Như vậy,hình ảnh của các sự vật hình thành thông qua hoạt động ý thức của tôi, còn sựthống nhất của chúng tuỳ thuộc vào sự thống nhất của hình ảnh thế giới của tôi.Theo Hiện tượng học, n
Trang 1Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học
01:28, 17 - October - 2012 2 Lý thuyết phê bình no comments
Trương Đăng Dung
Nghiên cứu văn học là để hiểu văn học, đối tượng cụ thể là tác phẩm văn học Cơ
sở và xuất phát điểm của khoa học văn học là sự đối thoại với các văn bản văn
về sự phức tạp mang tính chất triết học của vấn đề này ([1]) Lí luận văn học cómặt khi chúng ta tìm cách hiểu văn học và nhận ra rằng tác phẩm văn học ẩnchứa những thông điệp mang nhiều nghĩa khác nhau, luôn biến động và khôngthể khoanh vùng; khi chúng ta muốn đối thoại với nó nhưng có cái gì đó thườngxuyên tạo ra khoảng cách và sự hiểu lầm, không cho ta ý nghĩa chung mong đợi
văn học liên quan đến người đọc, chính sự thay đổi này là nguồn gốc của những
tranh luận về phương thức chiếm lĩnh thẩm mĩ tác phẩm văn học, về nghĩa và ý
nghĩa của tác phẩm văn học Các tác phẩm văn học mới luôn luôn đòi hỏi những
hình thức lí giải mới; trước tác động và ảnh hưởng của những tác phẩm này,không chỉ chúng mà cả những tác phẩm khác trong quá khứ cũng có thể đọc lạimột cách khác trước Không có tác phẩm văn học nào tồn tại khép kín, với một
vẻ mặt duy nhất dành cho tất cả mọi người đến với nó Tác phẩm văn học cũng
“không phải là tượng đài kỉ niệm thể hiện tính chất phi thời gian trong hình thứcđộc thoại của nó” (H.R Jauss) Nhưng mỗi cách lí giải tác phẩm đều phản ánh
những yếu tố chủ quan trong việc đọc và hiểu tác phẩm Hoạt động đọc của chủ thể tiếp nhận là hoạt động của ý thức chủ quan hướng tới khách thể là văn bản văn
học Không phải ngẫu nhiên Hiện tượng học đã tạo ra những đột biến quan
lí luận văn học thế kỉ XX? Các nhà lí luận văn học hiện đại đã vận dụng thành công như thế nào những quan điểm của Hiện tượng học trong việc nghiên cứu phương thức tồn tại của tác phẩm văn học? Cơ sở nào để mĩ học tiếp nhận, như một biến thể của chú giải học triết học, khẳng định vai trò quan trọng của nó trước mĩ học sáng tạo truyền thống?
Đó là những vấn đề chúng tôi muốn đề cập đến trong bài viết này
IGiữa các trào lưu triết học nổi lên đầu thế kỉ XX thì ảnh hưởng của Hiện tượnghọc lan rộng đến tận ngày nay, nhất là trên lĩnh vực nghiên cứu lí luận văn học
Trang 2đầu tiên ở phương Tây, trong các trường phái phân tích tác phẩm khác nhau như
phải nói ngay rằng trên lĩnh vực lí luận văn học thì chỉ có Roman Ingarden(Balan) là người vận dụng Hiện tượng học một cách triệt để và hiệu quả nhất với
nhưng trong bài viết này mới có điều kiện nghiên cứu sâu hơn
Vẫn là những vấn đề cơ bản của triết học, nhưng Hiện tượng học bắt đầu bằngbản thể học, nó loại trừ thế giới như là khách thể tự thân, để nhấn mạnh sự sinhthành của cái thế giới có giá trị siêu nghiệm thông qua hoạt động ý thức chủquan có tác dụng tạo lập Theo Edmund Husserl([3]), chúng ta không thể tin vào
sự tồn tại độc lập của các sự vật, chúng ta chỉ có thể biết được rằng đối tượng,khách thể của nhận thức, không tồn tại ngoài ý thức của chủ thể đang hướng vào
nó Tiêu chuẩn của chân lí là những cảm thụ mang tính cá nhân của chủ thể Các
khách thể chỉ có được thông qua ý thức như là những sự vật có ý hướng Mọi ýthức đều là ý thức về một cái gì đó: nếu tôi suy nghĩ thì tôi biết rằng ý nghĩ củatôi “hướng tới” một đối tượng nào đó Hoạt động tư duy và đối tượng của nhậnthức gặp nhau trong mối quan hệ bên trong và tuỳ thuộc lẫn nhau Đối tượngđược tạo ra do trực giác hướng vào nó Như vậy, khái niệm trung tâm của Hiện
tượng học là tính chủ ý của ý thức nhằm vào khách thể, không có khách thể nếu
không có chủ thể! Thế giới chỉ tồn tại thông qua tôi mà tôi thì tồn tại trong nó Ýthức không thụ động mà luôn chủ động tạo lập và ý hướng thế giới Nếu tôimuốn thâu tóm một cái gì đó thì trước hết phải bỏ qua, cho vào ngoặc đơn, tất cả
giới bên ngoài cho phù hợp với nội dung của ý thức Tất cả những gì khôngthuộc về ý thức một cách nghiêm túc đều bị gạt bỏ; tất cả mọi dữ kiện đều cầnphải đối xử như là “hiện tượng” trong những giới hạn của hoạt động ý thức
Hoạt động này gọi là sự qui giản hiện tượng mà Husserl luôn nhấn mạnh Nói một
cách khái quát, nếu chúng ta muốn nắm bắt một hiện tượng thì chúng ta cầnphải nắm bắt cái mà trong hiện tượng đó là bản chất và bất biến! Phải trở về vớichính sự vật và tìm lại ý nghĩa của bản thể trong sự phong phú về chân lí của
nó([4]) Hiện tượng học phát hiện ra cái bản thể đích thực của “vật tồn tại” là bản
thể được tạo lập trong tính chủ quan siêu nghiệm Thế giới không phải là sự tồn
tại của những hiện thực vật chất tự thân mà là những đối tượng có chủ định của
ý thức con người Giữa con người và thế giới tự nhiên không phải được kết nối
bằng các mối liên hệ nhân quả mà bằng các quan hệ hiện tượng học Các sự vật chỉ tồn tại đối với tôi khi tôi tri giác chúng Sự chủ ý của ý thức không chỉ là hoạt
Trang 3động mang lại ý nghĩa, thậm chí không chỉ tạo ý nghĩa cho hiện tượng mà thực
ra nó còn tổ chức và tạo lập hiện tượng Xét về phương diện nhận thức luận, quan
điểm Hiện tượng học của Husserl là quan điểm liên kết sự chủ thể hoá con người
và sự khách thể hoá thế giới Nghĩa là Husserl không phủ nhận tính khách quancủa thế giới, nhưng lại quan niệm thế giới này là tập hợp của những sự vật rơi
