàng sau khi trứng rụng sinh ra lutein LH còn có vai trò làm tăng sự hoạt động của men phospholipaza tồn tại trong tế bào follicul Men này được hoạt động hóa sẽ có lợi cho sự hấp thu và chuyển hóa của hormone, từ đó thúc đẩy quá trình rụng trứng
+ GnRH: có tác dụng kích thích tuyến yên tiết ra kích dục tố GTH II-Maturational Ganadotropin kích thích nên tế bào nang trứng tiết ra C21 Steroid (17, 20P) Các hormone này kích thích tuyến sinh dục hoạt động làm
Trang 5cho nhân tế bào phát triển, lệch tâm dịch chuyển dần về phía cực động vật của trứng do đó mà đạt tới sự rụng trứng và đẻ trứng
+ GRIF: là hormone gây ức chế tuyến yên tiết ra các loại hormone kích thích cho quá trình rụng và đẻ trứng
+ Kích dục tố GTH II-Maturational Gonadotropin có tác dụng kích thích tạo noãn hoàng và gây chín trứng Sự tiết kích dục tố được điều hòa bằng nhiều yếu tố gồm các steroid, các chất dẫn truyền thần kinh có nguồn gốc là các cơ quan trung ương và ngoại vi
b) Giải thích sơ đồ:
* Cơ chế hoạt động tự nhiên của cá:
Trang 6Các yếu tố môi trường bên ngoài như: nhiệt độ, ánh sáng, dòng chảy
và lưu tốc, hàm lượng chất khí, pH… tác động trực tiếp tới cá, trước hết là tới các giác quan như da, mắt, đường bên, vây Tạo ra luồng xung thần kinh cảm giác truyền tới hệ thần kinh trung ương, kích thích não thùy (qua vùng dưới đồi) sản sinh ra các hormone hướng sinh dục GnRH và GRIF (Dopamin) Các hormone này kích thích tuyến yên sản sinh ra GTH II-Maturational Gonadotropin - kích thích nang trứng tiết ra steroid gây chín noãn bào
* Trong công nghệ cho cá sinh sản nhân tạo, người ta căn cứ vào cơ chế
hoạt động tự nhiên của các hormon của cá để tiến hành tiêm cho cá hormone nhân tạo, mục đích kích thích sự sinh sản nhanh ở cá:
Vào thời điểm trứng ở đầu giai đoạn 4, tiến hành:
+ Tiêm kích dục tố (Não thùy thể cá, HCG, PMSG) có tác dụng nên nang trứng kích thích tiết ra C21 Steroid (17, 20P), đồng thời các kích dục tố
đó làm cho túi mầm di chuyển ra biên tức là làm cho cá chuyển sang thành thục hoàn toàn, gây chín và rụng trứng nhanh hơn
+ Tiêm hormone Steroid (P, 17P, 17,20P) có tác dụng rất nhanh nó tác dụng trực tiếp nên noãn bào gây chín và rụng trứng sau 2- 4 giờ tiêm
+ Hormone sinh dục cái của cá là Feedback (estrogen) do lớp màng trong của noãn sào cá tiết ra (lượng hormone thay đổi nhiều phụ thuộc vào
độ thành thục của tuyến sinh dục Trong thời kỳ sinh dục yên tĩnh thì các hormone này tương đối ít, sang thời kỳ hoạt động sinh dục lượng hormone tăng nên nhanh chóng) Các Estrogen có tác dụng nhận hiệu lệnh” của các kích dục tố và hormone Steroid truyền lên não bộ, não bộ “phân tích thông tin” và sản sinh ra nhanh hơn các hormone kích thích trứng chín và rụng nhanh
Trang 7Câu 3: Các giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng Zoea của cua biển
(Scylla errata).
a) Các giai đoạn phát triển phôi của cua biển (Scylla serrata).
