1. Trang chủ
  2. » Tất cả

TL MON PPNC Y HOC 1

40 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 87,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm … dựa trên những sốliệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy luật chung của sự vật,hiện tượng, t

Trang 1

MỤC LỤC Phần 1



BÀI 1: 3

ĐẠI CƯƠNG VỀ NGHIÊN CỨU Y HỌC VÀ SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3

I ĐẠI CƯƠNG VỀ NGHIÊN CỨU Y HỌC: 3

Khoa học là gì? 3

Nghiên cứu khoa học là gì? 4

II SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU: 7

BÀI 2: 14

XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 14

BÀI 3: 21

CÁC BIẾN SỐ TRONG NGHIÊN CỨU 21

I CÁC BIẾN SỐ TRONG NGHIÊN CỨU Y HỌC: 21

II XÁC ĐỊNH CÁC BIẾN SỐ TRONG MỘT MỐI LIÊN QUAN: 22

BÀI 4: 24

QUẦN THỂ VÀ MẪU NGHIÊN CỨU 24

I QUẦN THỂ TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y KHOA; 24

II MẪU TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Y KHOA 24

BÀI 5: 36

LẬP KẾ HOẠCH VÀ DỰ TRÙ NGUỒN NHÂN LỰC 36

I CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: 36

II PHƯƠNG ÁN DỰ TRÙ NGUỒN NHÂN LỰC: 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 3

-BÀI 1:

ĐẠI CƯƠNG VỀ NGHIÊN CỨU Y HỌC VÀ SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI THIẾT

KẾ NGHIÊN CỨU

(2 TIẾT) MỤC TIÊU BÀI:

1) Trình bày khái niệm về nghiên cứu khoa học?

2) Trình bày khái niệm về y học?

3) Liệt kê các ngành y học cơ bản?

4) Trình bày đặc điểm của nghiên cứu khoa học

5) Mô tả sơ lược về các loại thiết kế nghiên cứu

I ĐẠI CƯƠNG VỀ NGHIÊN CỨU Y HỌC:

1 KHÁI NIỆM:

I.1 Nghiên cứu là gì:

Theo John W.Creswell định nghĩa: "Nghiên cứu là một quá trình có các bước thuthập và phân tích thông tin nhằm gia tăng sự hiểu biết của chúng ta về một chủ đề haymột vấn đề Nó bao gồm ba bước: Đặt câu hỏi, thu thập dữ liệu để trả lời cho câu hỏi,

và trình bày câu trả lời cho câu hỏi đó”

Nghiên cứu khoa học là gì?

Khoa học là gì?

Từ “khoa học” xuất phát từ tiếng Latin “Scienta”, nghĩa là tri thức Theo Webter’sNew Collegiste Dictionary, “Khoa học” được định nghĩa là “những tri thức đạt đượcqua kinh nghiệm thực tế và nghiên cứu”

Hệ thống tri thức bao gồm hai loại: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học:

Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích lũy qua những hoạt động sống

hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với conngười và giữa các sự vật hiện tượng trong tự nhiên với nhau

Trang 4

Tri thức khoa học là những tri thức được tích lũy qua hoạt động nghiên cứu khoa học

qua kết quả của việc quan sát, thí nghiệm… các sự kiện, hoạt động sảy ra trong hoạtđộng xã hội và trong tự nhiên

Khoa học nói một cách đơn giản bao gồm những tính toán và thử nghiệm các giảthuyết dựa trên những bằng chứng và thí nghiệm được quan sát là quan trọng và có thểứng dụng

Nghiên cứu khoa học là gì?

Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm … dựa trên những sốliệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy luật chung của sự vật,hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới (đây là hướng nghiên cứu hàn lâm) hoặc tìm ranhững ứng dụng kỹ thuật mới, những mô hình mới có ý nghĩa thực tiễn (đây là hướngnghiên cứu ứng dụng)

Người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có những kiến thức nhất định về lĩnh vựcnghiên cứu nhưng chủ yếu là phải rèn luyện cách làm việc tự lực và có phương pháp

Do đó, là sinh viên với những kiến thức hạn chế thực hiện nghiên cứu khoa học càngphải phát huy khả năng tự học để trau dồi những kiến thức cần thiết, đồng thời việc lựachọn đề tài nên phù hợp với khả năng của mình (bao gồm sự phụ hợp về kiến thức,thời gian, tài lực … )

I.2 Nghiên cứu y học:

Y học là một lĩnh vực khoa học ứng dụng liên quan đến nghệ thuật chữa bệnh, bao

gồm nhiều phương pháp chăm sóc sức khỏe nhằm duy trì, hồi phục cơ thể từ việcphòng ngừa và chữa bệnh

Y học hiện đại ứng dụng các kiến thức khoa học sức khỏe, nghiên cứu về y sinhhọc và công nghệ y học để chẩn đoán và chữa trị bệnh tật thông qua thuốc men, phẫu

thuật hoặc bằng nhiều phương pháp trị liệu phong phú khác Từ "y học" trong tiếng Anh

là "medicine" có nguồn gốc từ tiếng Latin là "ars medicina", nghĩa là "nghệ thuật chữa bệnh".

