1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)

115 390 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 2,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH

(Nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan

xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

NHẬN DIỆN NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH

(Nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan

xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội)

Chuyền ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Trần Thị Minh Đức

Hà Nội 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đối với mỗi học viên cao học nói chung và bản thân em nói riêng, luận văn tốt nghiệp không chỉ là sản phẩm của cá nhân mà còn có cả sự giúp đỡ của gia đình,thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp Qua đây em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành tới:

Tập thể giảng viên Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội,

Giáo viên hướng dẫn GS.TS Trần Thị Minh Đức,

Gia đình và bạn bè luôn tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khóa học Hai năm qua bản thân em đã đảm nhiệm những vai trò khác nhau từ trở thành học viên cao học ngành Công tác xã hội tới làm vợ, làm mẹ Thời gian ấy, em xin cảm ơn bố mẹ hai bên và chồng em đã luôn động viên em

Xin trân trọng cảm ơn./

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.T ính cấp thiết của đề tài 1

2.Tổng quan nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa nghiên cứu 8

4.Phạm vi nghiên cứu 9

5.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 10

6.Câu hỏi nghiên cứu 11

7.Giả thuyết nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Kết cấu của luận văn 16

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 17

1.1 Các khái niệm công cụ 17

1.1.1 Khái niệm nhận diện vấn đề của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình 17

1.1.2 Khái niệm Phụ nữ 17

1.1.3 Khái niệm về Kinh tế hộ gia đình 18

1.1.4 Vai trò của cộng tác viên xã hội trong hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình 18

1.2 Lý thuyết được áp dụng trong nghiên cứu đề tài 19

1.2.1 Thuyết hệ thống 19

1.2.2 Thuyết vai trò 21

1.2.3 Thuyết nhu cầu 22

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và nhóm khách thể nghiên cứu 24

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH CỦA NHÓM PHỤ NỮ LÀM NGHỀ MÂY TRE ĐAN 28

2.1 Khái quát thực trạng phụ nữ tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình 28 2.1.1 Cơ cấu nhóm mẫu và công việc của nhóm phụ nữ 28

2.1.2 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 31

2.2 Tự đánh giá của phụ nữ tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình 37

2.2.1 Cảm nhận về giá trị của phụ nữ làm kinh tế gia đình 37

Trang 5

2.2.2 Tự đánh giá về thái độ của Cộng đồng đối với phụ nữ làm kinh tế gia

đình và những mong muốn của họ 40

2.3 Những thách thức mà phụ nữ đáp ứng khi làm kinh tế hộ gia đình 45

2.3.1 Thách thức trong việc thực hiện công việc gia đình 46

2.3.2 Tham gia các hoạt động chung của cộng đồng 49

2.3.3 Thách thức trong hiểu biết về tín dụng 52

2.3.4 Thách thức trong nâng cao kiến thức, kỹ năng 56

2.4 Các yếu tố thuận lợi hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế gia đình 60

2.4.1 Hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình 60

2.4.2 Hỗ trợ từ các thành viên cộng đồng trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng làm kinh tế 62

2.4.3 Hỗ trợ phụ nữ nâng cao đời sống tinh thần trong cộng đồng 64

Tiểu kết chương 2 66

Chương 3 ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CỦA PHỤ NỮ TRONG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÀ VÍ DỤ MỘT CA ĐIỂN HÌNH 67

3.1 Đề xuất và giải pháp nhằm nâng cao khả năng của phụ nữ trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình 67

3.1.1 Nâng cao nhận thức cho phụ nữ làm kinh tế về hoạt động cộng đồng 67

3.1.2 Đáp ứng kịp thời nhu cầu về kiến thức hỗ trợ tín dụng cho phụ nữ 67

3.1.3 Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy các cấp trong thực hiện bình đẳng giới 70

3.1.4 Nâng cao trình độ chuyên môn cho phụ nữ 70

3.2.Ví dụ ca điển hình về phụ nữ làm kinh tế giỏi 73

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 93

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG - BIỂU - HÌNH

1 Danh mục các bảng

Bảng 1: Độ tuổi của các nhóm Phụ nữ tham gia nghiên cứu 13

Bảng 2 Mức thu nhập đảm bảo cho chi tiêu gia đình 34

Bảng 3: Cảm nhận của phụ nữ khi tham gia kinh tế 38

Bảng 4: Đánh giá về thái độ của cộng đồng đối với phụ nữ làm kinh tế 41

Bảng 5 Mong muốn được hỗ trợ của phụ nữ khi làm kinh tế 44

Bảng 6-9: Phụ lục IV Bảng 10 Yếu tố hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình 60

Bảng 11: Yếu tố hỗ trợ từ Cộng đồng trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng làm kinh tế 62

Bảng 12: Yếu tố hỗ trợ phụ nữ nâng cao đời sống tinh thần trong cộng đồng 64

2 Danh mục các biểu đồ Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nhóm tuổi của Phụ nữ xã Phú Nghĩa 29

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nghề nghiệp của nhóm PN làm kinh tế gia đình 30

Biểu đồ 2.3 Hoạt động mây tre tạo thu nhập cho gia đình 32

Biểu đồ 2.4 Thể hiện công việc mang lại sự ổn định 33

Biểu đồ 2.5 Mức thu nhập đảm bảo chi tiêu cho cuộc sống 34

Biểu đồ 2.6 Thể hiện thời gian làm việc trong ngày 35

Biểu đồ 2.7 Giá trị của PN trong việc mang lại kinh tế cho gia đình 37

Biểu đồ 2.8 Quyền của PN khi kiếm được tiền cho gia đình 39

Biểu đồ 2.9 Tự đánh giá về thái độ của Cộng đồng đối với phụ nữ làm kinh tế gia đình 43

Biểu đồ 2.10 Thể hiện sự phân công lao động trong công việc nội trợ 46

Biểu đồ 2.11 Thể hiện công việc chăm sóc con cái và người già 47

Biểu đồ 2.12 Thể hiện việc dạy dỗ con cái trong học tập 48

Biểu đồ 2.13 Thể hiện sự phân công lao động trong công việc đồng áng 49

Trang 8

Biểu đồ 2.14 Thể hiện sự phân công lao động trong công việc nhà và dòng họ 50

Biểu đồ 2.15 Thể hiện sự phân công lao động trong vấn đề thôn/xóm 51

Biểu đồ 2.16 Thể hiện sự huy động vốn để làm kinh tế 52

Biểu đồ 2.17 Huy động thêm nguồn vốn để làm kinh tế 53

Biểu đồ 2.18 Các kênh thông tin về nguồn vốn tín dụng 55

Biểu đồ 2.19 Thể hiện việc nâng cao kiến thức, kỹ năng của PN trong phát triển kinh tế gia đình 57

Biểu đồ 2.20 Thể hiện so sánh sự đánh giá của mọi người với tình trạng hôn nhân 59

Biểu đồ 2.21.Thể hiện sự so sánh giữa tình trạng hôn nhân với sự tự tin của bản thân PN 59

3 Danh mục hình Hình 1.1.Sơ đồ hệ thống tác nhân làm thay đổi: Hội phụ nữ và các đoàn thể 21

Hình 1.2 Tháp nhu cầu của Maslow 22

Hình 1.3 Công nhân đang trong quá trình hoàn thiện sản phẩm mây tre đan 75

Hình 1.4 Quá trình sản xuất sản phẩm theo từng công đoạn khác nhau 76

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 T ính cấp thiết của đề tài

Phụ nữ Việt Nam chiếm 50,8% dân số cả nước, 50,3% lực lượng lao động cả nước [22] Họ có vai trò to lớn trong việc tạo ra của cải vật chất, bổ sung nhân lực, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước Phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng

và càng ngày họ càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội.Trong điều kiện kinh tế thị trường bùng nổ hiện nay, vai trò của phụ nữ được thể hiện rõ rệt trong việc tăng cường kinh tế gia đình Việc phụ nữ tham gia vào hoạt động kinh tế ngày càng được xã hội công nhận và vị thế của phụ nữ cũng được nâng cao Chính vì thế, phụ nữ luôn giữ những vị trí quan trọng trong gia đình Đặc biệt đối với phụ nữ nông thôn hiện nay, sự gánh vác về kinh tế gia đình của họ cũng được thừa nhận từ người chồng trong gia đình Với bản chất hiền lành chịu khó, phụ nữ sống ở những vùng nông thôn cũng đang có những suy nghĩ tiến bộ hơn về sự đóng góp lao động của mình trong kinh tế

