Câu 1. Chính trị là gì, phân tích luận điểm chính trị học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước và xã hội. Là hoạt động thực tiễn của các đảng phái, giai cấp, nhà nước trong việc tìm kiếm những khả năng đề ra đường lối thực hiện mục tiêu, nhằm thoả mãn lợi ích. Chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Chính trị là khoa học Chính trị là một hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội loài người, xuất hiện cùng với giai cấp và nhà nước, gắn liền với quyền lực, với đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Chính trị là lĩnh vực tương đối độc lập trong đời sống xã hội, có logic phát triển nội tại, có quy luật phát triển khách quan. Chính trị là một hệ thống tri thức, từ những tri thức kinh nghiệm đến tri thức lý luận hoàn chỉnh, phản ánh quy luật vận động khách quan của chính trị. Do hạn chế lịch sử và bị chi phối bởi lợi ích giai cấp, nên chính trị trở thành đặc quyền của giai cấp thống trị. Nó chỉ trở thành khoa học đích thực khi chủ nghĩa MácLênin ra đời. Ngày nay, chính trị thực sự trở thành một khoa học với đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng. Chính trị là một khoa học, nên phải đối xử với nó như một khoa học. Cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập cũng như trong xây dựng CNXH luôn xác định chính trị (đường lối, chính sách và tổ chức thực tiễn) là một khoa học. Chính trị là nghệ thuật Chính trị là hoạt động của con người liên quan đến tranh giành quyền lực, quyết liệt một mất một còn, nên các chủ thể chính trị (trước hết là giai cấp) không thể không sử dụng mọi biện pháp, thủ đoạn để đạt mục tiêu chính trị. Hoạt động chính trị luôn sáng tạo, linh hoạt, khôn khéo, mềm dẻo, phù hợp với thực tiễn để đạt hiệu quả cao nhất. Chính trị là phạm vi hoạt động hấp dẫn, nhưng phức tạp, giống đại số hơn số học. Nó đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao, đòi hỏi tầm trí tuệ tương ứng của các nhà chính trị. Chính trị là nghệ thuật của những bước đi (biết tiến, biết lùi đúng lúc), những giải pháp, thỏa hiệp trong những thời điểm lịch sử quan trọng. Đó là nghệ thuật vận dụng tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để xử lý các tính huống chính trị phức tạp, vận dụng đúng đắn phép biện chứng giữa khách quan và chủ quan trong hoạt động, đấu tranh chính trị. Chính trị là nghệ thuật của các khả năng: khả năng nắm bắt sự vận động của xã hội, dự báo chính xác tình thế và thời cơ cách mạng. Chính trị là nghệ thuật tổ chức lực lượng, sử dụng con người, nghệ thuật vận động quần chúng, nghệ thuật tiến hành chiến tranh cách mạng. Chính trị là Dĩ bất biến, ứng vạn biến. Mối quan hệ biện chứng Bản thân chính trị là một khoa học cũng đã phản ánh tính nghệ thuật của nó, bởi khoa học và nghệ thuật luôn gắn bó hữu cơ. Là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến vận mệnh của con người, của hàng triệu người, chính trị, hoạt động chính trị đòi hỏi sự chuẩn xác gắn với thực tiễn, tuân theo quy luật khách quan, tránh chủ quan, duy ý chí; đồng thời nó đòi hỏi sự nhạy cảm, tinh tế, mưu lược đạt trình độ nghệ thuật cao. Trong hoạt động chính trị thực tiễn, tính khoa học và nghệ thuật kết hợp, bổ sung cho nhau. Nếu tuyệt đối hóa tính khoa học của chính trị dễ rơi vào chủ nghĩa giáo điều, máy móc; nếu tuyệt đối hóa tính nghệ thuật không tuân theo khoa học thì chính trị chỉ còn lại là những mánh khóe lừa đảo , mị dân, sớm muộn cũng bị vạch trần. Câu 2: Chính trị học là gì? Trình bày chức năng, nhiệm vụ và đối tượng của chính trị học? 1. Chính trị học Chính trị học là một bộ môn khoa học nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xh để làm rõ những quy luật, tính quy luật vận động chung nhất của đời sống ctrị xh cùng những phương thức, những thủ thuật chính trị để hiện thực hoá những quy luật, tính quy luật chung ấy trong các xã hội có giai cấp và được tổ chức thành nhà nước.
Trang 1Câu 1 Chính trị là gì, phân tích luận điểm chính trị học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật.
Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai
cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó làvấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước
- Là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước và xã hội
- Là hoạt động thực tiễn của các đảng phái, giai cấp, nhà nước trong việc tìmkiếm những khả năng đề ra đường lối thực hiện mục tiêu, nhằm thoả mãn lợi ích.Chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
Chính trị là khoa học
- Chính trị là một hiện tượng khách quan trong đời sống xã hội loài người,xuất hiện cùng với giai cấp và nhà nước, gắn liền với quyền lực, với đấu tranh giaicấp và đấu tranh dân tộc
- Chính trị là lĩnh vực tương đối độc lập trong đời sống xã hội, có logic pháttriển nội tại, có quy luật phát triển khách quan
- Chính trị là một hệ thống tri thức, từ những tri thức kinh nghiệm đến tri thức
lý luận hoàn chỉnh, phản ánh quy luật vận động khách quan của chính trị
- Do hạn chế lịch sử và bị chi phối bởi lợi ích giai cấp, nên chính trị trở thànhđặc quyền của giai cấp thống trị Nó chỉ trở thành khoa học đích thực khi chủ nghĩaMác-Lênin ra đời
- Ngày nay, chính trị thực sự trở thành một khoa học với đối tượng và phươngpháp nghiên cứu riêng
- Chính trị là một khoa học, nên phải đối xử với nó như một khoa học
- Cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giành độc lập cũng như trong xây dựngCNXH luôn xác định chính trị (đường lối, chính sách và tổ chức thực tiễn) là mộtkhoa học
Chính trị là nghệ thuật
Trang 2- Chính trị là hoạt động của con người liên quan đến tranh giành quyền lực,quyết liệt một mất một còn, nên các chủ thể chính trị (trước hết là giai cấp) khôngthể không sử dụng mọi biện pháp, thủ đoạn để đạt mục tiêu chính trị
- Hoạt động chính trị luôn sáng tạo, linh hoạt, khôn khéo, mềm dẻo, phù hợpvới thực tiễn để đạt hiệu quả cao nhất
- Chính trị là phạm vi hoạt động hấp dẫn, nhưng phức tạp, "giống đại số hơn
số học" Nó đòi hỏi kỹ năng, kỹ xảo cao, đòi hỏi tầm trí tuệ tương ứng của các nhàchính trị
- Chính trị là nghệ thuật của những bước đi (biết tiến, biết lùi đúng lúc),những giải pháp, thỏa hiệp trong những thời điểm lịch sử quan trọng
- Đó là nghệ thuật vận dụng tri thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để xử lýcác tính huống chính trị phức tạp, vận dụng đúng đắn phép biện chứng giữa kháchquan và chủ quan trong hoạt động, đấu tranh chính trị
- Chính trị là nghệ thuật của các khả năng: khả năng nắm bắt sự vận động của
xã hội, dự báo chính xác tình thế và thời cơ cách mạng
- Chính trị là nghệ thuật tổ chức lực lượng, sử dụng con người, nghệ thuật vậnđộng quần chúng, nghệ thuật tiến hành chiến tranh cách mạng
- Chính trị là "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"
Mối quan hệ biện chứng
- Bản thân chính trị là một khoa học cũng đã phản ánh tính nghệ thuật của nó,bởi khoa học và nghệ thuật luôn gắn bó hữu cơ
- Là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến vận mệnh của con người, của hàngtriệu người, chính trị, hoạt động chính trị đòi hỏi sự chuẩn xác gắn với thực tiễn,tuân theo quy luật khách quan, tránh chủ quan, duy ý chí; đồng thời nó đòi hỏi sựnhạy cảm, tinh tế, mưu lược đạt trình độ nghệ thuật cao
- Trong hoạt động chính trị thực tiễn, tính khoa học và nghệ thuật kết hợp, bổsung cho nhau Nếu tuyệt đối hóa tính khoa học của chính trị dễ rơi vào chủ nghĩa
Trang 3giáo điều, máy móc; nếu tuyệt đối hóa tính nghệ thuật không tuân theo khoa họcthì chính trị chỉ còn lại là những mánh khóe lừa đảo , mị dân, sớm muộn cũng bịvạch trần.
