1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hồ sơ các vấn đề cạnh tranh Việt Nam - 2013-2014

50 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu Cạnh tranh và lợi ích của thị trường tự do Cạnh tranh Competition có thể được định nghĩa như một quá trình trong đó những người người cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay các công

Trang 1

Hồ sơ các vấn đề cạnh tranh Việt Nam - 2013-2014

Thực hiện với sự tài trợ của

Trang 2

Mục lục

Giới thiệu 3

Cạnh tranh và lợi ích của thị trường tự do 3

Các hành vi bóp méo cạnh tranh 6

Giới thiệu về dự án & báo cáo 9

Bối cảnh 10

Môi trường kinh doanh ở Việt Nam 10

Chính sách cạnh tranh và Luật cạnh tranh 15

Hành vi bóp méo cạnh tranh tại Việt Nam 19

Chính sách thương mại 19

Chính sách công nghiệp 21

Chính sách tài chính 28

Chính sách điều tiết ngành 31

Thị trường viễn thông 33

Thị trường giao thông vận tải 37

Thị trường năng lượng 39

Cạnh tranh không lành mạnh 42

Nhận thức chung 43

Thị trường sữa 44

Bán hàng đa cấp (MLM) 45

Thị trường thép 46

Kết luận & Khuyến nghị 47

Trang 3

Giới thiệu

Cạnh tranh và lợi ích của thị trường tự do

Cạnh tranh (Competition) có thể được định nghĩa như một quá trình trong đó những người người cung cấp hàng hóa, dịch vụ hay các công ty phải nỗ lực để giành được sự yêu thích của người mua, người tiêu dùng bằng việc đưa ra những điều khoản có lợi nhất so với những

người bán hàng hay các công ty khác Do đó một công ty được coi là cạnh tranh với các công

ty khác trên cùng thị trường nếu công ty đó đưa ra các quyết định tối đa hoá lợi nhuận của mình trên cơ sở những chính sách của các công ty khác hoặc dựa vào mức giá mà các công ty khác đang áp dụng Với mục tiêu vượt qua đối thủ cạnh tranh, các công ty phải luôn nắm rõ những quyết định của các đối thủ này

và nỗ lực để cải thiện chính mình bằng việc áp dụng đổi mới, sáng tạo và/hoặc các biện pháp khác để tăng cường hiệu quả kinh tế

Dựa trên những đặc tính của cấu trúc thị trường, cạnh tranh có thể tồn tại các hình thức khác nhau như cạnh tranh hoàn hảo (perfect competition) (có nhiều người bán

và người mua, hàng hóa đồng nhất, tự do gia nhập và rút

Trang 4

khỏi thị trường, thông tin đồng nhất); độc quyền (monopoly) (một người bán, nhiều người mua, không có sản phẩm thay thế gần nhất, rào cản gia nhập thị trường lớn); cạnh tranh độc quyền (monopolistic competition) (số lượng lớn người bán và người mua, có sản phẩm thay thế gần nhất, không có rào cản gia nhập thị trường); và cạnh tranh độc quyền nhóm (oligopolistic competition) (rất ít người bán, nhiều người mua, nhiều sản phẩm của các hãng khác nhau, rào cản gia nhập thị trường lớn) Cạnh tranh hoàn hảo hầu như không tồn tại trên thực tế, nhưng có thể tìm thấy hình thức cạnh tranh gần như hoàn hảo trên thị trường hàng hóa tiêu dùng nhanh, ví dụ như giấy ăn, bột giặt, nước ngọt v.v Thông thường, các hình thái cạnh tranh ta hay gặp nhất là cạnh tranh độc quyền, hoặc độc quyền, hay tệ hơn là các thị trường bị các-ten hóa (cartelized), nơi mà một nhóm các công ty thông đồng với nhau như thể một thực thể độc quyền duy nhất trên thị trường

Lợi ích của cạnh tranh được thể hiện ở ba khía cạnh: lợi ích đối với nền kinh tế, với xã hội và môi trường