Nghiên cứu y học: nghiên cứu là một sự khảo sát, học tập có tính cách khoa học đểkhám phá kiến thức mới và trắc nghiệm kiến thức Đó là một hệ thống gồm nhữngbước có trình tự để giải quyết vấn đề Nghiên cứu khoa học là một công cụ cho sự phát

Trang 5

MỤC ĐÍCH CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC TRONG Y KHOA

Nghiên cứu khoa học trong y khoa nhằm phát triển những kiến thức và kỹ thuật mới.Những kiến thức và kỹ thuật này sẽ được biến thành những kỹ năng, công cụ để cảithiện tay nghề, và sự cung cấp dịch vụ hầu đạt được sức khỏe tốt hơn cho người dân

CÁC LOẠI NGHIÊN CỨU TRONG Y KHOA

Có thể chia những nghiên cứu khoa học ra làm hai loại chính là nghiên cứu cơ bản vànghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu cơ bản tìm hiểu về vũ trụ, khảo sát sâu hơn vềnhững luật cơ bản của tự nhiên Nghiên cứu ứng dụng (hoặc định hướng) khám phá,ứng dụng những kiến thức cơ bản để giải quyết vấn đề Những nghiên cứu trong lĩnhvực y khoa có thể xếp vào ba loại chính sau đây

biết tốt hơn về tự nhiên, về những hiện tượng bình thường trong cơ thể người Đây là

cơ sở cho những hoạt động hoặc ứng dụng trong tương lai

bệnh để xác định những yếu tố nguy cơ và nguyên nhân của bệnh Kết quả của nhữngnghiên cứu này là cơ sở để phát triển những biện pháp phòng chống

nghiên cứu này là tìm hiểu quá trình bệnh và tác dụng của những biện pháp điều trị.Kết quả của những nghiên cứu này là cơ sở để phát triển những kỹ thuật, nhữngphương pháp chẩn đoán và điều trị

Dù thuộc loại nào thì những chủ đề của các nghiên cứu y khoa cũng nằm trong ba lĩnhvực y sinh học, dịch vụ sức khỏe, và hành vi Những nguyên tắc và phương pháp cơbản của dịch tễ học được sử dụng chủ yếu trong những nghiên cứu dịch tễ và nghiêncứu lâm sàng Trong khi đó, sự phân tích những dữ kiện của một nghiên cứu cần phải

sử dụng những nguyên tắc và phương pháp sinh thống kê Do đó, những kiến thức cơbản về dịch tễ học và sinh thống kê là thật sự cần thiết cho tất cả những nhà nghiêncứu y khoa, với bất kỳ loại nghiên cứu nào

Trang 6

2 CÁC NGÀNH Y HỌC CƠ BẢN:

Giải phẫu học là nghiên cứu cấu trúc thể chất của sinh vật Ngược lại với giải phẫu

học vĩ mô hoặc tổng thể, tế bào học và mô học liên quan đến cấu trúc vi mô

Hóa sinh học là nghiên cứu về hóa học diễn ra trong sinh vật sống, đặc biệt là cấu trúc

và chức năng của các thành phần hóa học của chúng

Cơ sinh học (Biomechanics là nghiên cứu cấu trúc và chức năng của các hệ thống sinh

học bằng các phương pháp của Cơ học

Thống kê sinh học (Biostatistics) là việc áp dụng thống kê vào các lĩnh vực sinh học

theo nghĩa rộng nhất Kiến thức về thống kê sinh học rất cần thiết trong công tác lập kếhoạch, đánh giá và giải thích kết quả nghiên cứu y khoa Nó cũng là môn căn bản chodịch tễ học và y học dựa trên bằng chứng

Lý sinh học là một khoa học liên ngành sử dụng các phương pháp vật lý và hóa học

vật lý để nghiên cứu hệ thống sinh học

Tế bào học là nghiên cứu vi mô của tế bào.

Phôi thai học là nghiên cứu sự phát triển sớm của các sinh vật.

Nội tiết học là nghiên cứu về hoóc môn và ảnh hưởng của chúng trên cơ thể động vật Dịch tễ học là nghiên cứu sự phát triển về số lượng của quá trình bệnh, và bao gồm,

không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu dịch bệnh

Di truyền học là nghiên cứu về gien và vai trò của chúng trong việc thừa kế sinh học.

Mô học là nghiên cứu cấu trúc của các mô sinh học bằng kính hiển vi ánh sáng, kính

hiển vi điện tử và mô miễn dịch

Miễn dịch học là nghiên cứu về hệ miễn dịch, bao gồm hệ miễn dịch bẩm sinh và

thích ứng ở người

Vật lý y tế là nghiên cứu ứng dụng các nguyên lý vật lý trong y học.

Vi sinh vật học là nghiên cứu về các vi sinh vật, bao gồm các nguyên sinh, vi khuẩn,

nấm và virut

Sinh học phân tử là nghiên cứu cơ sở phân tử của quá trình nhân bản, sao chép và

chuyển dịch những vật liệu di truyền

Trang 7

Khoa học tâm thần bao gồm những ngành khoa học có liên quan đến việc nghiên cứu

hệ thống thần kinh Trọng tâm chính của khoa học tâm thần là sinh học và sinh lý họccủa bộ não con người và tủy sống Một số chuyên khoa lâm sàng liên quan bao gồmthần kinh, phẫu thuật thần kinh và tâm thần

Khoa học dinh dưỡng (trọng tâm lý thuyết) và chế độ ăn kiêng (trọng tâm thực hành)

là nghiên cứu về mối quan hệ giữa thức ăn và thức uống với sức khoẻ và bệnh tật, đặc

biệt trong việc xác định chế độ ăn tối ưu Trị liệu dinh dưỡng y học được các chuyên

gia dinh dưỡng thực hiện và được quy định cho bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, trọnglượng và rối loạn ăn uống, dị ứng, suy dinh dưỡng, và các bệnh ung thư

Bệnh học như một khoa học là nghiên cứu về bệnh tật - nguyên nhân, tiến trình, sự

tiến triển và sự giải quyết của bệnh

Dược học là nghiên cứu về ma túy và hành động của họ.

