Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là bước phát triển mới của chủ nghĩa hiện thực TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH MỞ ĐẦU Chúng ta từng nghe nói nhiều đến châu Mỹ Latinh về chính trị, nghệ thuật, th
Trang 1Văn chương Mỹ Latinh - Giáo trình Đại học
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Phần 1
KHÁI QUÁT VĂN CHƯƠNG MỸ LATINH
I Văn chương Mỹ Latinh – một số vấn đề chung
1 Khái niệm Văn chương Mỹ Latinh
2 Vấn đề giao lưu giữa văn chương Mỹ Latinh với văn chương Tây Âu - Bắc Mỹ
3 Vấn đề phân chia các thời kỳ văn chương
II
Lược sử văn chương Mỹ Latinh
A Văn chương Mỹ Latinh trước thế kỷ XV
B Văn chương Mỹ Latinh sau thế kỷ XV
Phần 2
MỘT SỐ TRỌNG ĐIỂM TIÊU BIỂU
TRONG TH ỜI KỲ TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT ĐẠT
I THƠ CA
1 Sự nghiệp thi ca N Guillen
2 Sự nghiệp thi ca P Néruda
II CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC HUYỀN ẢO
Trang 21 Đôi nét về lịch sử chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
2 Quá trình tìm tòi, khẳng định của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo
3 Thế nào là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo?
4 Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là chủ nghĩa hiện thực mang màu sắc Mỹ Latinh
5 Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là bước phát triển mới của chủ nghĩa hiện thực
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
MỞ ĐẦU
Chúng ta từng nghe nói nhiều đến châu Mỹ Latinh về chính trị, nghệ thuật, thể thao, sựgiàu có…, tuy ít có điều kiện học tập, nghiên cứu văn chương Mỹ Latinh Đây là một truyềnthống văn chương lớn, đặc sắc bên cạnh các truyền thống văn chương danh tiếng khác nhưNga, Anh, Pháp, Trung Quốc, Bắc Mỹ…
Giải Nobel Văn chương năm 1990 dành cho một nhà thơ Mêhicô O Paz, vì “những tácphẩm chứa đầy nhiệt tình về những chân trời rộng lớn với một sự thông minh sắc sảo và bảntính đầy nhân đạo” Khi nhận giải, O Paz cho rằng: Giải thưởng thực ra là dành cho vănchương Mỹ Latinh mà ông chỉ là người đại diện, bởi, như lời ông, “nhà văn không phải là mộtcon người tách biệt mà là thành viên của một cộng đồng, của một truyền thống văn học”
Phần 1
KHÁI QUÁT VĂN CHƯƠNG MỸ LATINH
I Văn chương Mỹ Latinh – một số vấn đề chung
1 Khái niệm Văn chương Mỹ Latinh
Khái niệm Văn chương Mỹ Latinh là để chỉ văn chương của ít nhất 22 nước sau:
- Trung Mỹ: Mêhicô, Goatêmala, Ônđurát, El Sanvađo, Nicaragoa, Côxta Rica, Panama,
Cuba, Haiti, Đôminica, Pooctô Ricô, Giamaica
- Nam Mỹ: Côlômbia, Vênêzuyêla, Êcuađo, Pêru, Bôlivia, Chilê, Achentina, Paragoay,
Trang 3Urugoay, Braxin.
Ta cần vừa thấy tính đa dạng lại vừa thấy sự đồng nhất sâu sắc của Mỹ Latinh Đa dạng vềhoàn cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội, …; đồng nhất về lịch sử hình thành và phát triển chung, dẫnđến sự đồng nhất về điều kiện kinh tế, xã hội, tiếng nói (phổ biến là tiếng Tây Ban Nha), vănhóa…
Nhà văn Côlômbia G Marquez lưu ý: “Tôi không nghĩ rằng người ta có thể nói đến một nền
văn hóa Mỹ Latinh thật sự đồng nhất – PQT nhấn mạnh Chẳng hạn, ở Trung Mỹ, ở vùng
Caribê, ảnh hưởng rất đậm đà của châu Phi dẫn đến một nền văn hoá khác với các nước cóđông dân Anh điêng như Mêhicô hoặc Pêru Nhiều nước khác ở Mỹ Latinh cũng vậy Ở Nam
Mỹ, văn hoá Vênêzuyêla hay văn hóa Côlômbia gần gũi vùng Caribê hơn là với những caonguyên Andes, mặc dù hai nước này đều có dân Anh điêng Ở Pêru và Êcuađo, có sự dị biệtgiữa miền duyên hải với miền núi Tình trạng ấy là chung cho cả lục địa” Ông đồng thời nhấnmạnh: “Trong thời gian đi thăm châu Phi, tôi đã nhận thấy nhiều nét giống nhau giữa một sốbiểu hiện nghệ thuật dân gian của châu Phi và của nhiều nước vùng Caribê… Như tôi đã
nói, văn hoá Mỹ Latinh là tổng hợp của nhiều nền văn hóa trộn lẫn với nhau và được lan truyền trên toàn lục địa – PQT nhấn mạnh Văn hóa phương Tây, ảnh hưởng của châu Phi và một số yếu tố của phương Đông đã bổ sung cho các nền văn hóa bản địa tiền Côlông” (Văn nghệ, số
35, 1999) Còn nhà nghiên cứu văn chương đồng thời là nhà thơ người Cuba Rêtamar thì viết:
“Dĩ nhiên là những bậc thầy văn chương Tây Ban Nha này là của chúng ta Nhưng cũng chính
từ lý do ấy, văn hóa châu Phi cũng là truyền thống văn hóa của chúng ta Ngay cả những ngườiAnh điêng từng bị diệt chủng rồi cũng thuộc về văn hóa của chúng ta” (10, tr.179)
Cần nhấn mạnh tới tính tương đồng này Những đường biên giới phân chia các nước châu
Mỹ Latinh không làm mất đi bản sắc chung làm nền tảng cho mọi mặt của đời sống, nhất là đờisống văn hóa, văn chương ở vùng đất này Như vậy, sự cùng tồn tại của các nền văn hóa khácnhau ở Mỹ Latinh dẫn đến một sự tổng hợp vừa phong phú vừa độc đáo, làm nên bản sắc của
châu Mỹ Latinh so với nhiều nền văn hóa khác trên thế giới Trong cuốn sách Sự sáng tạo của châu Mỹ Latinh, nhà văn lão thành người Vênêzuyêla – Uxla Piêtri, một trong những nhà văn
hàng đầu của nền tiểu thuyết viết bằng tiếng Tây Ban Nha ở nửa sau thế kỷ XX, đã tập trungphân tích làm nổi bật sự hòa trộn huyết thống, lối sống, văn hóa của ba chủng tộc da trắng, da
đỏ và da đen Suốt từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, có hơn một triệu người Tây Ban Nha rời bỏquê hương bản quán theo bước chân của đại đô đốc C Côlông đến châu Mỹ để tìm châu báu
và vận mệnh mới Họ mang tới đây tiếng Tây Ban Nha, văn hóa và văn chương nghệ thuật tiêntiến của Tây Ban Nha, trong đó nổi bật là cây đàn ghita cùng các làn điệu dân ca và nghệ thuậtđấu bò Trong khi đó tại đây đã có từ 20 đến 25 triệu người thổ dân Anh điêng như ngườiAztêca, Inca… sinh sống Họ đã tạo nên một nền văn minh rực rỡ với những cung điện, thànhtrì, kim tự tháp… đặc sắc Sau đó, có khoảng 9 triệu người da đen Phi châu thuộc nhiều bộ tộc
và nhiều ngôn ngữ khác nhau được mang đến châu Mỹ như những người nô lệ làm việc trongcác đồn điền và bến cảng Dĩ nhiên, họ mang theo lối sống, văn hóa dân gian của mình, gồm vũkhúc, ca khúc, các dụng cụ âm nhạc nhất là bộ gõ độc đáo của châu lục đen Kết quả của lịch
sử nói trên đã tạo ra người mulatô (lai da trắng và da đen) và người chulô (lai da trắng với da
đỏ) Vì lẽ đó, nhà văn Uxla Piêtri đã cho rằng, cuộc chinh phục châu Mỹ là một sự sáng tạo
ra châu Mỹ lai, một hành động văn hóa lớn có tính tự nguyện Theo cách suy nghĩ này, ông đã
lên án một vị chỉ huy quân đội Tây Ban Nha chinh phục vương quốc Mada (ngày nay là Mêhicô)
đã đi ngược lại truyền thống mang tính quy luật, như sau: “Tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá mộtnhà chinh phục là người ấy có trân trọng văn hóa bản địa hay không Khi phá huỷ hoàn toàncác hình ảnh nghi lễ của người Mada, Hernen Cortes đã vi phạm thô bạo nguyên tắc trên” (12)
Tính dân tộc Mỹ Latinh chính là cơ sở của văn chương Mỹ Latinh Đã tồn tại một số quan
niệm sơ lược, thiếu tính khoa học coi trọng đề tài, hay tác giả, hoặc vừa tác giả vừa đề tài trong
Trang 4việc xác định bản chất văn chương Mỹ Latinh Ý thức hệ dân tộc phải là quyết định Nói như José Marti (1853 - 1895): “Không thể có văn học Mỹ Latinh một khi Mỹ Latinh chưa được địnhhình” (11) Câu nói này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng.
Như vậy, đã dần dần hình thành dân tộc tính lai trên cơ sở kết hợp ý thức hệ của giai cấp
thống trị bóc lột da trắng với ý thức hệ của các tầng lớp nô lệ da đen, và cả người Indio (Anh
điêng – Da đỏ) Ví như: Gônđaga (1744 – 1810) - nhà thơ, nhà hoạt động xã hội Braxin Ông
sinh ở Bồ Đào Nha, lớn lên ở thành phố Baya (Braxin), nơi cha ông giữ một chức vụ trong tòa
án thuộc địa Sau khi tốt nghiệp khoa Luật ở Bồ Đào Nha, ông làm việc nhiều năm ở chínhquốc Trở về Braxin năm 1782, ông tham gia phong trào đấu tranh lật đổ ách thống trị Bồ ĐàoNha, xây dựng nhà nước cộng hòa Braxin Rồi ông bị phát giác, bị bắt cùng những người thamgia hội kín (1789), cuối cùng bị kết án tử hình Sau ông được ân giảm đày đi Môdămbích vàmất ở đấy
Yếu tố cắt đứt mối ràng buộc giữa Mỹ Latinh với “mẫu quốc” là cơ sở kinh tế, xã hội đã dẫnđến các cuộc cách mạng, mở đầu ở Vênêzuyêla 1810 do Simôn Bôlivan lãnh đạo và kết thúc làcuộc Đại nội chiến 1868 ở Cuba do Caclôt Cespedes làm thủ lĩnh Đó là thời kỳ giành độc lập,
tự do, bình đằng và tự quyết của hầu hết các dân tộc sống trên giải đất này, và tính dân tộc đãchính thức được khẳng định
2 Vấn đề giao lưu giữa văn chương Mỹ Latinh với văn chương Tây Âu - Bắc Mỹ
Ảnh hưởng của văn chương Tây Âu và Bắc Mỹ tới Mỹ Latinh là rõ rệt và sâu sắc Hầu hếtcác trường phái văn chương ở Tây Âu và Bắc Mỹ đã tràn sang và thay nhau ngự trị trên văn
đàn châu Mỹ Latinh Ví như, Gônđaga tham gia phái Thi sơn với biệt danh Đirxêi Tác phẩm
Đirxêi đê Marilia I (1792) gồm những sáng tác trong thời gian theo đuổi Marilia, là những trangnhật ký thơ về đời sống tình cảm thật của ông Tác giả ngợi ca cảnh điền viên, tình cảm thủychung và sâu sắc, cuộc sống điều độ và lương tâm yên tĩnh Rõ ràng, về lý tưởng thi ca,ông gần gũi với các nhà thơ tình cảm chủ nghĩa Đirxêi đê Marila II (1799) chủ yếu sáng tác lúcông bị cầm tù, bộc lộ tình yêu nước sâu xa của ông Âm hưởng chung của tập thơ là u uất Ôngtiếp thu truyền thống của các thể mục ca trữ tình Vì vậy, Gônđaga được xem là ông tổ của chủnghĩa lãng mạn ở Braxin Dễ thấy thơ ông có sự hòa hợp nhiều nét của chủ nghĩa cổ điển, mỹhọc Thi sơn, chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa lãng mạn… Nhà thơ đồng thời là nhà triết họcMêhicô A Reiêx đã nhận xét rất chí lý như sau: “Khi bước đến bữa tiệc của văn minh châu Âumột cách muộn màng, châu Mỹ đã phát triển với nhịp độ nhanh chóng, vượt qua các giai đoạnlịch sử, không chỉ bước qua mà là nhảy qua từ hình thức này đến hình thức khác khi không chochúng đủ thời gian để chín muồi một cách đầy đủ” (6)
Cần thấy, đây là tác động qua lại, ảnh hưởng hai chiều Chẳng hạn, ảnh hưởng của phong trào Môđéc do J Marti khởi xướng mà đại diện tiêu biểu là Ruben Dario tới văn chương Tây
Ban Nha hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong đó có cả những nhà thơ tên tuổi của Tây BanNha như Unamuno và Rimine Theo nhà nghiên cứu Đêpêtơrơ thì văn chương Tây Ban Nhakhông thể có bộ mặt như ngày nay nếu không có nhà thơ R Dario (3) Điều này chứng tỏ sứcsống và vẻ độc đáo của văn chương Mỹ Latinh Văn hào Marquez nhận xét: “Nhữngngười châu Âu rất đáng phục về sự chiêm nghiệm những thành tựu văn hóa của mình, nhưngkhông biết tìm một phương pháp khả dĩ có thể lý giải được cuộc sống chúng tôi! Có thể hiểuđược sự kiên trì của họ, nhưng họ lại quên mất rằng những thứ trớ trêu của cuộc đời đã không
để cho mọi thứ đều như nhau, và những tìm tòi con đường riêng của chúng tôi cũng không ítkiên trì và đổ máu hơn những tìm tòi của họ” (9, tr.125)
Riêng về Ruben Dario (người Nicaragoa sinh 1867 mất 1916) đã có cuộc tranh luận kéo dài
suốt từ đầu thế kỷ XX cho đến nay xoay quanh vai trò của nhà thơ lớn này và chủ nghĩa
Trang 5Môđéc nói chung, không chỉ đối với văn chương Mỹ Latinh mà còn cả đối với văn chương viết
bằng tiếng Tây Ban Nha Mùa xuân 1931, tại Buenos Aires, Lorca và Néruda đã trao đổi vớinhau về Dario
Lorca: Chúng ta sẽ gọi ông là nhà thơ của châu Mỹ và của Tây Ban Nha Ruben…
Néruda: …Dario Bởi vì, thưa các bà!
