Nghiên cứu một số loại thức ăn xanh cho đà điểu từ sơ sinh - 3 tháng tuổi
Trang 1bị nứt vỡ Ngoài ra trứng, móng vuốt đều là những nguyên liệu quý được dùng làm đồ mỹ nghệ đắt tiền.
Chăn nuôi đà điểu đang là một nghề đem lại lợi nhuận cao Tuy nhiên đây cũng còn là một nghề chăn nuôi mới vì vậy còn rất nhiều vấn đề như: Quy trình chăn nuôi, dinh dưỡng, thức ăn cần phải được nghiên cứu hoàn chỉnh Trong khẩu phần ăn của đà điểu thức ăn xanh đóng một vai trò rất quan trọng, bởi vì đà điểu có khả năng tiêu hoá tốt chất sơ Đặc biệt trong giai đoạn nuôi gột từ sơ sinh - 3 tháng tuổi thức ăn xanh không những cung cấp cho đà điểu chất dinh dưỡng, nguồn nước tinh khiết, chất khoáng, vitamin mà còn có tác dụng nhuận tràng, tăng cường nhu động ruột, giúp cho đà điểu hoàn thiện chức năng tiêu hoá Thức ăn xanh chủ yếu được tiêu hoá ở đôi manh tràng và trực tràng nhờ hệ vi sinh vật, lên men thành các axit béo bay hơi được hấp thu vào trong cơ thể cung cấp tới 76% nhu cầu năng lượng trao đổi Nhiều nước trên thế giới có nghề chăn nuôi đà điểu phát triển như: Nam phi, Úc, Trung quốc Đã tiến hành nghiên cứu sử dụng đa dạng nguồn thức ăn xanh, các
Trang 2phương pháp chế biến thức ăn xanh cho đà điểu đã mang lại hiệu quả rõ rệt Ở Việt Nam nguồn thức ăn xanh rất phong phú và đa dạng nhưng có biến động theo mùa vụ ở miền Bắc mùa khô do thời tiết khô hạn nên một số loại như rau muống, cỏ xanh khan hiếm Trong khi đó nhiều loại như rau lấp, chè đại lại sẵn có Vì vậy để chủ động khai thác các nguồn thức ăn xanh sẵn có trong các mùa vụ để nuôi gột đà điểu có hiệu quả chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu một số loại thức ăn xanh cho đà điểu từ sơ sinh - 3 tháng tuổi”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định loại thức ăn xanh phù hợp cho đà điểu trong giai đoạn từ 0 -3 tháng tuổi
- Xác định ảnh hưởng của một số loại thức ăn xanh đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dung thức ăn của đà điểu từ 0 – 3 tháng tuổi
- Từ kết quả thu được góp phần hoàn thiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đà điểu
Trang 3PHẦN THỨ HAI TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Nguồn gốc và vị trí phân loại Đà điểu
Theo nguyên tắc phân loại lớp chim (Aves) được chia làm 3 phân lớp: Ratite, Grinate, Impere Hầu hết các loài gia cầm đều thuộc phân lớp Grinate Tuy nhiên phân lớp chim chạy (Ratite) lại có lịch sử tiến hoá lâu đời hơn Đà điểu xuất hiện từ trước kỷ nguyên thứ 3, phân bố trên khắp đại lục lớn Một số học giả căn cứ vào thuyết trôi dạt lục địa cho rằng: các loại đà điểu xuất phát
từ một tổ tiên chung, phân tán rộng rãi trong các vùng đất phía Nam bán cầu, rồi tiến hoá thành các gia đình đà điểu ngày nay, sau khi lục địa lớn bắt đầu tách ra vào cuối kỷ phấn trắng (Gretaceuos) tạo nên các lục địa Châu Phi, Mỹ,
Úc và Nam cực như hiện nay Tuy nhiên kết quả các công trình nghiên cứu về giải phẫu học ngoại hình, sinh hoá và di truyền đã bác bỏ giả thuyết trên và cho rằng chúng hoàn toàn khác biệt Những tranh luận trên vẫn còn kéo dài và chưa đi đến kết luận sáng tỏ Theo quan điểm ngày nay tất cả các loài chim chạy thuộc 1 bộ: Bộ Struthioniformes và được chia làm 5 phụ bộ
- Phụ bộ Apteryges: tiêu biểu chim Kiwi
- Phụ bộ Dromai: tiêu biểu là chim Emu
- Phụ bộ Casuarary: tiêu biểu là chim Cassowary
- Phụ bộ Rheae: tiêu biểu là chim Rhea
- Phụ bộ Struthiones: tiêu biểu là Ostrish
Nhiều tác giả cho rằng Ostrish bắt nguồn từ lục địa Châu phi, một
bộ phận từ Austrlia, mặc dù trước đây chúng có mặt ở Nam Châu Âu và
cả Châu Á Mẫu vỏ hoá thạch Đà điểu, được tìm thấy ở Châu phi, Trung
Trang 4Quốc trong lịch sử, con người biết về những loài chim chạy (Ratite) và Đà điểu như là biểu tượng của nền văn minh Địa Trung Hải Loài cổ nhất trong gia đình Đà điểu này được tìm thấy ở Phocene đã tồn tại và ghi nhận vào khoảng 12 triệu năm trước đây Ngày nay gia đình Đà điểu chỉ còn lại duy nhất 1 loài được gọi là Đà điểu lạc đà (Struthio camelus) và được chia làm 5 phân loài.
- Đà điểu Syrian (Struthio camelus syriacyus) - sinh sống tại Syria
và phía bắc tiểu vương quốc ARập thống nhất, Jordan, Iraq và Tây Iran Loài phụ này đã tuyệt chủng vào năm 1941 là loài Đà điểu nhỏ nhất với
bộ lông tuyệt vời Đà điểu Syrian được sử dụng để lai tạo tại Nam Phi để nâng cao chất lượng lông của loài địa phương
- Đà điểu Bắc Phi (Struthio camelus camelus) - trải dài phía nam dãy Atlas bao gồm Senegal, Nigeria, Sudan và Ethiopia Trên đầu có lông
tơ bao phủ, tròng mắt nâu Cổ có 1 ít lông phủ phía dưới và màu đỏ tươi Bắp đùi con trống có màu đỏ tươi đến hồng xẫm với bộ lông màu đen xẫm
- Đà điểu Massai (Struthio camelus massaicus) - trải dài từ Kenya
và 1 phần Tanzania Đầu có lông màu trắng, tròng mắt nâu Cổ có lông tơ mọc ngược và màu hồng nhạt hơn Lông con trống có màu nâu đen
- Đà điểu Somali (Struthio camelus molybdophanes) - trải dài ở Đông Phi chủ yếu ở Somali và Ethiopia Loài này nhỏ hơn so với loài Nam Phi, trên đầu có mảng trụi cứng, da màu xám và tròng mắt nâu Mỏ
có viền màu đỏ sáng Đùi và cổ con trống màu xanh xám
- Đà điểu Nam Phi (Struthio camelus Australis) - trải dài từ phía nam sông Zambezi bao gồm Namibia, Boswana, Zimbabuwe Đỉnh đầu thường có nhiều lông hơn, tròng mắt nâu, mỏ thường không có vành đỏ,
Trang 5từ cẳng chân xuống ngón cái có màu đỏ phía trước Cổ và đùi có màu xám tro nhạt.