Quang sinh học (Photobiology) là nghiên cứu tương tác giữa bức xạ không ion hóa và

Độc tố học là nghiên cứu các tác động nguy hại của thuốc và chất độc.

II SƠ LƯỢC VỀ CÁC LOẠI THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU:

2.1 Các loại thiết kế nghiên cứu khoa học:

Nghiên cứu cơ bản (hay là nghiên cứu nền tảng –fundamental, hoặc nghiên cứu thuần

túy-pure) được thực hiện bởi sự tò mò hoặc đam mê của nhà khoa học để trả lời nhữngcâu hỏi khoa học Động lực để thôi thúc họ là mở rộng kiến thức chứ không phải làkiếm lợi nhuận, do đó không có một lợi nhuận kinh tế nào từ kết quả của nghiên cứu

cơ bản

Lấy ví dụ, mục đích khoa học cơ bản là tìm câu trả lời cho những câu hỏi đại loại như:

Trang 8

 Vũ trụ hình thành như thế nào? Cấu trúc của proton, nơtron, nucleon bao gồmnhững gì?

 Có gì đặc biệt trong cấu trúc gen di truyền của loài ruồi giấm?

Phần lớn các nhà khoa học cho rằng những hiểu biết một cách cơ bản, nền tảng về tất

cả các khía cạnh của khoa học là thiết yếu cho phát triển Nói một cách khác, nghiêncứu cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu ứng dụng tiếp bước Nếu coi Nghiên cứu cơbản là bước đi trước thì sự tiếp nối ứng dụng có thể chính là từ kết quả nghiên cứu này.Nghiên cứu cơ bản có vai trò quan trọng như thế nào trong quá khứ?

Chúng ta đã được biết đến nhiều ví dụ mà ở đó nghiên cứu cơ bản đã đóng vai trò quantrọng trong sự tiến bộ của khoa học Dưới đây là một vài ví dụ tiêu biểu

Sự hiểu biết của chúng ta về Gen và di truyền học đạt được là do thành quả to lớntrong việc nghiên cứu Đậu Hà Lan của thầy tu Gregor Mendel vào những năm 1860 vàcác thí nghiệm về ruồi giấm của nhà bác học T.H Morgan những năm đầu thế kỷ 20.Việc sử dụng đậu Hà Lan, ruồi giấm - những sinh vật có cấu trúc đơn giản sẽ dễ làmthí nghiệm hơn so với các dạng sống cao hơn Ngày nay loài ruồi giấm vẫn được sửdụng trong nghiên cứu khoa học (ví dụ đề án Human Genome Project –Dự án về Genngười) DNA đang được xem như "chìa khóa cuộc sống" Ngày nay, cấu trúc xoắn ốccủa cặp DNA đã được giảng dạy trong các trường trung học, nhưng vào đầu nhữngnăm 1950, cấu trúc của DNA mới được xác định Bằng cách tập hợp dữ liệu từ cácnghiên cứu cơ bản của các nhà khoa học khác, James Watson và Francis Crick đãkhám phá ra cấu trúc tạo nên phân tử DNA vào năm 1953 Việc xác định được cấutrúc của DNA là chìa khóa quan trọng để chúng ta hiểu được cách thức hoạt động củaDNA Ngày nay, rất nhiều thiết bị điện tử (ví dụ: đài radio, máy phát điện ) được pháttriển từ nghiên cứu cơ bản của nhà bác học Michael Faraday vào năm 1831 Ông takhám phá ra nguyên lý điện từ trường, đó là mối liên hệ giữa điện và từ

Tại viện nghiên cứu cao cấp về nguồn sáng LBNL, tia X đã được sử dụng để dò bêntrong mẫu vật liệu rất nhỏ Nhưng hiểu biết của chúng ta về tính chất của tia X đã đượcbắt đầu với những nghiên cứu cơ bản của Wilhelm Rontgen vào năm 1895

Năm 1931, Earnest O Lawrence đã phát minh ra nguyên lý đầu tiên của máy gia tốc,

đó là thiết bị cho phép các nhà khoa học gia tốc cho các nguyên tử đơn tới tốc độ rấtlớn Không lâu sau đó, phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley (LBNL) đã

Trang 9

được thành lập Hàng loạt các nghiên cứu cơ bản tại LBNL đã khám phá ra nhiều loạiđồng vị phóng xạ Một số đồng vị như cacbon-14, cobalt-60, hydrogen-3 (tritium), iôt-

131, và tecneti-99—sau đó đã trở thành các công cụ nghiên cứu quan trọng cho cácnhà khoa học trong các lĩnh vực sinh học, cổ sinh vật, và khảo cổ học, hoặc hỗ trợ đắclực trong việc điều chế vacxin chống lại bệnh tật Nghiên cứu về đồng vị phóng xạ tạiLBNL cũng đã bao gồm cả việc tạo ra 15 nguyên tố nặng Albert Ghiorso, người đồngphát minh tiếp 12 nguyên tố nặng, đã giải thích rằng quá trình tìm kiếm các nguyên tốmới do con người tự tạo ra là một cuộc phiêu lưu đáng giá

Mỗi nhà khoa học kể trên đã cố gắng nghiên cứu các nguyên lý cơ bản của các hiệntượng mà họ đang tìm Chỉ đến ngày nay chúng ta mới có thể thấy được thành quảthực sự các nghiên cứu của họ!