Lorca: …và thưa các ông!
Rồi Lorca kết thúc: Pablo Néruda – người Chilê và tôi, người Tây Ban Nha, chúng tôi thống nhất rằng Ruben Dario là nhà thơ lớn của Nicaragoa, của Achentina, của Chilê và của Tây Ban Nha.
Cuối cùng, cả hai nhà thơ cùng nói to lên: “Vì vinh quang của chúng ta, hãy nâng cốc chúc mừng Người”(10, tr.118).
Clara Sanchez - người Tây Ban Nha từng viết: “Người Mêhicô thường nói về ‘ba nhânvật vĩ đại’ của họ là Ôrôxcô, Xikâyrốt và Rivêra (ba hoạ sỹ lớn của Mêhicô trong thời kỳ này).Người dân Tây Ban Nha chúng tôi cũng hay nói về ‘ba nhân vật vĩ đại’, tức ‘ba Pablo’của mình
Đó là, P Kadal (nghệ sĩ biểu diễn Violonxen), P Picaso và P Néruda”
Cũng cần lưu ý rằng, không được đồng nhất một cách sai lầm vai trò và triển vọng củacác trào lưu nghệ thuật đã có ở hai châu lục Vì sao vậy? Vì những điều kiện khác: sang vùngđất mới, khi ở nơi phát sinh, hoặc chúng đang tàn tạ hoặc chúng đang hấp hối Không lạ, nếumột vài khuynh hướng vốn không đội trời chung ở châu Âu song khi du nhập sang Mỹ Latinh lại
có thể chung sống hòa hợp Ví như, theo Nguyễn Viết Thảo, chủ nghĩa Thi sơn và chủ nghĩahình tượng ở Pháp năm 1880 Hoặc có những phong cách sáng tác được coi là hoàn toàn tiêucực ở phương Tây, nhưng lại có vai trò nhất định Mỹ Latinh Chẳng hạn, chủ nghĩa trừu tượngđầu thế kỷ XX (11)
3 Vấn đề phân chia các thời kỳ văn chương
Hiện tồn tại những quan niệm khác nhau trong việc phân chia các thời kỳ văn chương ở MỹLatinh Những năm 1960, một sử gia văn học nổi tiếng là Fratz Fanôn có quan điểm chia lịch sử
của văn chương các nước thuộc địa châu Phi làm ba thời kỳ lớn: văn chương nô dịch; tiếp cận giữa văn chương và dân tộc; văn chương chống thực dân Một vài học giả cho rằng, hoàn cảnh
ở hai châu lục nhiều phần giống nhau vì đều là thuộc địa, nên đem áp dụng máy móc quanniệm này vào việc phân chia lịch sử văn chương Mỹ Latinh Xin lưu ý, hoàn cảnh hai châu lụcnày thật ra có nhiều điểm hoàn toàn khác nhau Nếu ở Phi châu, vào buổi đầu, văn chươnghoàn toàn độc lập, kiên quyết chống lại mọi quan hệ văn hóa với kẻ thù xâm lược, thì ở châu
Mỹ Latinh, như ta đã luận giải, lại khác hẳn, có sự tiếp thu và hòa trộn một cách diệu kỳ Quan
niệm của nhà nghiên cứu Đoàn Đình Ca lại chia văn chương Mỹ Latinh thành ba thời kỳ: thời
kỳ chinh phục và thuộc địa; thời kỳ đấu tranh giành độc lập; và thời kỳ độc lập (4).
Giáo trình này theo quan niệm của nhà thơ, nhà nghiên cứu Cuba R Rêtamar, chia làm bathời kỳ văn chương cơ bản
+ Thời kỳ đầu tiên: Thời kỳ lệ thuộc – chủ yếu lệ thuộc vào Tây Ban Nha Có thể xem mốc
chấm dứt thời kỳ này là vào năm 1878, khi phong trào cách mạng tư sản và giải phóng dân tộc
đã cơ bản kết thúc trên khắp các thuộc địa Tây Ban Nha – Bồ Đào Nha, đồng thời khi hai nướcnày bắt đầu rơi vào thời kỳ suy thoái trên tất cả mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa…
+ Thời kỳ thứ hai: Thời kỳ quốc tế hóa văn chương, nghệ thuật Mỹ Latinh Tiền đề lịch sử diễn
ra vào 1878, khi vương triều Tây Ban Nha chỉ còn trong tay hai thuộc địa ở Mỹ Latinh là Cuba
Trang 6và Poóctô Ricô Vàng bạc, châu báu, của cải từ đây không chảy về Mađrít nữa Đội thươngthuyền Tây Ban Nha luôn bị quân cướp biển Anh tấn công Những yếu tố này cộng với sự lạchậu trong quan hệ sản xuất đã đẩy Tây Ban Nha vào sự suy thoái đáng kể so với Anh, Pháp,
Hà Lan, nhất là so với Mỹ, dồn văn chương, nghệ thuật Tây Ban Nha đi vào sự bế tắc chưatừng có Thêm nữa, từ thập kỷ 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đếquốc Các nước Anh, Pháp nhất là Mỹ đã bành trướng lãnh thổ, nhằm tìm sức lao động rẻ mạt
và thị trường tiêu thụ ở Mỹ Latinh Đây là cơ hội hiếm có để giao lưu văn hóa Đông – Tây đ ượctiến triển tại vùng đất này
Văn nghệ sĩ Mỹ Latinh, trước sự bế tắc của văn chương, nghệ thuật Tây Ban Nha, đã hướng
sự chú ý của mình tới cc trung tâm lớn khác như London, Paris, Washington, New York… tạo ramột bộ mặt mới, nhất là trn phương diện hình thức Các khuynh hướng, trào lưu tượng trưng,lãng mạn, trừu tượng, ấn tượng, tự nhiên, siu thực… với những tên tuổi lớn như Veclen, Flôbe,Bairơn, Mactuên… đều có mặt ở Mỹ Latinh ngay từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX Đây cĩthể xem là thời kỳ sặc sỡ nhất của văn chương Mỹ Latinh, nhưng tất cả đều còn vay mượn, chỉ
được chấm dứt với sự nghiệp của José Marti và Ruben Dario cng chủ nghĩa Môđéc, khi nó thật
sự có linh hồn và bộ mặt riêng, cơ bản thanh toán được ảnh hưởng ngoại lai
+ Thời kỳ thứ ba: Thời kỳ trưởng thành và phát đạt (hay Thời kỳ văn chương độc lập) Nó được
bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, bùng nổ mạnh mẽ ở thế kỷ XX, mà người khởi xướng đầu tiên
là José Marti với phong trào Môđéc.
II Lược sử văn chương Mỹ Latinh
Năm 1492 là năm có ý nghĩa to lớn đối với châu lục này: C Côlông (1451 - 1506) đãphát hiện ra nó Như nhiều người đã biết, bước sang thế kỷ thứ XV, giai cấp thống trị ở phươngTây ăn chơi xa xỉ, mơ tới phương Đông xa xôi giàu có, đầy vàng bạc và hương liệu quý Theo
sự mô tả của nhiều nhà du lịch thời ấy thì ở phương Đông mái nhà lợp bằng vàng, còn cột thìbằng bạc Như nhiều nước khác ở phương Tây, người Tây Ban Nha đã tìm đường sangphương Đông
C Côlông là nhà hàng hải Italia, phục vụ cho vương triều Tây Ban Nha Ông được vuaPhecnanđô và nữ hoàng Idabenla giao nhiệm vụ vượt đại dương sang Ấn Độ Ngày 8/8/1492,ông đã khởi hành cùng chín mươi thuỷ thủ trên ba chiếc tàu lớn Ngày 12/10 năm ấy, đoànthám hiểm tới đảo Cuba và Haiti mà họ nhầm tưởng là Nhật Bản Sau tàu bị vỡ, ông phải quaytrở về Từ 1493 đến 1503, C Côlông còn thực hiện ba chuyến vượt Đại Tây Dương nữa Ôngtiến đến bộ phận phía đông của lục địa mới lại lầm tưởng là Ấn Độ Ông gọi người da đỏ là
Indio – người Ấn Độ, là vì thế Vì không sớm vào sâu lục địa, không tìm được nhiều của quý,
nên ông bị triều đình Tây Ban Nha bỏ rơi Năm 1506, ông chết trong nghèo túng và bị lãngquên
Sau C Côlông, người đồng hương của ông, nhà hàng hải Italia Amêrigô Vêxpuxi phục vụcho các vương triều Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đến lục địa này vào năm 1499 Ông ta cảquyết đây không phải là Ấn Độ mà là một lục địa mới hoàn toàn Năm 1515, ông lập xong bản
đồ của lục địa này Người châu Âu đã chính thức lấy tên ông đặt cho lục địa mới - Amêrigô, sau đổi thành Amêrica cho thống nhất với cách gọi chung của các lục địa khác Đó là lý do vì sao
châu lục mới đã không mang tên người phát hiện đầu tiên ra nó Từ đó cả thế giới biết đến mộtvùng đất mới lạ, bí ẩn, đầy sức quyến rũ
Đây đồng thời là cột mốc quan trọng về văn chương
Trang 7A Văn chương Mỹ Latinh trước thế kỷ XV
Đó là văn chương của người bản địa da đỏ (Anh điêng hay Indio)
C Côlông đã phát hiện ra một miền đất rộng lớn, trù phú lại có nền văn minh cổ kính
mà nhân loại chưa hề biết đến Chẳng là người Indio với chừng vài chục triệu người đã sốngrải rác từ ven biển Vịnh Mêhicô tới những hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Anti, đến những thunglũng rộng lớn ở dãy núi Andes ở phía Nam, với hàng trăm chủng tộc, 125 gia đình ngôn ngữ vàhàng trăm tiếng nói khác nhau Có dân tộc đến hàng chục vạn người như Kichê và Kêchoa ởPêru và Goatêmala, lại có dân tộc vẻn vẹn chừng dăm chục người như Tapiít, Curucanêva ởBôlivia
Người Indio nhìn chung còn ở trong tình trạng lạc hậu, một số sống trong cảnh hoang
dã Tuy nhiên, phần lớn họ đã biết trồng trọt, săn bắn, đánh cá để sinh sống, làm nhà để ở vàdệt vải để may quần áo Một số khu vực đã đạt tới trình độ văn minh khá cao với những côngtrình kiến trúc khá đồ sộ (đền đài, nhà cửa, cầu cống…), phát triển kỹ nghệ đồ gốm và kim loại,đặt lịch để tính ngày tháng, rồi biết làm giấy và có chữ viết…
Đã tồn tại ba nền văn minh tiêu biểu ở đây:
(1) Aztêca (ở Trung và Nam Mêhicô).
(2) Maya (nằm ở Cực Nam Mêhicô và các nước Goatêmala, Ônđurát, El Sanvađo) (3) Inca (thuộc Pêru, Êcuađo, Bôlivia và một phần Côlômbia, Chilê và Achentina).