Câu 2: Chính trị học là gì? Trình bày chức năng, nhiệm vụ và đối tượng của chính trị học?
1 Chính trị học
Chính trị học là một bộ môn khoa học nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đờisống xh để làm rõ những quy luật, tính quy luật vận động chung nhất của đời sốngctrị xh cùng những phương thức, những thủ thuật chính trị để hiện thực hoá nhữngquy luật, tính quy luật chung ấy trong các xã hội có giai cấp và được tổ chức thànhnhà nước
1 2 Đối tượng, chức năng và nhiệm vụ của chính trị học
2 Đối tượng của chính trị học
- Quy luật, tính quy luật chung nhất của đời sống chính trị xã hội
- Cơ chế vận dụng, cơ chế tác động của những quy luật đó vào thực tiễn
Trang 4- Trang bị cho mỗi công dân những cơ sở khoa học để họ có thể nhận thức
về các sự kiện chính trị,trên cơ sở đó xây dựng thái độ,động cơ đúng đắn phù hợpvới khả năng trong sự phát triển chung mà mỗi công dân tham gia như một chủ thể
- Góp phần hình thành cơ sở khoa học cho các chương trình chính trị,choviệc hoạch định chiến lược với những mục tiêu đối nội,đối ngoại cùng với cácphương pháp,phương tiện ,những thủ thuật chính trị nhằm đạt mục tiêu chính trị đã
đề ra
- Phân tích các thể chế chính trị và mối quan hệ,tác động qua lại giữachúng,xây dựng học thuyết,lý luận chính trị,làm rõ sự phát triển của nền dân chủ
Trang 5Câu 3: Trình bày tư tưởng chính trị phái Nho gia và Pháp gia sơ kỳ ? ảnh hưởng của nó đến đời sống chính trị và xã hội việt nam.
1 Tư tưởng chính trị của phái Nho gia
Tư tưởng Nho gia chiếm vị trí quan trọng trong lịch sử chính trị Trung Quốc
Tư tưởng Nho gia ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội Trung Quốc
và các nước láng giềng trong đó có Việt Nam Hai đại diện tiêu biễu cho phái Nhogia là Khổng Tử và Mạnh Tử
Khổng Tử(551- 479 TCN)
- Nội dung của tư tưởng chính trị
Khổng Tử là người sáng lập ra trường phái Nho gia
- Tư tưởng chính trị của Khổng Tử là vì sự bình ổn của xã hội- một xã hộithái bình thịnh trị Theo Khổng Tử là chính đạo, đạo người làm chính trị là phảingay thẳng, lấy chính trị để dẫn dắt dân Để thiên hạ có đạo, quay về lễ, phải củng
cố điều Nhân, coi trọng lễ nghĩa thì xã hội sẽ ổn định
- Khổng Tử đề ra thuyết : “ Nhân – Lễ- Chính danh”
+ Nhân là phạm trù trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử Nhân
là thước đo quyết định thành bại, tốt xấu của chính trị Nội dung của Nhân bao hàmcác vấn đề đạo đức, luân lí của xã hội Biểu hiện trong chính trị như sau:
Thương yêu con người
Tu dưỡng bản thân, sửa mình theo lễ là nhân
Tôn trọng và sử dụng người hiền
Nội dung của Nhân là nhân đạo, thương yêu con người, giúp đỡ lẫn nhau.+ Lễ: là qui định, nghi thức trong cúng tế Khổng Tử lí luận hóa biến Lễ thànhnhững qui định, trật tự phân chia thứ bậc trong xã hội, thể hiện trong sinh hoạt:hành vi, ngôn ngữ… Ai ở địa vị nào thì sử dụng lễ ấy, lễ là bộ phận của Nhân Lẽ
là ngọn, Nhân là gốc
Trang 6Lễ qui định chuẩn mực cho các đối tượng quan hệ: vua- tôi, cha- con,
chồng-vợ, chúng có quan hệ 2 chiều, phụ thuộc nhau
+ Chính danh là danh phận đúng đắn, ngay thẳng Là phạm trù cơ bản trongthuyết chính trị của Khổng Tử Phải xác định danh phận, đẳng cấp, vị trí của từngcác nhân, tầng lớp trong xã hội Danh phải phù hợp với thực, nội dung phải phùhợp với hình thức Đặt con người vào đúng vị trí, chức năng, phải xác định danhtrước khi có thực
Chính danh và Lễ có mối quan hệ chặt chẽ: muốn danh được chính thì phảithực hiện lễ, chính danh là điều kiện để trau dồi lễ
Học thuyết của Khổng Tử xây dựng trên 3 phạm trù cơ bản: Nhân- Lễ- Chínhdanh Nhân là cốt lõi vấn đề, vừa là điểm xuất phát cũng là mục đích cuối cùng của
hệ thống Học thuyết của Khổng Tử là “đức trị” vì lấy đạo đức làm gốc.Điều Nhânđược biểu hiện qua Lễ, chính danh là con đường để đạt tới điều Nhân Ba yếu tố cóquan hệ biện chứng tạo nên sự chặt chẽ của học thuyết
- Nội dung tư tưởng chính trị của Khổng Tử cũng chính là những mặt tích cựccủa trường phái Nho gia
Tuy nhiên, Về bản chất, học thuyết chính trị của Khổng Tử là duy tâm vàphản động.Vì nó không tính đến các yếu tố vật chất của xã hội mà chỉ khai thácyếu tố tinh thần Mục đích của học thuyết này là bảo vệ chế độ, đẳng cấp, củng cốđịa vị thống trị của giai cấp quí tộc đã lỗi thời, đưa xã hội TQuốc trở về thời Tâychu
- Theo Khổng Tử, đạo Nhân không phải để cho tất cả mọi người mà chỉ có ởnhững người quân tử( quí tộc, trí thức thuộc tầng lớp thống trị), còn kẻ tiểunhân( người lao động, tầng lớp bị trị) thì không bao giờ có
- Lễ không phải dùng cho tất cả mọi người mà nó chỉ đem áp dụng chonhững người có Nhân vì: “không có nhân thì giữ lễ làm sao được” “Kẻ tiểu nhân
mà có lễ lá điều chưa từng có”
Trang 7Mạnh Tử là người đầu tiên đưa ra tư tưởng trọng dân: dân là quí nhất, quốcgia thứ hai, vua không đáng trọng.