Nghiên cứu ứng dụng: Nghiên cứu ứng dụng được tiến hành để giải quyết các vấn đề

thực tế của thế giới đương đại, không phải chỉ là hiểu để mà hiểu (kiến thức vị kiếnthức) Có thể nói một cách khác rằng kết quả của các nhà nghiên cứu ứng dụng là đểcải thiện cuộc sống con người Lấy ví dụ, các nhà nghiên cứu ứng dụng có thể điều tranghiên cứu các cách để:

 Nâng cao năng suất của sản xuất lương thực

 Xử lý hoặc chữa trị một căn bệnh nào đó

 Cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng trong nhà, văn phòng hoặc các mô hìnhkhác

Một số nhà khoa học cho rằng đã đến lúc để chúng ta nên chuyển đổi trọng tâm từnghiên cứu cơ bản thuần túy sang khoa học ứng dụng Theo hướng này, họ cảm thấy,rất cấp bách phải giải quyết các vấn đề từ quá tải dân số toàn cầu, ô nhiễm môi trường,cho đến sự sử dụng cạn kiệt các nguồn tài nguyên tự nhiên

Nghiên cứu ứng dụng đã trở nên quan trọng như thế nào trong quá khứ?

Có rất nhiều ví dụ trong quá khứ ở đó các nghiên cứu ứng dụng đã đóng góp lớn trongcuộc sống hàng ngày của chúng ta Trong nhiều trường hợp, ứng dụng đã có mộtquãng thời gian dài chuyển hóa trước khi các nhà khoa học có được kiến thức tốt và cơbản về vấn đề khoa học liên quan (Có thể hình dung một nhà khoa học đứng trongphòng nghiên cứu với những suy nghĩ trong đầu, anh ta tự hỏi mình: "Tôi biết là nó

Trang 10

chạy được, nhưng tôi chỉ chưa thực sự hiểu nó chạy như thế nào!") Dưới đây là một

số ví dụ:

 Trong những năm 1950, đèn chân không được sử dụng làm đèn ba cực (tri- ốt)trong các thiết bị điện tử như trong đài phát thanh Vào năm 1948, 3 nhà nghiêncứu tại các phòng thí nghiệm Bell thuộc AT& T (John Bardeen, Walter Brattain vàWilliam Shockley) phát minh ra transistor, một loại đèn ba cực bán dẫn, sau đó đãtrở thành cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp điện tử Sau đó 10 năm, từtransistor mà nhà nghiên cứu Jack Kilby đã phát minh ra mạch tích hợp (thườngdùng trong các vi xử lý)

 Vacxin giúp chống lại các loại bệnh tật và cứu sống nhiều người mỗi năm Lầnđầu tiên vacxin được sử dụng đó là vào cuối những năm 1790 Edward Jenner đãphát triển một kỹ thuật để tạo ra vacxin cho người giúp chống lại bệnh đậu mùa,một căn bệnh đã giết chết hàng triệu người Gần đây, Jonas Salk đã phát triển mộtloại vacxin bại liệt vào năm 1953; dạng viên uống của loại vacxin này đã đượcAlbert Sabin cung cấp vào năm 1961

 Một trường hợp may mắn nổi tiếng trong khoa học được ghi nhận vào năm

1928 Ngài Alexander Fleming trong lúc đang cố tìm các chất hóa học phản ứngnhư chất kháng sinh có tác dụng diệt vi khuẩn Một mẫu Penicilin vô tình rơi vàomẫu thí nghiệm của ông ta Ông ngay lập tức nhìn thấy rằng các vi khuẩn xungquanh mẫu không thể lớn lên được, có nghĩa là mẫu này đã cung cấp một khángkhuẩn tự nhiên Sau nhiều năm nghiên cứu để cô lập và tinh chế, lần đầu tiên thuốckháng sinh Penicilin được đưa vào thị trường Fleming nói rằng: "Tự nhiên đã tạo

ra Pennicilin và tôi chỉ là người tìm ra nó"

 Khóa Velcro (vải dán) đã được sử dụng thường xuyên trong vài năm gần đây

Nó đã thực sự được khám phá từ những năm 1948 bởi Georges de Mestral Ông ta

để ý thấy rằng các hạt giống của cây Cocklebur chứa những cái móc nhỏ nhằmgiúp các hạt này bám lại Mặc dù sản phẩm của ông đã được đăng ký bản quyềntrong năm 1957, nhưng vẫn phải mất nhiều năm sau đó để công nghệ có thể bắt kịp

và đưa khóa velcro ra thị trường với giá không quá đắt

 Một người anh của Earnest Lawrence người sáng lập LBNL, John Laurence, đãlập ra phòng thí nghiệm Donner ở Đại học Berkeley năm 1936 Mục đích của ông

Trang 11

là sử dụng chất đồng vị phóng xạ để chữa bệnh cho con người như các bệnh ungthư và các bệnh liên quan tới tuyến giáp Ngày nay phòng thí nghiệm Donner đượcxem là nơi sản sinh ra môn y học hạt nhân Thực tế nghiên cứu cơ bản và ứng dụng

có phải khác nhau như trắng và đen không?