vãi hỗn loạn mà ý nghĩa của chúng chỉ có được thông qua hoạt động ý thức của
con người Tức là không phải các sự vật chủ động tác động vào ý thức, mà ngượclại, ý thức chủ động tạo ra mối quan hệ năng động giữa nó và sự vật Như vậy,hình ảnh của các sự vật hình thành thông qua hoạt động ý thức của tôi, còn sựthống nhất của chúng tuỳ thuộc vào sự thống nhất của hình ảnh thế giới của tôi.Theo Hiện tượng học, nhận thức là sản phẩm của chủ thể tồn tại và hoạt động
trong hiện thực độc lập, không thể tách biệt bản chất và hiện tượng Hiện tượng
không phải là bộ phận mang tính chất kết cấu bên trong mà là tổng số nhữnghiểu biết của tôi liên quan đến sự vật Lúc này, hiện tượng là cơ sở của nhậnthức Hiện tượng phụ thuộc vào việc tôi tiếp cận sự vật bằng những công cụ nhưthế nào, tôi có quan hệ và sử dụng quan hệ đó ra sao đối với sự vật Điều nàykhẳng định rằng mặc dù có liên quan và là hình ảnh của sự vật, nhưng hiệntượng là cái được xác định thông qua tôi Hiện tượng mang tính chủ quan mạnhmẽ
Cần nói thêm là Husserl không chỉ bác bỏ chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa tâm
lí,chủ nghĩa thực chứng của khoa học tự nhiên mà còn tự cho là mình đã cắt đứtvới chủ nghĩa duy tâm cổ điển của Kant([5]) Hiện tượng học (nhất là trong các
chất đích thực của các sự vật có trong nhận thức thuần tuý, sẽ vượt lên chủ nghĩahoài nghi Hiện tượng học vừa muốn chứng tỏ khả năng nhận thức thế giới, vừatạo lập vị thế trung tâm của chủ thể con người Nếu chúng ta nhớ lại từ cuối thế
kỉ XIX, lịch sử châu Âu tỏ ra nghi ngờ quan điểm cho rằng con người làm chủ sốphận của nó và nó có thể duy trì được vị trí của mình như là tâm điểm sáng tạocủa thế giới thì chúng ta mới thấy hết cái nhìn đầy tự tin của Hiện tượng học vềcon người, về vai trò tích cực của con người trong quá trình nhận thức
Trước khi nghiên cứu ảnh hưởng của Hiện tượng học đối với khoa học văn học
động như thế nào đối với sáng tác văn học Có thể nói rằng thực ra ảnh hưởngtrực tiếp của Hiện tượng học đối với các nhà văn là không nổi bật như ở lĩnh vựctriết học Tuy vậy, sự xuất hiện của quan điểm mang tính chất hiện tượng học (về
Trang 4hiện thực) trong văn học thế kỉ XX là điều không thể không nói đến Và ngườichúng tôi muốn nói đến là Franz Kafka Ở các sáng tác của Kafka chúng ta khôngphải khó khăn lắm mới thấy được những yếu tố liên quan đến các quan điểmHiện tượng học Nếu hiện tượng học loại bỏ tâm lí thực chứng thì Franz Kafkacũng không quan tâm đến yếu tố tâm lí của nhân vật Nhà văn mô tả các sự kiện,tình huống, quá trình của nhân vật mà không rõ lí do, xuất xứ; hiện thực và ảoảnh lẫn lộn như thể không có sự khác biệt giữa thế giới hiện thực và sự phản ánh
nó trong ý thức Nhân vật của Kafka đi từ thế giới hiện thực đến thế giới giấc mơnhư thể giữa hai thế giới đó không có gì cách biệt Trong các tác phẩm của Franz
Kafka, thế giới không tồn tại độc lập, tự nó, mà tồn tại như là những nội dung ý
thức của các cá thể, những nội dung ý thức có chủ ý Trong một bài nghiên cứu
về thế giới nghệ thuật của Franz Kafka([7]) chúng tôi đã viết rằng nhà văn nàykhông nghi ngờ sự tồn tại của cái hiện thực độc lập với ý thức, nhưng ông khôngcho đó là hiện thực thuần nhất Những gì mà ông quan hệ trong cái thế giới hiệndiện đều có hình thù hai mặt Chúng vừa là chúng lại vừa là cái gì khác đầy bí ẩn
và không thể nắm bắt Mọi đồ vật như cái cặp, chiếc áo vắt trên ghế, hay cái răngduy nhất còn lại trong miệng gã xà ích, trong sự bất biến, chúng độc lập vớichính mình, mang thêm ý nghĩa biểu tượng và nói lên một chân lí nào đó trong
hình thức huyền thoại Trong con mắt của Kafka, mọi hiện tượng đơn lẻ đều nói về cái
bản chất chung, phổ quát nào đó Ông mang lại sự tồn tại có cảm xúc cho cái mà bản chất nó là trừu tượng([8]) Trường hợp Kafka chỉ là một trong những ví dụ tiêu
biểu về các nhà văn chịu ảnh hưởng của Hiện tượng học Thực ra trường pháitriết học này có ảnh hưởng đến nhiều văn nghệ sĩ ở các loại hình nghệ thuật khácnhau, không chỉ vào những năm đầu thế kỉ XX mà cho tới tận ngày nay([9]).Nhưng đó có thể sẽ là đề tài cho một bài viết khác, khuôn khổ của bài viết nàykhông cho phép chúng tôi đi sâu
Trong lĩnh vực phê bình văn học, phương pháp hiện tượng học được vận dụngnhiều trong các năm từ 1940-1950 ở Thụy Sĩ Trước đó, Hiện tượng học cũng ảnhhưởng phần nào đến trường phái hình thức Nga Xuất phát từ quan điểm của
Husserl cho rằng cần phải loại bỏ cái đối tượng hiện thực để chú ý tới hoạt động tri
giác, phê bình văn học cũng loại bỏ môi trường của sự sáng tạo và tiếp nhận văn
toàn tách biệt với mọi tác động bên ngoài làm mục đích Văn bản qui giản thành ý
bình văn học không được dựa vào bất cứ điều gì anh ta biết về tác giả, mà chỉ
cần chú ý đến những đặc điểm của ý thức tác giả xuất hiện trong tác phẩm Những
Trang 5đặc điểm của ý thức tác giả thể hiện ở đâu? Thể hiện ở phương thức mà nhà văn
đã trải nghiệm cái thế giới của mình qua việc sử dụng các đề tài và xây dựng cáchình tượng trong tác phẩm Thế giới của tác phẩm là cái hiện thực đã được nhà
tác phẩm là mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể theo tinh thần của Hiệntượng học, nhà phê bình hiện tượng học bằng lòng với thế giới của tác phẩm vănhọc trong quan hệ với nhà văn, cho đó là khách thể và bỏ qua thế giới hiện thực