Ở các vùng nông thôn có nghề phụ thì phụ nữ cũng phát huy được vai trò làm kinh tế của mình nhiều hơn Ngoài những chức năng cơ bản mà một người phụ nữ là sinh sản, nội trợ, chăm sóc giáo dục con cái và duy trì tình cảm giữa các thành viên trong gia đình… thì phụ nữ sống ở vùng đất có nghề phụ mây tren đan như xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, Tp Hà Nội lại càng được thể hiện vai trò làm kinh tế được nâng cao Cải thiện đời sống và có môi trường lao động ổn định và phát triển hơn

Hiện nay trên thế giới và Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học về phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực như: phụ nữ làm kinh

tế giỏi và công tác hỗ trợ phụ nữ làm kinh tế Các công trình nghiên cứu đã góp phần tôn vinh giá trị cao cả của phụ nữ hiện đại Nghiên cứu về phụ nữ nông thôn làm kinh tế hộ gia đình cũng không phải là một hướng nghiên cứu mới Để góp phần nhìn nhận sâu sắc và rõ nét hơn những vấn đề về phụ nữ

Trang 10

nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình đặc biệt phụ nữ làm nghề mây

tre tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông

thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình” Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài

nghiên cứu: “Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát

triển kinh tế hộ gia đình” (nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tren đan tại xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội)

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài về phụ nữ và các tổ chức bảo vệ phụ nữ

Trong các chế độ cũ (nhất là trong chủ nghĩa tư bản) con đường giải phóng phụ nữ đã được các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lenin tập

trung nghiên cứu trong các tác phẩm : “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ

tư hữu và của nhà nước”; “Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán

có tính chất” Trong đó, khi bàn về địa vị của người phụ nữ C.Mác và

Ph.Ăngghen đã phân tích làm rõ tình cảnh của họ cả trong gia đình và trong đời sống sản xuất xã hội Làm rõ những nguyên nhân căn bản dẫn đến sự hoán đổi vị trí của hai giới trong lịch sử phát triển xã hội loài người Làm rõ

về địa vị của người phụ nữ trong xã hội tư bản chủ nghĩa C.Mác và Ăngghen

đã rất khách quan khi cho rằng: sự phát triển của công nghiệp tư bản chủ nghĩa tạo ra những điều kiện cho phụ nữ có thể tham gia vào các công việc sản xuất xã hội - song chỉ đối với phụ nữ vô sản mà thôi Đây chính là tác nhân quan trọng góp phần từng bước làm thay đổi nhận thức của xã hội về vị trí và vai trò của phụ nữ [8], [9]

Khi nói về phụ nữ, người ta thường nhắc đến cuốn sách “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế” của Ester Boserup (1970)[4] Theo nhà khoa

học nữ này thì cho đến những năm 1970, những nghiên cứu chỉ ra rằng mặc

dù phụ nữ thường là những người có đóng góp chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng, nhất là trong nông nghiệp, nhưng những đóng góp của họ

Trang 11

không được tính đến trong thống kê quốc dân cũng như trong kế hoạch hoá và thực hiện các dự án phát triển Cuốn sách của E Boserup đã được coi là lần đầu tiên đặt lại vấn đề trong cách đánh giá về vai trò của phụ nữ, qua cuốn sách của mình, bà đã chứng minh vai trò kinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng Tây Sahara, châu Phi Một điều mà trước đây, các nhà tạo lập chính sách và trong giới nghiên cứu kể cả những nhà khoa học nữ

đã không thấy hết và do vậy không công nhận một cách đúng đắn vai trò kinh

tế rất quan trọng của phụ nữ Trong tác phẩm này, tác giả nói về tầm quan trọng của phụ nữ trong phát triển kinh tế, ở tất cả lĩnh vực Vị thế của phụ nữ trong xã hội hiện nay cũng được nâng cao: “ Sự đóng góp của tác giả Boerup trong suy nghĩ của chúng ta về vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế là không thể được đánh giá thấp Những nhận xét sâu sắc, sắc bén, cách sử dụng những dấu hiệu kinh nghiệm, sự cam kết về một chất lượng về giới tốt vẫn luôn là cảm hứng đói với học sinh, nhà nghiên cứu và những nhà hoạt động; những người luôn có sự quan tâm thích thú đối với một thế giới tốt hơn và công bằng hơn”

Một số tổ chức hỗ trợ phụ nữ ở các nước đang phát triển – đã có những hoạt động hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cho phụ nữ như Ủy ban cứu trợ quốc tế, Unicef, Save the Children và Mercy Corps, UNDP… Đây là những

tổ chức của thế giới tạo nên với mục đích thúc đẩy và giải quyết các vấn đề đang tồn tại trong một quốc gia Vấn đề xóa đói giảm nghèo và phụ nữ cũng được các tổ chức quan tâm, nhiều dự án của Liên hiệp quốc về tăng cường cho phụ nữ trong bối cảnh hội nhập kinh tế: Mục tiêu của dự án là giúp xác định các cách thức và biện pháp để nâng cao vị thế cho phụ nữ làm việc trong khu vực công để giải quyết các thách thức mới liên quan đến việc hội nhập kinh tế sâu rộng hơn của Việt Nam và chuẩn bị cho những phụ nữ tài năng xuất chúng trong khu vực công của Việt Nam đảm nhận vai trò lãnh đạo trong mọi lĩnh vực [41], [42]

Trang 12

Tổ chức Women thrive worldwide là tổ chức phụ nữ phát triển mạnh

trên toàn thế giới ủng hộ cho sự thay đổi ở cấp Mỹ và toàn cầu để phụ nữ và nam giới có thể chia sẻ bình đẳng trong việc thị hưởng các cơ hội, sự thịnh vượng kinh tế, giọng nói và tự do khỏi sự sợ hãi và bạo lực [32]

Tổ chức Women’s world banking là tổ chức ngân hàng thế giới nhằm

mang tới cho phụ nữ những cơ hội được tiếp cận với xã hội một cách công bằng hơn Trên thế giới phụ nữ không giữ các vị trí lãnh đạo chính nhiều nên

tổ chức này mang tới những cách tiếp cận là thiết kế sản phẩm luôn luôn bắt đầu với nghiên cứu chuyên sâu – hiểu cuộc sống của phụ nữ để nhóm phát triển phát triển sản phầm của tổ chức đáp ứng nhu cầu của phụ nữ trong khi được bền vững cho các tổ chức tài chính [33]

Quỹ Phát triển Phụ nữ của Liên hiệp quốc với mục tiêu: giảm sự nghèo

khó và việc thải loại phụ nữ; Loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ; Ngăn chăn việc truyền bệnh HIV/AIDS trong dân số phụ nữ; Mở rộng quyền đạt được các chức vụ hữu trách trong các chính phủ và trong việc tái thiết sau xung đột Quỹ cung cấp trợ giúp tài chính và kỹ thuật cho các chương trình và các chiến lược sáng kiến đổi mới nhằm tăng tiến nhân quyền của phụ nữ, đảm bảo kinh

tế và giúp cho họ tham gia vào chính trị Từ năm 1976 quỹ đã hỗ trợ việc

“trao quyền cho phụ nữ” và “bình đẳng giới tính” thông qua các văn chương trình của mình và liên kết với các tổ chức phụ nữ trong các khu vực lớn trên thế giới [43]

Tổ chức Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là chương trình hoạt

động của UNFPA nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ tại Việt Nam, đồng thời ủng hộ việc thực hiện cam kết tại Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển(ICPD) tại Cairo năm 1994, Hội nghị quốc tế về Cương lĩnh hành động Bắc kinh về phụ nữ (1995), Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ(CEDAW), và mục tiêu phát triển thiên niên kỷ số ba, nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ [44]