Sự khác biệt giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng không phải luôn luôn rõ ràng Đôilúc nó phụ thuộc vào hoàn cảnh hay quan điểm của người đánh giá Theo TS AshokGadgil ở LBNL, một cách để nhìn nhận điều đó là hãy tìm cách trả lời câu hỏi:

"Khoảng thời gian cần thiết trước khi một chương trình có kết quả thực tiễn từ nghiêncứu là bao lâu?" Nếu để sử dụng được chỉ cần một vài năm, thì nó đó được định nghĩa

là nghiên cứu ứng dụng thuần túy

Nếu để có ứng dụng cần kéo dài trong khoảng 20-50 năm, thì công việc này về bảnchất có khi là ứng dụng và có khi lại là cơ bản Với một nghiên cứu không thể nàonhìn trước được là cần bao nhiêu thời gian để có thể dùng được trong thực tế, thì nóđược coi là nghiên cứu cơ bản thuần túy Ví dụ, ngày nay một số các nghiên cứu đặtnền tảng trên sự phát triển về lò phản ứng hạt nhân để cung cấp một nguồn năng lượngđiều khiển được cho các thành phố Đó là một thành quả ứng dụng rõ ràng trong côngviệc, vì đã có quá nhiều các kỹ thuật được kiểm nghiệm chắc chắn từ khoảng 30-50năm trước khi chúng ta có thể thấy chức năng của lò phản ứng hạt nhân được sử dụng

Sự phát triển của năng lượng hạt nhân có thể nói là kết quả của nghiên cứu cơ bản vànghiên cứu ứng dụng Vật liệu siêu dẫn là một lĩnh vực nghiên cứu khác về vùngchồng lấn này Phần lớn các chất dẫn điện là không thực sự hiệu quả; một lượng nănglượng bị mất để đốt nóng khi mà điện tử truyền qua vật dẫn (thường là kim loại) Vậtliệu siêu dẫn là các loại vật liệu tiêu tốn rất ít hoặc không tiêu tốn năng lượng khi điện

tử truyền qua chúng Tuy nhiên, các vật liệu siêu dẫn gần đây nhất đã được làm lạnhvới heli lỏng đắt tiền tới nhiệt độ dưới -2690C đã hoạt động đúng Các vật liệu mớihơn được phát triển trong những năm gần đây cho thấy tính chất siêu dẫn tại nhiệt độcao hơn, chỉ sử dụng ni-tơ lỏng rẻ tiền để làm lạnh Rõ ràng là, sự phát triển của vậtliệu siêu dẫn thực sự là nghiên cứu cơ bản Tuy nhiên, khi mà vật liệu siêu dẫn đượcphát triển và có thể được sử dụng dễ dàng như các loại dây đồng, thì rất nhiều các ứngdụng quan trọng sẽ sớm áp dụng, bao gồm cả việc cung cấp điện hiệu quả hơn trongcác thành phố

2.2 Các loại thiết kế nghiên cứu trong y học:

Trang 12

Chọn loại thiết kế thích hợp nên dựa vào:

Khả năng hiểu biết về vấn đề nghiên cứu

Tính chất của vấn đề

Có nhiều loại phương pháp NCKH khác nhau tuỳ thuộc vào các giải pháp nghiên cứuđược sử dụng và các giải pháp này thường phối hợp với nhau, vì thế trong một đề tàinghiên cứu có thể sử dụng một, hai hoặc nhiều phương pháp nghiên cứu phù hợp vớiloại thiết kế nghiên cứu

Người ta thường chia làm hai nhóm loại hình nghiên cứu chính: Nghiên cứu không

can thiệp (Nonintervention studies) và nghiên cứu can thiệp (Intervention studies).

1 Nghiên cứu không can thiệp:

1.1 Nghiên cứu thăm dò (Exploratory studies): thực hiện với một mẫu nhỏ nhằm tìm

hiểu vấn đề giúp định hướng cho những nghiên cứu rộng hơn

1.2 Nghiên cứu mô tả (Descriptive studies):

Có mục đích hình thành các giả thiết, không có nhóm đối chứng Nghiên cứu mô tả

đòi hỏi phải thu thập, phân tích và diễn giải các dữ liệu Có thể sử dụng cả kỹ thuậtđịnh tính (qualitative) và định lượng (quantitative), bao gồm bộ câu hỏi(questionnaire), phỏng vấn, bảng kiểm để quan sát và các thống kê dịch vụ …Các loạinghiên cứu mô tả:

 Mô tả từng ca (Descriptive case studies)

 Mô tả chuỗi ca bệnh (Case series)

 Điều tra cắt ngang (Cross-sectional surveys)

 Mô tả đặc trưng công đồng (Community characteristics) hay đánh giá nhucầu (Needs evaluation)

 Điều tra dịch tể học về tình hình mắc bệnh (prevalence)

1.3 Nghiên cứu so sánh hay phân tích (Comparative or Analytical studies): phải có nhóm đối chứng (control)

 Nghiên cứu so sánh cắt ngang (Cross-sectional comparative study)

 Nghiên cứu bệnh - chứng (Case-control study)

- Khởi đầu từ tình trạng bệnh (có hoặc không mắc bệnh)

Trang 13

- Nghiên cứu sự liên quan với tình trạng phơi nhiễm (exposure) với yếu tố nguy cơ (risk factors) trong quá khứ.

- Đây là phương pháp hồi cứu (retrospective)

- Chú ý các tiêu chí chọn ca bệnh và ca đối chứng

 Nghiên cứu thuần tập tiến cứu (Prospective cohort study)

- Khởi đầu từ yếu tố phơi nhiễm.