bên ngoài Phê bình hiện tượng học chỉ khai thác cái thế giới của tác phẩm, né
tránh sự phân tích giá trị nhằm phục vụ những mục đích thực dụng của thế giới ngoài tác phẩm theo một hệ qui chiếu nào đó Phê bình hiện tượng học chỉ tiếp
nhận văn bản, thông qua việc đọc văn bản để chỉ ra cái bản chất của ý thức, của
hoạt động ý thức nhà văn trước đối tượng có ý hướng là thế giới của tác phẩm Có thể
nói đặc điểm này của phê bình hiện tượng học là hậu quả và kết quả của việc vậndụng quan điểm hiện tượng học, một học thuyết không chỉ “cho vào ngoặc” cáihiện thực “ở ngoài” ý thức, mà cả hiện thực bên trong ý thức là hiện thực tâm lí,
để tiếp cận cái ý thức “thuần tuý” (tiên nghiệm) hướng tới những hiện tượngthuần tuý chứa đựng bản chất Khi khám phá thế giới của tác phẩm, phê bìnhhiện tượng học phải vô tư, phải rũ bỏ mọi định kiến của chính nó, và trả lại mộtcách chính xác cái mà nó bắt gặp trong tác phẩm Ví dụ nếu phê bình một bài thơtình của Xuân Diệu thì không phải là để nói lên những phán xét giá trị (chẳng
và sự trải nghiệm đó như thế nào đối với nhà thơ
Với việc loại bỏ những yếu tố hiện thực, Hiện tượng học từ bỏ lịch sử, xã hội học,tâm lí học như là những công cụ giải thích các nguyên nhân Hiện tượng họckhông nghiên cứu các đối tượng theo nguyên lí nhân quả, vì chúng không phải
là những đối tượng của thế giới hiện thực, mà chúng là những hiện tượng Nói
cách khác, việc tiếp cận đối tượng theo Hiện tượng học là cách tự giải thích bản
thân Trên cơ sở triết học đó, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học theo Hiện
tượng học không cảm thấy cần thiết phải hỏi sự vật là tại sao như vậy Hiện tượng
học cố gắng nắm bắt cấu trúc thực chất của ý thức, cùng với nó là các hiện tượngthực chất Hiện tượng học không quan niệm một cách đơn giản tôi nhận thấy gì
khi tôi thoáng thấy một bông hoa đẹp, mà chỉ xem xét cái bản chất phổ quát của
hoạt động nhận biết những bông hoa đẹp nói chung Khi nói ý thức, là ý thức về
một cái gì đó ở chính nó và đòi hỏi một cái gì khác với bản thân nó, đó là đốitượng mà ý thức hướng tới Như vậy, sự vật chỉ tồn tại khi có hoạt động của ý
Trang 6thức hướng tới nó, tức là bản thể thật sự của vật tồn tại là bản thể được tạo lập trong
tính chủ quan tiên nghiệm Khi ý thức nắm bắt một sự việc nào đó, hay nói như
Husserl về tính chủ ý của ý thức, khi ý thức tạo ra sự việc nào đó thì lúc đó trong
ý thức cái sự việc nhất định đó đã có nhiều tầng bậc Vì thế trong việc mô tả sựsáng tạo tiên nghiệm nào đó của ý thức, cần phân biệt các cấp độ và tầng bậckhác nhau của sự vật được sáng tạo
*Các nhà lí luận văn học hiện đại đã vận dụng như thế nào những quan điểm trên
đây của Hiện tượng học trong việc nghiên cứu phương thức tồn tại của tác phẩm
văn học? Đây là vấn đề trọng tâm mà bài viết này đề cập, từ cái nhìn hiện tượng
học, chú giải học và mĩ học tiếp nhận đến cái nhìn riêng của chúng tôi
Cùng có chung một xuất phát điểm, nhưng không phải ai cũng vận dụng giốngnhau những thành tựu của một học thuyết nào đó Xuất phát từ Hiện tượng họccủa Husserl, nhưng Martin Heidegger đã phát triển lí thuyết này theo hướnghiện sinh, với các yếu tố phi lí, bất khả tri; còn cách Jean Paul Satre vận dụngnhững quan điểm Hiện tượng học vào chủ nghĩa hiện sinh ở Pháp lại khácHeidegger Trong lí luận văn học, tầm ảnh hưởng của Martin Heidegger lớn hơnnhiều so với tầm ảnh hưởng của Jean Paul Satre Trong một số bài viết trướcđây([10]) chúng tôi đã có dịp nói về một công trình lí luận văn học nổi tiếng mà từkhi ra đời đến nay đã thu hút mạnh mẽ sự chú ý của các nhà nghiên cứu, lí luận,
phê bình văn học trên thế giới, đó là công trình Tác phẩm văn học (1931) của
Roman Ingarden, nhà triết học hiện tượng học và nhà lí luận văn học Balan Ýnghĩa thực tiễn của công trình lí luận nghiên cứu về tác phẩm văn học này chỉsau này mới rõ Bản thân Roman Ingarden khi viết tác phẩm này chỉ cốt để làmsáng tỏ một số vấn đề triết học liên quan đến Edmund Husserl Là học trò xuấtsắc của Husserl, nhưng Ingarden đã không mở rộng chủ nghĩa duy tâm tiên
nghiệm, ông vẫn duy trì quan điểm về phương thức tồn tại hiện thực và lí
tưởng của tác phẩm văn học Theo cách phân tích đối tượng của Hiện tượng học,
R Ingarden cũng cho rằng tác phẩm văn học là vật có chủ ý Nguồn gốc sự tồn tại
của nó có trong các hoạt động của ý thức sáng tạo nơi tác giả, còn cơ sở của sựtồn tại chất thể thì ở trong văn bản Nhưng những hoạt động ý thức của nhà văn
không thuộc về tác phẩm mà chỉ là cơ sở tồn tại của tác phẩm mà thôi Roman Ingarden đã nhìn nhận tác phẩm văn học như là khách thể mang tính chủ ý Và
như một khách thể mang tính chủ ý thì đời sống của tác phẩm văn học cũng phụ
thuộc vào những hoạt động cụ thể hoá (đọc) có chủ ý của người đọc hướng tới nó Một
mặt, tồn tại một văn bản văn học như là sản phẩm sơ lược với những chỗ trống
Trang 7và những sự việc chưa xác định, giống như một bộ xương Mặt khác, thông qua
sự cụ thể hoá (đọc) như là hoạt động của ý thức hướng về nó mà bộ xương đượcđắp thêm da thịt, và tác phẩm hình thành Tính chất của sự cụ thể hoá này phụthuộc vào trình độ người đọc, và bản thân tác phẩm cũng hiện ra đúng với diệnmạo của nó nếu gặp được sự cụ thể hoá lí tưởng Sự cụ thể hoá này mỗi người
mỗi vẻ, không ai giống ai Như vậy, tác phẩm văn học là vật hai lần có ý
thức ([11]).