- Quan niệm quân tử- tiểu nhân: Quân tử là người lao tâm,cai trị người vàđược cung phụng Tiểu nhân là người lao lực, bị cai trị và phải cung phụng người.MTử đề xuất chủ trương “thượng hiền” dùng người hiền tài để thực hành nhânchính
- Chủ trương vương đạo: Mạnh Tử kịch liệt phản đối “bá đạo”, nguồn gốccủa mọi rối ren loạn lạc Chính trị “vương đạo” là nhân chính lấy dân làm gốc.Học thuyết nhân chính của Mạnh Tử có nhiều tiến bộ so với Khổng Tử Tuyvẫn đứng trên lập trường của giai cấp thống trị nhưng ông đã nhìn thấp được sứcmạnh của nhân dân, chủ trương thi hành nhân chính, vương đạo Đây là những tưtưởng tiến bộ, nhân đạo Tuy nhiên, điểm hạn chế của ông là còn tin vào mệnh trời
và tính thần bí trong việc giải quyết vấn đề quyền lực
Mạnh Tử đưa ra luận điểm coi trọng dân chỉ là thủ đoạn chính trị đẻ thống trịtốt hơn mà thôi
1 Liên hệ với Việt Nam
Trang 8Việt Nam là nước láng giềng của Trung Quốc lại nằm dưới ách 1000 năm bắcthuộc nên chịu ảnh hưởng sâu sắc những tư tưởng chính trị của trường phái Nhogiáo Nho giáo vào Việt Nam đã được Việt hóa nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
và xây dựng đất nước đã khi thác những mặt tích cực của nho giáo để khẳng địnhgiá trị truyền thống của dân tộc Điều đó được thể hiện như sau: Nho giáo ảnhhưởng tới nền giáo dục nước ta(tiên học lễ hậu học văn), Các kiến trúc đát, đềnthờ, văn miếu thờ Khổng Tử cũng đều mang đậm nét tư tưởng của Nho giáo Cóthể nói Nho giáo ở Việt nam được sử dụng như hệ tư tưởng chính thống Nho giáotrở thành tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất đạo đức của con người Truyền thốngquan hệ cha con và anh em đến nay trong gia đình VN vẫn giữ được tư tưởng củaNho giáo, là nét đẹp trong quan hệ văn hóa xã hội Nho giáo đòi hỏi sự gắn bó chặtchẽ giữa các thành viên trong gia đình và dòng họ Những nghi thức hằng ngày,những lời răn dạy của ông cha được lưu truyền cho đến đời con cháu Tuy nhiên,Nho giáo cũng có những mặt tiêu cục là xem nhẹ dân, không phát huy sức sáng tạocủa dân Tư tưởng coi thường phụ nữ ăn sâu vào đầu óc người VN từ xưa đến nay,lấy tiêu chuẩn tứ đức làm đầu công, dung, ngôn, hạnh Điều đó khiến người phụ nữ
bị dồn nén trong vòng tứ đức mà không phát huy hết được năng lực của mình Vềkinh tế: Nho giáo cũng khuyên người ta nên làm giàu, tạo ra của cải vật chất cho xãhội "dân giàu, nước mạnh
Trình bày tư tưởng chính trị của phái Pháp gia Liên hệ với Việt Nam?
1 Hoàn cảnh ra đời:
- Vào thời chiến quốc, quá trình phát triển kinh tế xã hội ngày càng mạnh
mẽ Phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc dẫn đến giai cấp địa chủ mới và thươngnhân ra đời Do áp dụng phương thức sản xuất tiến bộ và chính sách kinh tế phùhợp nên tầng lớp này đã nắm giữ và chi phối toàn bộ đời sống kinh tế xã hội đấtnước
Trang 9- Trong khi quyền lực chính trị vẫn do tầng lớp quý tộc cũ nắm giữ, trởthành vật cản của phát triển xã hội Yêu cầu kết thúc tình trạng phân tranh cát cứ,
mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển
- Tư tưởng Pháp gia được áp dụng thành công và đưa nước Tần trở thành báchủ, thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN
- Phái Pháp gia gồm nhiều nhà tư tưởng, nhiều trường phái khác nhau như+ Phái trọng pháp: Quản Trọng, Thương Ưởng
+ Phái trọng thuật: Thân Bất Hại
+ Phái trọng thế: Thận Đáo
Hàn Phi tử là người tổng kết và phát triển học thuyết này
2 Hàn Phi Tử và tư tưởng chính trị của phái Pháp gia:
a Hàn Phi Tử (280 – 233)
- Là nhà tư tưởng cuối cùng của thời Tiên Tần, con vua nước Hàn Là họctrò của Tuân Tử - nhà tư tưởng lướn nhất đương thời
- Tác phẩm kinh điển “Hàn Phi Tử” của ông nổi bật cho tư tưởng Pháp gia
b Tư tưởng chính trị của phái Pháp gia:
Hàn Phi Tử cho rằng:
- Xã hội loài người luôn luôn biến đổi, phát triển theo hướng đi lên Bản tínhcon người ta là ham lợi Điều lợi ảnh hưởng và chi phối các mối quan hệ trongxhội
- Chính trị đương thời không nên bàn chuyện nhân nghĩa cao xa mà cần cóbiện pháp cụ thể cứng rắn, kiên quyết
Từ nhận thức đó, học thuyết chính trị của ông được xây dựng trên cơ sở thốngnhất pháp – thuật – thể
- Pháp luật là những quy ước, chuẩn mực khuôn mẫu do vua ban ra, đượcphổ biến rộng rãi để nhân dân thực hiện
Trang 10+ Pháp luật phải hợp thời, đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển xã hội.Pháp luật phải rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với trình độ của dân chúng Pháp luậtphải công bằng để kẻ mạnh không lấn át kẻ yếu.
+ Quyền lực phải tập trung vào một người là vua Vua dề ra pháp luật, quanlại theo dõi việc thực hiện, dân là người thi hành
- Thuật là thủ đọan hay thuật cai trị của người làm vua để kiểm tra, giám sâthay điều khiển bầy tôi
+ Thuật là phương pháp tuyển chọn, sử dụng người đúng chức năng Nhưvậy, thuật là yếu tố cần thiết, bổ trợ và làm cho pháp luật được thi hành
+ Thuật phải được giữ bí mật , kín đáo không được tiết lộ với bất cứ ai
+ Vua không được để lộ sự yêu ghét của mình đề phòng quần thần lợi dụng
- Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền Quần thần phục tùng nhàvua, chịu theo sự ràng buộc bởi quyền uy của nhà vua Quyền lực đảm bảo cho sựthi hành pháp luật
+ Thế phải tuân thủ theo nguyên tắc tập trung, không được chia sẻ, khôngđược để rơi vào tay người khác Vua phải nắm chắc hai phương tiện cưỡng chế, đó
là “nhị bính” (thưởng và phạt) Thưởng phạt phải căn cứ trên cơ sở pháp luật chứkhông thể tùy tiện Vua cũng phải phục tùng pháp luật
Hàn Phi Tử cho rằng, “pháp”, “thuật”, “thế” cần phải kết hợp làm một, trong
đó “pháp” là trung tâm, “thuật” và “thế” là những điều kiện tất yếu trong việc thihành pháp luật Pháp luật phải phục vụ lợi ích chung
Trang 11- Tuy còn mang tính sơ khai nhưng nó đã đặt nền móng cho sự phát triển củacác luồng tư tưởng sau này.