Như vậy , trong hệ thống phân loại động vật vị trí phân loại của Đà điểu như sau:
Phân loài - Struthio Camelus camelus
- Struthio Camelus molyb dophanes
- Struthio Camelus masaicus
- Struthio Camelus Australis
- Struthio Camelus Syriacus phân loài này đã tuyệt chủng vào khoảng năm 1941
2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SINH TRƯỞNG
2.2.1 Một số chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng
* Sinh trưởng tích luỹ
Sinh trưởng tích luỹ từng thời kỳ là một chỉ tiêu sử dụng để đánh giá sự sinh trưởng của gia cầm Tuy nhiên chỉ tiêu này cho phép xác định sự sinh trưởng ở các thời điểm nhát định của cơ thể, song nó lại không chỉ ra đượch
sự khác nhau về tỷ lệ sinh trưởng của các thành phần cơ thể trong khoảng thời gian ở các độ tuổi khác nhau ở đà điểu khối lượng cơ thể được theo dõi bằng tuần tuổi với đơn vị tính là g/con hoặc kg/con
* Sinh trưởng tuyệt đối
Sinh trưởng tuyệt đối chính là sự gia tăng về khối lượng sống trung bình trong một ngày đêm, hay sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích
Trang 6trong một khoảng thời gian giữa 2 lần kiểm soát Sinh trưởng tuyệt đối còn được gọi là năng lực sinh trưởng, đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol Sinh trưởng tuyệt đối càng lớn thì hiệu quả chăn nuôi càng cao Sinh trưởng tuyệt đối đánh giá được mức độ sinh trưởng nhưng không đánh giá được cường độ sinh trưởng Để xem xét khả năng sinh trưởng một cách toàn diện hơn, người ta phải áp dụng chỉ tiêu sinh trưởng tương đối.
* Sinh trưởng tương đối:
Sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát Đường cong biểu diễn sinh trưởng tương đối có dạng hình Hypecbol cho thấy sinh trưởng tương đối giảm theo lứa tuổi Đơn vị tính sinh trưởng tương đối là %
2.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng
Các tính trạng về sinh trưởng đều là các tính trạng số lượng nên ngoài phần ảnh hưởng do các yếu tố về bản thân con vật (yếu tố giống, tính biệt) chúng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, phương thức chăn nuôi )
* Ảnh hưởng của giống loài
Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào giống, dòng và bản thân
cá thể ở các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau, giống gà thịt có tốc độ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng thịt trứng và giống gà chuyên trứng
Joap và Monras, 1937 , đã phát hiện những sai khác trong cùng giống
về cường độ sinh trưởng trước 8 tuần tuổi của gà con ở các cặp bố mẹ khác nhau Có sự sai khác trên là do di truyền quy định
Với những tiến bộ trong công tác chọn lọc và tạo giống thì sự khác nhau về khối lượng cơ thể giữa các giống gia cầm ngày càng lớn Kết qủa
Trang 7nghiên cứu của Nguyễn Huy Đạt và ctv, 1996 , Nguyễn Mạnh Hùng 1994; Nguyễn Đức Hưng và Ctv, 1994; Phùng Đức Tiến 1996 Cũng đã khẳng định các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự sai khác nhau về khối lượng cơ thể và tốc độ sinh trưởng đề cập đến ở phần trên là do yếu tố di truyền Nhiều tác giả cho rằng có nhiều đôi gen khác nhau cùng ảnh hưởng tới sinh trưởng và có nhiều NST thường mang những đôi gen này Những nghiên cứu sau này cho rằng có thể có nhiều hơn 15 đôi gen, quy định tốc độ tăng trưởng mặc dù chưa thật chính xác nhưng cũng cho thấy rõ sự khác nhau về sinh trưởng là do di truyền và cơ sở là sự di truyền đa gen, trong đó có ít nhất 1 đôi gen về sinh trưởng liên kết với giới tính Ưu thế lai có thể có sự đặc biệt đối với tính trạng khối lượng cơ thể ở giai đoạn gia cầm non và tốc độ sinh trưởng có thể thay đổi do chọn lọc di truyền
Marco A.S (1982) cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng là từ 0,4 - 0,5 Theo tài liệu của Chambers (1990) thì Sirgel và Kiney đã tổng kết một cách hoàn chỉnh hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng Kết quả tính toán qua phân tích phương sai dựa trên thành phần con bố từ 0,4 - 0,6 Theo Nguyễn Ân và cộng sự (1983) (Dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996) thì hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng của gà 1 tháng tuổi là 0,33; 2 tháng tuổi là 0,46;
3 tháng tuổi là 0,43
* Ảnh hưởng của tính biệt
Ở gia cầm, giữa 2 loại tính biệt có sự khác nhau về khả năng sinh trưởng Theo Jull M.A (Dẫn theo Phùng Đức Tiến) (1996) thì gà trống có tốc
độ sinh trưởng hơn gà mái 24-32% Các tác giả này cũng cho biết, sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (2NST giới tính) hoạt động mạnh hơn ở gà mái (1 NST) Sự sai khác về mặt sinh trưởng do giới tính
Trang 8còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng gà phát triển nhanh so với các dòng gà phát triển chậm
North M.O 1990 (Dẫn theo Nguyễn Khắc Thịnh, 2005) cho biết khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng giống đưa vào ấp, song không ảnh hưởng tới khối lượng gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi Song lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn ở 2 tuần tuổi hơn 5%, 3 tuần tuổi hơn 11%;
8 tuần tuổi hơn 27% Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1992), Phạm Quang Hoán và ctv (1994), cho biết khối lượng gà trống và mái Broiler V135 sai khác nhau từ 1 tuần tuổi
* Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông
Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xác định: trong cùng 1 giống, cùng tính biệt ở gà có tốc độ mọc lông nhanh cũng có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn
Theo Phùng Đức Tiến (1996) thì Brandsch và Bichel cho biết tốc độ mọc lông cũng là 1 đặc tính di truyền Đây là tính trạng có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất sinh trưởng và phát triển của gia cầm và là chỉ tiêu để đánh giá sự thành thục sinh dục, Kurhner, K.F (1974) cho rằng tốc độ mọc lông có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn Hayer và Cs (1970) đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn ở gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của Hormon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết với giới tính quy định tốc độ mọc lông
* Ảnh hưởng của dinh dưỡng
Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm bảo đảm các hoạt động duy trì cơ thể
và sản xuất (sinh trưởng, sản xuất trứng) Năng lượng và Protein là 2 yếu tố
Trang 9dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần ăn của gia cầm (Rose, S.P, 1997) Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm các thành phần như axit béo khoáng, vitamin và nước cũng không thể thiếu được.