Trang 13

2.2 Một số nghiên cứu trong nước về Phụ nữ và các tổ chức bảo vệ phụ nữ

Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam ngay từ những ngày đầu cách mạng đã quan tâm đến vấn đề này, coi việc nang cao vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội

là một nhiệm vụ của sự nghiệp giải phóng phụ nữ Điều đó được thể hiện

trong bài viết: “Ba cuộc cách mạng với vấn đề giải phóng phụ nữ” (1996);

“Bác Hồ với sự nghiệp giải phóng phụ nữ” Vấn đề lý luận và thực tiễn về

phụ nữ và gia đình đã được các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

Trong Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị ngày27/4/2007 về Công tác phụ

nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết có ỹ nghĩa quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới [5]

Nghiên cứu về “Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ

nông thôn phát triển kinh tế” của tác giả Nguyễn Xuân Nhất (2009) Từ

nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra được việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phụ

nữ trong phát triển kinh tế đã thúc đẩy quá trình phát triển kinh doanh tại địa phương đã được chính quyền đoàn thể quan tâm và giúp đỡ trong việc thực hiện chính sách [15]

Tác phẩm: “Những điều cần biết để phát triển kinh tế hộ gia đình” của

nhóm tác giả Bùi Thanh Hà và Cộng sự (2009), Nxb Thanh Hóa Trong cuốn sách

đã đưa ra các hướng để độc giả tìm hiểu về hình thức phát triển kinh tế hộ gia đình trên nhiều lĩnh vực: chăn nuôi, trồng trọt, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp… Tất cả các lĩnh vực này đều có thể áp dụng trong phát triển kinh tế gia đình Tác giả

Trang 14

muốn chỉ ra cho bạn đọc nhìn nhận điều kiện, hoàn cảnh của từng gia đình để áp dụng làm ăn kinh tế một cách phù hợp và hiệu quả nhất [16]

Trong cuốn sách “ Quản lý nhà nước về gia đình lý luận và thực tiễn”

của tác giả Lê Thị Quý xuất bản năm 2010 đã trình bày tổng quan về gia đình, lối sống đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay[18],[19]

Nghiên cứu về “Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình

ở nông thôn Ninh Bình” của tác giả Nguyễn Ngọc Quỳnh (2010). Tác giả đã chứng minh được vai trò của phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế gia đình Phụ nữ đảm đang trên mọi phương diện không những là người vợ, người mẹ chăm sóc gia đình mà còn là một người làm kinh tế giỏi Từ đó, nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội [20]

Trong nghiên cứu “Tăng cường vai trò của phụ nữ trong phát triển

kinh tế” Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam(2012) Thực tế chúng ta có thể thấy: mặc dù ngày nay, tình hình bình đẳng giới đã được cải thiện đáng kể Song ở nước ta, đặc biệt là khu vực nông thôn lao động nữ trong lĩnh vực nông nghiệp còn phải chịu rất nhiều thiệt thòi: (i) Đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp: phụ nữ đảm nhận hầu hết các công việc từ khâu chọn giống, làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm Ngoài công việc sản xuất, hầu hết tất cả các công việc chăm sóc gia đình đều

là người phụ nữ gánh vác (ii) Đối với dịch vụ khuyến nông: phụ nữphần lớn chưa có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận với tập huấn chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật và các dịch vụ khuyến nông Theo cách truyền thống, các chương trình khuyến nông thường chú trọng đến nam giới nhiều hơn nữ giới

vì họ cho rằng nam giới là người chịu trách nhiệm ra quyết định về các vấn đề liên quan đến sản xuất nông nghiệp và các hoạt động chính của gia đình.(iii) Vai trò chủ hộ trong gia đình: các chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh

tế hộ gia đình luôn hướng về chủ hộ là nam giới Nhưng trong thực tế rõ ràng phụ nữ luôn là đối tượng trực tiếp thực hiện các chủ trương chính sách của

Trang 15

Đảng, Nhà nước; trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp, tích lũy kiến thức thực tế, vận dụng khoa học kỹ thuật góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế gia đình[24]

Nghiên cứu về“Vai trò phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp và nông

thôn” (2013); “Vai trò của phụ nữ trong nông hộ” (2013) của nhóm tác giả

Nguyễn Tuyết Lan, Quyền Đình Hà, Nguyễn Viết Đăng, Nguyễn Minh Thu,

Đỗ Thanh Huyền Các công trình nghiên cứu này đã luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng, làm sáng tỏ ở mức độ nhất định chức năng kinh

tế của gia đình, các hoạt động kinh tế sản xuất, hoạt động xã hội của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh

tế [14]

Nghiên cứu “ Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình” – Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Vương Thị Vân Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn phụ nữ giữ nhiều vị trí vai trò khác nhau, trong đó có

cả vai trò làm kinh tế cho gia đình Để từ đó, hạn chế tình trạng bất bỉnh đẳng giới trong quan hệ gia đình và xã hội [30]

Ở những góc độ khác nhau những công trình này đã đề cập đến đặc điểm của gia đình Việt Nam, phân tích thực trạng vai trò của phụ nữ trong gia đình, và xã hội ở nước ta; đồng thời cũng nêu ra những phướng hướng và giải pháp thiết thực góp phần xây dựng gia đình Việt Nam, phát huy vai trò to lớn của phụ nữ trong gia đình và xã hội

Bên cạnh những nghiên cứu điều tra, đã có một số cuốn giáo trình của tác giả Lê Thị Quý, Hoàng Bá Thịnh, … đã đưa ra được vấn đề của phụ nữ và giới trong quá trình phát triển

Nghiên cứu của tác giả Hoàng Bá Thịnh thường tập trung vào các khía cạnh như bình đẳng giới, vai trò của phụ nữ trong phát triển và các mối quan

hệ giới với các lĩnh vực cụ thể Trong cuốn giáo trình “ Xã hội học về giới” xuất bản năm 2014 tác giả đã đề cập khá sâu về đối tượng nghiên cứu và các

Trang 16

lý thuyết phát triển liên quan nữ quyền và vấn đề bất bình đẳng giới[23] Đây

là cuốn sách quý báu cho những sinh viên và người làm việc trong lịch vực nghiên cứu về phụ nữ và bình đẳng giới

Bên cạnh đó, còn có nhiều tạo chí khoa học, báo cáo đề cập đến phụ nữ

và phụ nữ làm kinh tế trong giai đoạn hiện nay… Các bài báo “Phụ nữ và đồng tiền” [25], sức khỏe phụ nữ phản ánh nền kinh tế [26] Những bài viết này nói về tình hình của phụ nữ trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là ảnh hưởng của nền kinh tế đối với phụ nữ Phản ánh được đời sống thực tại của phụ nữ hiện nay về sức khỏe và kinh tế

Những công trình trên bước đầu đặt cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu phụ nữ - gia đình theo phương pháp tiếp cận giới : một phương pháp nghiên cứu hiệu quả bởi các công trình này nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong mối quan hệ với nam giới

Mặc dù vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội đã được các nhà khoa học nghiên cứu một cách khá đậm nét, song vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình vẫn chưa được đề cập một cách rõ nét Cho đến nay xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua nghiên cứu phụ nữ làm nghề mây tren đan ở huyện Chương Mỹ Vì vậy khi triển khai đề tài ở khía cạnh mới này, tác giả luận văn chắc chắn cần đến những kết quản nghiên cứu khoa học đã nêu như là những tài liệu tham khảo đáng quý để góp phần làm sáng tỏ vấn đề đặt ra ở trên

3 Ý nghĩa nghiên cứu

Trang 17

thuyết vai trò trong việc phân tích vị trí của phụ nữ trong gia đình, trong sự tương quan với người chồng, nhóm xã hội từ góc độ làm kinh tế hộ gia đình

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đối với Nhà nước, kết quả nghiên cứu có thể giúp cho quá trình hoạch định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách, chiến lược về các đối tượng đặc biệt quan tâm trong xã hội Đặc biệt là phụ nữ nghèo, cô đơn không nơi nương tựa, phụ nữ bị bạo lực