Roman Ingarden đã dành nhiều trang phân tích sự cụ thể hoá văn bản văn họccủa người đọc như là hoạt động có chủ ý của ý thức hướng tới đối tượng, theocách nói của Hiện tượng học Ông lưu ý đến sự khác biệt về mặt bản thể giữa tácphẩm và sự cụ thể hoá: Không phải sự cụ thể hoá, mà tác phẩm mới là đối tượngđược các hoạt động tiếp nhận hướng tới! Sự khác biệt này khó nhận ra, nhưng nótồn tại Khi đọc, văn bản có thể được cụ thể hoá khác với điều mà tác phẩm chỉ
ra, nó làm phong phú hoặc phương hại đến các giá trị của tác phẩm Các nghĩacủa từ và nghĩa của câu có những sắc thái không thể dịch được Trên cơ sởnhững kỉ niệm, khả năng tưởng tượng, người đọc có thể lấp đầy những chỗtrống của các sự việc được mô tả một cách thành công hoặc thất bại Những biểuhiện của các sự việc được cụ thể hoá một cách khác nhau qua từng người đọc cóthể làm mất đi sự đồng nhất của tác phẩm với chính nó Nếu không phân biệt tácphẩm và sự cụ thể hoá thì sức hấp dẫn của tác phẩm cũng bị triệt tiêu Thực mà
hư, hư mà thực, đặc điểm này làm nên sự hấp dẫn của tác phẩm văn học Cóđiều đó là nhờ các đối tượng được mô tả như là thật, nhưng trong thực tế chúng
là những sự vật có ý hướng Tác phẩm sẽ đánh mất giá trị thẩm mĩ nếu người tađọc nó với ý thức rằng nó hoàn toàn chỉ là hư cấu
Đời sống của tác phẩm cũng diễn ra trong sự cụ thể hoá Nhưng Ingarden không
hiểu chữ đời sống ở đây có nghĩa là tác phẩm ra đời, đạt tới giai đoạn đỉnh cao rồi rơi vào quên lãng vĩnh viễn, ông hiểu là nó phải có mặt, và sự hiện hữu của nó là
nhờ những hoạt động của ý thức chủ quan, những hoạt động này cũng có thểlàm cho thay đổi Chỉ có sự cụ thể hoá là biết tự thay đổi, tức là sự thay đổi chỉxuất hiện trong từng sự cụ thể hoá Những sự cụ thể hoá không phải là những bộphận của nhau, nhưng đều cùng thuộc về tác phẩm Chúng chỉ có ảnh hưởng lẫnnhau, có vai trò đối với nhau, nếu một người tiếp nhận biết được sự cụ thể hoátrước đó và anh ta thực hiện sự cụ thể hoá mới bằng việc ghi nhận những gì đãxẩy ra ở sự cụ thể hoá trước một cách có ý thức Chẳng hạn khi anh ta
đọc Truyện Kiều của Nguyễn Du nhiều lần và ở mỗi lần đọc mới anh ta lại chú ý
đến những lần đọc trước, hoặc những lần đọc trước tự tác động tiếp tục… Các
Trang 8thời kì văn hoá đều nhậy cảm với những giá trị thẩm mĩ khác nhau, chúng tạonên hàng loạt sự cụ thể hoá vượt xa tác phẩm, nhất là nếu có sự chuyển tiếp sự
Như vậy là có những sự cụ thể hoá hoặc các nhóm cụ thể hoá trở thành truyềnthống, hình thành một bầu không khí văn chương được những mối liên hệ chứcnăng gắn kết với toàn bộ bầu không khí văn hoá của thời đại([12]) Điều này chỉthay đổi khi có những thay đổi của môi trường văn hoá hoặc sự ra đời củanhững tác phẩm lớn cùng với lời giải thích mới Tác phẩm văn học phụ thuộcvào đó mà tàn lụi hoặc tái sinh Theo Ingarden, mọi tác phẩm văn học đều trảiqua giai đoạn người ta mới bắt đầu hiểu, tiếp theo đó là thời kì có nhiều sự cụ
thể hoá, sau đó là thời kì có ít sự cụ thể hoá Nhưng bản thân tác phẩm cũng có thể
thay đổi Ingarden cho rằng sự thay đổi này có hai loại: Sự thay đổi của một tầngbậc nào đó (ví dụ tầng bậc nghĩa) do áp đặt và sự thay đổi gắn liền với những sự
cụ thể hoá Tác phẩm văn học cũng có thể “chết” đi do ngôn ngữ của nó là ngônngữ chết, đánh mất những phẩm chất biểu thị, người ta phải vận dụng tri thứclịch sử để phục chế chúng, làm cho tác phẩm sống lại Tức là tác phẩm có thểthay đổi mà không đánh mất sự đồng nhất của nó Điều này chứng minh luận đề
của Ingarden cho rằng tác phẩm văn học không phải là vật lí tưởng mà là vật có ý
hướng.