Chia làm 4 giai đoạn (hình dưới)
+ Giai đoạn 1: Giai đoạn phân cắt và hình thành phôi nang, trứng có
màu vàng tươi
(Trứng không thụ tinh – giai đoạn 4 )
Giai đoạn 2
Giai đoạn 1
Trang 8Trứng cua thuộc dạng trứng trung hoàn nên phân cắt theo phương thức phân cắt bề mặt và phôi nang thuộc dạng chu phôi nang
Sau khi đẻ trứng khoảng 1-2 giờ, trứng bắt đầu phân cắt, kích thước khoảng 270 µm
Khi trứng đang còn màu vàng trắng quan sát kính núp hoặc kính hiển
vi có thể thấy một vòng tế bào quanh khối noãn hoàng ở phía trong đó là chu phôi nang
+ Giai đoạn 2: Giai đoạn phôi vị hóa, trứng có màu vàng xám.
Sau khi xuất hiện một vết lõm vào trong đó là phôi vị lúc này trứng chuyển sang màu vàng đậm
Thời gian phân cắt phôi nang, phôi vị khoảng 5-7 ngày Quá trình phôi
vị xảy ra sau 5-7 ngày tính từ lúc đẻ, kích thước khoảng 320 µm
Phôi vị hình thành theo phương thức lõm vào, đáy cực thực vật phẳng,
từ từ lõm vào đến khi tiếp giáp với cực động vật
+ Giai đoạn 3: Hình thành các cơ quan, trứng màu xám nâu.
Sau 7-10 ngày khi trứng chuyển sang màu xám ta đã có thể quan sát thấy mầm chân ngực và điểm mắt xuất hiện Sau đó xuất hiện và hình thành đôi mắt kép màu đen
+ Giai đoạn 4: Giai đoạn trứng bắt đầu nở
Trứng chuyển sang màu đen là lúc xuất hiện mắt và sắp nở, xuất hiện nhịp tim và tăng số lần nhịp đập, hình thành giáp đầu ngực, các đốt bụng và chân hàm, cơ bắt đầu co bóp, lúc này trứng bắt đầu nở
b) Các giai đoạn phát triển ấu trùng Zoea của cua biển (Scylla serrata).
Trang 9Ấu trùng Zoea mới nở, cấu tạo cơ thể gồm hai phần: phần đầu ngực và phần bụng Đầu ngực dạng hình gần bầu dục, phần bụng nhỏ, dài được chia thành sáu đốt, đốt cuối cùng chẻ nhánh thành hai gai Ấu trùng Zoea bơi lội khỏe mạnh và có tính hướng quang Cơ quan bơi lội là các đôi chân hàm Thức ăn của Zoea là các tảo đơn bào, luân trùng và Nauplius của Artemia.Trong điều kiện sống thích hợp, nhiệt độ 26 – 30oC, nồng độ muối
25 – 30 ppt, ấu trùng Zoae trải qua 5 lần lột vỏ tương ứng với 5 giai đoạn phát triển với khoảng thời 17 - 19 giờ ngày để nở thành ấu trùng Megalops
* Giai đoạn I:
Đôi mắt kép màu đen chưa có cuống mắt, thời gian phát triển từ 5 – 6 ngày Kích thước ấu trùng 1,23 mm
Ấu trùng Zoea giai đoạn I
* Giai đoạn II:
Giống như Zoea 1 nhưng khác nhau về kích thước, thời gian phát triển
từ 4 – 5 ngày Kích thước ấu trùng khoảng 1,56 mm
Ấu trùng Zoea giai đoạn II
* Giai đoạn III:
Trang 10Mắt lớn hơn, đã hình thành cuống mắt nhưng chưa phân đốt, chưa có mầm chân bụng, thời gian phát triển từ 3 – 4 ngày, kích thước 2,16 mm
Ấu trùng Zoea giai đoạn III
* Giai đoạn IV:
Hình thành mầm chân bụng, cuống mắt đã phân đốt, thời gian từ 3 -4 ngày Kích thước 3,26 mm
Ấu trùng Zoea giai đoạn IV
* Giai đoạn V:
Chân bụng phát triển chẻ đôi thành 2, mắt ngoài chân bụng có lông tơ, thời gian phát triển từ 3 – 4 ngày Kích thước 4,3 mm
Ấu trùng Zoea giai đoạn V
Trang 11c) Tình hình sản xuất giống cua biển (Scylla serrata) ở nước ta.