Đối với địa phương: nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về tình hình phụ nữ làm kinh tế tại địa phương Để góp phần vào nghiên cứu đó thì địa phương cần điều chỉnh, quy hoạch cụ thể Nhằm hỗ trợ phù hợp trong quá trình ban hành các chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách an sinh xã hội Góp phần làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng các chủ trương chính sách của địa phương trong việc hoạch định chiến lược và chính sách cụ thể của phụ

nữ Góp phần thúc đẩy phong trào phát triển kinh tế hộ gia đình

Đối với bản thân nhà nghiên cứu: qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu thực tế nhà nghiên cứu có cơ hội áp dụng những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là những kỹ năng thực hành CTXH nói chung và CTXH nhóm nói riêng Từ đó giúp nhà nghiên cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên cứu tiếp theo và quá trình công tác của bản thân

4 Phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn

trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Khách thể nghiên cứu: có 200 phụ nữ nông thôn làm nghề mây tre

đan,3 cán bộ địa phương (Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã, trưởng thôn xóm, hội trưởng chi hội phụ nữ)

Trang 18

Giới hạn phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu về

phụ nữ làm nghề mây tre đan tại xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố

Hà Nội Để thấy được năng lực của phụ nữ làm kinh tế và mô tả tiến trình CTXH với nhóm phụ nữ làm mây tre đan nhằm tăng cường khả năng tự chủ của họ về các vấn đề liên quan

Giới hạn nội dung nghiên cứu: nghiên cứu chỉ tập trung vào nhóm

phụ nữ làm nghề mây tre đan sống ở xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Chỉ tập trung vào 3 trường hợp là phụ nữ làm kinh tế giỏi, trung bình và phụ nữ không làm nghề mây tre đan để rút ra khuyến nghị và sự khác nhau của 3 trường hợp

5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Mục đích nghiên cứu

Luâ ̣n văn nhằm làm rõ thực trạng những vấn đề của phụ nữ khi tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng của phụ

nữ trong vấn để phát trieernh kinh tế hộ gia đình

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

1) Nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn về v ai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình, vai trò của cộng tác viên xã hội và những giải pháp để nâng khả năng của phụ nữ trong vấn để phát triển kinh tế hộ gia đình

2) Phân tích, đánh giá thực trạng phụ nữ nông thôn làm kinh tế gia đình

3) Đề xuất một số giải pháp hiệu quả để nâng cao khả năng của phụ nữ trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình

Trang 19

6 Câu hỏi nghiên cứu

Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất mây tre đan được thể hiện như thế nào?

Nhu cầu nào giúp cho phụ nữ phát huy được vai trò làm kinh tế hộ gia đình?

Tiến trình CTXH nhóm có vai trò như thế nào trong việc nâng cao tính

tự chủ trong phát triển kinh tế?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Những phụ nữ làm kinh tế nói chung và làm mây tre đan xuất khẩu ở nông thôn họ có vị trí nhất định trong gia đình và sự bình đẳng giới trong gia đình hiện đại được thể hiện rõ trong việc làm kinh tế của phụ nữ

Sử dụng phương pháp CTXH nhóm (qua tập huấn về phương pháp phát triển kinh tế) đối với phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình sẽ nâng cao được tính tự chủ cho họ và càng khẳng định vị trí của họ trong gia đình

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

9.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Mục đích: Khái quát một số vấn đề liên quan để hình thành cơ sở lý luận của đề tài để giải quyết các nhiệm vụ của đề tài

Nội dung nghiên cứu: Tổng hợp, phân tích, hệ thống về mặt lý luận các nghiên cứu về vai trò của phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình ở trong và ngoài nước nhằm xác định những vấn đề trong việc nghiên cứu, đồng thời xác định những vấn đề cần nghiên cứu: các hoạt động và nhu cầu đối với phụ nữ làm kinh tế

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu Xuất phát từ yêu cầu của đề tài, tôi đã tiến hành thu thập một số tài liệu, văn bản có liên quan tới vấn đề nghiên cứu, nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài Đó là sách, báo, luận văn, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học… mà

Trang 20

trong đó các tác giả đề cập tới vấn đề phụ nữ làm kinh tế gia đình, đến các nhu cầu và tìm ra được những vấn đề vướng mắc của phụ nữ khi làm kinh tế

9.1.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Mục đích: Đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng vai trò của phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình

Nội dung: Thực trạng vai trò của phụ nữ tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình, tự đánh giá của phụ nữ khi tham gia phát triển kinh tế, những thách thức của phụ nữ khi làm kinh tế hộ gia đình, các yếu tố thuận lợi hỗ trợ phụ

nữ phát triển kinh tế hộ gia đình

Mẫu nghiên cứu: N = 200 người, là 200 người phụ nữ có tham gia vào phát triển kinh tế hộ gia đình tại địa bàn xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Sau khi phát phiếu chúng tôi có 200 phiếu hợp lệ, được chọn làm mẫu nghiên cứu của đề tài

Trước khi các chị trả lời câu hỏi trong phiếu khảo sát thực trạng vai trò của phụ nữ phát triển kinh tế hộ gia đình, chúng tôi có đề nghi các chị cung cấp một số thông tin liên quan như tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn… Từ những thông tin đó chúng tôi có thể xác định mối tương quan giữa thông tin

đó với nhu cầu mong muốn của họ nhằm làm rõ thực trạng Các thông tin trên thu về và được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu khảo sát ý kiến để điều tra thực trạng phụ nữ nông thôn trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình (Phụ lục 1) Với số lượng khách thể thuộc trình độ khác nhau, nên tôi lựa chọn điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chính để thu thập thông tin Xây dựng hệ thống bảng hỏi nhằm đánh giá những khó khăn của phụ nữ khi làm kinh tế hộ gia đình tại nông thôn

Bảng hỏi bao gồm các câu hỏi liên quan đến công việc và vai trò của phụ nữ, các nhu cầu mong muốn, những thách thức trong việc phát triển kinh

tế hộ gia đình Kết quả điều tra được thực hiện trên mẫu đại diện cho các

Trang 21

nhóm đối tượng mục tiêu Số lượng điều tra là 200 người là hội viên các chi hội phụ nữ xã Ở độ tuổi từ 20 đến dưới 55 tuổi được chia theo các mức độ sau:

Bảng 1: Độ tuổi của các nhóm Phụ nữ tham gia nghiên cứu

19,527,5 22,5 30,5

Quy trình gồm các bước: xây dựng bảng hỏi, điều tra thử, bổ sung hoàn

chỉnh phiếu hỏi; tiến hành phát phiếu và thu thập số liệu chính thức

Bảng hỏi gồm 20 câu hỏi, ước tính thời gian trở lời từ 20-30 phút Chúng tôi thu thập thông tin qua hệ thống câu hỏi được soạn sẵn, và được phát tới đối tượng nghiên cứu Đối tượng phát phiếu là 200 chị em phụ nữ tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình Độ tuổi của các chị em là từ 20 –dưới

55 tuổi Bằng phương pháp thu thập thông tin này chúng tôi đã thu lại được

những thông tin cần thiết để phục vụ cho đề tài nghiên cứu

9.1.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu làm sáng tỏ thêm những thông tin đã thu thập qua bảng hỏi và tìm hiểu được những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của phụ nữ khi tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình cũng như mong muốn của họ

Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu theo hai hình thức:

Thứ nhất, là những câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn bằng cung cấp những thông tin bổ sung cho vấn đề nghiên cứu thêm sâu sắc

Trang 22

Thứ hai, là những câu hỏi không được chuẩn bị trước mà có sự linh hoạt trong quá trình điều tra Để từ đó tạo bầu không khí tâm lý cởi mở, gần gữi, giúp khách thể có điều kiện bộc lộ những tâm từ, chia sẻ những cảm xúc thầm kín của mình, góp phần thu lại giá trị của cuộc phỏng vấn một cách chân thực nhất

Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 5 người là phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế hộ gia đình, 3 người là chủ các cơ sở sản xuất mây tre đan, 1 người là Hội trưởng hội LHPN xã, 1 người là chi hội trưởng Hội phụ nữ thôn/ xóm, 1 cán bộ xã Với mục đích đi tìm hiểu sâu thực trạng phụ nữ tham gia

phát triển kinh tế hộ gia đình, từ đó đưa ra những giải pháp( phụ lục 2)

9.1.4 Phương pháp quan sát

Với tư cách là người nghiên cứu tham dự, chúng tôi có tham gia vào các hoạt động sản xuất mây tre đan của chị em phụ nữ Thông qua quan sát, lắng nghe chúng tôi đã thu thập được các dữ liệu về hoạt động sản xuất của phụ nữ Từ đó phân tích những thuận lợi và khó khăn của phụ nữ khi tham gia phát triển kinh tế hộ gia đình

9.1.5 Xử lý số liệu

- Cách đánh giá: chúng tôi đã sử dụng thang đo 3 mức độ quy ước tính điểm sau:

Đối với câu 5, 7, 9, 10, 12, 13, 14, 16, 17, 18 và câu 19

+ Hoàn toàn đúng, Thường xuyên: 3 điểm

Trang 23

TB cao Công thức tính như sau:

SD toàn thang TB

Mức TB thấp: 1sdtoàn thang TB

MứcTB vừa: 1sdtoàn thang TB đến 2sdtoàn thang TB

Mức TB cao: từ 2sdtoàn thang TB trở lên

9.2 Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

Để tìm hiểu rõ hơn về quan điểm, thái độ của các thành phần liên quan đến nghiên cứu về vai trò của phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình tại xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội Trong khuôn khổ đề tài sẽ tiến hành thực h iê ̣n 02 buổi thảo luâ ̣n nhóm đối với 2 nhóm tại địa bàn xã Phú Nghĩa:

+ Nhóm Phụ nữ (10 người): Đối tượng là phụ nữ làm kinh tế hộ gia

đình nhằm mục đích thu nhập ý kiến về các vấn đề liên quan trong quá trình hoạt động sản xuất kinh tế

+ Nhóm cộng tác viên xã hội (3 người): nhằm thu thâ ̣p thông tin trong

quá trình nghiên cứu về phụ nữ làm kinh tế

Nội dung chính của các buổi thảo luận nhóm tập trung vào các vấn đề sau:

Trang 24

+ Hoạt động sản xuất kinh tế

+ Đánh giá về những thách thức mà phụ nữ đáp ứng khi làm kinh tế + Đánh giá về hỗ trợ của cộng tác viên xã hội

+ Giải pháp để nâng cao chất lượng hiệu quả của phụ nữ khi tham gia kinh tế

10 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị và Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Chương 2 Thực trạng phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình

Chương 3 Đề xuất và giải pháp nhằm nâng cao khả năng của phụ nữ trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình và ví dụ một ca điển hình

Trang 25

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm nhận diện vấn đề của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình

“Khái niệm nhận diện vấn đề”: là sự quan sát và tìm hiểu ra nguyên

nhân cụ thể để đưa ra được giải pháp phù hợp nhất cho từng vấn đề

“ Nhận diện vấn đề của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình” là tìm hiểu

về một vấn đề nào đó mà PN làm kinh tế hộ gia đình đang gặp những khó khăn Từ đó đưa ra cách thức giải quyết một cách cụ thể và rõ ràng hơn

1.1.2 Khái niệm Phụ nữ

“Phụ nữ” hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài người Phụ nữ thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn Bên cạnh đó là phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ đến một con người giống cái bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ quyền phụ nữ.[40]

*/ Khái niệm “phụ nữ nông thôn”

“Phụ nữ nông thôn” được hiểu là những người phụ nữ sống trong một vùng lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban Nhân dân xã

*/ Khái niệm “phụ nữ nông thôn làm kinh tế hộ gia đình”

“Phụ nữ nông thôn làm kinh tế hộ gia đình” là người phụ nữ tham gia làm kinh tế trong phạm vi thuộc hộ gia đình của mình, nhằm mục đích tăng thu nhập cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho chính gia đình của mình

*/ Khái niệm “phụ nữ gặp khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế”

“Phụ nữ gặp khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế” được hiểu là người phụ nữ đang bị cản trở, kìm hãm bởi một vấn đề nào đó trong quá trình phát triển kinh tế của họ

Trang 26

1.1.3 Khái niệm về Kinh tế hộ gia đình

“Kinh tế hộ gia đình” là loại hình kinh tế được gắn với hộ gia đình, một hình thức sản xuất nhằm mục đích phát triển kinh tế gia đình với nhiều lĩnh vực sản xuất Ngày nay hình thức sản xuất này đang chịu nhiều tác động và cũng đang tự chuyển mình để trở thành một thành phần kinh tế của xã hội phát triển – xã hội công nghiệp và xã hội hậu công nghiệp [43]

1.1.4 Vai trò của cộng tác viên xã hội trong hỗ trợ phụ nữ làm kinh

tế hộ gia đình

Hiện nay tại các vùng nông thôn chưa có nhân viên công tác xã hội chính thức, thay vào đó là những cộng tác viên xã hội – những người cán bộ trong các tổ chức đoàn thể làm nhiệm vụ như là một NVCTXH trên tất cả các vai trò:

Vai trò của các nhân viên công tác xã hội: là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội

Để đạt được các điều này, các nhà NVCTXH không chuyên cũng thực hiện các nhiệm vụ như : tư vấn, giáo dục, thương lượng, hòa giải, hỗ trợ, hoạch định và nghiên cứu… Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, ví dụ như tùy thuộc vào nhu cầu của người nhậnvà nguồn lực có được, cũng như tùy vào vai trò cụ thể của mình trong cơ quan, tổ chức mà NVCTXH sẽ phối hợp thực hiện các nhiệm vụ trên cũng như chọn phương pháp thực hiện phù hợp

Vai trò là người kết nối các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tượng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có

Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối

Trang 27

Vai trò là người vận động/hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tượng, cổ vũ tuyên truyền

Vai trò là người giáo dục: là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng

Vai trò người tạo sự thay đổi: tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng để tạo nên sự thay đổi về đời sống cũng như tư duy của người dân trong cộng đồng nghèo là một ví dụ

Vai trò là người tư vấn: NVCTXH tư vấn, cung cấp thông tin cho cá nhân, gia đình cộng đồng, làm việc với những nhà chuyên môn khác để giúp

họ có được những dịch vụ tốt hơn

Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng Vai trò là người chăm sóc, người trợ giúp: Các NVCTXH có thể thực hiện nhiệm vụ của người chăm sóc những người già, trẻ em trong các trung tâm chăm sóc nuôi dưỡng tập trung

Vai trò là người quản lý hành chính: NVCTXH khi này thực hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng Thực hiện công tác đánh giá và báo cáo về sự thực hiện công việc, chất lượng dịch vụ…

Người tìm hiểu, khám phá cộng đồng: nhân viên xã hội đi vào cộng đồng để xác định vấn đề của cộng đồng để đưa ra những kế hoạch trợ giúp, theo dõi, giới thiệu chuyển giao những dịch vụ cần thiết cho các nhóm đối

Trang 28

quan điểm của lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những

hệ thống, được tạo lên từ các tiểu hệ thống và đồng thời bản thân các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Theo Payne(1997) thuyết này cũng có nguồn gốc từ xã hội học của thuyết xã hội Herbert Spencer

Thuyết hệ thống được sử dụng rộng rãi trong công tác xã hội vì thuyết này giúp cho nhân viên xã hội hiểu được cá nhân, nhóm hay cộng đồng như một hệ thống của các yếu tố tương tác với nhau Bên cạnh đó, để hệ thống này hoạt động hiệu quả, cá nhân, nhóm hay cộng đồng sẽ có nhiều tương tác với môi trường bên ngoài khác

Công tác xã hội xem xét các thành tố trong các tương tác giữa thân chủ

và môi trường của họ lại đang tạo nên được các vấn đề ở đâu Chẳng phải thân chủ hay môi trường được nhìn nhận như là có vấn đề Tương tác giữa họ

có thể có những khó khăn Mục đích chính là nhằm giúp đỡ mọi cá nhân thể hiện được những nhiệm vụ về cuộc sống của họ,xóa bỏ những áp lực và đạt được những mục tiêu và các quan điểm về giá trị được xem là quan trọng với các thân chủ

