1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập logic học đại cương

11 480 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 27,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP TUẦN LOGIC Phần I: Câu 4: Trình bày phương pháp nghiên cứu đặc trưng của logic học(logic học hình thức) và cho biết tại sao đó là phương pháp đặc trưng của nó? Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của logic học là phương pháp kép: phương pháp phân tích và phương pháp hình thức hóa. Phân tích là thao tác tư duy phân chia chỉnh thể phức tạp thành các mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành vốn có của nó. Phân tích trong logic học là phân tích các mối quan hệ giữa các tư tưởng trong quá trình tư duy Hình thức hóa là dùng các kí hiệu, chữ viết, biểu đồ, biểu thức…để mô tả các thành phần, yếu tố các bộ phận cấu thành và các mối liên hệ, các kiểu liên kết sau đó khái quát hóa thành công thức. Phương pháp kép trở thành phương pháp đặc trưng của logic học có thể được lí giải như sau: Nghiên cứu logic học hay chính là nghiên cứu mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành tư tưởng với mục đích làm rõ mối liên hệ tất yếu của chúng thì cần có những phương pháp phù hợp Như vậy để chỉ ra các mối liên hệ giữa các tư tưởng thì điều quan trọng là phải chỉ ra các yếu tố cấu thành của tư tưởng và các kiểu liên kết đúng của các tư tưởng trong chỉnh thể thống nhất. Đây là đặc trưng của phương pháp phân tích. Tuy nhiên, chỉ phân tích thôi thì chưa đủ . Sự phân tích này không thể trình bày dưới hình thức ngôn từ dài dòng , nó sẽ không đảm bảo tính logic của chúng và chưa thể hiện được tính tư duy logic. Vì vậy mà chúng cần được cụ thể , mô tả các mối liên hệ đó dưới những hình thức nhất định. Dùng phương pháp hình thức hóa sẽ giúp các thành phần, các yếu tố cấu thành và mối liên hệ được trình bày dưới những kí tự, biểu đồ, biểu thức từ đó công thức hóa quá trình tư tưởng phức tạp và làm rõ kết cấu tư tưởng một cách ngắn gọn dễ hiểu, đem lại hiệu quả.

Trang 1

BÀI TẬP TUẦN LOGIC Phần I:

Câu 4: Trình bày phương pháp nghiên cứu đặc trưng của logic

học(logic học hình thức) và cho biết tại sao đó là phương pháp đặc trưng của nó?

Phương pháp nghiên cứu đặc trưng của logic học là phương pháp kép: phương pháp phân tích và phương pháp hình thức hóa

Phân tích là thao tác tư duy phân chia chỉnh thể phức tạp thành các mặt, các yếu tố, các bộ phận cấu thành vốn có của nó Phân tích trong logic học là phân tích các mối quan hệ giữa các tư tưởng trong quá trình

tư duy

Hình thức hóa là dùng các kí hiệu, chữ viết, biểu đồ, biểu thức…để

mô tả các thành phần, yếu tố các bộ phận cấu thành và các mối liên hệ, các kiểu liên kết sau đó khái quát hóa thành công thức

Phương pháp kép trở thành phương pháp đặc trưng của logic học

có thể được lí giải như sau: Nghiên cứu logic học hay chính là nghiên cứu mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành tư tưởng với mục đích làm rõ mối liên hệ tất yếu của chúng thì cần có những phương pháp phù hợp

Như vậy để chỉ ra các mối liên hệ giữa các tư tưởng thì điều quan trọng là phải chỉ ra các yếu tố cấu thành của tư tưởng và các kiểu liên kết đúng của các tư tưởng trong chỉnh thể thống nhất Đây là đặc trưng

Trang 2

của phương pháp phân tích Tuy nhiên, chỉ phân tích thôi thì chưa đủ

Sự phân tích này không thể trình bày dưới hình thức ngôn từ dài dòng ,

nó sẽ không đảm bảo tính logic của chúng và chưa thể hiện được tính tư duy logic Vì vậy mà chúng cần được cụ thể , mô tả các mối liên hệ đó dưới những hình thức nhất định Dùng phương pháp hình thức hóa sẽ giúp các thành phần, các yếu tố cấu thành và mối liên hệ được trình bày dưới những kí tự, biểu đồ, biểu thức từ đó công thức hóa quá trình tư tưởng phức tạp và làm rõ kết cấu tư tưởng một cách ngắn gọn dễ hiểu, đem lại hiệu quả

Câu 6: Hãy làm rõ vai trò của tư duy logic đối với việc học tập và

nghiên cứu luật học?