- Tính đa dạng của các học thuyết nói lên tính phức tạp của thức tiễn chínhtrị , sự khốc liệt trong thời kỳ hình thành và phát triển các chế độ phong kiến Cuộcđấu tranh giữa hai phái Pháp gia và Nho gia phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa giaicấp quý tộc và giai cấp địa chủ mới do có tư tưởng cấp tiến
- Phái Pháp gia đã tích cực thúc đẩy lịch sử phát triển và có cong tgrong việcthống nhất đất nước
3 Liên hệ với Việt Nam:
Điểm chung nhất của các học thuyết chính trị là muốn cho xã hội ổn định vàphát triển nên những tri thức chính trị có giá trị chung cho mọi thời đại Việc kếthừa chọn lọc những tri thức đó là cần thiết cho thực tiễn chính trị hôm nay Đốivới Việt Nam, tư tưởng Pháp gia của Hàn Phi Tử chiếm một ý nghĩa quan trọngtrong đời sống ctrị
- Từ thời phong kiến, các vua chúa đã biết đề ra các quy tắc, chuẩn mực xãhội buộc mọi người phải tuân theo Những quy tắc dù đôi chỗ có thể thiếu hợp lý,phần lớn lại đảm bảo cho quyền lực của giai cấp thống trị nhưng điều quan trọng là
“phép tắc xã hội đã duy trì được ổn định xã hội” Tùy từng thời đại, tùy từng conngười mà những quy chuẩn xã hội đó có thể được thay đổi nhưng mục đích cuốicùng vẫn là duy trì quyền lực của giai cấp thống trị và duy trì sự phát triển bềnvững của xã hội
- Biểu hiện ở thời hiện đại: Trước hết đó là việc xây dựng hệ thống pháp luật
để quản lý và duy trì sự phát triển bền vững của đất nước Sau Cách mạng ThángTám năm 1945, nước ta giành được độc lập, với tầm nhìn chiến lược và sự hiểubiết sâu rộng trong lĩnh vực chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ đầu tiên củanước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã chỉ đạo sự ra đời của Hiến Pháp đầu tiênnăm 1946, đánh dấu sự tồn tại và phát triển của một quốc gia độc lập Hiến pháp
Trang 12năm 1946 dần dần được sửa đổi và hoàn thiện để ngày càng phù hợp với tình hìnhphát triển kinh tế xã hội của đất nước Cho đến hôm nay, nhờ sự có mặt của luậtpháp mà nước ta đã duy trì được chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, duy trì được sự ổnđịnh chính trị tạo đà cho kinh tế phát triển Nhờ đó, Việt Nam được đánh giá làmột trong những quốc gia có nền chính trị ổn định nhất khu vực và thế giới.
- Nhờ pháp luật vì lẽ phải và phục vụ lợi ích chung mà trong những năm quacông cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta đã đạt được một số thành tựuđáng kể Đó là thành tựu trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng,…Nhân dân ta đoàn kết một lòng, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, xây dựngnếp sống tốt đẹp Trong lĩnh vực chính trị, dân chủ hóa xã hội được mở rộng Nhândân là người bỏ phiếu để bầu ra lực lượng đại diện cho mình
- Sự công bằng của pháp luật đã đảm bảo cho việc thực hiện nó một cáchnghiêm túc Đó là điểm được áp dụng ở mọi quốc gia, không riêng gì Việt Nam.Trong môi trường công bằng của pháp luật, mọi người dân đều có quyền phát triển
tự do và bình đẳng Yếu tố này không những duy trì sự ổn định chế độ mà còn kíchthích việc tìm ra nhân tài cho đất nước
- Tư tưởng Pháp gia là một trong những tư tưởng chủ yếu và chi phối đờisống chính trị nước ta Nhờ kế thừa và phát huy học thuyết chính trị của Hàn Phi
Tử mà mỗi quốc gia đã xây dựng cho mình một chế độ độc lập, tự chủ Riêng vớiViệt Nam, đó còn là chế độ của một xã hội nhân văn
Trang 13Câu 4 Trình bày nội dung tư tưởng chính trị hy lạp cổ đại, ý nghĩa khoa học của nó.
Văn minh Hy Lạp cổ đại đã tạo tiền đề hình thành và phát triển khá sớm những tưtưởng chính trị của nhân loại Trong quá trình phát triển từ chế độ cộng sản nguyênthủy sang chiếm hữu nô lệ, ở Hy Lạp xuất hiện các quốc gia thành thị chiếm hữu
nô lệ Mâu thuẫn xã hội giữa các tập đoàn trong giai cấp chủ nô nhằm tranh giànhquyền lực và mâu thuẫn giữa chủ nô với nô lệ và tầng lớp thị dân tự do ngày cànggay gắt dẫn đến hình thành các phe phái chính trị và xuất hiện những chính trị giaxuất sắc
Mà tiêu biểu là: Hêrôđốt, Xênôphôn, Platôn, Arixtốt
Hêrôđốt (484 – 425 trước công nguyên)
Ông được coi là “Người cha của chính trị học”
Ông là người đầu tiên phân biệt và so sánh các loại thể chế chính trị khácnhau
- Quý tộc: là chế độ được xây dựng trên cơ sở cầm quyền của một nhómngười ưu tú nhất của đất nước, vì lợi ích chung
Tuy nhiên, thể chế này dễ có sự khác biệt, bất hoà chia bè phái dẫn đếntranh dành, tàn sát lẫn nhau
Trang 14- Dân chủ: là thể chế mà quyền lực do đông đảo nhân dân nắm bằng conđường bỏ phiếu để trao những chức vụ công cộng một cách đúng đắn để ngănchặn lạm dụng quyền lực, xây dựng Nhà nước trên nguyên tắc cơ bản: tất cả đềubình đẳng trước pháp luật
-> Hêrôđôt thiên về loại hình thể chế quân chủ Ông cho rằng: thể chính trịtốt nhất là thể chế hỗn hợp những đặc trưng tốt nhất của 3 loại hình: quân chủ, quýtộc, dân chủ
Xênôphôn (427 – 355 trước công nguyên)
Ông thuộc tầng lớp quý tộc
Tư tưởng:
Khi bàn về chính trị ông bàn về: cách cai trị, cách quản lý
- Chính trị là một nghệ thuật thực hành, nghệ thuật cao nhất Nghệ thuật củabậc đế vương
Ai nhận thức được các vấn đề chính trị sẽ trở thành người trung thực, ngườitốt
Ai ngu dốt về chính trị sẽ rơi vào hàng nô lệ
- Tư tưởng chính trị của ông: quan niệm về thủ lĩnh chính trị
Thủ lĩnh chính trị là người biết chỉ huy, giỏi kỹ thuật, giỏi thuyết phục, biếtcảm hoá người khác
Người thủ lĩnh phải có những phẩm chất đặc biệt:
+ Bảo vệ lợi ích chung
+ Có khả năng tập hợp sức mạnh quần chúng
Thiên tài của thủ lĩnh không phải tự nhiên mà có Nó sinh ra từ sự kiên nhẫn,
từ khả năng chịu đựng lớn về mặt thể chất, với ý chí sống và rèn luyện theo phongcách thanh liêm, biết kiềm chế, yêu lao động
Trang 15Platôn (428 – 347 trước công nguyên)
Ông là nhà triết học thiên tài, nhà chính trị xuất sắc
Tư tưởng chính trị của ông được phản ánh trong tác phẩm: nước cộng hoà,các đạo luật, nền chính trị
Ông là người đầu tiền đạt tới quan niệm về giá trị phổ biến, tầm vĩ mô củachính trị và hành động chính trị, tiêu chuẩn của nền chính trị đích thực
- Điều kiện và cơ sở để duy trì một xã hội được cai trị bưỏi những ngườithông thái là: thực hiện cộng đồng về tài sản và hôn nhân
Ông chủ trương xoá sở hữu cá nhân và tình yêu gia đình thay vào đó lànhững tổ chức cộng đồng
Ông cho rằng khi lãnh đạo Nhà nước, cần gạt sang 1 bên ý chí cá nhâ, trướctiên phải dựa vào tôn giáo và pháp luật
Sự chuyển hoá quyền lực trong xã hội là do có sự biến đổi về quyền lợi vànhững sự vận động về chính trị
* Nhược điểm:
Trang 16Quan điểm cuả Platôn có nhiều mâu thuẫn.