- Ảnh hưởng của năng lượng trong thức ăn: gia cầm có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những Carbon hydrate đơn giản, một vài Carbon hydrate phức tạp như dầu mỡ, nhưng những Carbon hydrate quá phức tạp như Cellulose thì gia cầm không thể sử dụng được Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích thay đổi chất rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng hầu hết đến quá trình sản xuất Theo Rose (1997) nếu hàm lượng năng lượng trong khẩu phần thay đổi thì gia cầm điều chỉnh sự cân bằng năng lượng bằng cách thay đổi lượng thức ăn tiêu thụ
- Ảnh hưởng của protein: trong thức ăn Protein thức ăn chứa 22 axit amin trong đó có một số axit amin cần thiết mà gia cầm không thể tự tổng hợp được Khẩu phần ăn của gia cầm đòi hỏi phải có sự cân bằng các Axit amin cần thiết mới đáp ứng được dinh dưỡng Kirchge Bner và Cs (1991) đã chứng minh sự thiếu hụt Protein trong khẩu phần đến năng suất của gà Để đạt được năng suất tối ưu và rút ngắn thời gian nuôi dưỡng của gà thịt, trong thí nghiệm của Vogt (1990) đã tìm ra protein thích hợp trong khẩu phần là 118g protein/MJ ME, với khẩu phần này khối lượng của gà thịt khi kết thúc thí nghiệm đạt lớn nhất Bên cạnh đưa ra hàm lượng protein, năng lượng thích hợp, người ta phải tính đến tỷ lệ protein/năng lượng Nếu hàm lượng protein trong khẩu phần quá cao gây tình trạng tích luỹ mỡ trong cơ thể
* Ảnh hưởng của cấu trúc cơ thể
Trong chăn nuôi mỗi loại gia súc gia cầm với hưởng sản xuất khác nhau đều có những đặc điểm về ngoại hình, thể chất khác nhau Đánh giá con vật qua ngoại hình phối hợp với kích thước các chiều đo là một nội dung quan trọng trong công tác giống
Trang 10Ở gia cầm kích thước và khối lượng của xương có tầm quan trọng lớn đối với khối lượng và hình dạng cơ thể, quan hệ giữa khối lượng cơ thể và tốc
độ lớn và chiều dài đùi cũng như chiều dài xương ngực và chiều rộng ngực với chất lượng thịt có tầm quan trọng đặc biệt Theo Pingel và Cs, 1969 ở gia cầm giữa độ dày cơ ngực và tỷ lệ phần trăm thịt lườn có mối tương quan dương Negin và Cs 1981 cho biết kích thước các chiều đo có liên quan rõ rệt đến khối lượng cơ thể
Ngoài các yếu tố trên, các yếu tố ngoại cảnh: nhiệt độ, ánh sáng, mật độ nuôi có ảnh hưởng đáng kể tới khả năng sinh trưởng của gia cầm Các yếu tố ngoại cảnh trên có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp qua việc thu nhận thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá hấp thụ các chất dinh dưỡng và bệnh tật qua đó ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm
2.2.3 Cơ sở khoa học của hiệu quả sử dụng thức ăn
2.2.3.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hoá của Đà điểu
Đà điểu thuộc lớp chim vì thế về mặt giải phẫu học của hệ thống tiêu hoá của chúng có những đặc điểm chung và có những nét đặc trưng riêng Đà điểu là loài dạ dày đơn Chúng không có diều mà chỉ có thực quản phình to 1 cách đặc trưng Trong biểu mô có rất nhiều tuyến và quá trình tiết chất nhầy
sẽ di chuyển thức ăn bên trong Thành thực quản có hệ thống cơ rất chắc (cơ tròn) (Jaroslaw Olaw Horbanczuk, 2002) Dạ dày của Đà điểu bao gồm 1 phần tuyến và 1 phần cơ (mề) Khác với hầu hết các loài chim, chức năng tiêu hoá của men hay dịch vị nằm trong giới hạn một vùng ở trên bờ cong lớn của
mề Diện tích vùng này là 1 × 5 × 24 cm, chiếm 25% diện tích bên trong vùng
dạ dày truyền đồng thời có chức 300 tuyến, tuyến này tiết ra axit Clohydric và men Pepxin
Phần nối giữa dạ dày tuyến và dạ dày cơ đủ rộng để cho thức ăn chuyển
từ dạ dày tuyến vào dạ dày cơ (mề) và được nghiền nát trong này
Trang 11Trong phần tuyến, thức ăn phụ thuộc vào hoạt động của các enzyme tiêu hoá (pH = 2,8 trong cơ quan này) trong khi đó ở mề thức ăn ăn vào và bị tiêu hoá