Trong việc học tập và nghiên cứu thì tư duy logic đóng vai trò rất quan trọng đặc biệt đối với trong lĩnh vực luật học Đòi hỏi trong việc học tập và nghiên cứu luật học là phải có kĩ năng trình bày, lập luận chặt chẽ để đi đến một khẳng định đúng, phù hợp Ngoài ra cũng cần nắm chắc , hiểu rõ ràng để bảo vệ ý kiến của mình đồng thời phát hiện ra những quan điểm sai lệch chưa hợp lý Vì vậy sử dụng logic có ý nghĩa quan trọng :

Thông thường con người hay tư duy lôgíc tự phát, nó gây trở ngại cho việc nhận thức khoa học, nó dễ mắc phải sai lầm trong quá trình trao đổi tư tưởng với nhau, nhất là những vấn đề phức tạp Lôgíc học giúp chúng ta chuyển lối tư duy lôgíc tự phát thành tư duy lôgíc tự giác

Trang 3

Thứ nhất, lập luận chặt chẽ, có căn cứ; trình bày các quan điểm, tư

tưởng một cách rõ ràng, chính xác, mạch lạc hơn

Ví dụ: Trong việc thực hiện các bài viết, bài tập hay luận văn, luận án trình bày rõ ràng, lập luận chặt chẽ và thuyết phục Xa hơn nữa trong tương lai với hoạt động chuyên môn như xây dựng pháp luật, người soạn thảo phải đưa ra những định nghĩa khái niệm vừa mang tính khái quát lại vừa rõ ràng, dễ hiểu…Ngoài ra còn trong các hoạt động khác như xác định lỗi, tội danh của người phạm tội…

Thứ hai, phát hiện được những lỗi lôgíc trong quá trình lập luận,

trình bày quan điểm, tư tưởng của người khác

Ví dụ: Phát hiện lỗi sai trong bài làm hay suy nghĩ của mình, của đối phương Cụ thể hơn nữa trong hoạt động đánh giá, thẩm tra văn bản pháp luật có đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn về tính hợp hiến, hợp pháp và hợp lý Từ đó có những quan điểm về một số quy phạm góp phần làm cho việc nhận thức, tư duy pháp luật được củng cố Ngoài ra còn đánh giá được những kết luận của Tòa án đã thực sự phù hợp để tránh sai lầm trong xét xử…

Thứ ba, vạch ra các thủ thuật ngụy biện của đối phương Từ đó đưa

ra phản biện bác bỏ ý kiến

Ví dụ : Cụ thể trong hoạt động bảo vệ luận án, luận văn hay trong hoạt động tranh tụng tại Tòa án, cần phát hiện và bác bỏ quan điểm của đối phương

Trang 4

Lôgíc học còn trang bị cho chúng ta các phương pháp nghiên cứu khoa học : Suy diễn, Qui nạp, Phân tích, Tổng hợp, Giả thuyết, Chứng minh v.v… nhờ đó làm tăng khả năng nhận thức, khám phá của con người đối với thế giới

Phần II:

Câu 2: Tại sao nói khái niệm vừa là hình thức vừa là công cụ của tư

duy?

Khái niệm là hình thức tư duy phản ánh những dấu hiệu bản chất, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Có thể khẳng định khái niệm vừa là hình thức vừa là công cụ tư duy bởi:

Thứ nhất, khái niệm là một hình thức của tư duy Bởi tư duy là quá

trình sáng tạo hiện thực, là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách trừu tượng hóa , khái quát hóa, hướng vào nhận thức bản chat của đối tượng Và những sự phản ánh , những đặc trưng tạo nên một sự tương đối hoàn chỉnh về đối tượng chỉ có thể được trình bày dưới những khái niệm Như vậy, có thể nói khái niệm là sản phẩm của tư duy hay là hình thức của tư duy

Thứ hai, khái niệm là công cụ của tư duy Để tư duy con người cần

tới những sự hiểu biết về đối tượng và nó phải là những đặc trưng để nhằm tách đối tượng cần tư duy ra khỏi những đối tượng khác Để phục

vụ cho sự nhận thức của con người thì chỉ có thể thực hiện trên cơ sở

Trang 5

xây dựng nên các khái niệm và sử dụng chúng để tư duy Như vậy, khái niệm là một công cụ hữu ích phục vụ cho quá trình tư duy