Bên cạnh những thủy đặc sản như tôm sú, cá mú… 1 loài đặc sản khác
có hàm lượng mỡ thấp, prôtêin và khoáng vi lượng, vitamin cao hiện được coi là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế ở nước ta bởi vốn đầu tư ít, thời gian quay vòng nhanh, phù hợp với khả năng đầu tư của ngư dân, đó là cua biển
Ở Việt Nam, cua biển (Scylla serrata) được nuôi từ rất lâu ở một số địa
phương như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Bạc Liêu,
Cà Mau… Hầu hết các diện tích nuôi đều nuôi theo hình thức quảng canh cổ truyền năng suất thấp (khoảng 137kg/ha), cua giống thả nuôi hoàn toàn dựa vào khai thác tự nhiên
Trong các loài cua sống ở môi trường nước mặn-lợ ven biển, thì cua biển có giá trị tiêu dùng và xuất khẩu Cua biển thường có kích thước lớn, dễ nuôi và có tốc độ tăng trưởng nhanh được nuôi phổ biến ở Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Nhật, Philippin, Malaysia, Singapo, Ấn Độ, Sri Lanka Ở Việt Nam, nhân dân thường nuôi cùng với tôm cá, rong biển kinh tế Con giống có trong nguồn nước ngoài bãi triều, được lấn qua cửa cống và ap đầm nuôi Sau đó được nuôi nhốt, quản lý và chăm sóc vài ba tháng rồi thu tỉa dần hay dùng lưới dọn thu hoạch lẫn cùng với tôm cá vào lúc cuối vụ Do trước đây, chỉ tiêu dùng nội địa và giá trị chưa cao nên việc đầu tư cho nuôi cua có nhiều hạn chế và thực tế cua chỉ được xem là các sản phẩm phụ
Tuy nhiên, trong 10 năm gần đây do có sự thay đổi về nhu cầu và cơ cấu các mặt hàng thủy sản cũng như thay đổi về giá, cua biển trở thành măt hàng có giá trị cả ở thị trường trong và ngoài nước Điều này đã khuyến khích người dân vùng ven biển đầu tư và chuyển dịch nhiều diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản với nhiều hình thức nuôi khác nhau, trong đó có nuôi chuyên canh, thâm canh cua biển Lợi ích đem
Trang 12lai từ các hoạt động nuôi trồng thủy sản này là tạo ra một số lượng công việc lớn, tăng thu nhập, từng bước xóa đói giảm nghèo và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu ở nhiều vùng ven biển nước ta
Có thể nói rằng từ năm 1998 trở về trước, ở Việt Nam có rất ít công trình nghiên cứu đầy đủ về nuôi cua xanh thương phẩm để tạo ra nguồn nguyên liệu lớn cho xuất khẩu, đặc biệt là nuôi cua từ nguồn cua giống sinh sản nhân tạo, chưa có quy trình công nghệ nuôi cua xanh đạt năng suất cao
và ổn định
Xuất phát từ nhu cầu thực tế về cua giống phục vụ sản xuất, trong giai đoạn 98 – 2003, thông qua chương trình KC.06, Nhà nước đã đầu tư kinh phí để nghiên cứu sinh sản nhân tạo cua xanh và thực hiện dự án sản xuất thử cua giống nhân tạo nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất cua giống Hiện tại ở Việt Nam đã hình thành một nghề sản xuất mới đó là: nghề sản xuất cua giống nhân tạo
Nghề nuôi cua biển ở nước ta đã có từ rất lâu ở một số địa phương như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái bình, Nam Định, Thanh hóa, Nghệ An, Huế, Bạc liêu, Cà Mau Song, hầu hết diện tích đều nuôi theo hình thức quảng canh
cổ truyền, năng xuất thấp (khoảng 137kg/ha), cua giống nuôi hoàn toàn dựa vào khai thác tự nhiên