Trước hết, cạnh tranh trên thị trường giúp nâng cao hiệu quả kinh tế Có 3 loại hiệu quả kinh tế: hiệu quả phân bổ (allocative efficiency), hiệu quả sản xuất (productive efficiency) và hiệu quả năng động (dynamic efficiency) Nói chung, hiệu quả phân bổ ngầm hiểu là các công ty sản xuất những thứ mà người mua muốn và ở mức giá

Trang 5

mà họ sẵn sàng trả Tuy nhiên, trên thị trường độc quyền, hiệu quả phân bổ có thể giảm đi bởi do mức giá cao hơn, người tiêu dùng sẽ mua ít số lượng hàng hóa hơn so với

số lượng họ mua trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo Bằng cách chống độc quyền và các-ten và đồng thời bảo

vệ quá trình cạnh tranh trên thị trường, các cơ quan cạnh tranh làm giảm hệ quả tiêu cực của độc quyền và cải thiện hiệu quả phân bổ Trong khi đó, hiệu quả sản xuất hay hiệu quả kỹ thuật ngầm định rằng sản lượng được tối

đa hóa bằng cách kết hợp đầu vào hiệu quả nhất do đó hạn chế tối thiểu kẽ hở nội tại Mục tiêu của hiệu quả sản xuất ngầm định rằng các công ty hiệu quả hơn, sản xuất

ở mức chi phí thấp hơn, sẽ không bị các công ty kém hiệu quả cản trở hoạt động kinh doanh Cuối cùng hiệu suất năng động đạt được thông qua việc truyền bá sản phẩm và quy trình sản xuất mới qua thời gian, theo đó cải thiện lợi ích xã hội Tóm lại, cạnh tranh thúc đẩy môi trường kinh tế khỏe khoắn hơn bằng cách làm cho các doanh nghiệp kém hiệu quả rút lui khỏi thị trường và tạo động lực cho các doanh nghiệp còn lại nâng cao hiệu quả

và năng lực cạnh tranh Các công ty buộc phải nỗ lực tìm kiếm các cơ hội nhằm giảm chi phí, cải thiện chất lượng sản phẩm hoặc áp dụng các công nghệ mới

Về lợi ích xã hội, cạnh tranh mang lại lợi ích cho người tiêu dùng một cách trực tiếp, bởi người tiêu dùng có thể

có nhiều lựa chọn hơn về sản phẩm với giá rẻ hơn, chất

Trang 6

lượng tốt hơn; và một cách gián tiếp thông qua tác động lên phát triển kinh tế Cạnh tranh cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả mua sắm chính phủ vốn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của xã hội (ví dụ, trong việc cung cấp hạ tầng nông thôn) bởi những hành

vi phản cạnh tranh của các nhà cung cấp có thể giảm những kết quả mà chính phủ có thể đạt được với ngân sách hạn hẹp trong khi ngân sách có thể được sử dụng để cải thiện các hạ tầng xã hội khác Hơn nữa, thị trường cạnh tranh sẽ giúp người nghèo dễ dàng tiếp cận các cơ hội việc làm hơn

Về mặt lợi ích đối với môi trường, do các vấn đề liên quan đến mội trường ngày càng thu hút sự quan tâm trên toàn thế giới, bảo vệ môi trường đã trở thành một tiêu chí quan trọng để xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để có thể giảm giá thành và chiếm được thiện cảm của những người tiêu dùng ngày càng có nhận thức cao hơn về bảo vệ môi trường, các doanh nghiệp cần phải khiến cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình ngày càng thân thiện với môi trường

Các hành vi bóp méo cạnh tranh

Các lực lượng cạnh tranh có thể phát huy tác dụng cao nhất ở một thị trường không có các hành vi bóp méo cạnh tranh Hành vi bóp méo cạnh tranh (competition distortions) có hai loại, đó là hành vi thực hiện bởi bản

Trang 7

thân doanh nghiệp (ví dụ như hành vi phản cạnh tranh của các bên tham gia thị trường như thông đồng, lạm dụng vị trí thống lĩnh, sáp nhập…) và các méo mó cạnh tranh do chính sách gây ra (ví dụ các chính sách, quy định, mệnh lệnh hành chính, và các biện pháp khác áp

thường dễ dàng

bị phát hiện, xem xét và trừng phạt hơn Có hai dạng hành vi này, đó là hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trong khi hành vi hạn chế cạnh tranh thường liên quan đến việc một hay một nhóm các doanh nghiệp cố gắng đạt được hoặc duy trì sức mạnh thị trường lớn hơn so với các doanh nghiệp khác, nhằm làm giảm, bóp méo và ngăn cản cạnh tranh trên thị trường (ví dụ như độc quyền hóa, các-ten hóa…), thì các hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi kinh doanh, thu lợi nhuận gian dối và phi đạo đức, làm tổn hại đến quyền lợi và lợi ích chính đáng của nhà nước, các doanh nghiệp khác hoặc