Văn chương Mỹ Latinh trước Côlông còn rất sơ sài, do truyền miệng nên thất lạc nhiều
Một số tác phẩm viết bằng thổ ngữ của người Indio có giá trị như Rabinal Achi Đây là vở bi
kịch của người Kichê, phản ánh các cuộc chiến tranh liên miên giữa những người Indio ở Nam
Mỹ Hay như Lịch sử của những người Cakchiqueles (một bộ lạc ở Goatêmala)
và Chilambalam (viết bằng tiếng Ucatêcô) nói về bùa phép, mê tín của ngươi xưa…
Nổi tiếng nhất là Popol Vuh của người Kichê, nói về nguồn gốc của loài người và thế
giới Tác phẩm này được coi là anh hùng ca cổ đại của Mỹ Latinh Tương truyền, một ngườiKichê vô danh đã ghi lại bằng mẫu tự Latinh khoảng giữa thế kỷ XVI Cuối thế kỷ ấy, một tu sĩĐôminica thấy bản viết tay đã dịch ra tiếng Tây Ban Nha Năm 1816, tác phẩm được công bố
lần đầu tiên bằng tiếng Pháp Popol Vuh (tiếng Kichê có nghĩa là Sách của dân tộc) gồm 4
phần:
(1) Thần thoại về sáng tạo của vũ trụ: Kể lại từ khi thế giới còn là cõi hư vô, đến khi cósông núi, đất đai, muông thú, cây cỏ… Người đàn ông và đàn bà Kichê ra đời là do công laocủa hai vị thần sáng tạo
(2) Kể sự tích của hai người anh hùng bộ lạc, do thông minh và dũng cảm, lại được thầnlinh và muôn sinh phù trợ đã giết thù trong thắng giặc ngoài, dạy dân trồng trọt, mang lại hòabình, ấm no, hạnh phúc cho con ngươi
(3) Các truyền thuyết về lịch sử người Kichê: các cuộc di dân, xung đột bên trong vàquan hệ với các bộ lạc bên ngoài
(4) Viết lịch sử của bộ lạc Kichê vào thời kỳ tiếp cận với niên đại mà tác phẩm ra đời(những lời tiên tri, biểu thế hệ dòng họ quý tộc…)
Tác phẩm được viết bằng văn xuôi có nhịp điệu, với các thủ pháp nghệ thuật tiểu biểunhư đối ngẫu, trùng lặp, láy âm…
Tóm tại, đây là tác phẩm hiếm hoi trong các kiệt tác của văn chương cổ đại còn lưu giữ
Trang 8đến nay, có ảnh hưởng không nhỏ tới văn chương hiện đại Mỹ Latinh Trong Popol Vuh, người
bản địa đã giải trình sự xuất hiện của loài người bằng thần thoại về cây ngô Cây ngô tạo ra conngười biết hoạt động và có trí tuệ Sau này Asturias - nhà văn đoạt Giải Nobel 1967 ở Mỹ Latinh
đã viết tác phẩm Những người trồng ngô là dựa vào bản trường ca này.
Trên đây là một số tác phẩm tiêu biểu có giá trị viết bằng thổ ngữ trước thời kỳ Côlông,được dịch ra nhiều thứ tiếng và được hoan nghênh Ngoài giá trị văn chương, chúng còn có giátrị lịch sử, xã hội rất quý giá Thần thoại nổi tiếng về ngươi vàng như là bản cáo thị về sự giàu
có của miền đất này, kể rằng, người da đỏ Triptra ở Nam Mỹ tôn thờ vàng như mặt trời, vì màusắc và ánh kim của nó Trong ngày lễ mừng tù trưởng mới, họ thường tặng vàng để tỏ lòngkính trọng Họ dát vàng lên người tù trưởng và đem thả bè trên hồ Goatatet, nơi thần đầungười mình rắn Phuraten ngự trị Khi tù trưởng nhảy xuống hồ, vàng trôi đi thì họ nghĩ là thần
đã chấp nhận Ngày nay, khi khai quật mộ cổ, người ta thấy trong mộ của các nhà quyền quý
có hình mẫu chiếc bát bằng vàng - chứng thực cho câu chuyện thần thoại này
B Văn chương Mỹ Latinh sau thế kỷ XV
1 Thời kỳ lệ thuộc
Thời kỳ này kéo dài suốt hơn ba thế kỷ, từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX
Đây là thời kỳ lịch sử Mỹ Latinh bị chinh phục và thuộc địa Sau khi phát hiện ra châu
Mỹ, từ đầu thế kỷ XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã phái những đội quân viễn chinh gồm sỹquan, binh lính, cố đạo, nhà thám hiểm… sang xâm chiếm, và đã vấp phải sự kháng cự quyếtliệt của người Indio ở mọi nơi Hàng triệu người da đỏ đã bị tàn sát Có nơi, như ở Cuba, trước
có trên 10 vạn người, khi chiến tranh kết thúc đã không còn một ai sống sót Đi tới đâu,người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha liền lập ra các thành phố là cơ sở các nước cộng hòa saunày, như Habana (1515), Sao Paolo (1554), Caracat (1567), Lima (1535)… Họ mang tới thếgiới mới này văn hóa, tôn giáo, pháp lý, khoa học… của họ Khi bình định tạm ổn, họ lập ra cáctrường đại học, nhà in, báo chí… để truyền bá tư tưởng và nếp sinh hoạt của chính quốc Vănhóa cũ và mới bắt đầu hòa hợp vào nhau, tạo ra một nền văn hóa không thuần nhất
Văn chương Mỹ Latinh buổi đầu còn nghèo nàn, tiến những bước chậm chạp và chưa
có những đặc tính riêng biệt Vì vậy, có thể coi đây là thời kỳ hình thành, chuẩn bị Đặc điểmchung của văn chương thời kỳ này ra sao? Về thể loại, chủ yếu là ký sự, nhật ký, thư từ, kịch
và lịch sử Tác giả cơ bản là người Âu viết về châu Mỹ, thường là không chuyên nghiệp gồm cócác tướng lĩnh, binh lính, cha cố trực tiếp tham gia vào các cuộc chiến tranh chinh phục Đốitượng thể hiện chủ yếu là những phong cảnh thiên nhiên miền nhiệt đới, nhiều màu sắc, hấpdẫn đối với những người châu Âu
Nhật ký hành trình của C Côlông, gồm các thư từ và báo cáo về cuộc hành trình đi tìm
vùng đất mới năm 1492, được nhiều người nhất trí coi là tác phẩm văn chương đầu tiên ra đời
ở châu Mỹ Cuốn nhật ký ghi lại những cảm tưởng và nhận xét của C Côlông trong cuộc thámhiểm vượt qua đại dương hơn 200 ngày Đặc biệt có giá trị về văn chương là những trang viếtkhá hấp dẫn về con người và thiên nhiên ở đây Theo ông, người Indio hồi đó là những người
“hoang dại cao thượng, có một thân hình cân đối; họ đeo ở tai và mũi những chiếc kiềng bằngvàng Màu da của họ không trắng, không đen, cũng không nâu, mà giống màu của trái lựu; tóc
họ không quăn, nhưng bờm xờm như bờm ngựa” Còn Cuba là “một hòn đảo đẹp nhất mà mắtngười đã nhìn thấy” và “bể thì luôn luôn trong vắt, gió thổi nhẹ nhàng, êm mát như những dòngsông”; về ban ngày “chim muông ca hát líu lo, quyến rũ lòng người, làm cho họ không muốn rờikhỏi nơi đây”; về ban đêm “giun dế kêu hát suốt cả đêm” Tác phẩm này được xuất bản lần đầutiên tại Mađrít vào năm 1493, ngay sau đó được dịch ra tiếng Latinh và rất được hoan nghênh
Trang 9Tiếp sau là một loạt tác phẩm cùng loại ra đời, tiêu biểu là sáng tác của hai nhà văn Las Casas và Hernan Cortes Las Casas (1474 -1566) viết về lịch sử các cuộc chinh phục ở Pêru
và Côlômbia Ông là một cố đạo Tây Ban Nha, tham gia chinh phục chống lại thổ dân, nhưng
hành động dã man của đội quân chinh phạt khiến ông rất công phẫn Ông viết Lịch sử miền Indias Ngoài những phần khảo cứu về động thực vật, địa lý ở đây, ông đã lên tiếng tố cáo tội
ác của những người Tây Ban Nha, bênh vực người da đỏ Ông còn thành lập Hội bảo vệ người Indio Đặc biệt, ông ca ngợi tù trưởng Atuây (Cuba) Trong cuộc chiến đấu chống thực dân Tây
Ban Nha, cuối cùng Atuây bị bắt và bị thiêu sống Hernan Cortes (1485-1547) thì viết về cuộcxâm chiếm Mêhicô Chính ông trực tiếp chỉ huy cuộc chiến tranh chinh phục này vào năm 1519
Ông viết Những mối liên hệ (gồm những báo cáo và thư từ gửi cho vua Tây Ban Nha) tỏ ra kính
phục nền văn minh cổ kính của người Aztêca
Về thơ có A Ecxia (1533 - 1594) là xuất sắc nhất Năm 1555, sau khi bình định xongPêru, một đoàn quân Tây Ban Nha tiến xuống phía nam chiếm Chilê, đã bị người da đỏ kháng
cự mãnh liệt, và bị thiệt hại nặng nề Đó là cuộc chiến đấu ác liệt nhất mà quân Tây Ban Nha
gặp phải A Ecxia là đại úy trực tiếp tham gia, về sau viết tập thơ bất hủ La Araucana Ban đầu
ông định viết một trường ca ngợi ca những chiến công của lính Tây Ban Nha, nhưng sau ônglại dành phần lớn tác phẩm để ca ngợi kẻ thù Đó là một anh hùng ca thành tác phẩm cổ điểncủa văn chương Mỹ Latinh
Từ giữa thế kỷ XVI trở đi, các tác giả trưởng thành tại Mỹ Latinh đã xuất hiện Họ là
những những Indio mới (lai da trắng) Tiêu biểu và xuất sắc hơn cả là Gacxilaxơ (1539-1616) Ông vừa là nhà thơ vừa là nhà sử học lớn người Pêru Hai tác phẩm La Florida và Những lời bình luận chân thật đi sâu nghiên cứu lịch sử dân tộc Inca ở Pêru Ông cảm động ca ngợi nền
văn minh cổ kính của tổ quốc mình, kể lại những tấm thảm kịch của người Inca khi quân TâyBan Nha chiếm đoạt đất đai và tàn sát dã man họ
Cuối thời kỳ thuộc địa, đội ngũ viết văn người lai càng ngày càng đông đảo hơn, bên cạnh cáctác giả là người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Nhà viết kịch nổi tiếng thời ấy là Alacon (1580 –1639) Ông là người Mêhicô, viết tới 23 vở bi kịch Năm 33 tuổi, ông đến cư trú ở Tây Ban Nha,tiếp tục viết, và thành nhà soạn kịch nổi tiếng của Tây Ban Nha ở thế kỷ XVII
Xuất sắc nhất trong thời kỳ thuộc địa là Crux (1652 – 1695), người Mêhicô, được xem là
nữ thi sĩ lớn của Mỹ Latinh Đây là bút danh của Đê Xantirana Bà sinh trong gia đình địa chủnhỏ, sớm nổi tiếng thông minh Năm 9 tuổi bà đến thủ đô, và 14 tuổi đã trở thành Nữ quan thịtòng của phu nhân Phó vương Mêhicô Bà nổi tiếng uyên bác và có sắc đẹp, nhưng cuộc đời lạigặp nhiều bất hạnh Năm 16 tuổi, bà đi tu Từ năm 1667, bà ở hẳn tu viện Xăng Hêrônimô,chuyên tâm nghiên cứu khoa học và sáng tác văn chương Niềm say mê của bà luôn bị giới tuhành kinh viện, bảo thủ chống lại Nhiều lần bà đã bị cấm đọc sách Hai năm cuối đời, Crux bánhết sách, dấn mình trong cầu nguyện và hoạt động từ thiện Bà đã dùng máu để viết lời sám hốivới Giêsu, và mất trong tu viện khi cứu chữa những người bị dịch hạch
Di sản văn chương của Crux khá đồ sộ, tiếc là không còn giữ được đầy đủ đến ngày nay
Bà có hai vở kịch ngắn là Những lo toan việc nhà và Tình yêu là mê cung rắc rối nhất được coi
là những kịch bản văn chương hay nhất Mỹ Latinh ở thế kỷ XVII Bà còn để lại bốn vở kịch tôn
giáo là Nacxix thần thánh, Người tuẫn giáo bí mật, Thánh Ecmenêhinđo và Pôxôx Iôxipha Văn xuôi của bà nổi bật có Sự khủng hoảng của một thuyết pháp (1690) - phê phán một tu sĩ dòng Tên, đã thật sự gây chấn động mạnh trong giới tu hành, và Trả lời chị Philôtê đêla Crux (1691)
là lời tự bộc bạch về chính cuộc đời mình Đó là những áng văn chương đậm đà tình cảm nhânđạo và cao thượng
Thi ca là sự nghiệp chủ yếu của bà Năm 1689 ở Mađrít, bà cho ra đời ba tập thơ với
nhan đề chung la Sự phong phú của Caxtida, gồm gần 200 bài cùng bản trường ca Giấc mơ
Trang 10đầu Người đương thời suy tôn bà là “Nữ thần thi ca thứ 10” Thơ bà có đặc điểm gì? Thể thơ
ca truyền thống quen thuộc như xonê tình ca; ngoài thơ trữ tình, bà còn làm thơ châm biếm,giễu cợt; đề tài chủ yếu là tình yêu Bà quan niệm tài thơ là ân huệ của Chúa, nhưng thơ bà lạimang đầy tính chất hiện thực chứ không huyền bí Thơ bà còn mang đậm dấu vết văn chươngdân gian
2 Thời kỳ quốc tế hóa văn chương
Thời kỳ này nằm ở khoảng giữa thế kỷ XIX Có thể nói hầu như mọi trào lưu, chủ nghĩa ởphương Tây đều có ảnh hưởng tới Mỹ Latinh
a Chủ nghĩa lãng mạn
Người đề xướng là Sarmientô (1811 - 1888), nhà văn Achentina, sống lưu vong ở Chilê
khi tổ quốc ông bị chế độ độc tài Rôxax thống trị Tác phẩm tiêu biểu của ông
là Phacunđô (1845), mang nhiều tính tự sự Nó có phụ đề là “Văn minh và dã man” với ý nghĩa
đây là cuộc đấu tranh giữa hai thế lực mà chế độ độc tài là tiêu biểu cho sự lạc hậu cần đượclên án và đánh đổ Tác phẩm xuất bản lần đầu tiên ở Chilê (Santiagô) gồm bốn phần:
Phần I và II: Tự truyện về cuộc đời Phacunđô.