Sự tương tác giữa nhóm phụ nữ nghèo có điều kiện sống tạo nên những vấn đề nghèo đói Chính vì vậy, việc làm nghề phụ là vấn đề của nhóm phụ

nữ thoát nghèo Mực đích chính của CTXH là giúp đỡ cho người nghèo có khả năng làm kinh tế để nhằm nâng cao giá trị của họ

Theo Pincus và Minahan các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thỏa mãn được cuộc sống riêng, do đó công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống như vậy

Trong luận văn này nhóm hệ thống tác nhân làm thay đổi nhận thức và năng lực của phụ nữ làm kinh tế bao gồm: Hội phụ nữ và các ban ngành đoàn thể và chính quyền

Trang 29

Hệ thống mục tiêu: nhằm mục đích tăng cường, là các cá nhân cụ thể trong luận văn này là phụ nữ nghèo có nhu cầu được trợ giúp về tinh thần, kỹ năng nhằm mục đích phát triển kinh tế hộ gia đình

Hệ thống hành động: Hội phụ nữ cùng với chính quyền địa phương và Trung tâm dậy nghề tăng cường kiến thức, kỹ năng và nguồn vốn trong việc làm mây tre đan để chị em phụ nữ làm ra sản phẩm tăng thu nhập cho gia đình.[45]

1.2.2 Thuyết vai trò

Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho

mỗi chức vị của con người trong xã hội đó Theo Robertsons:“Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một

vị thế xã hội nhất định” [30, tr1]

Lý thuyết vai trò muốn nhấn mạnh cho con người có nhiều trách nhiệm khác nhau Mỗi một người đều có những vai trò khác nhau: khi đến cơ quan

Hội Phụ nữ (Tình nguyện viên cộng đồng)

Trung tâm dậy nghề

Phụ nữ nghèo làm kinh tế

Chính quyền địa phương

Trang 30

thì là một nhân viên, khi về nhà là một thành viên trong gia đình… Đối với phụ nữ cũng vậy họ có rất nhiều vai trò khác nhau để thay đổi Có thể nói phụ

nữ là một người có nhiều cung bậc trong thay đổi vai trò Từ xưa đến nay phụ

nữ được gắn liền với vai trò là vợ, là mẹ và là người chăm sóc gia đình Nhưng trên thực tế phụ nữ không chỉ có những vai trò cơ bản mà ai cũng có,

họ còn có thể đam đương nhiều vai trò khác nhau Vai trò làm kinh tế ngày nay không chỉ gắn với đàn ông nữa mà phụ nữ cũng có thể làm được Để bắt nhịp cùng xã hội thì là người phụ nữ hiện đại sẽ có nhiều vai trò khác nhau để vươn lên và hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn[46]

1.2.3 Thuyết nhu cầu

Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow, lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người

Trang 31

Cấu trúc của tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp

Những nhu cầu cơ bản ở phía đáy tháp phải được thoả mãn trước khi nghĩ đến các nhu cầu cao hơn Các nhu cầu bậc cao sẽ nảy sinh và mong muốn được thoả mãn ngày càng mãnh liệt khi tất cả các nhu cầu cơ bản ở dưới (phía đáy tháp) đã được đáp ứng đầy đủ

Trong luận văn này nhu cầu của phụ nữ căn bản là muốn là một người

có ích, người có giá trị và được tôn trọng Trong bậc thang nhu cầu họ đều có tất cả các nhu cầu trên đặc biệt là nhu cầu tư trọng, thể hiện muốn được đóng góp làm kinh tế gia đình

Vào đầu những năm 70, nhiều nhà nghiên cứu nhận ra rằng tăng trưởng kinh tế nói chung không nhất thiết loại bỏ được nghèo đói, chính vì thế thuyết nhu cầu cơ bản được Tổ chức Lao động thế giới (ILO) công nhận vào năm 1976 Nhu cầu cơ bản bao gồm các yếu tố như mức tiêu thụ tối thiểu của một gia đình

là đủ ăn Dựa trên lý thuyết này để hiểu nhu cầu và mong muốn của phụ nữ cần đáp ứng đầy đủ những nhu cầu thiết yếu nhất để đảm bảo cho cuộc sống và có thể vững bước để đi tiếp để chăm sóc cho tổ ấm của mình

Trong luận văn này, phụ nữ làm kinh doanh, tập huấn nâng cao kỹ năng

về đan lát trong sản xuất mây tre đan

Những vấn đề liên quan đến chăm lo kinh tế gia đình của phụ nữ đang gặp những khó khăn trong vấn đề vốn tín dụng và cách chăm sóc trong nông nghiệp

Phụ nữ cần được tham gia vào các khóa học tập huấn nâng cao kỹ năng về phát triển kinh tế hộ gia đình

Cuộc sống gia đình của các chị em phụ nữ được nâng cao thì chính chị em phụ nữ cũng được nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về cuộc sống như thế nào

và sự tự tin của các chị đối mới xã hội và các mối quan hệ mở rộng

Tóm lại, cơ sở lý luận được áp dụng trong luận văn này gồm các lý thuyết: lý thuyết hệ thống, thuyết vai trò và thuyết nhu cầu có ý nghĩa rất lớn

Trang 32

trong việc phân tích vị trí của phụ nữ trong gia đình, trong tương quan với người chồng, nhóm xã hôị từ góc độ làm kinh tế hộ

Mặc khác, việc xác định được nhu cầu phụ nữ ở đâu? Trong luận văn này tôi đã sử dụng tất cả các bậc thang nhu cầu nhưng trong đó nhu cầu chính là nhu cầu tự trọng Bởi nhu cầu này giúp cho giá trị của phụ nữ khi thỏa mãn, khi họ nhận được sự yêu thương của gia đình và cộng đồng mà họ đáp ứng được kinh tế của họ

1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và nhóm khách thể nghiên cứu

Phú Nghĩa là một xã thuộc vùng bán sơn địa ở phía tây huyện Chương

Mỹ, cách trung tâm huyện 5km, có quốc lộ 6A chạy qua Diện tích đất tự nhiên 821,39ha; địa lý hành chính có 6 thôn, 4 xóm được chia thành 10 đơn vị thôn, xóm

Là xã có nghề thủ công truyền thống từ lâu đời, nhân dân trong xã có việc làm thường xuyên, tăng thêm thu nhập cho các hộ gia đình Có khu công nghiệp đóng trên địa bàn đã thu hút trên 700 lao động trong xã thường xuyên

có việc làm ổn định tại các công ty, doanh nghiệp Do đó, đời sống của nhân dân trong xã ngày càng nâng lên rõ rệt Tình hình kinh tế của địa phương phát triển hơn những năm trước Các công trình hạ tầng cơ sở luôn được đầu tư xây dựng Bộ mặt nông thôn ngày một khởi sắc, khang trang hơn

 Khái quát về nghề mây tre đan

Người xưa truyền miệng rằng, tại thôn Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, có một địa danh gọi là bãi Cò Đậu vì nơi đây

có nhiều cò tụ tập, sinh sôi nảy nở thành đàn Vì thế, người ta gọi luôn là làng

“Cò Đậu”, nay gọi chệch thành là “Gò Đậu” Lông những chú cò rụng trắng xóa một vùng, có người đem nhặt về tết thành mũ, nón xinh xắn Ban đầu người nhà dùng, thấy vừa bền, lại đẹp, họ đem làm quà, tặng người thân, dần dần sản phẩm mũ lông cò được nhiều người ưa chuộng, tìm mua Từ đó mũ lông cò trở thành hàng hóa mang lại giá trị kinh tế và được người làng Gò

Trang 33

Đậu phát triển nhân rộng nghề đan mũ lông Lâu dần, lông cò cũng có hạn, người đan mũ lại quang sang tìm thêm cỏ lau, cỏ lác mọc ngoài đồng hoang