Trang 8

người tiêu dùng (ví dụ quảng cáo gian dối, tung tin đồn trên thị trường nhằm hại đối thủ cạnh tranh…)

Loại hành vi bóp méo cạnh tranh còn lại là khi các cơ quan Nhà nước trung ương và địa phương đề ra những luật và chính sách không phù hợp dẫn tới các hệ quả phản cạnh tranh đối với thị trường Những hành vi như vậy thường khó phát hiện và xử lý Một trong những nguyên nhân quan trọng là bởi bản thân chính phủ cũng chưa nhận thức được về các hậu quả phản cạnh tranh của các quyết định của mình Bên cạnh đó, các chính sách của chính phủ thường dàn trải nhiều lĩnh vực như thương mại, đầu tư, công nghiệp và một số ngành được điều tiết như viễn thông, điện lực khiến các vấn đề đó càng khó

bị phát hiện Một trở ngại tiếp theo xuất phát từ việc trong quá trình lập chính sách của chính phủ, yếu tố hạn chế cạnh tranh thường đi kèm với những mục tiêu và những biện minh về mặt chính sách khác, ví dụ như để tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế, nâng cao lợi ích chung của người dân hay đạt được những mục tiêu về xã hội và môi trường khác Dù vậy, những biện minh đó không thể mập mờ mà cần phải được thông tin một cách

rõ ràng và minh bạch và đưa ra thảo luận công khai trước khi đi đến quyết định Tuy nhiên, đáng buồn là trường hợp đó thường ít khi xảy ra

Cuối cùng và cũng không kém phần quan trọng, hành vi phản cạnh tranh của các doanh nghiệp thường xuất phát

Trang 9

từ sự can thiệp của chính phủ vào thị trường Trong quá trình điều tiết thị trường, các chính phủ có thể vô tình hay hữu ý cho phép các điều kiện phản cạnh tranh xảy ra

và những điều kiện này bị các doanh nghiệp lợi dụng Do

đó, cần phân tích hai loại hành vi bóp méo cạnh tranh trong mối quan hệ nguyên nhân-hệ quả thay vì phân tích riêng rẽ

Giới thiệu về dự án & báo cáo

Viện Friedrich Naumann vì Tự do (FNF) hỗ trợ Tổ chức Thống nhất, Tín thác vì Người tiêu dùng (CUTS International) thực hiện một dự án có tên là “Hồ sơ các vấn đề cạnh tranh ở Việt Nam” trong năm 2013-2014

Dự án nhằm mục đích thúc đẩy một môi trường kinh doanh lành mạnh hơn ở Việt Nam thông qua việc nâng cao nhận thức về các hành vi bóp méo cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia tích cực của các bên liên quan trong việc giảm thiểu các hành vi này trên thị trường Đây không phải là một dự án nghiên cứu mà là một dự

án thiên về tư vấn chính sách, trong đó sử dụng phương pháp “kể chuyện” là chính đi kèm với một số phân tích mang tính gợi mở ban đầu

Trong ba số của Hồ sơ vụ việc cạnh tranh trong 3 quý đầu năm 2014, dự án không chỉ giới thiệu và phân tích các chính sách có liên quan đã, đang và sẽ được thực thi

có thể ảnh hưởng đến quá trình cạnh tranh một cách tích

Trang 10

cực hoặc tiêu cực, mà còn hướng các nhóm đối tượng mục tiêu chú ý đến các hành vi phản cạnh tranh của các doanh nghiệp đang diễn ra trên thị trường Báo cáo phân tích này là một bài viết tổng hợp tất cả những công việc