- Nghiên cứu sự liên quan giữa tình trạng phơi nhiễm với yếu tố nguy với tình trạng bệnh sẽ xuất hiện trong tương lai (nghiên cứu tương lai -

 Thử nghiệm phương án điều trị (Clinical trials)

 Thử nghiệm thuốc điều trị

Phải có nhóm đối chứng, kết quả nghiên cứu phải có ý nghĩa thống kê.

2.2 Các nghiên cứu can thiệp về y tế cộng đồng

CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ

1 Khái niệm nghiên cứu khoa học?

2 Nghiên cứu ứng dụng giúp chúng ta?

A Tiến hành giải quyết các vấn đề thực tế của thế giới đương đại

B Nâng cao năng suất lao động, năng suất canh tác

C Cải thiện điều kiện môi trường làm việc

D Tất cả đều đúng

Trang 14

BÀI 2:

XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

(2 TIẾT) MỤC TIÊU BÀI:

1) Trình bày cách xác định đề tài y học?

2) Tóm lược các bước tiến hành nghiên cứu khoa học?

3) Trình bày cách lựa chọn mục tiêu của một đề tài?

4) Nêu được ý nghĩa của việc đặt câu hỏi trong nghiên cứu khoa học?

I XÁC ĐỊNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Y HỌC:

1 LỰA CHỌN ĐỀ TÀI:

1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn đề tài

Khi lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học, có thể có những khả năng sau:

Người hướng dẫn áp đặt một đề tài mà mình đang quan tâm, ưu tiên trong các

nghiên cứu trước mắt: có thể người thầy sẽ có tâm thế sẵn sàng hơn khi hướngdẫn những đề tài như vậy;

Người hướng dẫn gợi ý một đề tài được cho là phù hợp, có thể là với khả năng

và điều kiện thực tế;

 Sinh viên lựa chọn một đề tài trong danh sách các chủ đề nghiên cứu của người

hướng dẫn: ở đó có thể có đủ cả những vấn đề bắt buộc phải nghiên cứu, những vấn đề ưu tiên, những vấn đề ưa thích, hay chỉ đơn giản là những gợi ý nghiên

cứu;

 Sinh viên lựa chọn một đề tài từ các ý tưởng có sẵn của mình: có thể liên quanđến những lợi ích, điều kiện thuận tiện trước mắt hoặc khả năng, sở thíchnghiên cứu của sinh viên;

Sinh viên và người hướng dẫn thảo luận với nhau, mỗi người đưa ra những ý

tưởng, lí do, đánh giá ưu nhược điểm của mỗi vấn đề, và cuối cùng đi đến mộtlựa chọn phù hợp nhất cho cả hai: đây là cách khá phổ biến, lời khuyên củangười thầy giúp sinh viên định hướng tốt hơn trong quyết định của mình mà

Trang 15

không có cảm giác bị áp đặt, điều sẽ ảnh hưởng không ít đến động cơ và hứngthú làm việc về sau;

1.2 Đặc điểm của một đề tài tốt

Có thể có một số đề tài đòi hỏi những kĩ năng đặc biệt hoặc sự đầu tư thời gian

và công sức nhiều hơn bình thường, nhưng nhìn chung đối với sinh viên nghiên cứukhoa học, một đề tài sẽ có kết quả tốt nếu như chịu làm việc một cách có phương pháp,

có óc tìm tòi và một chút thông minh Về mặt phương pháp, một đề tài tốt phảikhuyến khích một quá trình học tập có tính sáng tạo và lâu dài của sinh viên về cácphương pháp nghiên cứu cũng như kĩ thuật trình bày ý tưởng và kết quả thu thập được.Một đề tài nghiên cứu được đánh giá là tốt khi:

khi một vấn đề có phạm vi rộng sẽ dễ dẫn đến nguy cơ dàn trải, thiếu tập trung,

xử lí các vấn đề chỉ ở trên bề mặt;

Có tính mới và độc đáo: kết quả nghiên cứu phải mang lại một sự tiến bộ nhất

định trong tri thức khoa học chuyên ngành, không trùng lắp với những kết quả,công trình đã công bố trước đó;

Xử lí vấn đề tương đối trọn vẹn: sao cho kết quả thu được giúp rút ra những kết

luận rõ ràng, góp phần giải quyết hầu hết các vấn đề cơ bản cần nghiên cứu đãđặt ra (thể hiện qua tên đề tài);

pháp tiến hành, rõ ràng trong phong cách trình bày và dễ đọc

Do đó, để hướng đến một kết quả tốt cho công tác nghiên cứu, cần lưu ý nhữngđiểm sau khi chọn đề tài:

 Khả năng thực địa;

 Khả năng truy cập các nguồn thông tin, tài liệu chuyên ngành;

 Sự hỗ trợ của các chuyên gia và nhà chuyên môn;

 Các điều kiện, phương tiện, thiết bị nghiên cứu;

 Những thói quen, yêu cầu, xu hướng về chuyên môn và quản lí;

 v.v

Trang 16

Tất cả phải đáp ứng đủ yêu cầu để có thể tiến hành được đề tài nghiên cứu và đạt đượcđến đích mong muốn.