- Vừa đòi hỏi xoá bỏ tư hữu vừa muốn duy trì chế độ đẳng cấp
- Ông đưa ra mô hình xã hội lí tưởng và công lí nhưng đồng thời lại bảo vệlợi ích của tầng lớp quý tộc chủ nô
Aritxtôt (384 – 322 trước công nguyên)
Aritxtôt là nhà bác học vĩ đại của nền văn minh Hy Lạp
Ông là tác giả của hai công trình nghiên cứu về chính trị đó là chính trị, hiếnpháp Aten
Ông đã tổng kết và phát triển tài tình các kết luận của các bậc tiền bối vềnguồn gốc, bản chất, hình thức và vai trò của Nhà nước pháp quyền
* Tư tưởng:
Theo ông, Nhà nước xuất hiện tự nhiên Được hình thành trong lịch sử Con người là động vật chính trị Bản tính của con người là sống trong cộngđồng
Hình thức tổ chức cộng đồng trong một thể chế xã hội nhất định gọi là Nhànước
Nhà nước ra đời trên cơ sở gia đình, chính quyền Nhà nước là sự tiếp tụcchính quyền trong gia đình Nhà nước xuất hiện tự nhiên, được hình thành do lịch
sử Nó được phát triển từ gia đình và làng xã
Thể chế chính trị điều hành và quản lý xã hội về 3 phương diện: lập pháp,hành pháp, phân xử
Sứ mạng của Nhà nước là lãnh đạo tập thể các công dân, quan tâm tới cácquyền chung của công dân, làm cho mọi người sống hạnh phúc
Ông cho rằng, không có 1 loại hình chính phủ nào là duy nhất có thể phùhợp với tất cả các thời đại và các nước
Ông phân chính phủ theo 2 tiêu chuẩn: số lượng và chất lượng
Kết hợp 2 mặt đó: các chinh phủ có thể xếp theo 2 loại:
Trang 17+ Chính phủ chân chính: quân chủ, quý tộc, cộng hoà
+ Chính phủ biến chất: độc tài, quả đầu, dân trị
Ông nhiệt thành ủng hộ chế độ quân chủ, coi đó như hình thức tổ chức Nhànước thần thánh và ưu việt nhất
Tư tưởng chính trị của Arixtôt chứa đựng những giá trị tích cực sau:
1) Con người có khuynh hướng tự nhiên, gắn bó với nhau thành xã hội Do
đó con người là động vật công dân, động vật chính trị, sống có trách nhiệm vớicộng đồng
2) Chính trị là làm sao trong đời sống cộng đồng, cái chung cao hơn cái cánhân riêng biệt, con người sống ngày càng tốt hơn
3) Chính trị phải giáo dục đạo đức và phẩm hạnh cao thượng cho công dân 4) Chính trị là khoa học lãnh đạo con người, khoa học kiến trúc xã hội củamọi công dân
5) Chế độ dân chủ sẽ chuyển thành chế độ mị dân hoặc độc tài nếu: ý chí cánhân thay thế pháp luật, chế độ bị trao cho cho những tên nịnh bợ, gian xảo, hamquyền lực…
6) Không thể hoạt động chính trị nếu bị dục vọng của cải chi phối và sự dốtnát chế ngự
7) Chế độ quân chủ là hình thức sơ khai vì không có ai uy tín bằng lãnh tụchiến thắng
Nhưng khi xã hội phát triển, người tốt, người giỏi có nhiều thì chế độ chínhtrị phải thay đổi
-> Hạn chế:
- Mục tiêu giai cấp
- Quan điểm cổ đại hẹp hòi về quyền tự do của cá nhân những người nô lệ
và lao động
Trang 18Trên đây là hệ thống quan điểm về chính trị của những chính trị gia nổi tiếng
Hy Lạp cổ đại: Hêrôđôt, Xênôphôn, Platôn, Arixtôt Bên cạnh điểm tích cực, quanđiểm của các ông còn tồn tại những hạn chế riêng Những hạn chế ấy có thể dothời đại tác động cũng có thể do tư tưởng chủ quan của mỗi người Điều quantrọng là họ đã có những đóng góp đáng ghi nhận, đã xây dựng viên gạch đầu têincho nền chính trị học không chỉ của Hy Lạp mà còn của cả thế giới
Trang 19Câu 5 Trình bày tư tưởng chính trị của lốccơ và môngtétkiơ, Ý nghĩa của nó.