đã được thực hiện xuyên suốt dự án và nhấn mạnh những vấn đề quan trọng nhất đã được đề cập Phương pháp nghiên cứu dựa trên bằng chứng được áp dụng để cung cấp thông tin cho các nhà hoạt định chính sách, doanh nghiệp, người dân và các bên liên quan khác về thực trạng cạnh tranh trên các thị trường khác nhau và nâng cao năng lực của họ trong việc xử lý các hành vi phản cạnh tranh Ngoài ra, các kiến nghị cũng được đưa ra để nâng cao hiệu quả can thiệp của chính phủ vào thị trường nhằm thúc đẩy một môi trường kinh doanh, pháp lý tự do

và minh bạch

Bối cảnh

Môi trường kinh doanh ở Việt Nam

Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu gồm hai thành phần chính là doanh nghiệp nhà nước và hợp tác

xã Các quy tắc thị trường đã xuất hiện nhưng chỉ áp dụng với một bộ phận thiểu số các doanh nghiệp tư nhân

có quy mô nhỏ và các hộ gia đình Nền kinh tế được bao cấp bởi nhà nước và tất cả các hoạt động kinh tế được

Trang 11

vận hành theo cơ chế xin-cho Bởi Việt Nam lúc đó biệt lập với thế giới, các hoạt động kinh tế với nước ngoài hoàn toàn được quyết định và độc quyền bởi các doanh nghiệp nhà nước (DNNN)

Từ khi thực hiện chính sách đổi mới vào năm 1986, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang một nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa Thay đổi lớn nhất về mặt chính sách là việc phát triển một nền kinh tế đa thành phần trong đó thừa nhận sở hữu tư nhân và cơ chế thị trường, dù vẫn dưới sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thêm vào đó, chính sách mở cửa giúp thúc đẩy

đầu tư trực tiếp

(FDI) và thương mại quốc tế Những cải cách mạnh mẽ này đã mang lại những thành quả đáng

kể đối với sự phát triển kinh

Nam Tăng trưởng GDP trung bình ở mức 7,5% trong giai đoạn 2000-2005 và nền kinh tế được xếp hạng 58 trên thế giới vào năm 2006 cho thấy tiềm năng của Việt

Trang 12

Nam trong việc trở thành con hổ nhỏ của Đông Nam Á

Do đó, một môi trường cạnh tranh và năng động đã được tạo ra và cho phép sự gia nhập thị trường của các thành phần kinh tế phi nhà nước như các doanh nghiệp tư nhân

và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Nhờ chính sách mở cửa, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 160 nước trên thế giới Ngoài việc trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Việt Nam cũng mở rộng quan hệ ngoại giao với khu vực khi trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1995 và khuôn khổ Hợp tác kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vào năm 1998, hoặc ký hiệp định thương mại tự do với Hoa

Trang 13

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn bao gồm chủ yếu

là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Hiện tại có hơn 500.000 DNVVN chiếm tới 97,5% tổng số các doanh nghiệp toàn quốc Mỗi năm, các DNVVN tạo ra 40% GDP của cả nước và thu hút 51% lực lượng lao động của cả nước Mặc dù chiếm số lượng lớn, nhưng doanh nghiệp này thường bị yếu thế về mặt công nghệ, vốn, phát triển nguồn nhân lực và mạng lưới, dẫn tới năng lực cạnh tranh và năng suất giảm Trái lại, các DNNN lớn lại kiểm soát các lĩnh vực then chốt của đất nước, sự tồn tại của các doanh nghiệp này vốn được xem

là để thực hiện vai trò của nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế, đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội Các DNNN chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu và đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước cũng còn tồn tại một

số điểm yếu như sau: công nghệ lạc hậu, khả năng quản

lý yếu kém, hiệu quả và năng lực cạnh tranh thấp

Quá trình tái cơ cấu diễn ra ở các DNNN ở Việt Nam đã thu được những thành quả nhất định, đặc biệt là ở số lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng, đặc biệt là các DNNN quy mô nhỏ hơn Tuy nhiên, kể từ năm 2006, các DNNN được tái cơ cấu lại và hình thành các tổng công y (còn gọi là các tập đoàn kinh tế nhà nước) có ảnh hưởng đáng kể đến đường hướng các chính sách kinh tế ở Việt Nam, trong khi việc phân bổ các nguồn lực vẫn chủ yếu