Có một công trình lí luận văn học được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây,
nhận thấy ảnh hưởng của Roman Ingarden đối với các tác giả này Cuốn sách
của họ chia làm hai phần chính: phần viết về các phương pháp nội quan và ngoại
quan của khoa học văn học và phần viết về phương thức tồn tại của tác phẩm văn
học, chuẩn bị cho việc trao đổi về phương pháp nội quan Ở đây khái niệm nội
quan có nguồn gốc từ lí thuyết của Ingarden Cái mà Ingarden xem là thuộc về
tác phẩm thì phần lớn phương pháp ngoại quan lại không xem nó liên quan đến tác phẩm văn học Nhưng R Wellek cũng đã giải thích khái niệm tác phẩm đồng
nhất với chính nó, từ các quan điểm của trường phái ngôn ngữ học Praha Ông
xem tác phẩm là cấu trúc của các chuẩn mực, mặc dù Ingarden không đồng ý như
vậy Tuy nhiên trong ý kiến này của R.Wellek cũng cho thấy sự liên quan “kín
đáo” với quan niệm của R Ingarden Bởi vì R.Wellek không hiểu cái chuẩn
mực này như là chuẩn mực cổ điển, chuẩn mực đạo đức, mà đó là những chuẩn
mực ẩn chứa trong tác phẩm R.Wellek đã ví tác phẩm với Langue (ngôn ngữ)của Saussure, cái hệ thống cần phải phân biệt với Parole (lời nói), với hoạt động
nói của cá nhân Langue là hệ thống của các chuẩn mực mà trong Parole (lời nói)
Trang 9chúng không bao giờ được thực hiện hoàn toàn, nhưng chúng bảo đảm sự đồngnhất của những hiện tượng nói R Ingarden cũng đã lưu ý sự âm vang của lờinói và sự cụ thể hoá lời nói đều cho thấy mối quan hệ tương tự như mối quan hệ
giữa âm vị và âm phát ra trong ngôn ngữ học R Wellek đã lấy ví dụ này để minh
hoạ cho mối quan hệ giữa chuẩn mực và việc hiện thực hoá chuẩn mực: Giốngnhư một âm, chẳng hạn âm h, không thể có hai sự phát âm như nhau, thế nhưngvẫn luôn tồn tại âm h đồng nhất với chính nó Cũng như vậy, tác phẩm văn họckhông có hai sự cụ thể hoá (đọc) như nhau, nhưng lại có nhiều người cụ thể hoá
nó cùng một lúc R Wellek chia sẻ với quan điểm của Ingarden rằng tác phẩmvăn học có những sự cụ thể hoá tương ứng và không tương ứng, đúng và sai,những sự cụ thể hoá này so sánh với nhau và “so sánh” với tác phẩm văn học
đều có thể xếp hạng về sự đúng đắn Roman Ingarden đã viết: “Chúng tôi đã nhận
định từ trước rằng do tác phẩm văn học có những hoạt động chủ quan, vì vậy chỉ có thể làm thay đổi hoặc huỷ diệt nó bằng những hoạt động chủ quan tương tự… Trong những trường hợp này (ví dụ người ta cắt bỏ hoặc viết thêm một số câu khi tái bản –
T.Đ.D)người ta làm thay đổi tác phẩm một cách có ý thức và chủ ý Nhưng tác phẩm
văn học có thể thay đổi một cách không chủ ý Khi người ta đón nhận tác phẩm một cách đơn giản qua sự cụ thể hoá nào đó, thì sự thay đổi như thế có thể xẩy ra, nếu người đọc – như vẫn thường xẩy ra – không ý thức được cho bản thân những khả năng của sự cụ thể hoá đó cũng như sự khác biệt thật sự (và cần thiết) của nó so với tác phẩm, và cuối cùng
là không biết phân biệt sự cụ thể hoá và tác phẩm văn học Vì thế người đọc tuyệt đối hoá
sự cụ thể hoá đó, đồng nhất nó với tác phẩm và ngây thơ để ý tới tác phẩm được nghĩ ra này một cách có chủ ý Lúc này người đọc cho rằng những gì liên quan đến nội dung của sự cụ thể hoá đều là của tác phẩm… Tức là người đọc không làm sáng tỏ tác phẩm trước mọi sự hoen ố có thể bằng sự tiếp nhận thận trọng, phê phán, mà anh ta cưỡng ép
và làm thay đổi nó”([14])
Bản thân R Ingarden không theo mô hình ngôn ngữ học, ông dựa vào nhữngnguyên lí triết học chung đã có ảnh hưởng lớn đối với sự hình thành ngôn ngữhọc hiện đại Như vậy, có thể hiểu rằng ông đã không thừa nhận tính hiệu lựccủa mô hình ngôn ngữ Trong các công trình sau này, ông đã cương quyết phản
đối chủ nghĩa ngôn ngữ chỉ thấy trong tác phẩm văn học những đặc điểm ngôn
ngữ, muốn biến thi pháp thành bộ phận của ngôn ngữ Ở điểm này R Wellekcũng chia sẻ quan điểm với R Ingarden Năm 1960, R Wellek đã lên tiếng phảnđối chủ nghĩa cấu trúcvà thi pháp ngôn ngữ- kí hiệu học trong một cuộc Hộinghị quan trọng Cái mà ông đối lập ở đây là truyền thống cổ điển châu Âu của
Trang 10chú giải học mà trong phần viết về những vấn đề lịch sử văn học R Wellek đềcập đến.