- LỐC CƠ: Ông cho rằng bản chất của con người là tự do, xã hội loài người
là tự do, cho nên tự do là giá trị cao quý nhất của xã hội, của con người Nhà nướcphải bảo đảm sự tự do của con người, mới bảo đảm tồn tại sự hợp lí của nhà nước.Luật của tư nhiên bắt buộc phải tự do nên con người phải tự do Ông đã luận giải
về nguồn gốc và bản chất của nhà nước xuất phát từ quyền lực tự nhiên của conngười là tối cao và bất khả xâm phạm Do quy luật tự nhiên của xã hội mà nảy sinh
ra bất công về kinh tế xã hội, mất an ninh và quyền tự nhiên của con người bị xâmphạm Để bảo vệ quyền tự nhiên của con người thì mọi thành viên trong xã hội mới
“ký kết”, hình thành một chính quyền có quyền lực chung Như vậy quyền lực xuấthiện từ các thành viên của xã hội Từ đó ông đưa ra 3 kết luận quan trọng như sau :
- Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của dân Quyền lực của dân là
cơ sở, nguồn gốc, nền tảng của quyền lực nhà nước Trong quan hệ với dân, nhànước không có quyền mà chỉ thực hiện sự ủy quyền của nhân dân Nhà nước cóquyền trong “khế ước xã hội”, đó là hiến pháp những đạo luật cơ bản…
- Nhà nước thực chất là khế ước của xã hội, trong đó công dân nhường một
phần quyền của mình mà hình thành quyền lực chung, quyền lực nhà nước điềuhành và quản lý XH để bảo vệ quyền tự nhiên của con người
- Bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người, đó cũng là tiêu chí căn
bản nhất để xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của nhà nước, đó là giới hạn cănbản của nhà nước Đi quá giới hạn này, chính quyền sẽ là chuyên chế , thành kẻ thùcủa quyền lực tự nhiên và là đối tượng cách mạng
Ba kết luận trên đặt nền móng cho chế độ dân chủ hiện đại Lốccơ chia nhànước làm 3 cơ quan với 3 quyền khác nhau:
Trang 20- Quyền lập pháp : là sự biểu hiện ý chí chung của quốc gia và thuộc về toàn
dân Nếu những quốc gia lớn thì cử ra đại biểu nhân dân (nghị viện) do nhân dânbầu ra và phải là những người hiểu rõ về luật
- Quyền hành pháp : là quyền thực hiện pháp luật đã được lập ra bởi cơ quan
lập pháp, phải có cơ cơ quan riêng và tách ra khỏi quốc hội
- Quyền tư pháp : là quyền xét xử tội phạm và giải quyết tranh chaá©p giữa
cá nhân được thực hiện bởi thẩm phán do nhân dân bầu ra
Theo ông, phân quyền là một tất yếu kĩ thuật, là một tiêu chuẩn không thểthiếu được của một xã hội dân chủ Yêu cầu phân quyền sao cho cân bằng, côngbằng nghĩa là dùng quyền lực này để chế ngự quyền lực khác
Như vậy, tư tưởng chính trị ở phương tây thường gắn liền với pháp luậttrong khi tư tưởng chính trị phương đông thường gắn liền với đạo đức Tư tưởngchính trị phương tây thường xuất phát từ “trạng thái tự nhiên” của con ngườithường đề cao động lực “quyền lợi” của con người Chính trị học của giai cấp tưsản phương tây thường dựa trên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân, tuyết đối hoá quyềnlợi cá nhân Tư tưởng chính trị của giai cấp tư sản so với tư tưởng chính trị của giaicấp phong kiến là một bước tiến bộ trong việc giải phóng con người nhưng vẫnchưa đặt con người như là mục đích, tức là vẫn chưa thể giải phóng đại đa số nhândân lao động
Sự ra đời của tư tưởng chính trị Macxit là một cuộc cách mạng vĩ đại, lần đầutiên trong lịch sử xã hội loài người, một giai cấp bị áp bức bóc lột, giai cấp côngnhân đã có một hệ tư tưởng cách mạng và khoa học là kim chỉ nam cho hành độngcủa mình Trên thực tế Mác-Ănggghen đã xây dựng tư tưởng chính trị của mìnhkhác về chất so với những tư tưởng chính trị duy tâm trước đó Sự ra đời của tưtưởng chính trị của 2 ông là bước ngoặc cách mạng trong lịch sử tư tưởng chính trịnhân loại Với 2 ông chính trị lớn nhất là giải phóng con người mà muốn giảiphóng con người thì phải giải quyết vấn đề giai cấp, phải giành lấy các nguồn lực
Trang 21chính trị, đó là con đường giải phóng một cách khoa học và như vậy chủ nghĩaMác chính là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực chứ không phải là chủ nghĩa nhân đạotrừu tượng chỉ dựa vào đạo đức và lòng thương người Trong quá trình đấu tranh,giai cấp công nhân và nông dân, các dân tộc bị áp bức, tư tưởng chính trị Macxit đãtrở thành ngọn cờ chủ đạo.
Ngày nay, CNXH đang đứng trước những thử thách to lớn nhưng chúng ta tinvào bản chất cách mạng và khoa học vốn có của nó, CNXH khoa học nói riêng và
tư tưởng chính trị Macxit nói chung sẽ tiếp thu được những tri thức mới của thờiđại, tiếp tục làm kim chỉ nam cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân vànhân dân lao động trên thế giới
Môngtexkiơ là nhà tư tưởng chính trị xuất sắc của Pháp, là một trong nhữngngười mở đầu phông trào giải phóng tư tưởng vĩ đại cuộc đấu tranh của ông chốnglại ché độ chuyên chế, lộng quyền chính trị và nhà thờ đã cổ vũ tư tưởng của cácnhà tư tưởng cách mạng tư sản Pháp Ông là người đề cao tinh thần pháp luật và tưtưởng phân quyền trong nhà nướcnhằm đảm bảo tự do chính trị cho các công dân.Môngtexkio cho rằng tự do chính trị của công dân đó là quyền mà người ta có thểlàm mọi cái mà luật pháp cho phép Như vậy, tự do chính trị mà chỉ có ở nhữngquốc gia mà tất cả các quan hệ được điều chỉnh bằng pháp luật do đó, pháp luật đãtrở thành thước đo tự do Nhưng pháp luật bị phá bỏ nếu người nắm quyền lực tốicao lạm quyền Trong khi đó, kinh nghiệm những người nắm quyền lực đều cóthiên hướng lạm quyền Cách hữu hiệu nhất để chống lạm quyền là chống độcquyền, là phân chia quyền lực để cho quyền lực kiểm soát kiểm soát quyền lực
Từ ý tưởng về sự phân biệt ba quyền của Aristot và Lốccơ, Môngtexkio tiếp thu vàphát triển tư tưởng về thể chế chính trị tự do, chống chuyên chế, Môngtexkiơ xâydựng học thuyết phân quyền, đây là nội dung tư tưởng chủ yếu trong học thuyết
Trang 22chính trị - pháp lý của Môngtexkiơ, với mục đích tạo dựng những thể chế chính trị,đảm bảo tự do cho các công nhân.
Tiếp thu và phát triển tư tưởng về thể chế chính trị,tự do,chống chuyên chếcủa các nhà tư tưởng tiền bới Môngtetxkiơ đã hoàn thiện thuyết “Tam quyền phânlập” Ông cho rằng quyền lực nhà nước phải chia thành ba quyền:
Các thẩm phán được chọn từ dân và xử án chỉ tuân theo pháp luật
Tư tưởng phân quyền của Môngtetxkiơ là đối thủ đáng sợ của chủ nghĩachuyên chế phong kiến.Tư tưởng này là cơ sở để thiết lập nhà nước ở các nước Tưsản.Nhưng nó cũng có hạn chế đó là: chưa chỉ ra được nếu 1 trong 3 chủ quan: Lậppháp,hành pháp,tư pháp vi phạm thì đâu sẽ là cơ quan xử lý
Như vậy,sau khoảng 20 thế kỷ thì thuyết “Tam quyền nhân lập” đã dần dầnđược hoàn thiện với các đại diện tiêu biểu như: Arixtôt,J.Lốccơ, Môngtetxkiơ.Đây
là một học thuyết tiến bộ vì nó chống lại tư tưởng đội quyền,chuyên quyền vìquyền lực nhà nước đã được phân chia.Trong 3 cơ quan lập pháp,hành pháp và tưpháp thì không có 1 cơ quan nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị
Trang 23Thuyết “Tam quyền phân lập” đã đảm bảo các quyền tự do cơ bản của côngdân,ngăn ngừa các hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhànước.