1 phần tiếp tục bị nghiền với sự hỗ trợ của đá và sỏi mà chúng đã nuốt vào bụng Mề của 1 con Đà điểu trưởng thành có thể chứa được 1,5 kg đá (Jaroslaw Olaw Horbanczuk, 2002) Độ dày của các cơ trong thành dạ dày đạt 92mm và bao gồm chủ yếu các cơ mề và được bao bọc bởi 1 biểu mô có các nếp gấp sâu Phần còn lại trong mề tiếp tục di chuyển xuống dưới ruột non nơi có vô số các tuyến sẽ tiết ra dịch ruột Màng chất nhầy có hình dạng của lông thành ruột - sự chuyển của chúng sẽ khiến hấp thụ được 1 phần chất dinh dưỡng Tá tràng cuộn tròn với tuyến tuỵ nằm ở giữa chúng ở đà điểu còn một đoạn tá tràng nữa với các đoạn gấp khúc nằm phía bên trái (Từ giữa bụng tới phần cuối bụng) Ở đà điểu nếu rạch một đường giữa bụng ta có thể thấy 2 manh tràng lớn nằm vắt chéo từ bên phải sang trái theo hướng đuôi, chúng có nhiều nếp gấp tạo nên một cái túi Đôi manh tràng khá dài (mỗi phần dài 50 –
100 cm) có dạng gấp xoáy trôn ốc bên trong có màng chất nhầy khiến cho quá trình trộn thành phần tiêu hoá được thực hiện, đồng thời kích thích quá trình lên men Ruột già của đà điểu cuộn thành nhiều đoạn gấp khúc nằm ở phần bên phải của phần dưới bụng (gần đuôi) dài khoảng 10 - 12 m Ngoài chức năng hấp thụ nước thì quá trình lên men các thành phần tiêu hoá sẽ xảy ra ở
đó (tương tự như trong manh tràng) Do sự có mặt của các vi thực vật nên chất sơ cũng được tiêu hoá và sản sinh ra các axit béo không ổn định chủ yếu
là acetic, propionic, butyric và valeric mà sau khi hấp thụ sẽ cung cấp 76% tất
cả các năng lượng có chuyển hoá cần thiết cho nhu cầu của Đà điểu Khác với các loại gia cầm khác, Đà điểu thải phân và nước tiểu ra ngoài theo các đường khác nhau
Tổng chiều dài trung bình đường tiêu hoá của Đà điểu trưởng thành với cân nặng 105 - 131 kg sống trong tự nhiên lên tới khoảng 24m (với hầu hết
Trang 12chiều dài là thực quản và 2 phần của manh tràng) Chiều dài đường tiêu hoá (không có thực quản) của con non như sau: 1.090cm với trọng lượng cơ thể 7kg ;1.236 cm với 21 kg và 1.562 cm với 46 kg Ruột non là phần dài nhất của đường tiêu hoá - khoảng 50% trong tổng số Ở đà điểu sự kéo dài của phần ruột sau, nhất là sự phát triển của manh tràng là một biến đổi đặc trưng của bộ máy tiêu hoá để thích ứng với tiêu hoá thức ăn thô xanh đã so sánh tỷ
lệ phần trăm ruột già và đôi manh tràng so với chiều dài đường tiêu hoá (kể từ ruột non) ở Đà điểu, Emu và gà lần lượt là: 64%, 11,5%, 10% Đà điểu 45kg
có chiều dài ruột non là 5,4m, ruột già là 8,6m, chiều dài đôi manh tràng là 1,29m Sự kéo dài của phần ruột sau của đà điểu cũng như quá trình tiêu hoá vi sinh vật đã làm chậm tốc độ chuyển hoá thức ăn và vào khoảng 32 - 48h so với 6h
ở Emu và 4h ở gà ở đà điểu non (5 - 10 kg) có tốc độ tiêu hoá thức ăn rất chậm:
39 h
Sinh lý tiêu hoá của đà điểu dường như rất khác so với các loại gia cầm khác Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn các nhu cầu dinh dưỡng để đáp ứng cho ngành chăn nuôi mới mẻ này là rất cần thiết
2.2.3.2 Thức ăn xanh trong chăn nuôi đà điểu
Trong tự nhiên, đà điểu chủ yếu ăn cỏ Sau khi thuần hoá chúng vẫn được nuôi rộng rãi trên cánh đồng cỏ hoặc thảm cỏ thực vật tự nhiên Sống trên vùng Xavan Châu Phi rìa xa mạc với đặc điểm thảm thực vật rất hạn chế
và nghèo nàn nên Ostrich có khả năng tận dụng thức ăn tốt hơn bò Zebu, cừu hay dê, vì thế lý giải tại sao nhu cầu dinh dưỡng của chúng lại thấp đến như vậy (Kreibich A.J, Sommer M, 1994)
Những nỗ lực đầu tiên cho chăn nuôi đà điểu chỉ để lấy lông, sau này
da và thịt mới trở thành một ngành công nghiệp đòi hỏi đà điểu phải tăng trọng , phát triển nhanh cho nên người ta chỉ chú trọng cho ăn thức ăn tinh Nhưng cho ăn chuyên sâu trên cơ sở loại thức ăn tinh đắt đỏ có chứa hàm
Trang 13lượng thức ăn tinh và cacbon-hydrat cao là phi kinh tế do Ostrich càng trưởng thành thì khả năng tận dụng hữu hiệu thức ăn có chứa hàm lượng xơ cao.