1.3 Người Hướng Dẫn:

Một trong những thao tác đầu tiên của việc triển khai một đề tài nghiên cứu khoa

học là lựa chọn đề tài Đối với nhà nghiên cứu, các đề tài thường được lựa chọn qua

kinh nghiệm và kiến thức tích luỹ được, đặt trong bối cảnh yêu cầu về mặt chuyên

môn, quản lí hoặc nhu cầu thực tế của xã hội Đối với sinh viên, học viên cao học và

nghiên cứu sinh, ngoài việc lựa chọn đề tài họ còn phải chọn (hoặc được chỉ

định) người hướng dẫn khoa học

Người hướng dẫn khoa học

Việc lựa chọn người hướng dẫn khoa học không hoàn toàn phụ thuộc vào đề tài nghiêncứu được lựa chọn

Có hai khả năng kết hợp: chọn người hướng dẫn trước, chọn đề tài sau; hoặc ngược lại,chọn đề tài trước rồi mới tìm người hướng dẫn phù hợp Nhưng rất thông thường, nhất

là trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, một đề tài nghiên cứu làm khoá luận/luậnvăn/luận án thường được xác định sau khi đã có người hướng dẫn khoa học

Lựa chọn người hướng dẫn như thế nào?

Nói chung trong nghiên cứu khoa học, không có người thầy lí tưởng cho mọi

sinh viên, vì mỗi người đều có tính cách, sở thích, phương pháp làm việc riêng

biệt Điều bạn cần làm là tìm được người thầy phù hợp, sẵn sàng hướng dẫn mình đi

suốt con đường học làm nghiên cứu khoa học

Cách tốt nhất là trước khi tiếp xúc với người bạn định lựa chọn, hãy tìm hiểu kĩ

về tiểu sử khoa học của họ cũng như những đặc điểm cá tính, phương pháp làm việc,quan điểm khoa học, kinh nghiệm chuyên môn, chủ đề nghiên cứu ưu tiên, v.v.Đồngthời, cần trang bị cho mình những ý tưởng cơ bản về một đề tài nghiên cứu mà mìnhquan tâm (qua nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu thực tế hoặc chỉ đơn giản là một đề tàitrong danh sách ưu tiên nghiên cứu của người cần gặp)

Khi đã chuẩn bị sẵn sàng, hãy xin hẹn gặp để trình bày nguyện vọng Ấn tượngbạn tạo ra trong buổi gặp mặt có thể là một yếu tố quan trọng trong quyết định củangười thầy Có thể bạn được nhận hướng dẫn ngay Cũng có thể bạn sẽ nhận được một

Trang 17

lời khuyên nên làm việc với một người thầy khác, và cũng chính bạn là người quyếtđịnh, sau khi cân nhắc mọi yếu tố, có nên thay đổi ý định hay là tiếp tục kiên trì thuyếtphục.

Quan hệ thầy - trò trong nghiên cứu khoa học

Những phẩm chất mà một sinh viên nghiên cứu khoa học nên có là giàu óc tưởngtượng, giàu sáng kiến, nhiệt tình và kiên trì Biểu hiện rõ ràng những phẩm chất này sẽgiúp cho người thầy hướng dẫn hiểu được học trò của mình hơn, và điều đó hiển nhiên

là có ích cho sự tiến triển của đề tài nghiên cứu

Người thầy hướng dẫn sẽ hiểu mình cần làm gì để giúp sinh viên thực hiện tốt đềtài nghiên cứu: lựa chọn đối tượng, rèn luyện phương pháp, tư vấn nghiên cứu tài liệu,

xử lí số liệu, v.v Nhưng chính sinh viên luôn phải là người chủ động trong công việccủa mình, không nên thụ động, ỷ lại, trông chờ hoàn toàn vào sự chỉ định của thầy, vìngười thầy chỉ định hướng, dẫn dắt mà không làm thay cho sinh viên

Trong quá trình thực hiện, cần duy trì đều đặn những buổi làm việc định kì đểtheo dõi tiến độ nghiên cứu, xác định những kết quả đạt và chưa đạt, đưa ra hướng giảiquyết những vướng mắc xảy ra, thảo luận những bước đi kế tiếp, v.v Mật độ làm việcthay đổi tuỳ lĩnh vực và đề tài, nhưng nói chung khoảng từ hai đến ba tuần một lần làvừa đủ, và đừng để vượt quá bốn tuần Lịch gặp quá dày hoặc gặp mà không có nộidung/kết quả gì mới mẻ thì thường sẽ vô ích, thậm chí bất lợi cho sự tiến triển của đề

tài Khi làm việc định kì, sinh viên cũng không nên tỏ ra quá nhút nhát mà cần có sự

tự tin đúng mực.

2 TÊN ĐỀ TÀI:

Nội dung nghiên cứu của một đề tài khoa học được phản ánh một cách cô đọngnhất trong tiêu đề của nó Tên của đề tài cần có tính đơn nghĩa, khúc chiết, rõ ràng,không dẫn đến những sự hiểu lầm, hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau hay hiểu mập mờ

Có một số điểm cần lưu ý hạn chế khi đặt tên cho đề tài như sau:

Dùng những cụm từ có độ bất định thông tin cao: như "Về ", "Thử bàn về ",

"Một số biện pháp ", "Một số vấn đề ", "Tìm hiểu về ", v.v vì càng bất địnhthì nội dung phản ánh được càng không rõ ràng, chính xác;

Trang 18

Lạm dụng những từ chỉ mục đích: những từ như "nhằm", "để", "góp phần",

nếu bị lạm dụng dễ làm cho tên đề tài trở nên rối rắm, không nêu bật được nộidung trọng tâm;

khoa học là đơn giản, ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, đơn nghĩa;