Trang 14

dựa trên cơ chế “xin-cho” Mặc dù có được những ưu tiên và ưu đãi so với các doanh nghiệp tư nhân, các DNNN lại hoạt động không hiệu quả, không làm tròn được trách nhiệm dẫn dắt sự phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Nhiều DNNN có năng lực quản lý kém và còn chậm trễ trong việc đổi mới kinh doanh để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Một số doanh nghiệp còn vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý kinh doanh gây tổn thất lớn về vốn và tài sản cho Nhà nước

Nhìn chung, môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn chưa được thiết lập đầy đủ, do đó vẫn tồn tại nhiều trở ngại đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư ở Việt Nam Theo báo cáo Môi trường kinh doanh lần thứ

12 của Ngân hàng Thế giới (WB), có tựa đề là “Môi trường kinh doanh 2015: Xa hơn hiệu quả”, Việt Nam chỉ xếp hạng 78 về môi trường kinh doanh thuận lợi, tụt

6 bậc so với báo cáo năm ngoài Trên thực tế thì Việt Nam còn đứng sau các quốc gia trong khu vực như Malaysia và Thái Lan Trở ngại về pháp lý là một trong những lý do chính khiến môi trường kinh doanh của Việt Nam kém thuận lợi hơn so với các nước khác Do đó, bất

kỳ một quy định nào gây bất lợi cho nền kinh tế cần phải được cân nhắc loại bỏ

Trang 15

Chính sách cạnh tranh và Luật cạnh tranh

Chính sách cạnh tranh và luật cạnh tranh là hai công cụ chính đảm bảo tối ưu hóa các kết quả có được nhờ cạnh tranh Hai thuật ngữ “chính sách cạnh tranh” và “luật cạnh tranh”, mặc dù có sự bổ sung cho nhau, nhưng là hai khái niệm riêng biệt chứ không đồng nhất và có thể thay thế cho nhau như thường nghĩ Đây cũng là điểm chính cần lưu ý cho các phân tích của báo cáo này

Về mặt định nghĩa, luật cạnh tranh bao gồm các điều luật, các quy định và các quyết định pháp lý nhằm làm

cơ sở để các cơ quan cạnh tranh ngăn chặn các hành vi

tranh Luật Cạnh tranh

đề ra các biện pháp cụ thể để xử lý các hành vi

của doanh nghiệp, đặc biệt là các hành vi hạn chế cạnh tranh (bao gồm sáp nhập và mua lại phản cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh và các thỏa thuận phản cạnh tranh giữa các công ty) và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Trang 16

Trong khi đó, chính sách cạnh tranh có thể được hiểu là một gói các cải cách và chính sách mà chính phủ thiết lập để tác động lên cạnh tranh ở thị trường trong nước bằng cách trực tiếp tác động lên hành vi của doanh nghiệp và cấu trúc các ngành Nó bao gồm một nhóm các luật và quy định của chính phủ nhằm nâng cao cạnh tranh hoặc các kết quả cạnh tranh trên các thị trường, thông qua việc tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập và rút lui khỏi thị trường, giảm kiểm soát lên nền kinh tế và thúc đẩy sự phụ thuộc nhiều hơn vào các lực lượng thị trường Chính sách cạnh tranh bao gồm các chính sách như chính sách thương mại quốc tế, chính sách công nghiệp, chính sách cải cách tư nhân hóa, chính sách điều tiết ngành, chính sách bảo vệ người tiêu dung, v.v

Một chính sách thương mại thiếu cởi mở có thể hạn chế cạnh tranh trên thị trường, và sẽ dẫn tới việc lạm dụng thị trường của các doanh nghiệp trong nước giữ vị trí thống lĩnh Trái lại, tự do hóa thương mại sẽ dẫn tới dòng hàng hóa chảy vào nền kinh tế, có thể dẫn tới những ảnh hưởng lớn đến bản chất và mức độ cạnh tranh trên thị trường, và do đó khuyến khích cạnh tranh trong nước Do đó, một chính sách thương mại quốc tế của một quốc gia thường đóng vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường

Trang 17

Chính sách công nghiệp chú trọng vào sự gia nhập và hình thành một doanh nghiệp trên thị trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cạnh tranh Nếu một quốc gia có một cơ chế chính sách hạn chế trong công nghiệp trong đó sự gia nhập và phát triển của doanh nghiệp phải chịu các điều kiện cấp phép và giám sát nghiêm ngặt, sẽ có ít các doanh nghiệp tham gia vào ngành và kết quả là mức độ cạnh tranh sẽ thấp Một chính sách cạnh tranh hiệu quả ủng hộ dỡ bỏ các rào cản

và khuyến khích dòng chảy đầu tư bằng cách tạo ra một môi trường pháp lý ổn định, ít có các quyết định mang tính chuyên quyền từ đó tăng cường minh bạch cho cả hệ thống

Việc cho phép các doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các lĩnh vực khác nhau như viễn thông, điện lực, nước cho thấy sự cần thiết phải thiết lập khung pháp luật điều tiết các lĩnh vực này cũng như hình thành các cơ quan điều tiết độc lập Thông qua vai trò điều tiết của mình, các cơ quan này sẽ thực hiện các hành động và đưa ra các khuyến nghị có ảnh hưởng trực tiếp lên cạnh tranh, bởi họ quy định điều kiện gia nhập (thông qua việc cấp phép) và tính khả thi (thông qua điều tiết nhập khẩu) Một số cơ quan điều tiết, đặc biệt là các cơ quan ra đời trước cơ quan cạnh tranh, kiêm cả nhiệm vụ xử lý các vấn đề cạnh tranh trong ngành của mình Do đó, cách thức một quốc gia thực hiện các cải cách pháp lý thông

Trang 18

qua chính sách sẽ quyết định bản chất của cạnh tranh trong nền kinh tế

Việt Nam đã thông qua Luật Cạnh tranh vào năm 2004

và luật này quy định sự ra đời của hai cơ quan: Cục quản

tranh Việt Nam

(một ủy ban liên bộ bao gồm đại diện của các bộ ngành khác nhau, các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan điều tiết ngành, do Bộ trưởng Bộ Công thương làm chủ tịch) với thẩm quyền xét xử; để điều tiết, ngăn chặn, xử

lý và trừng phạt các hành vi phản cạnh tranh của doanh nghiệp (bao gồm hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh) trên thị trường, và cũng để đảm bảo quá trình cạnh tranh trên các thị trường khác nhau được diễn ra Luật này cũng quy định hoạt động của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực độc quyền nhà nước và các hành vi mà các cơ quan quản lý nhà nước bị cấm thực hiện để ngăn chặn cạnh tranh trên thị trường Cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa chính thức thông qua một chính sách cạnh tranh toàn diện

Trang 19

Hành vi bóp méo cạnh tranh tại Việt Nam

Chính sách thương mại

Các quy tắc về cạnh tranh đã xuất hiện ở nhiều hiệp định khác nhau của WTO như Hiệp định GATS (Thỏa thuận chung về thương mại dịch vụ), Hiệp định Chống bán phá giá, Hiệp định TBT (Hàng rào kỹ thuật trong thương mại), Hiệp định TRIPS (Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ), và Hiệp định về Tự vệ Trong hiệp định TBT, Điều 3.4 yêu cầu

“Các thành viên không được khuyến khích các tổ chức

tư nhân phân biệt đối xử với các sản phẩm của nước ngoài trong việc kiểm tra và chứng nhận trái với quy tắc đối xử quốc gia” Trong Hiệp định chống bán phá giá, Điều 3.5 quy định rằng “khi điều tra tổn hại đối với một ngành sản xuất trong nước cơ quan có thẩm quyền cần xem xét liệu có tồn tại các hành vi hạn chế cạnh tranh hay không” Điều 11.1 của Hiệp định về Tự vệ cấm các thành viên khuyến khích hoặc ủng hộ việc thông qua hay duy trì các biện pháp do các doanh nghiệp tư nhân đưa ra tương tự với biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện thực hiện bởi chính phủ Điều 9.1 của Hiệp định GATS quy định rằng các thành viên WTO cần đưa ra các biện pháp