Phacunđô sinh trưởng ở Pampas, giữa đám “gauchô siêu việt” Đây là một trong ba loại
người gauchô gồm: “gauchô thông thái”, “gauchô độc ác”, “gauchô ca sĩ” (hay “gauchô siêu việt”) Loại cá nhân đặc biệt này được tạo bởi hai yếu tố Một là thiên nhiên ở Achentina hoang
dã, vô biên, không chế ngự nổi, chi phối đến tính cách con người; và hai là cư dân đặc biệt, lai
giữa dòng máu bản xứ và da trắng Gauchô sống du mục trên thảo nguyên, duy trì xã hộinguyên thủy có tính chất phong bế, đoạn tuyệt với văn minh
Loại “gauchô siêu việt” dũng mãnh và huyền bí, cả người nghèo lẫn người giàu đều sợ vìchúng sống ngoài mọi ràng buộc Khi tụ tập ở quán rượu để chè chén hoặc cờ bạc, chúng saikhiến chủ nhân bằng con dao sáng loáng đặt bên mình Phacunđô giữa đám“gauchô siêu việt”
được mệnh danh là con hổ thảo nguyên Lúc bé, hắn đã quật ngã thầy dạy mình; lớn lên, gia
nhập đám cướp nhưng lại rời bỏ đồng bọn để đăng lính, rồi đào ngũ Sau hắn đốt cháy ngôinhà nơi cha mẹ hắn đang ngủ, tự biến thành một tên cướp Khi chạy trốn khỏi nhà tù, hắn thủtiêu người đã giải thoát hắn rất dã man Hắn bất chấp cả Chúa trời và luật pháp Trong cơngiận dữ, hắn đã cầm rìu chặt đầu con trai để bắt đứa bé câm lặng Được tôn làm thủ lĩnh của
loại người gauchô, hắn thống trị một vài tỉnh, rồi đưa đất nước rơi vào tình trạng cát cứ quân
sự Cuối cùng, trên vũ đài chính trị chỉ còn Phacunđô và Rôxax Rôxax đã lừa hắn, và giết chếtđịch thủ, thâu tóm toàn bộ quyền lực
+ Phần III và IV: Phê phán chế độ độc tài Rôxax.
Hình tượng Phacunđô thể hiện sự thống trị của đẳng cấp, của bạo lực và của chủ
nghĩa Cauđiđô (tôn thờ cá nhân) Đó là cơ sở xã hội của chế độ độc tài trong bức tranh nghệ
thuật của Sarmientô Rôxax giết Phacunđô nhưng không phải là tiêu diệt sự dã man mà tiếp tục
nó Rõ ràng, ý nghĩa trực tiếp, tư tưởng chủ đạo của tác phẩm là lên án nền thống trị độc tài
Rôxax Đương thời đã xuất hiện nhiều tác phẩm theo xu hướng tư tưởng này như Amalia của
Macmôn (1818 – 1871) Thông qua một mối tình trai gái, tác phẩm buộc tội chế độ độc tài Ởđây tình yêu bị ngăn trở, đôi trai gái buộc phải trốn vào rừng, tổ chức đấu tranh vũ trang đểchống lại chế độ độc tài
Như vậy, Phacunđô là tác phẩm lớn, có ý nghĩa xã hội sâu sắc Vấn đề triết học của luận
đề “văn minh và dã man” đang còn được tiếp tục trong văn chương của lục địa này Sau khi chế
độ độc tài Rôxax bị đánh đổ, các nhà văn lưu vong trở về Achentina, Sarmientô được mời thamgia chính phủ, sau được bầu làm Tổng thống nước cộng hòa Trong 6 năm nắm chính quyền
Trang 11(1868 – 1874), ông đã tiến hành nhiều cuộc cải cách lớn lao.
Người có đóng góp quan trọng nhất cho chủ nghĩa lãng mạn ở châu lục này
là Êchêvêria (1805 – 1851) - nhà thơ, nhà văn Achentina Phong trào lãng mạn ở đây bắt nguồn
từ Pháp Trong khoảng năm năm (1825 – 1830), ông du học tại Paris, lúc thịnh trị của vănchương lãng mạn Pháp với những Lamactin, Vinhi, Đuyma, Muytxê… Ông say sưa với tác
phẩm của họ Sau khi về nước, năm 1837, Êchêvêria cho ra đời tập thơ La Cautiva (Người tù).
Ông thể hiện phong cảnh thiên nhiên, cuộc sống lãng mạn, giang hồ của những người du mục,lồng trong những cánh đồng cỏ rộng bát ngát của tổ quốc mình
Chủ nghĩa lãng mạn ở đây có nhiều điểm khác ở châu Âu Ở Âu châu, chủ nghĩa lãngmạn đại diện cho tư tưởng, tình cảm của giai cấp tư sản đang lên, có nhiều nét tiến bộ Nó làcuộc nổi loại trong văn chương, nhằm chống lại chế độ chuyên chế, đòi tự do tư tưởng, tự dosáng tạo Về mặt sáng tác, nó chống lại mọi quy tắc gò bó, chật hẹp của chủ nghĩa duy lý Nóđược xem là kẻ thù của chủ nghĩa cổ điển Tuy nhiên, khi đã thắng thế, phần lớn các nhà vănlãng mạn lại gạt bỏ các vấn đề chính trị xã hội ra khỏi văn chương, quay về sống cách biệttrong thế giới tình cảm và tưởng tượng của cá nhân
Không giống thế, do hoàn cảnh khác, nên văn chương lãng mạn ở Mỹ Latinh không cóđịch thủ cụ thể, vì vậy kém hăng hái và triệt để Về nội dung, văn chương lãng mạn Mỹ Latinhkhông từ bỏ đề tài cũ, trái lại, tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, tiến bộ trước đó Ví như:tên đao phủ trong tác phẩm của Êchêvêri Nhà văn dựng lên hình ảnh tên đao phủ làm việctrong lò sát sinh để ám chỉ tên độc tài Rôxax Hình ảnh thật ghê rợn: người hắn lúc nào cũng bêbết máu bên tiếng kêu thét của những con vật đáng thương bị đưa tới lò sát sinh Đặc biệt, ông
đi sâu vào thiên nhiên, phong tục tập quán, hoặc quay về quá khứ tìm cảm hứng trong cáctruyện thần thoại, trước cảnh đổ nát hoang tàn của các các nền văn minh cổ kính
Tiêu biểu hơn cả cho chủ nghĩa lãng mạn là nhà thơ Cuba Plaxiđô (1809 – 1844) Người
Cuba gọi ông là “ông tổ của thi ca lãng mạn”, “nhà tiên tri bất hạnh của tự do” Ông sinh ở LaHabana, là con ngoài giá thú của một vũ nữ Tây Ban Nha và một người thợ cắt tóc lai Ngay từthời thơ ấu, ông đã hiểu vị thế thấp hèn của người da màu trong xã hội phân biệt chủng tộc.Tuy việc học tập của ông rất sơ sài và thiếu hệ thống Ông từng làm nhiều nghề kiếm sống vàsuốt đời chịu nghèo đói Điều này để lại dấu ấn rõ rệt trong các tác phẩm của ông Vào nhữngnăm 1830, Plaxiđô thường lui tới hội những trí thức tiến bộ và bắt đầu in thơ trên các tạp chívăn chương Do bị tình nghi là một trong những người cầm đầu âm mưu khởi nghĩa của người
da đen, ông bị bắt và bị chính quyền thực dân xử bắn khi nhà thơ mới 35 tuổi
Tác phẩm chính của Plaxiđô gồm hai tập: Thơ (1838) và Tuyển tập thơ (1842) Thơ ông
thể hiện sự xung đột bi thảm giữa con người bị đầy đọa với thế giới bất nhân, khát vọng cải tạo
xã hội, ước mơ cuộc sống công bằng, tự do Riêng thơ tình yêu của Plaxiđô giàu cảm xúc, sinh
động và tự nhiên Ông quan tâm đến những người bình dân, bộc lộ lý tưởng dân chủ (như Gửi
cô thôn nữ của tôi ), thể hiện vẻ đẹp và sự giàu có của quê hương, thức tỉnh ý thức giác ngộ dân tộc (như Cliatva) Thơ ông còn khắc hoạ hình ảnh người thổ dân mà số phận thể hiện tính
mỏng manh của cuộc sống con người, sự dã man của chế độ thực dân, bộc lộ rõ ý thức phản
kháng (như Humuri) Nhà thơ luôn khao khát hành động Ông công khai tuyên bố trong nhiều
tác phẩm là sẵn sàng đối mặt với chính quyền chuyên chế, lớn tiếng nguyền rủa nó và ca ngợi
tự do (như Con người bất tử) Đỉnh cao thơ ông là bài tụng ca Hicôtencatl.
Plaxiđô là một nhà thơ trữ tình yêu nước Vào những năm chính quyền phản động tăngcường đàn áp và khủng bố, nhiều người đã khuyên ông nên lánh ra nước ngoài Ông nhất mực
từ chối vì lý do ông chỉ muốn làm người Cuba, sống và chết trên đất nước Cuba Tính chất yêunước, tinh thần đấu tranh cho tự do, cũng như màu sắc dân tộc làm thơ ông được nhân dânmến mộ và trân trọng
Trang 12Trào lưu lãng mạn bắt đầu từ thi ca, sau ảnh hưởng tới tiểu thuyết và kịch Do cũng đisâu khai thác những đề tài trên của thi ca nên có nhiểu loại tiểu thuyết: tiểu thuyết lịch sử, tiểuthuyết phong tục, tiểu thuyết tình cảm Tiểu thuyết lãng mạn phần nhiều nói đến tình yêuthường bi thảm để lên án xã hội, sự phân biệt chủng tộc và sự khác biệt giai cấp Các tác giả
có phong cách khác nhau nhưng đều góp phần làm cho tiếng Tây Ban Nha phong phú và trongsáng
Tác phẩm tiểu thuyết lãng mạn tiêu biểu nhất là Maria (1867) của Horh Ixaacx (1837
-1895) Truyện kể bằng ngôi thứ nhất của nhân vật chính Ephrain Anh ta đi du học trở về giađình trên bình nguyên Cauca, gặp cô em họ Maria - con nuôi của cha mẹ chàng, rồi đem lòngyêu mến người thiếu nữ kiều diễm ấy Đôi lứa sống những ngày hạnh phúc trong tình yêuthương của cha mẹ và sự trung thành của những người nô lệ da đen Nhưng Maria bị độngkinh Cha Ephrain quyết định gửi chàng đi châu Âu lấy bằng y học, với hi vọng cứu được nàng Song do vắng chồng, bệnh tật của Maria càng thêm trầm trọng Khi biết tin, Ephrain trở về thìngười yêu không còn nữa
Câu chuyện tình ở một thái ấp có tên “Thiên đường” rõ ràng mang nhiều ý nghĩa Tuyếntình yêu lãng mạn tương ứng với bức tranh điền viên về quan hệ xã hội (chủ nô – nô lệ) tráingược với mâu thuẫn trong thực tế lịch sử cũng phần nào biểu lộ sự phủ nhận thực tại Tácphẩm mở ra cho văn xuôi đương thời một con đường mới Văn tài của tác giả được dư luận
khẳng định Với Maria của Ixaacx, văn chương lãng mạn ở lục địa này cũng kết thúc, và văn
chương Mỹ Latinh chuyển dần sang xu hướng hiện thực
b Chủ nghĩa hiện thực
Hai nhà văn Anmâyđa (1830 -1861) và Gana (1830- 1920) là những người mở đầu cho
văn chương hiện thực Mỹ Latinh Amâyđa là người Braxin Tác phẩm Ký ức của một viên đội dân quân của ông là tác phẩm hiện thực đầu tiên ở Braxin
Tuy nhiên, Blext Gana là đáng nói nhất Ông sinh ra ở Sanchiagô (Chilê) trong một gia
đình bác sĩ nổi tiếng Ông từng học ở Học viện quốc gia Sanchiagô - một trung tâm của cuộcđấu tranh tư tưởng và văn học ở Chilê bấy giờ, và Học viện Quân sự quốc gia cấp cao Paris,tốt nghiệp với quân hàm trung uý, kỹ sư trắc địa Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc những sáng táccủa văn hào Pháp Banzắc Gana xuất hiện trên văn đàn vào những năm 50 của thế kỷ XIX
Tiểu thuyết đầu tay là Tình cảnh xã hội (1853), sau là các tác phẩm: Lầm lạc và thất vọng (1855), Mối tình đầu (1858), Tuyệt vọng (1858), Hoan Đê Aria (1858)… Ông còn cho ra đời vở kịch Vinh quang của gia đình (1858) Tất cả các tác phẩm này đều mang dấu ấn của
chủ nghĩa lãng mạn đang thống trị văn đàn Ông kể những câu chuyện về các mưu mô, nhữnghành vi phản trắc, những nỗi thất vọng trong tình yêu Do quá đề cao những thủ pháp tầmthường nhằm lôi cuốn độc giả, những tác phẩm ấy đã phần nào làm lu mờ những vấn đề xã hội
đặt ra trong sáng tác buổi đầu của Gana Tiểu thuyết Số học trong tình yêu (1860) đánh dấu
bước chuyển biến quan trọng của tác giả Tác phẩm thể hiện quá trình thoái hóa của một thanhniên Chilê vốn lương thiện và có tài, cuối cùng đã bị sa ngã trong môi trường giả dối và vụ lợicủa xã hội tư sản, đầu hàng trước quyền uy tuyệt đối của vật chất và tiền bạc Điều này thểhiện tư tưởng phủ định xã hội của nhà văn
Tài năng hiện thực của Gana được tiếp tục phát triển ở giai đoạn sau, với Trả nợ
-1861, Mactin Rivax - 1862, và Lí tưởng một thằng ngốc - 1863 Ông xây dựng một hệ thống
nhân vật kiểu “người trẻ tuổi giàu tham vọng” của Banzắc Họ thành vật hi sinh trong cuộc tấn
công bất lực vào xã hội tư sản Thiên kí sự Từ Niuoóc đến Niagana chấm dứt giai đoạn sáng
tác thứ hai và sau đó là sự im lặng kéo dài trong chừng 30 năm Ông làm ngoại giao và sống
nhiều năm ở châu Âu Năm 1897, ông cho xuất bản cuốn Thời kì kháng chiến Đó là một cuốn
tiểu thuyết giàu chất anh hùng ca viết về Chilê những năm 1814 - 1817 Những tác phẩm cuối
Trang 13cùng của ông là Những người di cư 1904, Thằng điên Extero 1909, và Glêđix Phêyrphin
-1912 Chúng có tính chất châm biếm hài hước, nhưng thể hiện một cách nhìn bi quan đối vớicuộc sống Ông mất tại Paris năm 1920
Như vậy, Blext Gana đã mang lại cho nền văn chương Mỹ Latinh “một tấn trò đời” Chilê