Chúng tôi trở lại với công trình Tác phẩm văn học của Roman Ingarden để phân
tích thêm về những đóng góp và cả những giới hạn của tác phẩm này cho Hiệntượng học nói chung và lí luận văn học nói riêng Cùng với việc chỉ ra sự khácbiệt giữa tác phẩm và những sự cụ thể hoá mà chúng tôi đã phân tích ở trên,Ingarden còn cho thấy sự phân tầng của cấu trúc tác phẩm văn học Có thể nóitác giả đã vận dụng nguyên lí cấu trúc một cách nhất quán và có hệ thống trongviệc nghiên cứu tác phẩm văn học Mặc dù R Ingarden đã mổ xẻ cấu trúc tácphẩm văn học là để chứng thực những quan điểm triết học của mình, nhưng vớiviệc tháo rời và mô tả về mặt hiện tượng học các tầng bậc khác nhau (mà lại gắn
bó với nhau) của cấu trúc tác phẩm, ông đã xác lập cái mô hình lí giải tác phẩmvăn học về mặt hiện tượng học, đồng thời xác định phương thức tồn tại khác
nhau của các tầng bậc cấu trúc tác phẩm nhằm trình bày tác phẩm như là sự hoà
đồng phức điệu của các yếu tố cấu trúc dị biệt(*) Trước khi mô tả một cách tỉ mỉ các
tầng bậc của tác phẩm văn học, Ingarden tìm cách trả lời cho câu hỏi: Cái gìthuộc về tác phẩm văn học và cái gì không, thuộc về nó? Tức là cái gì tạo ra
cái đối tượng mà ý thức của người đọc hay nhà nghiên cứu hướng tới? Phù hợp
với tinh thần Hiện tượng học, Ingarden muốn có cái nhìn bản chất hướng đến tácphẩm nhưng nó phải độc lập với những quan điểm được hình thành và có ảnhhưởng về mặt lịch sử, có trong thực tế Đó là những quan điểm tâm lí học, xemtác phẩm văn học là ấn tượng của tác giả và của người đọc Ingarden bác bỏ ngay
từ đầu quan điểm cho rằng đối tượng thẩm mĩ là khách thể lí tưởng, ông khẳng định tác phẩm văn học là vật có ý hướng Cách nhìn tác phẩm văn học của Ingarden
Theo Ingarden, ấn tượng của nhà thơ hay ấn tượng của hiện thực đều không cótrong thơ: Phương thức tồn tại của thơ là cấu trúc câu, cấu trúc tiếng, cấu trúc
khó chịu trước cách nhìn cực đoan này của Ingarden, nhưng nếu cho nó vàotrong hệ thống triết học của Ingarden, người ta sẽ phản ứng điềm đạm hơn
Bây giờ chúng ta tìm hiểu xem R Ingarden quan niệm cái gì không thuộc về tác
phẩm văn học, trước khi cùng Ingarden khám phá cái cấu trúc tầng bậc của tácphẩm văn học
1 Trước hết cần loại bỏ tác giả với số phận, cùng những ấn tượng và trạng tháitâm lí của anh ta Những ấn tượng mà trong khi sáng tác nhà văn có được khôngphải là những bộ phận của một tác phẩm đã xong xuôi, cho dù mối quan hệ giữa
Trang 11cá tính, đời sống tâm lí của tác giả và tác phẩm là mật thiết và tác phẩm phải phụthuộc vào tính cách, tài năng, thế giới tư tưởng của nhà văn như thế nào đi nữa.Tác giả và tác phẩm là hai khách thể khác biệt, vì thế cần phải tách biệt tác giả rakhỏi tác phẩm Không thể và không được phép làm lẫn lộn cái bản thể của tác
2 Không thuộc về tác phẩm bất kì ấn tượng, trạng thái tâm hồn nào của ngườiđọc Những tình cảm, ý tưởng, ấn tượng mà tác phẩm khơi dậy đều không nóilên điều gì cả về bản thân tác phẩm Không nên rút ra kết luận từ những tình
cảm nhất thời, hay những quá trình tâm lí được khơi dậy trong bạn đọc để đánh
giá giá trị của tác phẩm.
3 Cần phải đưa ra khỏi tác phẩm văn học tầm ảnh hưởng của các khách thể cókhả năng làm mẫu cho các khách thể xuất hiện trong tác phẩm văn học (Tuyvậy, bằng việc phân tích tầng bậc các khách thể được mô tả trong cấu trúc tácphẩm, Ingarden đã trả lời cho vấn đề này)
Chúng ta có thể thấy rằng việc các nhà nghiên cứu theo quan điểm Hiện tượnghọc loại bỏ những yếu tố tâm lí và ấn tượng tác giả ra khỏi tác phẩm văn học là
để tránh cách làm của các nhà thực chứng, xã hội học và tâm lí học, đồng thời đểđối lập với cách làm của Dilthey, với lối phê bình ấn tượng chủ nghĩa Nhưng rõràng, việc loại bỏ này cũng “cho vào ngoặc” tất cả những yếu tố hiện thực” có từtác phẩm Và với việc loại bỏ mối quan hệ nhà văn – tác phẩm – bạn đọc, người
ta cũng tách biệt tác phẩm ra khỏi những yếu tố hiện thực bao quanh tác phẩm:như hoàn cảnh xã hội- lịch sử, các tác động văn hoá; sự xuất thân của nhà vănv.v… nghĩa là đưa tác phẩm ra khỏi quá trình biện chứng của hiện thực, trongmọi sự liên hệ; tách nó ra khỏi tầm ảnh hưởng của hiện thực Với cách làm này,
Ingarden và các nhà Hiện tượng học muốn hiểu và lí giải tác phẩm văn học từ
chính nó bằng những công cụ “nội quan”.
Vậy cái cấu trúc tầng bậc của tác phẩm văn học mà Roman Ingarden quan niệm
Trang 12Trong sự phân chia các tầng bậc trên đây của R Ingarden, điều đáng lưu ý là tác
giả đã phân tích kĩ vai trò và tầm quan trọng của Tầng bậc các khách thể được mô
tả mà thực chất là tầng bậc nội dung của tác phẩm văn học Đây là tầng bậc đập
vào mắt người đọc đầu tiên, vì nó mà người ta có thể quên các tầng bậc khác.Phần lớn các công trình nghiên cứu văn học mácxít chỉ quan tâm đến tầng bậcnày trong tác phẩm, vì chúng liên quan đến những đối tượng hiện thực tồn tại
độc lập và giống chúng, tức là chúng mang tính hiện thực Ingarden cho rằng tính
hiện thực này không thể đồng nhất hoàn toàn với tính hiện thực của các đốitượng có thật, tồn tại ở ngoài đời Với các khách thể được tái hiện này, chúng ta
có được diện mạo bên ngoài của hiện thực mà không cần phải xem nó như thật!