Thức ăn xanh là loại thức ăn mà đà điểu thường xuyên sử dụng ở dạng tươi, bao gồm các loại rau, cỏ trồng, cỏ tự nhiên Thức ăn xanh chiếm tỷ lệ cao trong khẩu phần của đà điểu…Đây là loại thức ăn dễ tiêu hoá, có tính ngon miệng, dễ trồng và cho năng suất cao Đây là loại thức ăn rẻ tiền, có giá trị dinh dưỡng cao, giầu vitamin, như: vitamin nhóm B, vitamin E, caroten…
ở một số loại cỏ cón có chứa một số axit amin như: arginin, axit glutamic, lyzin…
Do cấu trúc đặc trưng của hệ thống tiêu hoá nên thức ăn thô xanh đóng vai trò rất lớn trong chăn nuôi đà điểu Thức ăn xanh không những cung cấp cho đà điểu chất dinh dưỡng, nguồn nước tinh khiết, chất khoáng, vitamin mà còn có tác dụng nhuận tràng, tăng cường nhu động ruột, giúp cho đà điểu hoàn thiện chức năng tiêu hóa.Theo Swart và cs thì đà điểu có khả năng tiêu hóa được từ 38-60% chất xơ trong khẩu phần đồng thời cung cấp khoảng 76% tổng nhu cầu năng lượng trao đổi của cơ thể
Tỉ phần cỏ xanh trong khẩu phần thức ăn của con trưởng thành có thể đạt tới 60% khẩu phần ăn hàng ngày, do đó chi phí cho thức ăn giảm rõ rệt
Chính vì vậy việc nghiên cứu và sử dụng nguồn thức ăn thô xanh phù hợp cho từng lứa tuổi là rất cần thiết
2.2.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn
Đối với gia súc, gia cầm thức ăn được ăn một phần để duy trì cơ thể, còn một phần để tăng trọng và cho sản phẩm
Tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm của vật nuôi có liên quan trực tiếp tới đặc điểm, khả năng tiêu hoá và trao đổi chất ở cơ thể con vật Vì vậy tìm hiểu về đặc trưng đó giúp các nhà chăn nuôi có thể đưa ra chế độ dinh dưỡng cho phù hợp
Trang 14Hiệu quả sử dụng thức ăn được định nghĩa là mức độ tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm Trong chăn nuôi gia súc gia cầm lấy thịt, thì tăng trọng là kết quả của quá trình chuyển hoá thức ăn Tiêu tốn thức ăn được xác định bằng khối lượng thức ăn trên một đơn vị sản phẩm Đây là chỉ tiêu kinh
tế, kỹ thuật quan trọng, vì chi phí thức ăn chiếm tới 70% giá thành sản phẩm
Bảng 1.1 Kết quả nuôi đà điểu từ 1 – 12 tháng tuổi
Tuổi
(Tháng)
KL (kg)
STTĐ (g/con/ngày)
LTĂTN (g/con/ngày)
HQSDTĂ (kgTA/con)
STTĐ - Sinh trưởng tuyệt đốiLTATN - Lượng thức ăn thu nhậnHQSDTA - Hiệu quả sử dung thức ăn
Nguồn của Niekerk và Muller
Trang 15Hiệu quả sử dụng thức ăn thấp trong 3 tháng đầu cũng được Niekerk và Muller nhấn mạnh - đến 60 ngày tuổi và khối lượng cơ thể 11kg thì tỷ lệ tiêu tốn thức ăn vào khoảng 2kg (Bảng 1.1).
Cilliers, 1995 khi nghiên cứu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng đà điểu qua các tháng tuổi đã cho biết: ở các độ tuổi 1, 3, 6, 8, 10 và 12 tháng tuổi tiêu tốn thức ăn tăng dần và lần lượt là 2,1kg; 2,4 kg; 3,55kg; 5,18kg; 6,27kg
và 18,41 kg Theo Gabaldi, 1994 đà điểu 0 - 24 ngày tiêu tốn 1,62 kg thức ăn/kg tăng khối lượng Giai đoạn 25 - 91 ngày tiêu tốn 2,56kg Nghiên cứu của Swart, 1998 về tiêu tốn thức ăn của Đà điểu cho kết quả: vào thời điểm
đà điểu đạt 10-16kg tương ứng ở 57-76 ngày tuổi là 2,3/kg thức ăn/kg tăng khối lượng Khi chim đạt khối lượng 17-23kg tương ứng ở 79 - 94 ngày tuổi thì tiêu tốn là 2,2kg và lúc 24 - 30 kg ở 94 đến 116 ngày tuổi thì tiêu tốn thức ăn/kg khối lượng là 3,67 kg (Dẫn theo Nguyễn Khắc Thịnh 2005)
Từ những dẫn liệu trên của các tác giả, ta giả sử rằng nuôi 1 đà điểu
350 ngày với khối lượng đạt được là 100kg, thì chỉ cần 150kg thức ăn cho đà điểu đạt 50kg khối lượng ban đầu, còn lại trên 350kg thức ăn dành cho tăng 50kg khối lượng giai đoạn sau Chính vì vậy xác định được nhu cầu dinh dưỡng giai đoạn sau cho đà điểu là một điều cực kỳ quan trọng trong chăn nuôi đà điểu thịt
Tiêu tốn thức ăn ở gia cầm còn có mối tương quan di truyền với khả năng tăng khối lượng, Chambers và Cs, 1984 (Dẫn theo Nguyễn Huy Đạt, 1991) xác định hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và mức tăng khối lượng cơ thể với khối lượng thức ăn tiêu thụ rất cao: rg = 0,5 và 0,9, còn hệ số tương quan di truyền giữa sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn có giá trị
âm và rất biến động (rg từ - 0,2 đến - 0,8) Willnon, 1969 dự đoán rằng chọn lọc tính trạng khối lượng cơ thể có hiệu quả gấp 3 lần so với chọn lọc chuyển
Trang 16hoá thức ăn Trong khi chọn lọc về mức độ tăng khối lượng cơ thể sẽ kéo theo 75% hiệu quả sử dụng thức ăn.
Ngoài ra tiêu tốn thức ăn/đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tính biệt, khí hậu, thời tiết và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Do vậy để giảm được tiêu tốn thức ăn, hạ giá thành sản phẩm cần thiết phải có chế độ dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn tuổi, tạo môi trường chăn nuôi phù hợp với đặc điểm sinh lý của gia súc, gia cầm, kết hợp với quá trình chọn lọc
2.2.4 Cơ sở khoa học của sức sống và khả năng kháng bệnh
Tỷ lệ sống của gia cầm con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm, ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng Tỷ lệ sống được xác định bằng tỷ lệ % số
cá thể còn sống ở một giai đoạn so với các cá thể giai đoạn trước Khaveman,
1972 (Dẫn theo Nguyễn Khắc Thịnh 2005) cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ sống Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do sự có mặt của các gen nửa gây chết, nhưng phần lớn là do tác động của môi trường có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, chăm sóc nuôi dưỡng tốt Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng đề kháng cao với các bệnh truyền nhiễm, các bệnh do nguyên sinh động vật địa phương gây ra gà có sức đề kháng bẩm sinh đối với 3 bệnh: Bệnh bạch lị, thương hàn và bệnh bạch cầu (theo Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn Văn Thiện, Trịnh Đình Đạt, 1994)
Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm con còn phụ thuộc vào sức sống của đàn
bố mẹ Gia cầm mái đẻ tốt thì tỷ lệ nuôi sống của gia cầm con cao hơn so với gia cầm đẻ kém Động vật thích nghi tốt, thể hiện ở các đặc trưng: Giảm khối lượng cơ thể thấp nhất trong quá trình tiếp xúc với các Stress) như thiếu dinh dưỡng, vận chuyển), sức sinh sản cao, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp
Trang 17Đối với cơ thể sinh vật nói cho cùng, những biểu hiện sinh lý trong phản ứng Stress là tác động tương quan giữa gen và môi sinh trong đó tất nhiên chịu ảnh hưởng của các quy luật di truyền đa gen, trội, lặn, giới tính.
Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm Ngô Giản Luyện (1994) trong
cơ số di truyền và chọn giống động vật, Marco A.S và cộng sự, 1982 cho biết sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền của động vật, có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như ảnh khác của dịch bệnh Dikerson và Kempster,
1954, đã tính hệ số di truyền sức sống là 0,006 Sức sống được tính theo giai đoạn nuôi dưỡng khác nhau, gà con từ 0,28, 42, 56, 63 ngày tuổi, gà dò 43 đến 119 ngày tuổi, hậu bị 120 đến 161 ngày tuổi và gà đẻ 162 - 252 ngày hoặc hết 448 ngày Theo tài liệu của Gvora JF, 1990 hệ số di truyền của tỷ lệ chết
là 0,007 và hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 0,25 King, 1996, cho rằng:
Tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh phụ thuộc vào dòng, giống và tính biệt (Dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994)
Bên cạnh yếu tố di truyền, ngoại cảnh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm Trong đó nhiệt độ có ảnh hưởng lớn nhất, ngoài ra: Thức ăn, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tuổi gia cầm cũng có ảnh hưởng lớn
Theo Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên (1998) thì dù nuôi nhốt hay nuôi thả, quần thể (bầy đàn) gia cầm nuôi tập trung đều có số lượng khá đông đảo
Vì tác nhân chính của bệnh là vi khuẩn cho nên việc phòng dịch bệnh phải trở thành quan niệm một biện pháp bảo đảm an toàn sinh học
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC:
2.3.1 Tình hình nghiên cứu và chăn nuôi đà điểu trên thế giới
2 3.1.1 Tình hình ch n nuôi ă đà đ ể i u trên th gi i ế ớ :
Trang 18Các nước khác nhau gọi đà điểu bằng những tên khác nhau: Người A Rập gọi bằng tên Haama, Pháp: Autruche, Đức: Straub, Italy: Stuzz, Na Uy: Struts, Tây Ban Nha: Avestruz
Sau nhiều năm thuần hoá, đà điểu ngày nay không còn là động vật hoang dã nữa Những sản phẩm đà điểu sau quá trình phát triển 150 năm đã được đánh giá cao bởi ngày càng nhiều người tiêu dùng da, thịt, lông, trứng,
mỡ và xương đà điểu có thể được sử dụng sản xuất ra hàng trăm loại sản phẩm khác nhau
Hiện nay các nước Châu Phi như Nam Phi, Zimbabuwe, Namibia là những nước dẫn đầu về số lượng đà điểu nuôi, Nam Phi là quốc gia có tốc độ phát triển đà điểu mạnh nhất Tính trong giai đoạn 1860 - 1978, (Horbanczuk J.O, 2002)
Australia là nước có tiềm năng lớn về chăn nuôi đà điểu và đã bắt đầu ngay từ những năm 1860 Vào những năm 1882, chính quyền Úc đã thông qua một đạo luật khuyến khích một kỹ nghệ nuôi đà điểu Từ đó ngành chăn nuôi đà điểu Úc phát triển mạnh, nhưng cũng trải qua những bước thăng trầm Các nước Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Ba Lan, Hà Lan, Hungari, Bungari, Issaen, Trung Quốc, Malaixia là những nước có ngành chăn nuôi đà điểu phát triển mạnh Đà điểu ở Trung Quốc được giới thiệu lần đầu tiên năm 1992, trải qua quá trình phát triển hơn 10 năm, tới nay đã có hơn 20.000 con
Bảng số lượng đà điểu qua các năm ở Nam Phi
Năm Số lượng đà điểu nuôi Năm Số lượng đà điểu nuôi
Trang 19Bảng số lượng đà điểu ở một số nước trên thế giới năm 1996
Tên nước Đà điểu giống Đà điểu nuôi thịt Số trang trại
Trang 20* Nghiên cứu về sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn và khả năng cho thịt
Sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn và khả năng cho thịt được coi là vấn dề trọng tâm trong chăn nuôi đà điểu lấy thịt Sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp đồng thời đạt năng suất và chất lượng thịt cao luôn được đặt ra Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
Theo Dolensek và Bruning, 1978 : trong một dây chuyền sản xuất đà điểu thương phẩm thì thời gian đạt đến độ thành thục để có thể đưa vào giết
mổ là rất quan trọng Van Nieker, 1996 - 197 đã xác định độ tuổi của đà điểu nuôi để giết thịt ở 10 tháng là hiệu quả nhất bởi sau đó hiệu quả chuyển hoá thức ăn sẽ rất thấp Các tác giả cũng đã nhấn mạnh rằng: đà điểu con tăng khối lượng rất nhanh nên thường xuyên có những thay đổi về sự mất cân đối hay thiếu hụt các chấp dinh dưỡng Do vậy trong vòng 12 tuần tuổi đầu tiên thì dinh dưỡng là vấn đề quan trọng nhất
Như vậy, đối với đà điểu, chất xơ trong khẩu phần ăn đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên chúng chỉ cần lượng thích hợp đối với từng giai đoạn phát triển của cơ thể Các công trình nghiên cứu của Fleig, 1973 ; Van Heerden và cộng sự, 1983; Vorster, 1984; Abawi và Sullivan, 1989; Rea, 1992; Angel,
1993 đã nghiên cứu về tầm quan trọng của các vitamin đối với sinh trưởng và phát triển của đà điểu Các tác giả cho thấy vitamin E có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình oxy hoá sinh học, sự thiếu hụt vitamin này gây ra những rối loạn các chức năng sinh lý Việc cung cấp quá mức vitamin A sẽ làm giảm hấp thu vitamin E Nếu chim được nuôi bằng khẩu phần có cỏ và ngô thích hợp thì không có sự thiếu hụt vitamin nhóm B
Khoáng chất cho đà điểu cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu như: Van Heerden và cộng sự, 1983; Vorster, 1984; Angel, 1993 Các tác giả đã đề nghị sử dụng các loại khoáng chất trên cơ sở các giữ liệu của gia cầm
Trang 21Như vậy dinh dưỡng có vai trò hết sức quan trọng không chỉ cho sinh trưởng mà còn liên quan tới sức khoẻ, bệnh tật và tỷ lệ chết Dinh dưỡng không đầy đủ, cân đối, kém chất lượng là nguyên nhân giảm tăng khối lượng, gây dị dạng bộ xương và giảm sức đề kháng đối với bệnh tật Đà điểu là loại động vật dễ thích nghi, chúng sẽ sinh trưởng tốt trong điều kiện tương đối thuận lợi mặc dù chưa phải là hoàn hảo nhưng dinh dưỡng kém sẽ ảnh hưởng đến hấp thụ thức ăn và sự sinh trưởng (Demming và Cs, 1996 ).