mà đỉnh cao là Mactin Rivax Các nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực phê phán đã được ông
vận dụng để khắc họa những nhân vật điển hình của xã hội Chilê bấy giờ, nhằm tái hiện bứctranh chân thực, khách quan về đời sống dân tộc Ông là một trong những người đặt nền móngcho chủ nghĩa hiện thực Mỹ Latinh Nhà nghiên cứu Đoàn Đình Ca nhận định: “Gana đã phảnánh sự chuyển biến xã hội Chilê từ phong kiến qua chế độ tư bản Người đọc đi vào tác phẩmcủa ông như vào xem một viện bảo tàng lịch sử, ở đấy họ đã thấy mọi cảnh tượng xã hội, đủcác hạng người”
Gần cuối thế kỷ XIX, xu hướng hiện thực đã hoàn toàn thắng thế Những tác phẩm hiện
thực lớn ra đời như Tới miền bờ biển của Mactinet (Người Êcuađor, 1868-1909) Đặc biệt là
các tác phẩm của Machado de Assis (1839 - 1908) Ông là người Braxin, để lại hai tác phẩm
nổi tiếng là Kincat Boócba và Đôngcat Muaho Các nhà phê bình đánh giá ông rất cao, ví ông
với Banzắc trong văn chương hiện thực Braxin và Mỹ Latinh
Nội dung của văn chương hiện thực đáng chú ý nhất là vấn đề thổ dân Trước đó cũng
đã có một số nhà văn, nhà thơ (nhất là trong trào lưu văn chương lãng mạn) đôi khi có nói tớingười Iudio trong tác phẩm, tuy với những nét thường xa lạ, thậm chí lệch lạc so với đời sốngthực Cái nhìn của họ cũng không thật đúng đắn, có lúc thơ mộng lãng mạn, lại có khi bi quan
Họ cho người Iudio hay ghen tuông, dối trá, sống hoang dại như những con thú, là nạn nhâncủa bao tầng áp bức bóc lột, nhưng không biết và không ý thức được, và nếu có chống lại thìduy nhất chỉ đi một con đường là giết kẻ thù, trốn vào rừng, để rồi chết đói chết rét hoặc làmmồi cho thú dữ Dưới con mắt của các nhà văn hiện thực, tuy chưa phải đã hết hạn chế, nhưnghình ảnh người Iudio đã trung thực hơn Họ là những người da đỏ chính cống hoặc người lai.Trên vai họ mang hai khối nặng là sự uy hiếp của thiên nhiên và sự áp bức của con người Đó
là rừng núi, thú dữ, sông ngòi luôn gây ra bão lụt, tai họa Con người áp bức thì là những tùtrưởng, những người cầm quyền, cha cố, con buôn xảo trá… Người bản xứ bị đẩy tới các đồnđiền trồng mía, chuối, càphê, bông, cacao và các hầm mỏ Họ đã biết căm thù và bắt đầu có ýthức trong các cuộc đấu tranh Họ thường bị thất bại, nhưng ý thức giác ngộ ngày càng cao vàlòng căm thù ngày một lớn Đến nhà văn Pêru Vadehô thì người Iudio đã thành người cáchmạng chân chính
Xeda Vadehô (1892-1938) là nhà thơ, nhà van Pêru, “một nhân vật đặc sắc nhất của
văn chương Mỹ Latinh” - nhận xét của Đêpêtơrơ (3) Ông là người cộng sản, sinh ra trong giađình đông con (12 người con) Năm 1913, ông học triết học và văn học, tốt nghiệp với luận
văn Thơ lãng mạn Tây Ban Nha Sau đó, ông vừa học vừa dạy thêm để kiếm tiền Trong số học
trò của ông có Alêgria sau trở thành nhà văn hóa lớn Năm 1918, ông đến thủ đô Lima, cho
xuất bản tập thơ đầu tay Lôx Hêranđôx Nêgrôx Cuối năm 1920, ông trở về quê liền bị tống
giam 112 ngày một cách vô cớ Đây là một nỗi bất hạnh rồi sẽ luôn ám ảnh nhà thơ cho đến
cuối cuộc đời Năm 1921, ông được ra tù, và đầu năm 1922 cho xuất bản tập thơ Tơrinx, thể
hiện sự chín muồi tài thơ của ông, nâng ông lên vị trí mở đầu cho khuynh hướng tiền phongtrong văn chương Mỹ Latinh Sau đó, ông sống lưu vong ở châu Âu và không bao giờ trở về tổquốc mình nữa Ông sống ở Paris trong hoàn cảnh nghèo túng, tuy vẫn cộng tác với các tờ báo
xã hội ở Pêru Ông đi nhiều nước, có Tây Ban Nha, nơi in tập Tơrinx nổi tiếng Ông từng ba lần thăm Liên Xô, có gặp Maiacốpxki Khi về Paris, ông cho ra đời tập kí sự Nước Nga trong năm
1921 và Những suy nghĩ dưới chân điện Kremli Ông mất ở Paris năm 1938 Đó là một cái
chết thê thảm trong cảnh nghèo khổ Aragông đã đọc điếu văn bằng những lời lẽ cảm động.Vadehô chủ yếu viết thơ nhưng cũng để lại nhiều truyện ngắn và đặc biệt là cuốn tiểu
Trang 14thuyết Tungxteno, trong đó xây dựng một người Indio đã có sự giác ngộ về dân tộc và giai cấp,
đã biết đến Liên Xô và Lênin, biết đấu tranh vì lí tưởng xã hội chủ nghĩa
Về kịch hiện thực phải kể đến Sanchex (1857-1910), nhà viết kịch Achentina - Urugoay.
Ông sinh ở Urugoay Lúc trẻ, ông sống ở thủ đô Buiênôx Airex, làm báo từ 14 tuổi, cuộc sống
rất nghèo túng Tác phẩm đầu tay là vở hài kịch sinh hoạt Những cánh cửa bên trong (1897), không mấy có tiếng vang Vở thứ hai Con người lương thiện (1903) bị cấm diễn Sau đó, Đứa con bác sĩ của tôi (1903) vừa ra đời lập tức được tán thưởng ở Achentina Xung đột kịch là mâu
thuẫn giữa một người gauchô với con trai học ở thành phố của ông ta Đó là cuộc xung độtgiữa cũ và mới, giữa hai lối sống nguyên thuỷ phóng túng ở đồng cỏ và tư sản ích kỉ Sau thành
công này, ông viết liên tiếp 20 vở trong vòng 6 năm, như Người phụ nữ ngoại bang - 1904, Vực thẳm - 1905, Trong gia đình - 1906, Đồng tiền giả 1907… Gần như các vở kịch này đều viết về người gauchô Vinh quang của Sanchex tồn tại không lâu Năm 1910, ông sang châu Âu, cư trú
ở Milan (Italia) và mất ở đây
Kịch Sanchex tiêu biểu cho loại hình văn chương được gọi là “văn chương gauchô” ở Mỹ
Latinh Về nội dung, “chất đồng cỏ” thấm vào các trang sách của ông ngay cả khi ông viết vềcuộc sống đô thị Nhân vật chính là người gauchô chống lại văn minh tư sản Về nghệ thuật,kịch tính căng thẳng, ngòi bút dạt dào cảm xúc, ngôn ngữ kịch gần với đời sống Ông là ngườiđặt cơ sở cho kịch hiện thực ở Achentina, Urugoay và Mỹ Latinh
3 Thời kỳ trưởng thành và phát đạt
Người mở đầu giai đoạn này là José Marti, nhà thơ, nhà văn, người anh hùng dân tộc,
nhà cách mạng, nhà văn hóa vĩ đại của Cuba, cha đẻ của nền độc lập Cuba Tên tuổi của ông
gắn với Chủ nghĩa Môđéc, là một trào lưu mới, một cuộc cách mạng trong văn chương, nghệ
thuật Với ông, từ đề tài, nội dung cho đến từ ngữ, vần điệu của thi ca, và sau đó là văn xuôi MỹLatinh đều được biến đổi lớn
José Marti sinh ngày 28/1/1853 ở La Habana, trong một gia đình quân nhân gốc Tây Ban
Nha, sớm tự lập và tham gia hoạt động cách mạng Apđala là tác phẩm đầu tay của ông Đây là
vở kịch bằng thơ thấm nhuần tinh thần yêu nước chống xâm lăng, được đăng trên báo “Tổquốc tự do” năm 1869 Ông vốn cộng tác với tờ báo mang khuynh hướng kêu gọi giành độc lậpcho Cuba này Năm 1869, ông bị bắt và bị cầm tù, rồi bị trục xuất sang Tây Ban Nha năm 1871
Ở đây, ông viết và xuất bản thiên hồi ký Tù nhân chính trị ở Cuba, tố cáo tội ác đẫm máu của
chính quyền thực dân Tây Ban Nha Ông tốt nghiệp cử nhân luật, triết và văn chương ở Mađrít Năm 1875, Ông trở về Mêhicô làm báo và tuyên truyền cách mạng Ông viết vở kịch
thơ Tình yêu và tình yêu sẽ tắt, được trình diễn ở thủ đô Đầu năm 1877, ông bí mật về Cuba
để tìm hiểu tình hình cách mạng trong nước, sau đó sang cư trú và dạy học ở Goatêmala Khicuộc chiến tranh 10 năm (1868 – 1877) ở Cuba kết thúc, giai cấp tư sản và địa chủ bản xứphản bội quyền lợi nhân dân, thỏa hiệp với chính quyền thực dân Tây Ban Nha, ông về nước
và nhóm lại ngọn lửa cách mạng Kế hoạch khởi nghĩa bị bại lộ, ông bị bắt và một lần nữa bịtrục xuất sang Tây Ban Nha
Năm 1880, ông đến New York (Mỹ), sau đó thành lập Đảng cách mạng Cuba vào năm
1892, đây chính là lực lượng sẽ đổ bộ về Cuba sau này Cơ quan ngôn luận là báo “Tổ quốc”
do ông sáng lập, nơi đăng những trước tác của ông về dân tộc và cách mạng Một loạt tác
phẩm lớn của ông ra đời trong giai đoạn này mà tiêu biểu là Ixmaelido (1882) - tập thơ đầu tay
có tiếng vang đồng thời được các nhà nghiên cứu xem là cột mốc quan trọng trong văn chương
Mỹ Latinh, sẽ được ông và những người cùng chí hướng tiếp nối trong suốt 40 năm sau Nộidung tác phẩm ca ngợi tính thần nhân đạo sâu sắc, đối lập với thế giới tội ác của bọn thực dân.Hình tượng thơ mới lạ, liên tưởng mạnh, ngôn ngữ bình dị, âm luật chặt, mang đậm phong vị
Trang 15coi đó là nguyên tắc thẩm mỹ hàng đầu Ở nhiều bài trong tập thơ này (như Cô gái Goatêmala),
có sự sáng tỏ về tư tưởng, sự uyển chuyển trong thể hiện, kết hợp tài tình, hài hòa trong nhạc
điệu dân ca Những vần thơ tự do (1913) là tập thơ cuối cùng của ông gồm 44 bài được sáng
tác vào những năm 1878 – 1882 Mục đích của tác phẩm như ông xác định là nhằm: “Để lạitrong lòng người đọc hình tượng người chiến sĩ”
Tháng 4/1895, sau 14 năm chuẩn bị lực lượng, J Marti vơi tư cách là lãnh tụ tối cao củacách mạng, đã bí mật trở về tổ quốc, trực tiếp chiến đấu giành độc lập, và đã hy sinh tại tỉnhOrientô lúc 42 tuổi
Cuộc đời của José Marti là một bản anh hùng ca vĩ đại Di sản trước tác của ông phong
phú và đồ sộ Ngoài thơ, ông còn viết văn chương chính luận (Toàn tập José Marti gồm 20
cuốn) Ông là người đầu tiên dự đoán ngày đế quốc Mỹ bành trướng, báo trước hiểm họa về
“con quái vật” này Thật là một lời tiên tri sáng suốt, vì Cuba mới giải phóng được không bao lâulại rơi vào tay Mỹ Một chính khách Mỹ, ngay từ đầu thế kỷ XVIII, đã nói: “Cuba giống quả táotrên cây Tây Ban Nha, người Mỹ phải chăm chú theo dõi lúc nó chín, vì hễ rơi là rơi vào tay
Hoa Kỳ” Ông cũng là nhà văn châu Mỹ đầu tiên viết về Việt Nam Đó là bài viết Cuộc hành trình qua đất nước An Nam (Tạp chí Tuổi vàng, năm 1889), tỏ sự đồng tình với cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta
Đêpêtơrơ nhận định về J Marti: “Ông là một người học vấn uyên bác, có thể nói là mộtnhà học giả bách khoa, một nhà nhân đạo chủ nghĩa” Sáng tác của J Marti có ảnh hưởng sâurộng đến tiến trình văn chương Cuba và Mỹ Latinh Phiđel Castrô cho rằng: “Tác phẩm của ông
là chiếc chìa khóa mở cho việc tìm hiểu Mỹ Latinh trong các thời đại trước ông, của ông và sauông” Điều quan trọng nhất là các tác phẩm của ông biểu hiện xu hướng thâm nhập, chiếm lĩnhhiện thực Mỹ Latinh với tư tưởng dân tộc, độc lập và cách mạng
Trước J Marti, vào đầu thế kỷ XIX, chú ý khai thác thực tại Mỹ Latinh có các tác giả A.Bello (người Chilê; 1781 - 1863) và J Herredia (người Cuba; 1803 - 1839) J Marti gọi họ
là hai nhà thơ dân tộc đầu tiên của Mỹ Latinh Tuy nhiên, hiện thực trong thơ họ mới chỉ là thiên
nhiên, phong tục tập quán và lời ăn tiếng nói hàng ngày Vào thập niên 1868 – 1878, khi haidân tộc Cuba và Pooctô Ricô chống thực dân Tây Ban Nha, mảng thơ chiến đấu xuất hiện,khuynh hướng Mỹ Latinh được nâng cao thêm một bước Nhưng các tác giả mới là nghĩa quâncầm bút chứ chưa phải là nghệ sĩ cầm gươm, lại chưa phải là xu hướng bao trùm lên toàn bộlục địa Mỹ Latinh Hơn thế, không ít trường hợp còn rơi vào cải lương thỏa hiệp, hay chỉ phảnánh hiện thực một cách bất chợt, thụ động nơi chiến trường Vậy là, ngay trong những tác giả
và tác phẩm tiên tiến nhất, văn chương Mỹ Latinh trước J Marti vẫn còn thiếu cái nhìn toàndiện, đúng đắn và khoa học Mặc dù có hiện thực Mỹ Latinh nhưng những vấn đề sinh tử, cốtlõi chưa được đề cập tới một cách thỏa đáng Thậm chí, ngay cả thi hào R Dario còn công khai
tuyên bố: Hiện thực Mỹ Latinh không có gì có thể nuôi dưỡng được những sản phẩm tinh thần của mình.