Tóm lại, với những lí luận trên một lần nữa có thể nhận định được vai trò quan trọng của khái niệm, chúng vừa là hình thức vừa là công cụ của tư duy

Câu 3: Kết cấu logic của khái niệm và mối quan hệ giữa các thành

phần tạo nên kết cấu đó như thế nào? Cho ví dụ

Kết cấu logic của khái niệm gồm có hai mặt là nội hàm và ngoại diện

Nội hàm của khái niệm là tổng hòa các dấu hiệu bản chất, đặc trưng của đối tượng được phan ránh trong khái niệm Nó trả lời cho các câu hỏi: sự vật ấy là gì? Như thế nào? Khác sự vật khác ở chỗ nào? Đây

là những tri thức khái quát về đối tượng tạo góp phần làm rõ khái niệm

Ngoại diên của khái niệm là tập hợp tất cả các đối tượng có chung những dấu hiệu bản chất, đặc trưng được phản ánh trong nội hàm của khái niệm qua nội diên có thể biết đối tượng này thuộc hay không thuộc khái niệm

Mối quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm: Nội hàm

và ngoại diên của khái niệm có quan hệ và quy định chặt chẽ lẫn nhau Nội hàm của khái niệm được xác định trên cơ sở lớp đối tượng là ngoại diên của khái niệm đó Sự thay đổi nội hàm sẽ dẫn đến sự thay đổi về ngoại diên và ngược lại Quan hệ giữa chúng là ngược chiều nhau

Trang 6

Thứ nhất, nội hàm càng sâu( dấu hiệu thuộc nội hàm ngày càng mang tính chất cụ thể) thì ngoại diên càng hẹp( lớp đối tượng khái niệm phản ánh càng ít)

Thứ hai, nội hàm càng nông( càng dấu hiệu của nội hàm ngày càng mang tính khái quát) thì ngoại diên càng rộng( lớp đối tượng mà khái niệm phản ánh ngày càng lớn)

Ví dụ: Cho khái niệm “quy phạm pháp luật”

Nội hàm của khái niệm : quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đạt được mục đích nhất định Ngoại diên của khái niệm: quy phạm cho phép; quy phạm bắt buộc; quy phạm cấm đoán; quy phạm không bắt buộc

Như vậy, với nội hàm mang tính khái quát như trên của khái niệm thì ngoại diên lớn gồm 4 đối tượng

Khi cụ thể hóa nội hàm để nội hàm sâu :các quy tắc xử sự xác định các hành vi mà chủ thể buộc phải thực hiện do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đạt được những mục đích nhất định.Ngọai diên của khái niệm: quy phạm bắt buộc

Trang 7

Như vậy, trong ví dụ vừa rồi khi nội hàm càng sâu( cụ thể, chi tiết) “quy tắc xử sự xác định các hành vi mà chủ thể bắt buộc phải thực hiện” thì ngoaj diên càng hẹp với 1 đối tượng

Phần III:

Câu 2: Xác định phương pháp định nghĩa các khái niệm sau:

a) Người có tội là người bị tòa án kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật Đây là phương pháp mô tả một số dấu hiệu đặc biệt của đối

tượng Dùng dấu hiệu riêng biệt “ tòa án kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật” để phân biệt “ người có tội” với tất cả mọi người

b) Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

Khái niệm này được định nghĩa theo phương pháp thông qua khái niệm loại phân biệt khái niệm chủng Khái niệm loại của vật chất là

“phạm trù triết học”, trong các phạm trù triết học thì vật chất chỉ là một phạm trù và nó được phân biệt với các phạm trù khác( ý thức…) bằng dấu hiệu “ đem lại cho…không lệ thuộc vào cảm giác”

Câu 3: Các định nghĩa khái niệm sau có mắc lỗi logic không? Mắc lỗi

gì? Tại sao?

a) Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội

Trang 8

Định nghĩa này đã mắc lỗi logic do định nghĩa quá rộng Như vậy

đã vi phạm quy tắc một đinh nghĩa không cân bằng Khái niệm dùng để định nghĩa có ngoại diên lớn hơn ngoại diên của khái niệm được định nghĩa Tức ngoại diên của khái niệm “hành vi nguy hiểm cho xã hội” rộng hơn ngoại diên của khái niệm “ tội phạm” Theo luật hình sự “tội phạm” là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt Có nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội mà chưa đến mức được coi là tội phạm ví dụ như hành vi vi phạm hành chính…

b) Đạo đức là quan hệ xã hội không do pháp luật điều chỉnh.