* Những nghiên cứu về sức sống và khả năng kháng bệnh
Đà điểu do thuần dưỡng chưa lâu nên chúng thể hiện tính tự nhiên, hoang dã cao Khi được nuôi trong điều kiện nhân tạo không hợp lý thì tỷ lệ chết sẽ cao bởi Stress và các bệnh khác như ở gia cầm, nhất là đối với chim non Sức sống và khả năng kháng bệnh được nhiều nhà khoa học quan tâm
Đà điểu là loài chim chạy nên đôi chân có vai trò rất quan trọng đối với chức năng vận động cũng như đời sống của chúng Các bệnh về chân của đà điểu đã được tác giả cho biết như: bệnh yếu chân, trẹo gân, cong chân, chân bẹt, sưng khớp gối và biến dạng xương ống Các nguyên nhân đã được chỉ ra là: cho ăn quá mức, thiếu Ca, P và vitamin D3 (theo Gandini và cộng sự, 1986; Stewart, 1989, do thiếu vitamin E hoặc silic (Dolesneck và Bruning,
1978, Van Heerden và Cs, 1983 , do thiếu Methionine hoặc Choline (Fleig,
1973 ), do thiếu kẽm hoặc Mangan (Stewart, 1989) Bezuidenhout và Burger,
1993 cho thấy: 6,3% đà điểu non được nuôi với khẩu phần tuỳ tiện đã bị loại thải do các vấn đề về chân Dick và Deeming, 1996 cho biết: chân dị dạng có thể do dinh dưỡng bố mẹ hoặc kỹ thuật ấp nở kém, sàn nhà quá trơn nhưng 5% do bệnh lý Bong gân chân có thể do dinh dưỡng thiếu Mn, Ca hoặc tỷ lệ các chất không cân đối Stewart, 1989 đã đề nghị giải quyết vấn đề này bằng cách giảm lượng ăn vào và tăng cường vận động
Các bệnh truyền nhiễm, bệnh đường tiêu hoá, bệnh do Stress, do dinh dưỡng, do chấn thương đã được một số tác giả nghiên cứu Cũng đã có
Trang 22những công trình nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu huyết học để xác định lâm sàng bệnh và tình trạng sức khỏe của đà điểu cho kết quả tốt.
2.3.2 Tình hình nghiên cứu và chăn nuôi đà điểu ở Việt Nam
Ở nước ta, chăn nuôi đà điểu còn hết sức mới mẻ Trong những năm qua việc nuôi chúng chỉ ở một số vườn thú với số lượng ít ỏi nhằm phục vụ nhu cầu du lịch Gần đây chúng ta mới nhập một số lượng tương đối lớn đà điểu để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và từng bước phát triển ngành chăn nuôi động vật mới này để lấy thịt
Tháng 11 năm 1996, Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thuỵ Phương - Viện chăn nuôi là đơn vị tiếp nhận 100 trứng đà điểu Châu Phi (Đà điểu) nhập
từ Zimbabwe để nghiên cứu từ khâu ấp nở đến quá trình nuôi dưỡng với mục tiêu phát triển chăn nuôi đà điểu ở Việt Nam, đồng thời góp phần làm đa dạng các giống gia cầm nước ta thế kỷ 21 Tập thể các tác giả Trần Công Xuân, Nguyễn Đăng Vang, Hoàng Văn Lộc, Bạch Thị Thanh Dân, Nguyễn Văn Việt, Phùng Đức Tiến, Nguyễn Quý Khiêm, Nguyễn Đức Vực, Nguyễn Khắc Thịnh, 1998 đã nghiên cứu một số nội dung về loài vật nuôi mới này Kết quả nghiên cứu được công bố như sau:
+ Đà điểu có khả năng sinh trưởng rất cao: Khối lượng sơ sinh: 0,926 kg/ con; 3 tháng tuổi: 24,84 kg/con; 6 tháng tuổi: 59,15 kg/con; 12 thán tuổi đạt 111,3 kg/con; đến 16 tháng tuổi, khối lượng con trống đạt 129,8 kg/con và con mái là 111,25 kg/con Tăng khối lượng trung bình trong giai đoạn 1 - 3 tháng tuổi đạt 1702 g/con/tuần ; giai đoạn 4 - 16 tháng tuổi là: 7,66 kg/con/tháng
+ Tiêu tốn thức ăn (TTTĂ)/kg tăng khối lượng đến 3 tháng tuổi, thức ăn (TĂ) tinh 2,24 kg, TĂ xanh 3,81 kg, 6 tháng tuổi, TĂ tinh 1,95kg, TĂ xanh 2,8kg, 9 tháng tuổi, TĂ tinh 2,859 kg, TĂ xanh 3,91 kg, 12 tháng tuổi, TĂ tinh 3,76 kg, TĂ xanh 4,53kg, 16 tháng tuổi TĂ tinh 5,40 kg, TĂ xanh 5,14 kg
Trang 23+ Tỷ lệ nuôi sống đến 16 tháng tuổi đạt 72,9% Trong quá trình nuôi chưa thấy xuất hiện bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh về khớp liên quan đến xương ống chân rất cao (41%), chết do nguyên nhân này là cơ bản.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đàn đà điểu nuôi tại Việt Nam đạt được các chỉ tiêu tương đương với nơi xuất xứ Điều này thể hiện rằng điều kiện tự nhiên nước ta phù hợp với việc phát triển nghành chăn nuôi động vật mới này Năm 1997, Nhà nước đã chính thức phê duyệt dự án nghiên cứu và phát triển chăn nuôi đà điểu tại Việt Nam, do Trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thuỵ Phương - Viện chăn nuôi thực hiện Nguồn đà điểu nhập từ úc với số lượng là
150 con, bao gồm 115 con lai 3 - 4 tháng tuổi và 35 con loại 8 - 9 tháng tuổi Nhiều đề tài đã được triển khai nghiên cứu và đã đưa ra những kết luận sau (Phùng Đức Tiến và Cs, 2004):
-.Giai đoạn nuôi gột úm: sơ sinh - 3 tháng tuổi
Khối lượng sơ sinh 0,8 - 1,0 kg/con, khối lượng cuối giai đoạn 19 - 22kg/con Tỷ lệ nuôi sống 77 - 85%, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng: thức ăn tinh 1,86 kg, thức ăn xanh 2,28 kg
- Giai đoạn đà điểu con 3- 6 tháng tuổi
Tỷ lệ nuôi sống 90 - 95%, khối lượng cuối giai đoạn 50 - 53kg/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng: thức ăn tinh 2,99 kg, thức ăn xanh 4,34 kg
- Giai đoạn đà điểu con 6-12 tháng tuổi:
Tỉ lệ nuôi sống 95 - 98%, khối lượng cơ thể con trống 105 - 110 kg/con, con mái : 88 - 95kg/con Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng: thức ăn tinh 6,0 - 6,2 kg, thức ăn xanh 4 - 4,5 kg (Nếu nuôi thịt giết mổ lúc 10 - 12 tháng tuổi)
- Giai đoạn nuôi dò, hậu bị: 12 - 24 tháng tuổi
Trang 24Tỷ lệ nuôi sống 97 - 98%, tỷ lệ chọn lọc lên đẻ: 80 - 85% Khối lượng
cơ thể con trống 125 - 140kg/con, con mái 90 - 115 kg/con Cho ăn thức ăn tinh 1,3 - 1,4 kg/con/ngày, thức ăn xanh 1,0 - 1,5 kg/con/ngày
- Giai đoạn sinh sản.