J Marti nhận ra tình trạng lệ thuộc, què quặt, chưa có diện mạo riêng của văn hóa MỹLatinh vì bị Tây Ban Nha hóa một cách nghiêm trọng và rất có thể sẽ bị Mỹ hóa vốn là hậu quảcủa thời kỳ thuộc địa Ông yêu cầu Mỹ Latinh phải tự tìm mình, khẳng định được mình trongcộng đồng quốc tế, và tìm cách thể hiện trong thời đại mình Ông đã trọn đời cống hiến sựnghiệp trước tác của mình theo hướng đó Thực tế, văn chương J Marti đã khắc họa hình ảnh
Trang 16Mỹ Latinh hiện thực nhất, vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo những di sản nghệ thuật của nhiềunền văn chương thế giới để thể hiện chủ đề Mỹ Latinh.
J Marti còn có nhiều đóng góp đặc biệt trong cách tân thơ Thơ trữ tình của ông thànhmẫu mực cho sự tìm tòi, thể nghiệm của nhiều nghệ sĩ Mỹ Latinh Ông luôn đòi hỏi: thơ cần
“gắn liền với cuộc sống muôn người đau khổ”, và nhà thơ phải “nhìn thấy trước những gì sẽviết” Ông còn yêu cầu “trong thơ ca cũng như trong hội họa, điều bắt buộc là phải tự nhiên”.Đúng như một nhận xét, thơ ông “ngắn và giản dị… viết ra không phải bằng mực của Viện Hànlâm mà bằng máu” Thơ ông trở thành nguồn cổ vũ lớn lao đối với người lao động là vì thế
Như vậy, phong trào thơ Môđéc do José Marti khởi xướng từ năm 1882 được đông đảo các
nhà thơ cùng thời và hậu bối tiếp tục trong vòng 40 năm sau đó như Nahêra (người Mêhicô;
1859 – 1895); Sinvát (người Côlômbia; 1865 – 1896)… Nó bao trùm khắp Mỹ Latinh, ảnhhưởng tới Tây Ban Nha, đồng thời giải phóng văn chương Mỹ Latinh ra khỏi chiếc gậy chỉ huycủa văn đàn châu Âu Người kế thừa và là đại biểu xuất sắc nhất cho phong trào này là nhà thơmang dòng máu thổ dân người Nicaragoa: Ruben Dario (1867 – 1916)
Ruben Dario sinh tại Mêtapa (nay là thành phố mang tên ông), thuộc dòng máu
Chôrôtêga (thổ dân) Thuở nhỏ, ông ốm yếu và bệnh tật, theo học trường dòng Vốn liếng vănchương ban đầu của ông là một mớ lộn xộn, không được chọn lọc Tuy ông làm thơ từ rất sớm,lúc 11 tuổi Từ 14 tuổi ông đã cộng tác với tờ “Chân lý” (thành phố Lêôna), và năm 18 tuổi, ông
đã hoàn thành cuốn Thứ tự về thơ, những âm thanh đầu tiên theo chủ nghĩa lãng mạn.
Năm 1886, lúc 19 tuổi, ông đến Chilê kiếm sống ở Santiagô Sống nghèo khổ, ông viết chotạp chí “Thời đại” với nhuận bút ít ỏi Lúc này, ông chịu ảnh hưởng của phái Thi sơn và chủ
nghĩa tượng trưng Khi dọn tới Vanparaixô, ông cho in tập Màn xanh nổi tiếng được coi là tuyên
ngôn của chủ nghĩa hiện đại ở Mỹ Latinh Từ đó ông làm phóng viên cho một tờ báo lớn ởAchentina, đi du lịch nhiều nơi (Paris, Mađrit, Airex…) Ông lấy vợ, li dị, rồi lại cưới Murido,nhưng chung sống với bà không được bao lâu, và bắt đầu giải sầu ở các quán rượu
Ông xuất bản hai tập thơ ở Achentina là Những người lỗi lạc (1893) và Thánh ca (1896) Cũng như Màn xanh, trong các tập này, ông đi tìm cái đẹp thuần túy, dần dần loại bỏ các vấn
đề xã hội ra khỏi thi ca Khẩu hiệu ông nêu ra là: “Chống lại sự tầm thường hóa trong vănchương” Ông bị phản ứng mạnh mẽ từ phía độc giả Từ đó thơ ông có xu hướng đi vào bế
tắc: Không biết chúng ta sẽ đi về đâu/ Mà cũng chẳng hiểu từ đâu chúng ta tới Và ông tuyên
bố: “Hãy vặn cổ con Thiên nga”
Năm 1905, tập Bài ca cuộc đời và niềm hy vọng bộc lộ sự quan tâm đến đời sống xã hội của nhà thơ Theo khuynh hướng này rõ hơn là tập Bài hát lang thang (1907) Nhân danh một
lục địa đang thức tỉnh, R Dario kêu gọi sự thống nhất Mỹ Latinh vốn là một vấn đề cấp báchcủa cuộc đấu tranh lúc đó Cùng năm, ông về Nicaragoa và được đón nồng nhiệt Rồi ôngđược chính phủ chỉ định một chức vụ ngoại giao ở Tây Ban Nha Không lâu sau đó ông từ bỏtất cả và sang định cư ở Paris Tại đây, ông hoàn toàn suy sụp về tinh thần và thể lực, sốnglang thang khắp châu Âu và châu Mỹ Ở New York, ông bị ốm nặng, trong cảnh đói nghèo,không người thân thích Sau vợ ông đã đưa ông về quê hương R Dario qua đời trên bàn phẫuthuật ở thành phố Lêôna Những tác phẩm cuối cùng của ông bộc lộ rõ tâm trạng tuyệt vọng vàđau đớn
Tóm lại, R Dariô là nhà thơ trữ tình lớn của Mỹ Latinh Tác phẩm của ông đánh dấunhững tìm tòi cay đắng về mặt tinh thần của xứ sở ông trong thời kỳ cực kỳ đen tối Thơ ôngmang vẻ đẹp và sức mạnh hùng vĩ của thiên nhiên Mỹ Latinh Ông là một nhà cách tân thi calớn Do tài năng mà bản thân ông đã dần dần chiến thắng khuynh hướng thi ca xa rời cuộcsống của nhân dân và châu lục mình
Trang 17Với sự ra đời của chủ nghĩa Môđéc mà Ruben Dario là một đại biểu lớn nhất, văn
chương Mỹ Latinh thật sự bước vào thời kỳ mới, độc lập và dân tộc
Phần 2
MỘT SỐ TRỌNG ĐIỂM TIÊU BIỂU
TRONG THỜI KỲ TRƯỞNG THÀNH VÀ PHÁT ĐẠT
I THƠ CA
Đêpêtơrơ nhận định: “Có thể nói dường như có hiện tượng lạm phát về thơ ở MỹLatinh Riêng ở Braxin tôi nhớ đã gặp tới 150 nhà thơ; ngày đêm họ đọc thơ, thật là loạn thơ ỞChilê cũng vậy, hết thảy mọi người đều có thi hứng, hết thảy đều làm thơ, hết thảy đều là thisĩ… Thơ nằm ngay trong cuộc sống của châu Mỹ Latinh Thường là không có ranh giới giữanhảy múa và thơ, giữa balê và thơ, giữa ca hát, nghệ thuật dân gian và thơ” (3)
Về thơ, phải kể trước tiên đến G Mistral (1889-1957), nữ thi sĩ Chilê Thơ trữ tình của
bà mở đầu thời kì phồn thịnh của thi ca Mỹ Latinh với các tên tuổi lớn như Xeda Valêhô, PabloNéruda, Nicolax Guillen… Bà là người đầu tiên ở Mỹ Latinh được tặng Giải thưởng Nobel vềvăn chương vào năm 1945
Sinh trong gia đình giáo viên trung học, từ 16 tuổi, bà làm giáo viên rồi hiệu trưởng trunghọc ở nhiều thành phố Bà in bài thơ đầu tiên vào năm 1903 trên một tờ báo địa phương Cáichết tự sát của vị hôn phu đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời và trong sáng tác củanhà thơ Năm 1922, bà đến Mêhicô theo lời mời của chính phủ ở đây để tham gia công cuộccải cách giáo dục Từ 1924, bà là lãnh sự Chilê lần lượt ở các nước Italia, Tây Ban Nha, BồĐào Nha, Braxin, Mĩ, và làm việc nhiều năm ở Liên hiệp quốc Bà mất ở Mĩ
Bài Xone về cái chết của bà được trao giải nhất trong cuộc thi ở Sanchiagô năm 1914
đã mở đầu con đường thi ca của bà Tập thơ đầu tay Nỗi tuyệt vọng đã gây một chấn động
mạnh trong văn chương châu lục Cuộc sống riêng tư, mối tình bi thảm đắng cay, niềm khaokhát cháy bỏng được làm mẹ, được bộc bạch bằng tiếng nói trữ tình mãnh liệt của một tâm hồn
cởi mở và bình dị đã tạo nên cức cuốn hút mãnh liệt của tập thơ Rừng trụi, tập thứ hai, đề tài
được mở rộng hơn Trái tim nhà thơ bị vò xé vì những bà mẹ cô đơn, những đứa trẻ côi cút.Cái tôi trữ tình không dừng lại ở cá nhân mà bao trùm lên những cuộc đời bất hạnh của hàng
triệu người Mỹ Latinh đang đấu tranh giành cuộc sống Tập thơ cuối cùng của bà là Máy ép in
năm 1954 G Mistral kế thừa văn nghệ dân gian Indio Bà nắm bắt cách cảm cách nghĩ củangười dân bản địa châu Mỹ và khéo thể hiện trong loại thơ ca truyền thống Đặc trưng của thơ
bà (kể cả thơ của nhiều nhà thơ lớn khác ở Mỹ Latinh) là sự quan tâm sâu sắc tới bản chấtthực tại và cái nhìn nhân đạo đối với con người
Thơ Mỹ Latinh đa dạng, nhiều xu hướng và phong cách độc đáo Ví như
thơ Cácđênan (sinh năm 1925) Nhà thơ Nicaragoa này hồi nhỏ sống với ông bà nội Sau khi
Trang 18tốt nghiệp tú tài, ông vào học luật và văn chương tại một trường đại học ở Mêhicô Năm 1914,tốt nghiệp khoa Ngữ văn với luận văn “Những khát vọng và ngôn ngữ trong thơ mới ở
Nicaragoa” sau được dùng làm Lời mở đầu cho Tuyển tập “Thơ mới Nicaragoa” Rồi ông
nghiên cứu tiếng Anh tại Trường Đại học Côlômbia Năm 1950, ông trở về Nicaragoa lập tờ báo
“Sợi chỉ xanh”, dịch thơ Mĩ và viết bài thơ dài Với Oancơ ở Managoa được tặng giải nhất, nhân
150 năm ngày thành lập thành phố này Ông tham gia tổ chức thanh niên chống chế độ tài
Xômôxa giành chính quyền Vào các năm 1952 - 1956, ông viết Những vần thơ phúng thích, hướng về tình yêu và chống độc tài Sau cuộc bạo động thất bại, những người cầm đầu
bị giết hại, ông buộc phải chạy trốn Từ đó, ông lâm vào cuộc khủng hoảng tinh thần rồi quyếtđịnh đi vào cuộc sống trầm tư mặc tưởng trong các tu viện ở Mĩ, Mêhicô, Côlômbia Năm 1965,ông trở về Nicaragoa, được phong linh mục, rồi thành lập Giáo khu Đức bà gồm toàn nhữngngười nông dân nghèo khổ
Vào những năm 1954-1956, ông viết các tập Giờ số không, Nhã ca… Năm 1959, ông
tham gia Ban giám khảo giải thưởng hàng năm của Nhà châu Mĩ (tổ chức văn hóa của Cuba),
xuất bản Lời chào mừng những người Anh điêng châu Mĩ Sau đó, ông đi du lịch ở các nước Côtxta Rica, Pêru, Chilê Đặc biệt ông viết Khúc ca Tổ quốc dâng tặng Mặt trận dân tộc giải
phóng Xanđinô, người tổ chức và lãnh đạo cuộc chiến đấu chống chế độ độc tài Xômôxa Năm
1976, ông tham gia Tòa án Brúcxen II, tố cáo tội ác của chế độ độc tài đối với nhân dânNicaragoa Năm 1977, nổ ra cuộc tấn công trại lính Xăng Caclôt, Cácđênan bị vu là tác giả tinhthần của cuộc bạo động Quân chính phủ lục soát và cướp phá thư viện của ông, buộc ôngphải sống lưu vong sang Côxta Rica, nơi ông gia nhập Mặt trận Xanđinô Sau khi cách mạnggiành thắng lợi, ông được bầu là Uỷ viên trung ương Mặt trận và Bộ trưởng bộ Văn hóa nướccộng hòa Nicaragoa
Đóng góp chủ yếu về thơ của ông là thơ khách quan Cácđêvan giải thích: “Thơ kháchquan là thơ được sáng tạo bởi những hình ảnh cụ thể của thế giới bên ngoài, thế giới màchúng ta cảm nhận và rung động, là thế giới đặc biệt của thi ca Thơ khách quan là thơ mangtính tự sự rất cao, được xây dựng từ những chất liệu của đời sống thực với những sự việc điểnhình, với những tên riêng, những chi tiết đắt, những tư liệu chính xác bao gồm con số thống kê,những sự kiện và lời nói” Đó là những vần thơ văn xuôi giản dị, chân chất, giàu nhạc điệu,không câu nệ vào vần luật của thơ, vào số từ, chỉ nhằm diễn đạt chính xác đến mức cao nhấtnhững tư tưởng và tình cảm của thi sĩ trước thực tại, những nguyện vọng thay đổi thế giới,những khát vọng đoàn kết, lòng yêu thương giữa những con người
NICOLAS GUILLEN
(1902 – 1985)
Nicolas Guillen là nhà thơ lớn, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Cuba và Mỹ Latinh,
là Chim bồ câu với cánh bay của nhân dân (tên một tập thơ của ông) Có thể xem đoạn thơ sau trong Nghệ thuật thơ là tuyên ngôn của thi sĩ:
Làn roi ông chủ lại giơ lên
Nó xé rách những lưng người tóe máu
Anh hãy đi, và bằng tiếng cây đàn
Nói sự ấy cho cây hồng biết với.