để đảm bảo rằng một nhà cung cấp độc quyền các dịch

vụ trong phạm vi lãnh thổ của mình không lạm dụng

Trang 20

quyền lực thị trường theo cách không phù hợp với nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) của WTO Điều 40 của Hiệp định TRIPS quy định rằng thành viên được quyền

“thực thi các luật quốc gia chống lại các điều khoản hạn chế cạnh tranh trong các thỏa thuận cấp phép kỹ thuật” Bên cạnh đó, các điều khoản cạnh tranh cũng được đưa vào các hiệp định thương mại khu vực (RTAs) và thỏa thuận thương mại tự do (FTAs) (kể từ đây gọi chung là

“FTAs”) mới được thông qua gần đây Yêu cầu đưa các điều khoản cạnh tranh vào FTAs đặc biệt mạnh mẽ ở những thỏa thuận do Hoa Kỳ dẫn đầu và những thỏa thuận mà Hoa Kỳ là một bên tham gia ký kết, ví dụ như trường hợp của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Với tư cách là một thành viên WTO và tham gia các thỏa thuận song phương với nhiều quốc gia, dù đã có hiệu lực hay đang trong quá trình đàm phán, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu và khu vực Việt Nam cũng tích cực tham gia vào quá trình đàm phán TPP dự kiến kết thúc trong năm nay Trong bối cảnh đó, quá trình thực thi các chính sách thương mại tự do được hy vọng là sẽ thúc đẩy một môi trường kinh doanh tự do để tạo ra các cơ hội thương mại cho tất

cả các thành phần kinh tế

Trang 21

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các mục tiêu kể trên một số chính sách thương mại và đầu tư lại có những mặt phản cạnh tranh Những hành vi bóp méo cạnh tranh này có thể thông qua các rào cản thuế quan và phi thuế quan như sau:

Thuế quan là một rào cản thương mại rất phổ biến ở nhiều nước trong đó có Việt Nam Thuế quan được áp lên các sản phẩm nhập khẩu và xuất khẩu, nhằm thực hiện hai mục đích: (i) đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và (ii) bảo hộ các sản phẩm trong nước Do bị đánh thuế cao, các sản phẩm nhập khẩu bị đẩy giá lên cao do đó sẽ kém cạnh tranh hơn so với các sản phẩm trong nước Trong ngành ô tô, có một thực tế là cũng bởi thuế nhập khẩu cao một chiếc xe được lắp ráp ở Việt Nam đắt hơn rất nhiều so với chiếc xe nhập khẩu tương

tự, ví dụ như từ Mỹ Thuế đánh trên một chiếc ô tô hoàn chỉnh đắt hơn 4 đến 5 lần so với thuế nhập khẩu lên các linh kiện và phụ tùng Áp dụng mức thuế nhập khẩu cao khong chỉ là biện pháp đối xử không công bằng đối với người tiêu dùng khi họ phải chịu mức giá cao hơn mà còn đối với các công ty nước ngoài trong cuộc cạnh tranh với các công ty trong nước

Cũng bởi những cam kết mà Việt Nam đưa ra nhằm mở cửa thị trường dịch vụ trong khu vực và quốc tế, các rào cản về thuế quan không còn được ưa chuộng nữa Tuy nhiên, các rào cản phi thuế quan (NTBs) lại trở nên phổ

Trang 22

biến Đây là một loại rào cản khác áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu, có thể định nghĩa là biện pháp ngoài thuế nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế thương mại tự do quốc tế Rào cản này có thể chia làm hai nhóm: rào cản hành chính và quy định kỹ thuật Quy định kỹ thuật là công cụ thường được các nước trên thế giới sử dụng để bảo đảm chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng trong nước trước các quốc gia trên toàn thế giới Tuy nhiên, các quy định này có thể được sử dụng để bảo hộ các ngành trong nước

và hạn chế nhập khẩu Trong những trường hợp như vậy, những quy định này trở thành “rào cản kỹ thuật trong thương mại”, nhằm loại bỏ cạnh tranh từ hàng nhập khẩu trên thị trường Các rào cản này cũng được áp dụng với lĩnh vực ô tô Năm 2014, trong bản Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô sửa đổi đến năm 2020, Bộ Công thương đề xuất việc quản lý chặt chẽ hơn dòng ô tô nhập khẩu bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn ngặt ngèo về năng lực tài chính, kho bãi hay là hệ thống bảo hành bảo trì đạt yêu cầu Các biện pháp kiểm tra nghiêm ngặt đối với