Từ khi có cua giống nhân tạo, nghề nuôi cua biển phát trển ở nhiều dạng hình như: nuôi cua ghép với tôm sú, nuôi cua trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, nuôi chuyên cua đạt năng suất từ 1,5 - 2 tấn/ha
Mặc dầu Việt nam hiện nay đã có công nghệ sản xuất cua giống được nhiều nước đánh giá cao, là nước có nhiều trại sản xuất cua giống nhất trong khu vực Đông Nam Á (có khoảng trên 100 trại sản xuát cua giống), phong trào xây dựng trại sản xuất cua giống hiện nay đang phát triển rộng khắp ở
Trang 13các tỉnh ven biển trong cả nước, nhưng khả năng cung cấp cua giống khai thác ngoài tự nhiên và cua giống sản xuất nhân tạo mới đáp ứng được khoảng trên 100 triệu con, so với nhu cầu từ 133 – 220 triệu con (chưa tính nhu cầu cua giống that nuôi ở diện tích rừng ngập mặn) Nếu chuyển khoảng 2.600 trại sản xuất tôm sú giống sang sản xuất cua giống (vừa sản xuất tôm vừa sản xuất cua) thì hàng năm có thể sản xuất được 1 tỷ con cua giống, đủ đáp ứng cho nhu cầu nuôi cua xuất khẩu và tiêu thụ nội địa
Hiện nay nguồn cung cấp cua giống nuôi trên hàng ngàn hecta ở các tỉnh như Nam Định, Hải Phòng … dựa hoàn toàn vào khai thác tự nhiên Lượng cua này chỉ đáp ứng từ 10-15% nhu cầu, và trong tương lai nguồn cua giống
từ tự nhiên này sẽ trở nên vô cùng khan hiếm Chính vì thế con giống nhân tạo là mối quan tâm hàng đầu của nhiều địa phương trong cả nước
Tính đến nay công nghệ sản xuất cua giống nhân tạo chỉ mới triển khai ở
ba địa phương trong cả nước đó là: Huế, Nghệ An và Hải Phòng Lượng cua giống sản xuất được cũng chưa vượt quá 1 triệu con/năm Chính điều đó giá cua giống vào thời điểm chính vụ trở nên khá cao, từ 5 – 6 ngàn đồng/con (cua 4,5)
Tính đến cuối năm 2004, cả nước có 540.000ha diện tích nuôi tôm, nhiều địa phương nuôi tôm bị dịch bệnh gây thiệt hại kinh tế rất lớn vì thế người dân đang chuyển dần diện tích nuôi chuyên tôm sang mô hình nuôi kết hợp tôm + cua, tôm + cá Song khó khăn lớn nhất hiện nay là khả năng cung cấp cua giống cho các hộ nuôi cua, nếu chuyển ½ diện tịch hiện có sang nuôi 1 vụ cua thì hàng năm lương cua giống cần phải đáp ứng từ 133 triệu – 220 triệu con (tính mật độ từ 0,5 đến 1 con/m2
Câu 4: Các giai đoạn phát triển ấu trùng của tu hài.
Trang 14Quá trình biến thái từ trứng sau khi thụ tinh đến khi thành con non kéo dài từ 18 đến 20 ngày, trong điều kiện môi trường nước có nhiệt độ 240C và
độ mặn 30‰ Ở nhiệt độ thấp quá trình biến thái diễn ra chậm, nhiệt độ thuận lợi nhất là 24 – 280C, độ mặn nước biển là: 30 - 31‰
Thời gian và điều kiện nhiệt độ, độ mặn cho các giai đoạn phát triển cùng kích thước được trình bầy trong bẳng sau:
Bảng: Quá trình biến thái của phôi, ấu trùng tu hài
Quá trình phát triển Thời gian
(giờ)
Kích thước (àm)
Ghi chú
Trứng thụ tinh 5 – 10 phút 45 - 50 T0: 240C; S: 30‰
Ấu trùng trochophore 12 giờ 50 T0: 24 – 280C
Ấu trùng đỉnh vỏ thẳng 24 giờ 50 T0: 24 – 280C
36 giờ 50 T0: < 200C
Ấu trùng chữ D hoàn chỉnh 36 giờ 60 T0: > 240C
Ấu trùng đỉnh vỏ lồi (U1) 8 ngày 110 T0: > 240C
Ấu trùng đỉnh vỏ lôi hoàn
chỉnh (U3)
15 ngày 200 T0: > 240C
Ấu trùng có điểm mắt 17 – 18 ngày 220 T0: > 240C
Ấu trùng chân bò 20 ngày 250 T0: > 240C
Thành con non (5mm) 20 – 25 ngày 300 T0: > 240C