Hãy nói với hoa về cả màu sáng chói
Trang 19Của mặt trời mới đang mọc lên kia
Để cho hoa trong làn gió mơn ru
Cũng vỗ tay và kêu thành tiếng.
Đây chính là bí quyết thành công của thơ ông B Pôrêvôi nhận xét: “Sáng tác của Guillengộp thu trong đó cả niềm vui và nỗi buồn của nhân dân Cuba, tài thơ đặc biệt của ông là đểphục vụ nhân dân Vâng, Guillen sẽ không phải là Guillen nữa nếu ông quay mặt trước nỗikhổ niềm đau, hy vọng và vui sướng của dân tộc mình” Thơ ông vì vậy có ảnh hưởng lớn,không chỉ ở Cuba và Mỹ Latinh Thơ ông lan truyền rất nhanh, thành “hiện tượng”, vừa có ýnghĩa văn chương lại vừa có ý nghĩa xã hội to lớn Êrenbua cho rằng: “Nicolas Guillen khôngchỉ là một đại biểu Cuba và không chỉ là một người làm thơ chuyên nghiệp Guillen là cả mộthiện tượng” Lời nhận xét tưởng lạ lùng thực ra đặc biệt chính xác Hoan Marinelô - nhà hoạtđộng xã hội lỗi lạc của Cuba, thì viết: “Ông có thể trở thành một món thời trang, giàu có, được
ca ngợi, nhưng muốn thế, cần phải từ bỏ mình, và ông đã không chịu” Đây chính là con đườngkhiến ông trở thành nhà thơ lớn của Cuba và Mỹ Latinh
1 Đôi nét về cuộc đời
Nicolas Guillen sinh ngày 10/7/1902 tại Camaguây, một thành phố cổ ở trung tâm Cuba.Ông là người lai (cha da trắng, mẹ da đen) Ông của Guillen là người thợ mộc, có học thức,
căm ghét bọn thực dân và rất yêu nước, yêu tự do Guillen nhớ lại trong bài viết cho Tuyển thơ của ông xuất bản tại Liên Xô 1957: “Ông tôi là một nhà thơ mặc dầu chưa bao giờ có một
quyển sách nào của ông được in ra Tôi đã đọc những bài thơ của ông tôi viết ca ngợi nhữngcon sông, những con chim, những người phụ nữ đẹp Người ta kể rằng ông tôi có kiểu mặtngười da đỏ, nước da rám nắng, tóc đen mượt và nét mặt thanh tú Đối với xã hội lúc bấy giờ,thì ông tôi là một người có học thức, một người say mê sách nổi tiếng Tất cả những người tiếpxúc với ông cụ đều hơi sợ cách ăn nói sắc sảo và không biết nương nhẹ của ông Căm thù vôhạn ách thống trị của bọn thực dân Tây Ban Nha, ông để râu và thề sẽ không cạo nếu chỉ còn
dù chỉ một tên trong bọn chúng trên hòn đảo Song ông không được nhìn thấy chiến thắng, ông
đã chết trước khi kết thúc chiến tranh”
Cha Guillen là một nhà hoạt động chính trị, yêu tự do, và có một ngòi bút hết sức sắcsảo Cha ông bị bọn phản cách mạng giết vào năm 1917 Guillen viết tiếp: “Cha tôi hồi trẻ trướclúc đi chiến đấu chống bọn Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ trước, là một người thợ bạc lànhnghề Cha tôi trở về thành phố quê hương 1898, sau cuộc can thiệp của chính phủ Mỹ Nhưng cha tôi không trở về xưởng thợ, mà lại về ban biên tập của một tờ báo hàng ngày mangcái tên “Hai nước cộng hòa” Dần dần, cha tôi trở thành chủ báo đó, và rời khỏi ban biên tập đểchiếm ghế thượng nghị sĩ vào năm 1908 Sau khi hết quyền hạn thượng nghị sĩ, cha tôi quaylại với nghề làm báo, sáng lập ra tờ “Tự do”, và mua nhà in Tôi và anh tôi trở thành những thợxếp chữ trong nhà in ấy Đến năm 1917, phái tự do lại nổi dậy chống phái bảo thủ Cha tôi đã
hy sinh trong một trận chiến đấu ở đường phố”
Năm 1921, Guillen vào học khoa Luật trường đại học Habana Tuy ngay từ nhỏ ông đãham đọc, ham học Ông tự thuật tiếp: “Qua thư viện của cha tôi, tôi đã đọc và yêu các nhà văn
cổ điển Tây Ban Nha và cả những nhà văn lãng mạn nữa, đặc biệt là Etxprôngxêđu Bài ca tên cướp biển của ông làm tôi xúc động ngay từ lần đầu tiên.
Trên thành tầu – 12 khẩu đại bác;
Con tàu dương tất cả cánh buồm lên
Cho ngọn gió tự do thổi vào,
Trang 20Và lướt đi trên những cánh sóng ”.
Guillen cũng là một người ham thích thơ và sáng tác thơ từ nhỏ Năm 1922, lúc 20 tuổi,
ông tập hợp tất cả thơ sáng tác trước đó thành tập Tim và óc gồm 26 bài Ông nhớ lại: “Thơ ca
luôn luôn quyến rũ tôi Khi còn học ở những lớp trên trong trường trung học, thì chính văn học,lịch sử và lý luận của nó tôi đã dành cho chúng nhiều thì giờ hơn cả Những bài tập văn học đầu tiên của tôi là vào thời kỳ này Lúc đó tôi 15 tuổi Tôi làm thơ cho đến năm 1922 Thế làtôi có một tập thơ trong đó thể hiện rõ sự ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa hiện đại và tấtnhiên là của Ruben Dario Đó là những bài thơ về tình yêu, có ít nhiều sầu não, và đặc biệt lànhững bài thơ về những con thiên nga, những cái ao, những chàng công tử, hầu tước, nhữngnhân vật thần thoại May thay, cuốn sách ấy không được in ra”
2 Đôi nét về đường thơ
Đúng như N Guillen thừa nhận về tập thơ Tim và óc: “May thay, cuốn sách ấy không được in ra” Thơ buổi đầu của ông nhạt nhẽo, thiếu bản sắc Ví như bài Ý định:
Đêm nay
Khi trăng lên
Tôi sẽ đổi trăng lấy những đồng xu nhỏ
Nhưng tôi đau lòng nếu người ta biết ra điều đó
Bởi đây là
Kỷ niệm cũ
Của gia đình.
Bước ngoặt diễn ra vào năm 1930 (20/4) với Những môtíp khúc son đăng trên tạp chí
“Điariô đơ Marina” ở trang hàng tuần dành nói về cuộc sống của người Cuba da đen Đây đượccoi là ngày khai sinh nhà thơ lớn Nicolas Guillen Chùm thơ son này có 68 bài, là sự kiện lớntrong thơ Cuba và Mỹ Latinh Rêtamar viết:“Tôi cho rằng trong nền văn học của châu lục nàyhãn hữu lắm mới thấy một trường hợp một tác phẩm với số lượng bài thơ ít ỏi lại gây được
tiếng vang như trường hợp Những môtíp khúc son Guillen đã bước vào nền văn học của
chúng ta với bàn chân phải, nhảy múa và ồn ào Bằng một cú nhảy, ông đã ngang tầm vớinhững nghệ sỹ Cuba đang sáng tác thơ ca được mệnh danh là ‘Khuynh hướng da đen’” ChínhGuillen cũng thừa nhận: “Tôi muốn đưa vào văn học Cuba – không như một cái cớ âm nhạcđơn thuần mà như một yếu tố của thơ ca chân chính – cái có thể gọi là thơ khúc son, được dựatrên kỹ thuật của điệu dân vũ rất dân gian ấy trong thời đại chúng ta Khúc son của tôi có thểphổ nhạc được, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng được sáng tác với mục đích ấy, màchủ yếu với mục đích giới thiệu trong hình thức thích hợp nhất những bức tranh sinh hoạt vớinhững nét chấm phá, giới thiệu những típ người của nhân dân như họ đang quây quần bênchúng ta, như họ nói, như họ nghĩ ”
Ông lấy từ một hòa khúc nhảy múa dân gian của Cuba có kèm theo lời thơ (khúc son) Vì
vậy, từ điển La Rousse có mấy dòng về ông: “Nhà thơ Cuba sinh ở Camaguây 1902, thơ ông
bắt tứ ở vốn fônklo dân tộc” Điệu son là gì? Theo Clôtđơ Cupphông (người dịch và giới thiệu
Guillen ra tiếng Pháp) thì bài son đầu tiên mà người ta biết được làm ở cuối thế kỷ XVI (1580)tại thành pho Santiagô (Cuba) Lời của điệu ca múa ấy đại lược với câu hỏi và lời đáp như sau:
- Chị Ma Têôđôra đi đâu rồi?
- Chị ra đi bẻ cành kiếm củi.
- Ra đi với chiếc dùi trống và cây đàn?
Trang 21- Chị ra đi bẻ cành kiếm củi.
- Chị ở đâu mà tôi không thấy?
- Chị ra đi bẻ cành kiếm củi.
- Chị ra đi bẻ cành kiếm củi.
- Chị ra đi bẻ cành kiếm củi.
Những người thông thạo về vấn đề này cho rằng điệu ca múa son kết hợp hai nền vănhóa: giai điệu Tây Ban Nha với những yếu tố truyền khẩu đã có từ lâu đời ở châu Phi
Năm 1910, điệu ca múa son rất lưu truyền ở vùng Camaguây Giới thượng lưu khôngnhảy múa theo điệu này, chỉ có dân chúng Âm nhạc điệu son, qua thời gian, giàu có thêm lên
Thường một bài son gồm có hai phần (gọi là hai “lúc”) Phần một kể câu chuyện, hoặc nêu chủ
đề của ca khúc; phần hai dồn dập hơn, giá trị chủ yếu là về nhịp điệu, gồm những tiếng được
chọn vì âm hưởng của nó và cốt để nhấn mạnh ý tứ ở phần đầu Những năm 1925–1930, khúcson lan ra khắp Cuba Vừa tới La Havana thì son được hoan nghênh một cách kỳ lạ Từ nhữngkhu phố, son đã tràn vào các thính phòng, và hầu như tất cả các dàn nhạc đều chơi điệu ấy Nó
còn được dùng cả trong chiến dịch vận động bầu cử Đây là bài Nếu mà cô biết
của N Guillen:
Phần đầu (là cốt truyện):
Ấy a, cô gái ơi
Nếu mà cô biết!