Nhưng nhìn nhận như thế nào thì với các khách thể được mô tả, hiện thực cũng
đã xâm nhập vào tác phẩm, vì thế trong mối quan hệ với hiện thực này của cấutrúc tầng bậc, Ingarden mới giải thích kĩ như vậy Trong cái cấu trúc khép kínnhư Ingarden quan niệm về tác phẩm văn học, sự phản ánh phải có vấn đề, bởi
vì các yếu tố bên ngoài không thể vào được Cho nên Ingarden phải nhấn mạnh
tính ý hướng của các khách thể theo quan điểm Hiện tượng học Tuy nhiên, với
sự phân tích mối quan hệ giữa tính hiện thực của các khách thể có trong tácphẩm và hiện thực khách quan, Ingarden đã vượt lên Hiện tượng học củaHusserl, bởi vì ông không chỉ thừa nhận sự tồn tại của hiện thực khách quan đểrồi loại bỏ nó như Husserl, mà còn thừa nhận có sự điều chỉnh cái hiện thựckhách quan đó Điều này đã là quá nhiều so với sự “cho phép” của Hiện tượnghọc chính thống! Sự xuất hiện các khách thể được mô tả, theo Ingarden, hầu nhưđược các tầng bậc khác chuẩn bị và “giúp đỡ” Các đơn vị nghĩa thực hiện mộttrong những chức năng quan trọng của chúng là chuyển tiếp các khách thể được
mô tả, còn các cảnh tượng được mô thức hoá thì làm cho các khách thể trở nên rõhơn Ingarden cho rằng các khách thể được mô tả (các yếu tố nội dung) không
tồn tại trong tác phẩm vì bản thân chúng, mà nhờ chúng những phẩm chất siêu
hình xuất hiện, đó chính là những phẩm chất thẩm mĩ Những phẩm chất thẩm
mĩ này cùng với tư tưởng đã làm nên sự hoàn thiện của tác phẩm văn học Tưtưởng được xây dựng trên các khách thể được mô tả, nhưng chỉ ở cấp độ đầutiên; ở cấp độ cuối cùng thì tư tưởng xuất hiện trong mối liên kết bản chất củanhững tình huống đời sống được mô tả và các phẩm chất thẩm mĩ có ở đó Theo
Ingarden, không thể nắm bắt được tư tưởng bên trong tác phẩm, bởi vì tư tưởng
lọt vào tác phẩm “từ ngoài”, nó được điều khiển và tạo ra từ bên ngoài, còn bêntrong tác phẩm nó được hình thành từ các phẩm chất thẩm mĩ ([15]) Chính vìvậy không thể nắm bắt được tư tưởng từ bên trong, xét về mặt khái niệm
Trang 13Không phải ngẫu nhiên R Ingarden chọn tác phẩm văn học làm đối tượng
nghiên cứu để soi sáng một số vấn đề của Hiện tượng học Do tính ý
hướng không thể nghi ngờ của nó, tác phẩm văn học rất thích hợp cho việc đó.
Cái mô hình mà Ingarden nói về tác phẩm văn học, xét về mặt Hiện tượng học, làphù hợp, nhưng nếu xét từ góc độ khác thì vẫn còn những điểm bất cập Chẳnghạn ông không cho thấy sự khác biệt giữa nhà phê bình và bạn đọc bình thường,cũng không nói tới tình thế lịch sử cụ thể ở từng người đọc Nói chung, trongphân tích cấu trúc, điểm yếu của phương pháp thường xuất phát từ chỗ nókhông xem xét “mối liên hệ” giữa các cấu trúc, các tầng bậc và sự gắn kết của cấutrúc lớn với tổng thể Hiện tượng học chỉ nghiên cứu tác phẩm văn học, như làkhách thể tự thân, sản phẩm của ý thức, đã hoàn thành độc lập với những điềukiện ra đời của nó Tuy nhiên, những phân tích có hệ thống và có phương phápcủa Roman Ingarden đã mang tới cho lí luận văn học hiện đại những suy nghĩ
mới Riêng việc đặt vấn đề phương thức tồn tại của tác phẩm văn học qua sự cụ thể
hoá của người đọc đã cho thấy sự tồn tại của tác phẩm không đơn giản là cái vănbản được viết ra mà còn phụ thuộc vào việc người ta tiếp nhận nó như thế nào.Việc vận dụng hiện tượng học trong nghiên cứu lí luận văn học đã lưu ý chúng
ta đến mối liên kết của các yếu tố có trong văn bản văn học trước tác động của ý thức
người đọc hướng tới nó Cũng chính trên cơ sở nghiên cứu tác phẩm văn học theo
Hiện tượng học, nhiều biến thể mới của Hiện tượng học xuất hiện như Chú giảihọc, Mĩ học tiếp nhận… Những gì mà Martin Heidegger và các đồng nghiệp của
ông đã làm sau này trong Chú giải học và Mĩ học tiếp nhận là những đóng góp mới
vượt lên hệ thống Hiện tượng học của Husserl trong lĩnh vực nghiên cứu lí luận
tác phẩm văn học với những vấn đề cụ thể liên quan đến sự đọc và hiểu, đếnnghĩa và ý nghĩa của văn bản văn học…
IINhư chúng tôi đã phân tích ở phần trước, theo Hiện tượng học của Husserl,nhận thức là sản phẩm của chủ thể tồn tại và hoạt động trong hiện thực độc lập,không thể tách biệt bản chất và hiện tượng Đối với chủ thể nhận thức, sự vậtxuất hiện như là hiện tượng Hiện tượng này thực ra không phải là bộ phậnmang tính chất kết cấu bên trong mà là tổng số những hiểu biết của tôi liên quanđến sự vật Nếu tôi nhớ đến một cây đào nở hoa cụ thể ở tuần trước, trong vườnmột người bạn, thì đối tượng có ý hướng của hoạt động nhớ này là cây đào đó.Nhưng nếu tôi nghĩ đến cái cây nói chung thì hoạt động nghĩ của tôi cũng mangtính ý hướng, có điều những đối tượng của hoạt động có ý hướng này khôngphải là những cái cây khác nhau mà tôi đã thấy hay tưởng tượng ra, cũng không
Trang 14phải là tổng số cây tồn tại, đã tồn tại tuần trước và sẽ tồn tại trong tương lai mà
là “cái cây” như là nó Đối với Husserl,nghĩa của một sự vật không khách quan trong ý nghĩa mà một sự vật là thế, nhưng cũng không đơn giản chỉ là chủ quan.