Định nghĩa trên đã mắc lỗi logic do vi phạm quy tắc “ định nghĩa không được dùng phủ định mà phải trình bày những dấu hiệu bản chất, đặc trưng của đối tượng phản ánh dưới dạng khẳng định” Định nghĩa trên đã phủ định đạo đức “không do pháp luật điều chỉnh” Trên thực tế ngoài đạo đức có nhiều khái niệm không do pháp luật điều chỉnh như : tôn giáo…Tuy nhiên có thể thấy trong định nghĩa này đã giới hạn đạo đức với khẳng định nó là “quan hệ xã hội” vì vậy đã tạo ra được khái niệm loại để giới hạn phạm vi đối tượng

c) Tham nhũng là những hành vi gây tổn hại cho xã hội như “loài sâu mọt” đục khoét cơ thể xã hội.

Định nghĩa trên đã mắc lỗi logic do vi phạm quy tắc “định nghĩa không được ví von” Khi khẳng định “tham nhũng là những hành vi gây tổn hại cho xã hội” đã đưa ra được một đặc trưng cơ bản của “tham

Trang 9

nhũng” về tính chất và hậu quả của nó Tuy nhiên khi so sánh hay ví von

nó như “loài sâu mọt đục khoét cơ thể xã hội” thì làm cho người đọc, người nghe thêm tường minh về hậu quả nó gây ra nhưng vẫn không hình dung ra được những biểu hiện của hành vi tham nhũng Trên thực

tế hành vi trộm cắp hay giết người cũng gây tổn hại cho xã hội Theo Luật phòng chống tham nhũng 2005 có đưa ra định nghĩa “ Tham nhũng

là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,quyền hạn đó vì vụ lợi” Định nghĩa này đã đưa ra một số đặc trưng quan trọng của hành vi tham nhũng như: chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn và biểu hiện của hành vi là lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích phục vụ lợi ích cá nhân

d) Quan hệ hôn nhân là quan hệ vợ chồng và quan hệ vợ chồng phải được mọi người thừa nhận phải có họ hành hai bên, họ hành hai bên thừa nhận như vậy hai người không có chung huyết thống trong phạm vi

ba đời

Trang 10

Định nghĩa về quan hệ hôn nhân trên đã mắc lỗi logic khi vi phạm quy tắc “ định nghĩa không được vòng vo” Khái niệm “ quan hệ vợ chồng được dùng để định nghĩa cho khái niệm quan hệ hôn nhân Tuy nhiên do chưa rõ ràng tường minh ở khái niệm này nên “quan hệ vợ chồng” tếp tục được giải thích “ phải được mọi người thừa nhận, phải có

họ hang hai bên” và tiếp sau đó lại định nghĩa về sự công nhận của họ hàng hai bên là “ không có chung hyết thống trong phạm vi ba đời” Với cách đinh nghĩa này không chỉ không đảm bảo về mặt câu văn mà nó còn như vòng tròn luẩn quẩn, khái niệm trước chưa được định nghĩa rõ lại nối tiếp định nghĩa khái niệm sau.Trong cấu trúc khái niệm được định nghĩa lại định nghĩa khái niệm được dùng để đinh nghĩa và cứ tiếp tục như vậy Lỗi logic này không chỉ không làm sáng tỏ khái niệm cần được định nghĩa mà còn đưa người đọc vào “cạm bẫy” của những khái niệm khác

e) Nhà nước XHCN là nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Định nghĩa trên đây đã mắc lỗi logic Đó là vi phạm quy tắc “định nghĩa phải cân đối” khi định nghĩa quá hẹp Ở đây khái niệm được dùng

để đinh nghĩa có ngoai diên hẹp hơn nhiều so với ngoại diên khái niệm được định nghĩa Tức ngoại diên của khái niệm “ Nhà nước CHXHCN Việt Nam” không bao hàm hết ngoai diên của khái niệm “nhà nước XHCN”.Ví dụ ngoại diện của “nhà nước XHCN” còn bao hàm các nhà nước khác như: Cộng hòa Cuba, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Ngày đăng: 30/06/2018, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w