Đêm hôm qua khi tôi thấy cô đi qua,
Tôi đã giấu mặt, không cho cô thấy.
Với anh ta, cô cũng sẽ làm như với tôi
Khi tôi không còn một xu trong túi
Cô đã bỏ đi vui thú nơi nao
Quên rằng tôi có ở trong đời.
Phần hai gồm những tiếng những âm thanh của ngôn ngữ, cốt cho người nghe có ấntượng như bị xoay ngợp:
Trang 22không biết xuất hiện từ đâu phô bên tai tôi một cách rõ ràng chính xác hai từ Nêgrô Bembô Cái
gì thế vậy? Dĩ nhiên tôi không thể tìm ra một câu trả lời nào thỏa đáng, nhưng tôi không thể nàongủ thêm được nữa Cái câu ngắn ấy, kèm theo một nhịp điệu đặc biệt mới mẻ, cứ quay tròn
xung quanh tôi suốt đêm, càng lúc lại càng sâu sắc và cuốn hút: Nêgrô Bembô, Nêgrô Bembô, Nêgrô Bembô Tôi dậy sớm và bèn ngồi vào viết Như thể là tôi nhớ lại một điều đã học thuộc
từ trước, tôi bèn làm liền một hơi một bài thơ, trong đó mấy tiếng kia làm chỗ tựa cho các câuthơ khác:
Tại sao anh nổi giận đến như thế
Khi người ta gọi anh: “Anh da đen môi dày”,
Nếu mà cái miệng anh ngon tuyệt,
Ơi anh da đen môi dày?
Môi dày, môi dày anh như thế kia
Anh có đủ cả,
Bởi chưng cái bà đài thọ anh
Biếu anh tất cả.
Nhưng được đến thế nào, anh vẫn còn rên xiết,
Ơi anh da đen môi dày;
Cái người không làm mà có tiền bạc,
Ơi anh da đen môi dày;
Một bộ cánh diện vải trắng tốt,
Ơi anh da đen môi dày;
Và một đôi giày hai màu bóng lộn,
Ơi anh da đen môi dày
Môi dày, môi dày anh như thế kia,
Anh có đủ cả;
Bởi chưng cái bà đài thọ anh
Biếu anh tất cả.
Tôi viết, tôi viết suốt cả ngày, tự ý thức về sự bắt được ấy Đến tối, tôi đã được một vốc
bài thơ - 8 hay 10 bài mà tôi đặt tên chung chung là Những môtip khúc son” “Cái mới”, cái sáng
Trang 23tạo ở đây là gì? Rêmatar viết: “Thay thế vào đó là ngôn ngữ Tây Ban Nha được trau chuốt vàvới những từ tượng thanh gợi hình ảnh, rất tự do phóng túng Cũng không phải là những hìnhảnh hời hợt, nực cười từng phù hợp với thứ ngôn ngữ bị biến dạng theo lối nói của ngườikhông có học thức”.
Chính N Guillen ban đầu cũng tỏ ra hoài nghi, không rõ có phải là sáng tác của riêngông, và không rõ có được mọi người tiếp nhận? Ông tâm sự với Clốt đơ Cupphông: “Lúc đầutôi cũng rất sợ, bởi tôi rất nghi ngờ cái sự dễ dàng của tôi khi viết nên các bài thơ ấy Lúc đó tôinghĩ rằng có lẽ tôi đã bị mắc phải cái hiện tượng gọi là ‘máy móc trong tiềm thức’ Hẳn là trínhớ của tôi vừa mới đọc lên cho tôi những câu thơ mình đã học trong tuổi nhỏ và được bẵngquên Vì vậy cho nên tôi cất đấy vài ba hôm, không nói năng gì cả” Sau ông đưa cho bạn bèđọc, rồi công bố và gây tiếng vang lớn “Sự thành công của những bài thơ đó thật lớn và khôngngờ” - chính ông đã thừa nhận như vậy Khúc son được nhiều nhà văn, nhà thơ có tên tuổi ởnhiều khuynh hướng khác nhau hoan nghênh nhiệt liệt Cố nhiên, những người theo phái thơ
cũ truyền thống phản đối quyết liệt Cuộc thể nghiệm của Guillen làm cho nhà thơ nổi tiếng TâyBan Nha Garcia Lorca lúc ấy đang ở thăm Cuba cũng rất hào hứng Vài hôm sau, Lorca cũngviết một bài son cho đăng trên tạp chí “Âm nhạc” số tháng 4 – 5/1930:
Đêm hôm trăng rằm,
Tôi sẽ đi Sanchiagô – tại Cuba
Tôi sẽ đi Sanchiagô
Trong một cỗ xe màu nước đen.
Tôi sẽ đi Sanchiagô
Các mái nhà lá cọ sẽ ca hát.
Tôi sẽ đi Sanchiagô
Vì theo âm điệu múa nên có nhiều câu ca được láy lại Thật ra, nghệ thuật láy được sử
dụng kha phổ biến trong thi ca, như Bài hát của người đánh cá Nhật Bản của Nadim Hítmét: Con cá ấy ai ăn thì chết,
Đừng cầm tay ấy, đừng cầm mà nguy
Quên anh đi em ơi hỡi em mắt đẹp
Đừng hôn anh, ôm ấp người anh
Quên đi em nhé duyên tình,
Kẻo anh lây chết sang mình của em.
Trang 24Thuyền kia là áo quan đen
Quên đi em nhé hãy quên duyên tình
Kẻo mà con của ta sinh
Ung như quả trứng thân hình rữa tan
Tuy ở khúc son là kiểu láy câu, chữ, tiếng rất riêng của N Guillen: “Nicolas Guillen đãdựa vào dân ca, vào fônklo của dân tộc Và thơ ông đã dùng nghệ thuật láy lại một cách chưatừng thấy trong thơ thế giới, đã đạt tới một hương vị, một dạng sắc thật là kỳ thú Mà cái kếtquả đó là do sự kết hợp tài năng của ông với sự khám phá ra điệu son, nói một cách khác, đưanội dung tâm hồn và tinh thần của mình kết hợp với tính độc đáo của một hình thức cụ thể” -Xuân Diệu đã nhận xét như vậy
Sau này, thơ N Guillen có tiến triển, mở rộng, tuy khúc son vẫn đi suốt đời thơ của ông Năm
1948, ông có Khúc son toàn vẹn Nhà nghiên cứu Rêtamar viết: “Khi người chơi ghi ta ấy đến
đám đông, mọi người đổ dồn con mắt vào đôi tay anh ta, tìm cái hộp đàn màu nâu, cho tới khi
có người không thể tự kiềm mình được nữa hỏi người vừa mới đến: ‘Có mang ghi ta đếnkhông, Nicolas Guillen?’ Biết làm sao nếu đám đông, vì đã từng yêu mến những vần thơ thôngthái, những vần thơ sắc sảo, những vần thơ đau thương lại hỏi: ‘Anh có mang khúc son tớikhông?’ Có, Guillen có mang theo khúc son, và khúc son cũng không bao giờ không theo ông” Cái lớn của thơ Guillen còn bởi nội dung xã hội vốn chưa có nhiều ở những khúc sonban đầu ấy Như chính ông thừa nhận: “Cần phải đào sâu vào nội dung xã hội, cái đó thì chưa
có ở trong Những môtíp khúc son” Rõ hơn ở các tập sau và trở thành “trung tâm” của thơ ông.
Đó là khuynh hướng thơ lai (mulata), khuynh hướng da đen Nên nhớ Cuba có 25 % dân số làngười da đen, còn ở Mỹ Latinh là chừng 50 triệu người từ châu Phi tới Nó gắn với sự ra đời
của tập Songoro Cosongo vào tháng 10/1931 Đây là một tập thơ nhỏ, 56 trang, vừa ra đời đã
được hoan nghênh nhiệt liệt Một tờ báo đương thời viết: “Đây là sự kiện nổi bật hơn cả và rõràng hơn cả của năm 1931 ở Cuba” Có ý kiến đánh giá: “Tác giả đã nhìn thấy điều mà nhiềuthế hệ thơ trữ tình đã không nhìn thấy: cái tâm hồn người gốc da trắng đã mấy đời sinh đẻ ở xứnhiệt đới, cái tâm hồn người lai da đen – da trắng phức tạp mới mẻ Giữa bọn chúng ta, chỉ cóNicolas Guillen đã sáng tạo và đã khám phá Vậy thì anh là hơn cả một nhà thơ lớn Anh là nhàthơ của Cuba, mà nàng thơ là người lai” Đặc biệt quý là bức thư ngày 8/6/1932 của nhà vănlớn Tây Ban Nha Unamuno: “Từ khi tôi nhận được và đọc – vừa nhận đã đọc ngay –
quyển Songoro Cosongo, tôi đã định viết thư cho bạn Sau đó tôi đã đọc lại, tôi đã đọc cho bạn
bè nghe – và tôi đã nghe Garcia Lorca nói về bạn Tôi không nên giấu cái cảm tưởng sâu sắc
mà quyển sách của bạn đã để cho tôi ”
Đây là việc làm rất có ý thức Trong Lời nói đầu tập thơ, ông viết: “Những vần thơ này là
những vần thơ lai Có thể chúng đã hòa trộn với chính những yếu tố tạo nên cộng đồng và dântộc Cuba, nơi mà tất cả chúng ta ít nhiều bị pha máu Tinh thần Cuba là tinh thần lai Và từ tinh thần đến màu da, một sắc màu định hình sẽ tới với chúng ta Một ngày nào đó người ta sẽnói đó là màu Cuba Những vần thơ này muốn đẩy nhanh ngày đó tới” Ý thức này là một quátrình Ba năm trước đó, ông đã phát biểu: “Vấn đề lớn là sự giao thiệp giữa người da đen và người da trắng ở Cuba” Ông đã hoàn toàn tự ý thức được sứ mạng của mình là bênh vựcnhững người cùng chủng tộc với mình
Năm 1930, khi nhà thơ Mỹ Hughơ sang Cuba, N Guillen đã chủ động kết bạn với Hughơ.Khi trả lời phỏng vấn, ông ta đã giải thích tại sao thơ mình chỉ có một chủ đề là lòng yêu mếnngười da đen: “ Tôi đã hiểu rằng cần phải là một người bạn thân thiết, là tiếng nói, là cây gậychống của người da đen: phải là nhà thơ của họ Bạn có hiểu không?” Và N Guillen bình luận
Trang 25thêm: “Vâng, tôi hiểu, và tôi cũng nghe từ đáy tâm hồn tôi cất lên cái bài thơ mà Hughơ mở đầu
cho tập thơ đầu của anh: Tôi da đen như ban đêm,/ Đen như những thẳm sâu của Phi châu của tôi ”.
Trước đó, ngày 21/4/1929, trong bài báo Con đường đi tới khu Háclem (Háclem là khu da
đen ở New York), ông yêu cầu tránh xa nguy cơ này: “Dần dà, chúng ta chia xa nhau trongnhiều lãnh vực mà đáng lẽ phải hợp nhất và theo đà thời gian, sự chia rẽ đó sẽ trở thành sâusắc đến nỗi sẽ không còn có mảnh đất để hòa giải cuối cùng Đó là một ngày mà mỗi thị thànhCuba - việc gì cũng có thể xảy tới - sẽ có một “khu da đen” như ở láng giềng phía bắc củachúng ta”
Mở đầu tập thơ Songoro Cosongo là bài Tới có ý nghĩa như một tuyên ngôn:
Ở đây từ những miền rừng ẩm ướt
ngôn từ đã tới với chúng ta
Và giữa những kênh rạch, một mặt trời kiên cường
đã đánh thức chúng ta
Một cái nhìn xa về tương lai:
Các đồng chí ơi, chúng ta đang ở đây!
Dưới ánh mặt trời,
Da đẫm mồ hôi của chúng ta sẽ phản chiếu
những khuôn mặt ẩm của kẻ thất bại
Và ban đêm trong lúc tinh tú sẽ cháy ở đầu những ngọn lửa ta thắp lên
Thì tiếng cười của chúng ta sẽ mọc trên những sông ngòi và chim chóc.
Bài thơ Bài hát của cái trống Phi châu báo trước cho kẻ da trắng cố thủ biết rằng cuối
cùng sự bình đẳng của màu da sẽ tới Cái trống Bongó của châu Phi cất tiếng nói:
Anh chàng ơi,
Rồi anh sẽ phải xin lỗi tôi
Và ăn chung bữa ăn của tôi
Và anh sẽ nghe những lẽ phải của tôi
Và anh sẽ vỗ trên mặt da của tôi
Và anh sẽ khoác tay tôi ra đường
Và anh sẽ đứng ở cái nơi mà tôi đứng
Anh sẽ đến từ thấp mà lên chỗ cao
Bởi vì tại đây người cao nhất là tôi!
Ý thức phản kháng rất rõ trong bài thơ ngắn gọn, có lối cấu trúc chat chẽ, độc đáo
-bài Mía:
Người da đen
Gắn mình trong đống mía.
Tên Yăngki