Thể hiện tình cảm, thiên kiến, quan điểm: một tiêu chí quan trọng khác trong

khoa học, đó là tính khách quan, không phụ thuộc vào tình cảm, chính kiến,quan điểm, vì chúng thường có tính nhất thời, tính lịch sử trong một thờiđiểm nhất định

Dưới đây là một số mẫu về cách cấu tạo tên đề tài:

Đối tượng nghiên cứu + "Cấu trúc câu tiếng Lào" (Ngữ văn), Bualy

Paphaphan, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, 1993

+ Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến tử vong do

lũ lụt tại Việt Nam và đề xuất giải pháp giảm thiểu;

Viện YHLĐ và VSMT, TS Nguyễn Bích Diệp và ThS

Đỗ Phương Hiền, 24 tháng (1/2013- 12/2014), Bộ y tế.Giả thuyết khoa học "Phông lưu trữ Uỷ ban Hành chính Hà Nội (1954-

1975) - nguồn sử liệu chữ viết nghiên cứu lịch sử thủ đô" (Biên soạn lịch sử và sử liệu học), Hồ Văn

Quýnh, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, 1995

Mục tiêu nghiên cứu + "Đặc điểm khu hệ thú Ba Vì" (Động vật học), Phi

Mạnh Hồng, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, 1994

+ Giải pháp cải thiện tình trạng dinh dưỡng canxi, vitamin D cho trẻ tiền dậy thì dựa vào nguồn dinh dưỡng tại địa phương; Viên dinh dưỡng, TS Vũ Thị

Thu Hiền, 24 tháng (3/2012-3/2014), Bộ y tế

Mục tiêu + phương tiện + "Chuyển hoá phế liệu ligno-xenluloza nhờ nấm sợi

bằng phương pháp lên men rắn" (Vi sinh học), Phạm

Hồ Trương, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, 1993

+ Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật xạ trị điều biến liều

Trang 19

CẤU TRÚC VÍ DỤ

(Intensty Modulated Radio Therapy: IMRT) kết hợp hình ảnh PEC/CT trong điều trị ung thư vòm mũi họng; Bệnh viện Bạch Mai HN, PGS TS Mai Trọng

Khoa, 24 tháng (3/2012-3/2014), Bộ y tế

Mục tiêu + Môi trường + "Đặc trưng sinh học về sự phát triển cơ thể và sự

sinh đẻ của phụ nữ nông thôn Đồng bằng Bắc bộ" (Nhân chủng học), Hà Thị Phương Tiến, Trường đại

học Tổng hợp Hà Nội, 1995

+ Nghiên cứu khả năng nhiễm một số arbo virus ở quần thể muỗi Culex và một số loài động vật nuôi hoang dại ở Tây Nguyên; Viện VSDT Tây Nguyên,

GSTS Đặng Tuấn Đạt, 24 tháng (3/2012-3/2014), Bộ ytế

Mục tiêu + Phương tiện +

Môi trường

+ "Sử dụng kỹ thuật kích hoạt nơtron để khảo sát sự phân bố của nguyên tố đất hiếm trong một số khoáng vật Việt Nam"(Hoá vô cơ), Nguyễn Văn Sức, Trường

đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội, 1995

+ Nghiên cứu xây dựng qui trình phát hiện và định lượng alcaloid của mã tiền, ô đầu, phụ tử trong dịch sinh vật thực nghiệm; Viện Pháp Y Quốc gia; TS

Nguyễn Tiến Dũng, 36 tháng (3/2012-3/2015), Bộ y tế

II XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu của một nghiên cứu là mục đích của nghiên cứu đó đạt được

- Liên quan đến vấn đề cốt lõi

- Một nghiên cứu thường có một mục tiêu chung, tuy nhiên người ta thường chia

mục tiêu chung thành mục tiêu cụ thể để cho quá trình thiết kế thu thập phân tích

và trình bày kết quả nghiên cứu có tính logic dễ hiểu hơn

- Các tiêu chuẩn của một mục tiêu nghiên cứu tốt:

+ Có liên quan mật thiết với vấn đề nghiên cứu và tên đề tài

+ Phải bắt đầu bằng một động từ hành động có thể đo lường được

Trang 20

+ Các mục tiêu cụ thể phải phù hợp với mục tiêu chung và được bao trùm bởimục tiêu chung

+ Cũng như tên đề tài mục tiêu của nghiên cứu có thể bị sửa đổi sau khi triểnkhai nghiên cứu

+ Tên đề tài cần phải bao trùm mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể

2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

- Cũng như mục tiêu nghiên cứu câu hỏi nghiên cứu có câu hỏi chung và câu hỏi cụ

thể:

 Nhằm tập trung nghiên cứu vào khía cạnh cần thiết và cụ thể hơn

 Tránh thu thập những thông tin không thật cần thiết

 Lập kế hoạch và tổ chức nghiên cứu sát với yêu cầu và khoa học hơn

- Với các câu hỏi nghiên cứu đầy đủ và sát thực thì việc phát triển đề cương nghiên

cứu, định hướng công việc thu thập, phân tích, giải thích và sử dụng số liệu sẽ dễ dàng hơn

CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ

1 Trình bày cách lựa chọn tên đề tài?

2 Sinh viên lựa chọn một đề tài và phân tích mục tiêu nghiên cứu và đề xuất cách

xây dựng câu hỏi nghiên cứu của đề tài trên?

BÀI 3:

CÁC BIẾN SỐ TRONG NGHIÊN CỨU

(2 TIẾT) MỤC TIÊU BÀI:

Ngày đăng: 14/06/2018, 03:33

w