Nó là một loại “khách thể lí tưởng” trong ý nghĩa là có thể thể hiện bằng nhiều cách
khác nhau mà vẫn giữ nguyên nghĩa đó Theo quan điểm này thì nghĩa của một tác
phẩm văn học là một lần và mãi mãi như vậy, nó đồng nhất với cái “khách thể ýthức” mà trong khi viết nhà văn nghĩ đến, hay nói đúng hơn là “có chủ ý tới”.Tính chất phức tạp của vấn đề bắt đầu từ đây
Nếu nghĩa của tác phẩm đồng nhất với điều mà nhà văn hiểu khi viết ra tácphẩm thì tác phẩm chỉ có một nghĩa mà thôi Do đó, có thể có nhiều sự giải thíchnhưng tất cả đều phải nằm trong hệ thống mà nghĩa chủ ý của tác giả cho phép.Vậy một tác phẩm nào đó được đọc ở những thời điểm khác nhau thì có mangnhững nghĩa khác nhau đối với những người đọc khác nhau? Nếu có, phải chăng
đó là sự khác biệt “ý nghĩa” chứ không phải là sự khác biệt về “nghĩa” của tác phẩm? Phải chăngý nghĩa của tác phẩm văn học phụ thuộc vào những thay đổi lịch sử, còn nghĩa của nó là bất biến? Phải chăng nhà văn là người lo chuẩn
bị nghĩa, còn người đọc thì gán cho tác phẩm ý nghĩa? Theo Husserl và những người chủ trương bảo vệ nghĩa tác giảthì nghĩa mà nhà văn chủ ý tạo ra là của
riêng nhà văn, người đọc không thể lấy đi hoặc làm cho nó thay đổi Nghĩa củavăn bản không thể xã hội hoá, nó không thể là tài sản chung của những ngườiđọc khác nhau Không nhà phê bình, nghiên cứu văn học nào có thể khẳng định
rằng anh ta đã tiếp cận đúng cái nghĩa duy nhất của tác phẩm Bởi vì không có gì
trong văn bản bảo đảm cho anh ta sáng tạo ra nghĩa giống với nghĩa chủ địnhcủa nhà văn
Có thể thấy Husserl và các học trò của ông bảo vệ nghĩa tác giả là do quan niệmcủa họ về vai trò thứ yếu của ngôn ngữ trong việc làm cho sự trải nghiệm chủquan trở thành nghĩa Hoạt động nắm bắt một hiện tượng nhất định nào đó, theo
họ, được thực hiện độc lập với ngôn ngữ Nghĩa đi trước ngôn ngữ Ngôn ngữchỉ là hoạt động thứ hai, nó gọi tên cho nghĩa cái mà bằng cách nào đó chủ thể đãtri giác được Hiện tượng học của Husserl muốn tách bạch những kinh nghiệmbên trong thuần tuý ra khỏi sự vấy bẩn xã hội của ngôn ngữ Theo đó ngôn ngữchỉ là hệ thống dùng để giữ lại các nghĩa được hình thành độc lập với nó Nghĩa
của tác phẩm văn học, vì thế, chỉ là cái mà tác giả có chủ định, nó thuộc về ý thức
chủ quan hơn là thuộc về ngôn ngữ; nghĩa của tác phẩm không thay đổi vì luôn luôn
có một hoạt động ý thức cá thể nhất định chi phối nó trong một thời gian cụ thể nhất định nào đó (!)
Trang 15Như vậy, muốn vượt lên hệ thống của Husserl để có cái nhìn “đổi mới”
về nghĩa vàý nghĩa của tác phẩm văn học thì phải có cái nhìn đúng về bản chất và
vai trò của ngôn ngữ Và muốn có cái nhìn đúng về bản chất của ngôn ngữ thìHiện tượng học cần đến những thay đổi căn bản trong quan niệm về Hữu thểtrong tương quan với thời gian và lịch sử
Martin Heidegger là người thực hiện một cách xuất sắc nhiệm vụ “đổi mới” Hiệntượng học của Husserl, người thầy, người bạn lớn của ông Tác phẩm chính của
M Heidegger là Hữu thể và thời gian (1927)([16]), một công trình triết học nghiên
cứu, truy tìm tận “căn nguyên” của vấn đề Hữu thể Chúng ta đã biết rằng trongsiêu hình học cổ điển của Hy Lạp và Tây phương có hai cách nhìn cơ bản về Hữuthể:
1 Không có các vật thể riêng lẻ trong vũ trụ, cần phải có cơ sở để cho chúng hiện hữu hoặc có thể thống nhất chúng lại thành cái toàn thể.
2- Không thể tin tưởng vào sự hiện hữu đích thực của các vật thể, chúng chỉ là
“ảo ảnh”, là “hiện tượng”, do đó chúng cần một nền tảng ngoại tại để siêu vượt ra
ngoài bản thân
Martin Heidegger đã mang lại điều gì mới mẻ trước truyền thống siêu hình học
có tính “siêu việt khách quan” ấy?
Theo Heidegger, thế giới không phải là khách thể “nằm ngoài”, có thể giải thíchbằng lí trí Con người trưởng thành như là những cá thể bên trong cái hiện thực
mà nó không thể khách thể hoá được hoàn toàn Cái hiện thực đó vừa là khách
thể lại vừa là chủ thể, nghĩa của nó là vô tận; nó sáng tạo ra con người ở mức mà con
người sáng tạo ra nó Heidegger nhấn mạnh: sự tồn tại của con người là sự đối
thoại với thế giới, nhưng con người đáng trọng hơn nếu trong cuộc đối thoại này
nó biết lắng nghe nhiều hơn là nói Bởi vì “người ta chỉ thông hiểu điều màngười ta thực sự hiện hữu và người ta chỉ thực sự hiện hữu như người ta thông
của Heidegger mà là Hữu thể Theo Heidegger cần phải đặt ra câu hỏi về Hữu thể Hữu thể là cái xác định hiện vật như là hiện vật, nhờ nó mà hiện vật bày tỏ được
chính mình trước mọi sự minh giải Nhưng Hữu thể của hiện vật (hiện thể) lại
không phải là hiện vật Để có thể bày tỏ một cách đúng đắn những đặc tính hữu
thể của nó thì trước hết bản thân hiện vật phải được như là nó trong chính nó.
Hiện vật là tất cả những gì chúng ta nói đến, nghĩ đến hoặc có quan hệ bằng cách
này, cách khác; còn Hữu thể thì có trong hiện hữu, trong thực thể tính, trong bản
thể tính, trong tồn tại, trong giá trị, trong hiện thể