Câu 6 Trình bày quan điểm của chủ nghĩa mác-Lênin về chính trị, ý nghĩakhoa học của nó
Nghiên cứu tư tưởng Mác cần vạch ra những nội dung cơ bản; những giá trịcủa những di sản tư tưởng mà các nhà kinh điển để lại; những kinh nghiệm, nhữngbài học từ thực tiễn hoạt động chính trị của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoahọc; những vấn đề có tính nguyên tắc của việc thực hành chính trị mácxit
Chủ nghĩa mác đặc biệt là triết học duy vật lịch sử đã đóng góp cho triết họcnhững tư tưởng rất có giá trị, giải quyết những vấn đề rất cơ bản của lý luận vềchính trị, trước hết là vấn đề nguồn gốc, bản chất, quy luật của chính trị
Bản chất nguồn gốc của chính trị: Người phương tây nói chung và các nhà
tư tưởng chính trị phương tây nói riêng trong suốt thời kỳ cổ đại và cả thời trung vàcận đại sau này luôn cố gắng đi tìm một hình thức cai trị, hình thức chính phủ, hìnhthức nhà nước hợp lý nhất
Theo quan điểm của duy vật biện chứng của chủ nghĩa mác, chính trị là hiệntượng có tính lịch sử, xuất hiện trên nền tảng phát triển của xã hội loài người, mà
cụ thể là trên cơ sở trình độ sản xuất của con người, gắn liền với sự xuất hiện củagiai cấp, nhà nước và đồng thời cũng đánh dấu giai đoạn văn minh của con người.Tới lúc nào đó, trên cơ sở của sự phát triển rất cao của con người sẽ không còn giaicấp nữa và cũng không còn chính trị nữa Điều đó khác xa về quan điểm duy tâm,thần bí về chính trị của nhiều nhà tư tưởng chính trị trước kia, những người coichính trị là một phạm trù vĩnh viễn của xã hội loài người và hoạt động chính trị làthiên chức, là đặc quyền của một tầng lớp, hay của những cá nhân ưu tú xã hội
* Việc vạch ra sự thật về bản chất, nguồn gốc của chính trị là đóng góp tolớn của tư tưởng chính trị Mác- lê nin vì nó đem lại cái nhìn khoa học, khách quan
Trang 24về chính trị Sở dĩ mác và lê nin đã vạch ra bản chất của sự thật của chính trị vì cácông đứng trên quan điểm triết học duy vật lịch sử, quan điểm luôn thấy rõ cơ sởkinh tế, nguồn gốc kinh tế, sự thay đổi của phương thức sản xuất là nguồn gốc và
cơ sở chính trị
Việc vạch ra bản chất thật sự của chính trị không chỉ có ý nghĩa về nhậnthức lịch sử mà điều quan trọng hơn là nó vạch ra cho giai cấp công nhân một mụctiêu đấu tranh rõ ràng của mình Đó là chiếm lấy nhà nước, tự tổ chức nên một hìnhthức cai trị phù hợp với quyền lợi chính đáng của mình, phù hợp với sự phát triểncủa trình độ sản xuất của loài người
Quy luật của chính trị: Chủ nghĩa mác đã vạch ra hai loại quy luật Loại thứnhất là quy luật trong mối quan hệ giữa chính trị với các mặt hoạt động khác của
xã hội loài người Trong mối quan hệ qua lại đó, có khi chính trị bị chi phối, bị quyđịnh, bị phụ thuộc, chẳng hạn suy cho cùng chính trị bị quy định bởi kinh tế.Nhưng trong quan hệ khác chính trị lại giữ địa vị chi phối, quyết định, chẳng hạn,trong quan hệ với quân sự, với ngoại giao Nhưng quan trọng hơn, chủ nghĩa mác
đã vạch ra quy luật, tức là những cái tất yếu có tính phổ biến của cuộc đấu tranhchính trị, với nghĩa là đấu tranh giành, giữ, thực thi quyền lực giữa các giai cấp,các tầng lớp xã hội khác nhau.Trong lĩnh vực này mác, awngghen và lê nin nêu lêncác tư tưởng rất quan trọng sau đây:
Quyền lực chính trị tất yếu thuộc về giai cấp, tầng lớp xã hội đại biểu chophương thức sản xuất tiên tiên của xã hội, đại biểu cho xu hướng tiến bộ của sảnxuất và do đó đại biểu cho lợi ích chung xã hội
Mác - Lê nin cũng vạch ra rằng tính tất yếu không có nghĩa là một giai cấp,một lực lượng tiến bộ về kinh tế sẽ tự nhiên có quyền lực về chính trị, nói cáchkhác, là ngồi chờ quyền thống trị đến với mình Ngược lại lịch sử chứng minh rằngmột giai cấp, một lực lượng dù trở nên lạc hậu phản động đến mấy cũng không baogiờ tự nhường quyền thống trị của mình Do đó cần phải đấu tranh để giành quyền
Trang 25thống trị đó.