Tỷ lệ nuôi sống: 96 - 98%, tuổi thành thục (đà điểu úc) đối với con trống ≥ 30 tháng, con mái: ≥ 24 tháng,tỷ lệ ghép trống mái: từ 1/2 đến 1/3 Mức ăn thức ăn: thức ăn tinh 1,6 - 1,7 kg/con/ngày, thức ăn xanh: tự do(thả đống cỏ) Sản lượng trứng/mái trong năm đẻ thứ nhất; thứ 2; thứ 3; thứ4; lần lượt là 10-15 trứng; 25-30 trứng; 40- 43 trứng; 44- 47 trứng Chi phí thức ăn/trứng giống trong mùa sinh sản (8 tháng đẻ) của năm đẻ thứ nhất là 20,4 kg/trứng, năm đẻ thứ hai là 9,0 - 13,6kg/trứng.Tỉ lệ phôi đạt 60 - 80%, tỉ lệ nở/phôi từ 70 - 75%, tỉ lệ ấp nở/trứng ấp đạt 48,7 - 50,4%
Nghiên cứu của Trần Công Xuân, Phùng Đức Tiến, và cs (2004) cho rằng: Trong chăn nuôi đà điểu thịt thì mức prôtein trong khẩu phần thức ăn ảnh hưởng tốt nhất tới khả năng sinh trưởng của đà điểu ở các giai đoạn: 2 - 3;
4 - 6; 7 - 9 và 10 - 12 tháng tuổi tương ứng với các mức 19; 17; 15 và 13% Mức năng lượng tốt nhất trong khẩu phần giai đoạn: 2 - 3; 4 - 6; 7 - 9 và 10 -
12 tháng tuổi tương ứng là 2800; 2600; 2500 và 2300 kcal/kg thức ăn
Như vậy, kể từ khi đà điểu có mặt tại Việt Nam trong 9 năm qua, thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học về đặc điểm sinh học, giống, dinh dưỡng thức ăn, thú y phòng bệnh Qui trình kỹ thuật chăn nuôi đà điểu ngày càng được hoàn thiện, cùng với những khởi động tích cực của thị trường, chăn nuôi
đà điểu đã phát triển ra cả 3 miền Bắc, Trung, Nam và đạt được những kết quả tốt Từ năm 2001 đến 2003 Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương
đã đưa vào sản xuất trên 3000 con giống khắp các vùng miền Riêng trong năm 2004 Trung tâm dự kiến chuyển giao vào sản xuất 2000 đà điểu giống Hiện nay nước ta đã hình thành một số trang trại nuôi đà điểu với qui mô lớn mang tính sản xuất hàng hoá tạo thêm nghề mới cho người nông dân
Trang 25PHẦN THỨ BA NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
+ Đà điểu giai đoạn nuôi từ 0 - 3 tháng tuổi
+ Sử dụng 3 loại thức ăn xanh: Rau muống; Rau lấp; Chè đại
3.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
+ Đề tài được thực hiện tại Trại nghiên cứu đà điểu Ba Vì - Hà Tây Thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương
+ Thời gian thực hiện từ tháng 11/2005 đến 01/2006
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
+ Xác định khả năng thu nhận thức ăn xanh của đà điểu
+ Xác định ảnh hưởng của một số loại thức ăn thô xanh đến sức sinh trưởng của đà điểu từ 0 – 3 tháng tuổi
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Lô II(n=20)
Lô III(n=20)
Các lô thí nghiệm đà điểu được nuôi bảo đảm quy trình về chế độ chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh
Trang 26Bảng 2: Khẩu phần của thức ăn hỗn hợp
Cả 3 lô sử dụng thức ăn tinh đều chế độ dinh dưỡng
+ Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng:
- Cả 3 lô được chăm sóc nuôi dưỡng đồng đều
- Chuồng úm yên tĩnh, cao ráo
- Chuồng úm đảm bảo độ ấm
Trang 27- Sân chơi đảm bảo diện tích, nền sân mềm, không có dị vật.
- Dụng cụ chăn nuôi, máng ăn, máng uống được đảm bảo vô trùng không sắc nhọn, thuận tiẹn cho đà điểu ăn và vệ sinh chăm sóc
3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
+ Tỷ lệ nuôi sống:
Số đà điểu cuối kỳ ( con )
Số đà điểu đầu kỳ ( con )
+ Khả năng sinh trưởng:
- Sinh trưởng tích luỹ
Khối lượng cơ thể được cân theo tuần tuổi vào một ngày giờ nhất định, cân trước khi cho ăn, cân từng con một Dùng cân có độ chính xác ± 0,5 (g)
- Sinh trưởng tuyệt đối
Là sự gia tăng về khối lượng sống trung bình trong một ngày đêm hay sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể vóc cơ thể trong một khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN – 2.39.1977)
P2-P1
A =
t2-t1
Trong đó:
A - Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
P 1 - Khối lượng đà điểu cân tại thời điểm t1 (g)
P 2 - Khối lượngđà điểu cân tại thời điểm t2 (g)
t 1 - Thời gian cân đà điểu lần trước (ngày)
t 2 - Thời gian cân đà điểu lần sau (ngày)
- Sinh trưởng tương đối