ô tô nhập khẩu cũng sẽ được ban hành Động thái này của chính phủ là xuất phát từ việc theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA) thuế nhập khẩu

xe ô tô nguyên chiếc từ khu vực ASEAN sẽ được giảm xuống còn 50% trong năm 2014, 35% trong năm 2015, 20% trong năm 2016, 10% trong năm 2017 và về 0% trong năm 2018

Trang 23

Quy tắc Đánh giá Tính cần thiết về Kinh tế (ENT– quy tắc mà các nhà bán lẻ nước ngoài phải tuân thủ nếu đề xuất mở đại lý thứ hai hoặc tiếp theo ở Việt Nam) là một rào cản hành chính mà Chính phủ Việt Nam sử dụng để kiểm soát sự phát triển của các mạng lưới phân phối nước ngoài tại Việt Nam Dù không được quy định rõ trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS), ENT được xem như là một rào cản tiếp cận thị trường theo điều khoản XVI của Hiệp định này Do Việt Nam chắc chắn vẫn là một thị trường tiềm năng để lĩnh vực này phát triển trong những năm tới, các quy tắc ENT cần phải được minh bạch và rõ ràng hơn để có thể khuyến khích các nhà cung cấp vào thị trường bán lẻ Việt nam, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của quốc gia và người dân

Trang 24

do kinh doanh mà có Quyền này càng được khẳng định

rõ trong Hiến pháp 2013, cụ thể là mọi công dân Việt Nam được quyền tự do kinh doanh những ngành nghề

mà pháp luật không cấm Luật Doanh nghiệp 2005 cũng quy định rằng công dân có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật trong khi Luật Doanh nghiệp sửa đổi ghi nhận

cụ thể rằng công dân có quyền tự do kinh doanh trong tất

cả các ngành nghề Điều này được thể hiện ở một số ngành không yêu cầu nộp cấp giấy phép đầu tư, nhằm giảm các thủ tục phiền hà cho doanh nghiệp cũng như khối lượng công việc mà các cơ quan phụ trách đăng ký kinh doanh ở các sở kế hoạch và đầu tư phải thực hiện

Kể từ năm 1986,

các quy định liên

quan đến đầu tư

nước ngoài ở Việt

Nam đã được nới

lỏng đáng kể Sự ra

đời của Luật Đầu

tư nước ngoài năm

1987 của Việt Nam đã tạo ra môi trường pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Từ đó đến nay, đã có nhiều thay đổi và bổ sung về luật nhằm tạo ra môi trường thuận lợi hơn để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút một khối lượng lớn

Trang 25

đầu tư trực tiếp nước ngoài Lý do chính khiến Việt nam trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn là giá nhân công rẻ và thị trường mở cửa Tính đến tháng 7 năm 2014, Việt Nam có khoảng 16.813 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 242,4 tỷ USD, trong đó hơn một nửa số vốn đã được giải ngân Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu

tư nước ngoài, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng vốn, chuyển giao kỹ thuật, nâng cao kỹ năng quản trị và tạo việc làm, từ đó góp phần phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc cần phải làm để cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam Vấn đề chính vẫn là thiếu tự do kinh doanh cho các cá nhân và doanh nghiệp Hiện nay, môi trường kinh doanh ở Việt Nam chỉ ở mức dưới trung bình trong các nước Đông Nam Á (ASEAN)

và trở ngại chủ yếu là các thủ tục hành chính gây cản trở cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư

Giấy phép đăng ký kinh doanh từ lâu đã là công cụ quản

lý chủ yếu của các cơ quan quản lý Việt Nam Trong quá trình hoạt động tại Việt Nam, các doanh nghiệp không chỉ phải tuân thủ các điều kiện kinh doanh chung của các luật, nghị định thực thi mà cả các điều kiện cụ thể do các

bộ hay chính quyền địa phương ban hành Theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện tại

có 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, trong đó có

Ngày đăng: 18/06/2018, 07:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w