Việc đấu tranh giành quyền thống trị tất yếu phải giành lấy nhà nước Nhànước là tổ chức bạo lực của giai cấp này chống lại giai cấp kia, là hình thức hoànchỉnh nhất của quyền lực
Việc giành lấy nhà nước tất yếu cần tới bạo lực Mác, ăngghen, lê nin chứngminh rằng trong lịch sử loài người các giai cấp nắm được quyền thống trị đều cầnđến bạo lực với tư cách là dùng sức mạnh để cưỡng chế Việc giành và giữ quyềnlực chính trị tất yếu cần tới mối liên minh chặt chẽ với các tầng lớp lao động đôngđảo trong xã hội
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa mác- lê nin khẳng định: không một giai cấpnào có thể đấu tranh thắng lợi và giành được chính quyền nhà nước mà không cầntới mối liên minh này Ngay cả giai cấp tư sản ở các nước Châu âu trong cuộc đấutranh giành quyền lực chính trị với giai cấp phong kiến quý tộc cũng cần tới sự ủng
hộ và liên minh của giai cấp nông dân và giai cấp công nhân
Giữ và thực thi quyền lực chính trị luôn bao hàm hai mặt: chuyên chính vàdân chủ vì lợi ích giai cấp Giữ quyền lực chính trị cần thiết phải củng cố chế độ sởhữu nền tảng của phương thức sản xuất và của giai cấp đang nắm quyền lực chínhtrị
Ý nghĩa thực tiễn:
Có thể nói những kết luận trên là những đúc kết mà trước Mác không một nhà
tư tưởng chính trị nào nêu lên được Và đó chính là đóng góp to lớn của chủ nghĩamác lê nin vào kho tảng tư tưởng chính trị của nhân loại Ý nghĩa của việc đúc kết
đó là không chỉ vạch ra quy luật của lịch sử mà còn là ý nghĩa thực tiễn hết sức tolớn Đó là căn cứ lý luận để dựa vào đó Mác, ăng ghen, lê nin chỉ ra cho giai cấpcông nhân thấy rõ mục tiêu và biện pháp đạt đến mục tiêu chính trị của mình, đồngthời đấu tranh chống lại những quan điểm có tính cơ hội của một số phần tử trongphong trào công nhân châu âu Theo các ông, giai cấp công nhân phải nhận rõ sứ
Trang 26mệnh lịch sử của mình và biết thực hiện sứ mệnh đó bằng cách:
Tổ chức ra một đội tiền phong của giai cấp, tức là đảng cộng sản, một đảngchính trị kiểu mới để dẫn dắt toàn thể giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật
đổ ách tư bản
Liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân trong cuộc đấu tranh giành chínhquyền và giữ vững chính quyền
Khi thời co đến phải dùng bạo lực lật đổ nhà nước của giai cấp tư sản và tự
tổ chức ra một nhà nước kiểu mới của mình
Thực hiện dân chủ và chuyên chính vì lợi ích của giai cấp công nhân vànhân dân lao động
Dùng quyền lực nhà nước để củng cố và phát triển cơ sở kinh tế, chế độ sởhữu chung của nhân dân lao động làm nền tảng cho quyền lực chính trị
Phát triển sách lược và nghệ thuật chính trị, xây dựng đội ngũ những nhàchính trị của giai cấp công nhân có trình độ trí tuệ và nhân đạo
Thực hiện chính sách hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc đi đôi với bảo vệ
tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Thực hiện chính sách dân tộc và tôn giáo đúng đắn
Thực hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản
Với những kết luận như thế, lê nin đã lãnh đạo đảng Bôn sê vích Nga và giaicấp công nhân Nga làm cuộc cách mạng tháng mười (năm 1917) thành công và xâydựng nên nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, tiến lên xây dựng xã hội chủnghĩa Tuân theo những quan điểm chính trị đó của chủ nghĩa mác- lê nin, Đảngcộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo cách mạng ViệtNam thắng lợi Thực tiễn đó đã chứng tỏ lý luận chính trị của Mác, ăng ghen và lênin là đúng đắn
Trang 27Câu 7 Trình bày tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về chính trị, những giá trịcủa tư tưởng ấy.
Từ phương diện chính trị học, có thể hiểu tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh làsản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân vàphong trào yêu nước, là lý luận về cách mạng Việt Nam từ cách mạng DTDCNDtiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nhằm giảiphóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người, xâydựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giầu mạnh,góp phần tích cực vào cách mạng thế giới
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành của tư tưởng HồChí Minh và giữ một vị trí đặc biệt quan trọng Các giá trị cốt lõi của tư tưởng nàyvẫn còn bền vững cho tới ngày nay và mang một ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, baogồm 5 tư tưởng chủ yếu:
5.1 Tư tưởng Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội:
Tư tưởng này được Hồ Chí Minh quán triệt và thể hiện trong toàn bộ quá trìnhlãnh đạo cách mạng là “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” Đây là hạtnhân cốt lõi nhất, là nét đặc sắc nhất trong tư tưởng chính trị nhân văn Hồ ChíMinh, đồng thời là tư tưởng trọng tâm, xuyên suốt của toàn bộ hệ thống
“Độc lập dân tộc” theo Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm:
- Dân tộc đó phải thoát khỏi nô lệ bằng con đường “đem sức ta mà tự giảiphóng cho ta”;
- phải có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, phải có quyền tự quyết;
- phải là nền độc lập thật sự, phải thực hiện các giá trị tự do, dân chủ, côngbằng, bình đẳng đối với nhân dân;
- Độc lập về chính trị phải gắn liền với sự phồn thịnh về mọi mặt: kinh tế, vănhóa, xã hội;
- phải tự giành lấy bằng con đường cách mạng, tự lực tự cường và tự trọng;
Trang 28- Trong thời đại ngày nay, độc lập là tiền đề, là điều kiện để đi đến chủ nghĩa
Ý nghĩa: tư tưởng cách mạng này của người đã đặt nền tảng vững chắc cho
đường lối xuyên suốt toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam
5.2 Tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc:
Hồ Chí Minh quan niệm: sức mạnh là ở đoàn kết toàn dân, ở sự đồng lòng củatoàn xã hội Đoàn kết trên lập trường của giai cấp công nhân, được thực hiện trênmọi phương diện: đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế
Đoàn kết phải dựa trên cơ sở có lý, có tình => đoàn kết là để phát triển, đểlàm tốt hơn nhiệm vụ cách mạng, muốn cách mạng thành công thì phải đoàn kết;đoàn kết lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng, lấy lợi ích tối cao củadân tộc làm điểm quy tụ để bảo vệ hài hòa giữa các lợi ích
Chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh vừa là sự đúc kết và phát huytruyền thống đại đoàn kết của dân tộc ta, vừa thể hiện tinh thần bất hủ của chủnghĩa Mác - Lênin “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức toàn thế giớiđoàn kết lại”
Ý nghĩa: Đại đoàn kết là một tư tưởng lớn trong tư tưởng chính trị của Hồ Chí
Minh, trở thành chiến lược đại đoàn kết của Đảng ta và là một nhân tố vô cùng
Trang 29quan trọng, thường xuyên góp phần quyết định thắng lợi trong sự nghiệp cáchmạng của Đảng và nhân dân ta qua mọi thời kỳ.
Trong sự nghiệp đổi mới hôm nay, Đảng và nhân dân ta hơn bao giờ hết, đã
và đang giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân, thực hiện chính sách đối ngoạiđộc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa với tinh thần Việt Nam làbạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì một nước Việt Nam
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vì hòa bình, độc lập,phát triển trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, khôngcan thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, thông qua thươnglượng để tìm giải pháp phù hợp giải quyết các vấn đề còn tồn tại và tranh chấp, bảođảm hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển
5.3 Tư tưởng về xây dựng thể chế chính trị:
Trong xây dựng thể chế chính trị quan trọng nhất là xây dựng thể chế Nhànước Đây là một nội dung giữ vị trí đặc biệt của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh.Điều mà Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là tính chất Nhà nước Nhà nước đó
có phải là của dân hay không? Chế độ dân chủ có phù hợp với chế độ Nhà nướchay không?
Người khẳng đinh: cách mạng Việt Nam muốn thành công thì “không có conđường nào khác con đường cách mạng vô sản”, con đường của cách mạng thángMười Nga Người quyết định lựa chọn kiểu Nhà nước theo học thuyết Mác - Lênin– Nhà nước cộng hòa dân chủ (tức là Nhà nước dân chủ nhân dân)
Dân chủ có nghĩa là dân là chủ, dân làm chủ
Theo Người, giá trị thực chất của dân chủ là dân phải có cơm ăn, áo mặc, họchành… Người chủ trương thực hiện dân chủ rộng rãi trong nhân dân, giáo dục ýthức của nhân dân, gắn dân chủ với pháp luật, với tập trung
Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu quyền lợi đều
vì dân; Bao nhiêu quyền hạn đều của dân; Công việc đổi mới, xây dựng là trách