để thay thế Và rồi, cỏ lau cũng có hạn, con người lại phải vào rừng tìm nguyên liệu mây, tre, đây là cây nguyên liệu có nhiều tính năng ưu việt hơn

để đan thành nhiều sản phẩm phong phú Cũng như bây giờ, ngoài mây tre, người ta tìm tòi sáng tạo phát triển thêm cả nguyên liệu giang, nứa, bèo bồng, sắt, thép, gốm, sứ… để đan, dệt thành sản phẩm ngày một hoàn thiện, sắc nét hơn Kể từ đó, thôn Phú Vinh đã hình thành làng nghề Mây tre đan nổi tiếng, sau lan dần ra toàn xã Phú Nghĩa Những sản phẩm mây tre đan này được coi như một công trình nghệ thuật và dược lưu truyền mãi về sau Từ các nguyên liệu có sẵn để sử dụng trong gia đình và bà con làng xóm và theo thời gian nhiều người biết làm và sản phẩm cũng ngàu một đa dạng hơn, rồi cứ thế phát triển cho đến tận ngày nay

 Cuộc sống và con người nơi làng nghề

Cũng như bao làng nghề khác trên đất nước Việt Nam, con người Phú Nghĩa vẫn chân chất, mộc mạc, con người sống yêu thương, gắn bó sẻ chia và đùm bọc nhau trong cuộc sống Con người nơi đây luôn nương trợ giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, là một lối sống “tối lửa tắt đèn có nhau” Đến với làng nghề mây tre Phú Nghĩa ta vẫn thường bắt gặp những cảnh “người người gọi nhau”, họ gọi nhau, đến với nhau và cùng ngồi với nhau miệng thì răm ba câu chuyện tếu táo và cùng cười vui vẻ với nhau, nhưng đôi bàn tay của họ thì không ngừng nghỉ để tạo ra những sản phẩm đẹp và đa dạng Cuộc sống nơi đây thật bình yên và đơn giản Cũng xuất phát từ một nghề truyền thống mà đã tạo cho Phú Nghĩa một tên tuổi mà đi đâu ai cũng biết đến với nghề mây tre đan Bên cạnh sự phát triển về kinh tế - xã hội của Phú Nghĩa ngày càng mạnh hơn những con người nơi đây vẫn giữ được mối quan hệ hàng xóm, láng giềng với nhau, họ giúp đỡ, tương trợ nhau trong cuộc sống cũng như trong lao động sản xuất

Trang 34

 Đặc điểm nghề thủ công truyền thống Mây – Tre Phú Nghĩa

Không giống những ngành nghề khác, nghề thủ công truyền thống Mây tre có một đặc điểm nổi bật đó là tính phổ thông, phù hợp với mọi lứa tuổi từ trẻ lên 3 cho tới những ông cụ, bà cụ 80 – 90 tuổi đều có thể làm được, đó có thể là một công đoạn nào đó dù không quan trọng trong một sản phẩm Hay nói cách khác là nghề thủ công Mây tre Phú Nghĩa hẳn ai cũng thấy hình ảnh

cả một đại gia đình ngồi quây quần với nhau, thoạt nhìn chắc chắn trong chúng ta sẽ không ít người lầm tưởng rằng gia đình đó đang có một dịp kỷ niệm nào đó nhưng thực ra lại không phải như vậu mà đó chính là công việc thường ngày của người làng nghề Những đứa bé và ông bà già thì làm những công việc không khắt khe và không đòi hỏi kỹ thuật cao trong một sản phẩm, còn đối với người trong độ tuổi lao động thì thường đảm nhiệm những công việc khó, độ chính xác cao, sự tinh tế và tính thẩm mỹ hoàn thiện trong một sản phẩm Một đặc điểm thứ hai đó là nghề Mây tre đan không có những quy định cụ thể về thời gian, không gian cụ thể trong lao động sản xuất, người ta

có thể làm trong bất kỳ thời gian nào rảnh rỗi và ở bất cứ nơi đâu mà họ cho

là tiện, nói chung là vào mọi lúc, mọi nơi (sáng sớm, giữa trưa hay cả ban đêm) Bên cạnh việc phù hợp đối với mọi đối tượng và có thể làm việc ở mọi lúc, mọi nơi như đã nói thì nghề nay còn mang lại thu nhập khá cao cho người lao động, nhất là đối với người lao động lành nghề Theo khảo sát thực tế thì đối với những người đi làm theo kiểu công nhân ăn lương trong các xưởng sản xuất thì ngày công thường đạt 60-70 nghìn đồng/người/ngày (thường là người dưới hoặc quá độ tuổi lao động), còn đối với những người trong độ tuổi lao động hay những lao động lành nghề thì ngày công thường đạt từ 100-200 nghìn đồng/người/ngày Tuy nhiên, để cho ra một sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao, mang nhiều chi tiết, đòi hỏi độ chính xác, tinh sảo thì cần có đôi tay của những người lâu năm trong nghề am hiểu cá tính của từng sợ mây thì mới

có thể cho ra những sản phẩm hoàn mỹ

Trang 35

 Khái quát về Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Phú Nghĩa

Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Phú Nghĩa được thành lập với 10 Chi hội thôn, xóm Hàng năm Hội Phụ nữ luôn tổ chức các cuộc thi đua phong trào văn hóa, văn nghệ nhằm nâng cao sự đoàn kết giữa các hội viên các chi hội với nhau, vui chơi giải trí để tạo không khí một tập thể phụ nữ năng động hơn Thông qua các hoạt động phong trào Hội Phụ nữ cũng là một tổ chức mạnh của xã đi đầu về các hoạt động bề nổi cũng như bề sâu Được sự quan tâm của lãnh đạo địa phương Hội đã nổi bật về nhiều lĩnh vực : phụ nữ đảm đang, phụ

nữ làm kinh tế giỏi, phụ nữ giỏi việc nước đảm việc nhà… Qua đó, dưới sự chỉ đạo sát sao của Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã đã hộ trợ các chị em trong toàn xã làm kinh tế giỏi Đặc biệt bằng phương pháp tiếp cận với Ngân hàng Chính sách xã hội đã đem đến cho phụ nữ những chương trình vay vốn với lãi xuất ưu đãi và tiêu chí phù hợp để chị em có nhu cầu phát triển kinh tế

hộ gia đình Chính vì vậy, kinh tế gia đình trong các hộ phụ nữ vay vốn luôn

ổn định và công việc cũng ngày một phát triển hơn trước

Chính vì thế, phụ nữ được coi như nhóm nòng cốt (nhóm tình nguyện viên cộng đồng) hỗ trợ cho phụ nữ phát huy hết khả năng của mình trong phát triển kinh tế hộ gia đình, nhóm tình nguyện viên này cũng là người kết nối với các nguồn lực để tạo điều kiện cho phụ nữ tiếp cận với kiến thức và kỹ năng trong quá trình làm kinh tế [47]

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH

CỦA NHÓM PHỤ NỮ LÀM NGHỀ MÂY TRE ĐAN

2.1 Khái quát thực trạng phụ nữ tham gia phát triển kinh tế

hộ gia đình

Một vùng đất cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km về phía tây, nơi đây

có một nghề truyển thống lâu đời được đời xưa để lại đó là nghề Mây tre đan truyển thống Sản phẩm từ mây tre đan được đi khắp các thị trường trong nước và quốc tế Để có được những sản phẩm đẹp và nghệ thuật là nhờ vào những bàn tay khéo léo của những thợ thủ công hàng ngày vẫn mài miệt với nghề và cũng là cách để người dân nơi đây kiếm sống Lao động nơi đây phần lớn là phụ nữ bởi với phẩm chất cần cù, chịu khó và tỉ mỉ nên PN dành hết thời gian với công việc Chính vì thế, để hiểu rõ được tính chất nghề nghiệp của PN tại đây chúng tôi sẽ làm rõ một số vấn đề sau: Xác định rõ cơ cấu nhóm tuổi và công việc của PN làm mây tre đan trong kinh tế hộ gia đình;Vai trò của PN trong hoạt động tạo thu nhập Từ những vấn đề trên chúng tôi đi sâu tìm hiểu từng vấn đề cụ thể sau:

2.1.1 Cơ cấu nhóm mẫu và công việc của nhóm phụ nữ

Việc nghiên cứu về phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình phản ánh phần nào

về sự quan tâm và giúp đỡ của xã hội đối với việc phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng và kinh tế của xã nói chung Với mục đích tìm hiểu về phụ nữ làm kinh tế nhưng có vấn đề gây trở ngại sự tham gia cộng đồng và sự hiểu biết về xã hội của họ Qua đó nghiên cứu được triển khai trên quy mô toàn xã

và diễn ra hết sức đa dạng Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng điều tra là phụ nữ đang trong độ tuổi lao động và làm kinh tế hộ gia đình trên tất cả các lĩnh vực khác nhau

Trang 37

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nhóm mẫu điều tra

Dưới 25 tuổi Từ 25 - 35 tuổi

Từ 36 - 45 tuổi Trên 45 tuổi

Nghiên cứu được thực hiện tại xã Phú Nghĩa với 200 đối tượng là phụ nữ sống tại địa phương, trong đó: 19,5% là phụ nữ dưới 25 tuổi; 27,5% phụ nữ từ

25 – 35 tuổi; 22,5% là phụ nữ từ 36 – 45 tuổi; 30,5% là phụ nữ trên 45 tuổi

Tổng số phụ nữ được nghiên cứu được chia đồng đều ở tất cả nhóm tuổi Trong đó nhóm tuổi trên 45 chiếm (30,5 %) trong tổng số phụ nữ Đây là nhóm đối tượng có nhiều kinh nghiệm về sản xuất mây tre đan bởi đặc thù của vùng đất có nghề thủ công truyền thống này là càng làm nhiều thì sự trau dồi kinh nghiệm càng đươc tích lũy và sản xuất ra những sản phẩm đẹp mắt

và tinh xảo hơn Tiếp đến là nhóm tuổi từ 25 – 35 tuổi chiếm (27,5 %) trong tổng số phụ nữ được nghiên cứu, nhóm tuổi này là lực lượng lao động chính trong các hộ gia đình và giảm dần đến các nhóm tuổi từ 36 – 45 tuổi chiếm (22,5%) và dưới 25 tuổi chiếm (19,5 %)

Trình độ học vấn của các đối tượng là : 69,5% phụ nữ có trình độ Trung học phổ thông; 17,5% phụ nữ có trình độ Trung cấp; 13% phụ nữ có trình độ Cao đẳng – Đại học Có thể nói nhóm phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình tại xã Phú Nghĩa sự phân chia đồng đều ở tất cả lứa tuổi trong độ tuổi lao động Trong đó, chiếm đa số có trình độ học vấn tại bậc trung học phổ thông, trình độ học vấn từ Trung cấp đến Đại học chiếm không nhiều Bởi vì đa số phụ nữ được điều tra có trình độ trung học phổ thông họ ở nhà làm nông nghiệp và nghề mây tre đan để phát triển kinh tế hộ gia đình Số ít có trình độ

Trang 38

cao hơn thì họ có bằng cấp đi làm công nhân viên tại các xí nghiệp nhà máy

và có công việc ổn định nhưng để phát triển thêm ngoài giờ làm việc về nhà

họ có thể làm thêm nghề phụ là mây giang đan Mà nơi đây có nghề mây tre đan truyền thống nên đã giúp cho người dân có thể phát triển kinh tế gia đình

Hiện nay phụ nữ làm kinh tế hộ gia đình chiếm một nửa tổng số dân của toàn xã, và tỷ lệ phụ nữ tham gia làm kinh tế ngày càng cao Họ kết hợp công việc để kiếm thêm thu nhập không chỉ riêng nhóm phụ nữ thuần nông

mà còn có nhiều nhóm phụ nữ khác nhau, như nhóm phụ nữ vừa làm nông và làm nghề phụ, làm nghề tự do hay công nhân kết hợp nghề phụ Những nhóm phụ nữ này tuy ngành nghề khác nhau nhưng lại có chung mục đích là đưa kinh tế gia đình phát triển hơn

Kết quả điều tra ngẫu nhiên trong đề tài này cho thấy công việc của các chị em phụ nữ tại xã Phú Nghĩa có sự phân hóa khác nhau theo từng nhóm công việc: phần lớn phụ nữ làm nông kết hợp nghề phụ chiếm tỷ lệ (66%) trong tổng số phụ nữ toàn xã, tiếp đến là công nhân kết hợp nghề phụ chiểm

tỷ lệ (20%), làm nghề tự do là (9%) và nông dân thuần túy chiểm tỷ lệ khá khiêm tốn (5%)

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nghề nghiệp của nhóm PN làm kinh tế gia đình

Công nhân kết hợp nghề phụ

Làm nghề tự do

Làm nông thuần túy

Như vậy, công việc của phụ nữ tại xã Phú Nghĩa đa số làm nông nghiệp

và nghề phụ điều này cho thấy vùng đất nơi đây có một nguồn sẵn có nghề thủ công là mây tre đan giúp phụ nữ có tăng thêm thu nhập cải thiện cuốc

Trang 39

sống Ngoài công việc làm tại các nhà máy, xí nghiệp ra thì một bộ phận không nhỏ phụ nữ nơi đây khi trở về nhà họ vẫn có thời gian làm thêm mây tre đan giúp gia đình có thêm thu nhập Tuy nhiên, ngoài công việc mang lại thu nhập cao như công nhân hay ở nhà làm nghề phụ thì cũng không ít các phụ nữ chỉ đơn thuần làm nông dân và làm các nghề nghiệp khác để cải thiện cuộc sống Nhưng đây cũng chỉ là con số nhỏ bởi các phụ nữ này tìm thấy được những hứng thú và tạo thu nhập bằng nhiều cách riêng khác nhau nhưng cũng mang lại cho gia đình được ấm no

2.1.2 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập

Thực hiện nghị quyết của Đảng và Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, trong những năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Phú Nghĩa – một tổ chức đoàn thể có nhiệm vụ về nâng cao vị thế của người phụ

nữ trong xã hội, đã đề ra chương trình hành động thiết thực, vận động phụ nữ

cả nước tham gia tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo Qua các phong trào thi đua với sự tham gia chủ động tích cực của chính bản thân các chị em phụ nữ như phong trào: “ Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”; “Phụ

nữ thi tay nghề mây tre đan giỏi”; “Các nữ doanh nghiệp tiêu biểu”… với nội dung chủ yếu là vận động phụ nữ tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần “ Ai có gì giúp nấy, người khó ít giúp người khó nhiều”, với nội dung và hình thức phù hợp đã thu hút đông đảo các chị em phụ nữ tham gia, trở thành phong trào quần chúng rộng khắp toàn xã thi đua

Về bản chất của các phong trào nàynhằm cổ vũ phụ nữ trong xã tham gia vào hoạt động sản xuất tạo thu nhập cho gia đình một cách mạnh mẽ và có động lực hơn

Cùng với các hoạt động cổ vũ, khuấy động các phong trào thì trên thực

tế vai trò của phụ nữ xã Phú Nghĩa tham gia vào sản xuất kinh tế cũng có những tích cực đáng kể được thể hiện theo thu nhập bình quân hàng tháng của gia đình chị em phụ nữ xã

Trang 40

Biểu đồ 2.3 Hoạt động mây tre tạo thu nhập cho gia đình

Xem xét hiệu quả lao động của chị em PN từ nghề mây tre kết quả cho

thấy: thu nhập từ 1 – 2 triệu chiếm 33 %trong tổng số phụ nữ được điều tra,

đa số là phụ nữ làm công việc nông nghiệp kết hợp nghề phụ Chính vì vừa

làm ruộng và vừa làm thêm nghề thủ công nên PN bị chi phối bởi thời gian

chăm sóc đồng ruộng, dẫn tới thu nhập bình quân của chị em ở mức thấp nhất

lại chiếm tỷ lệ cao nhất Mặt khác, nhóm phụ nữ này thường rơi vào độ tuổi

trên 45 họ thường kiêm việc trông cháu nhỏ cho con cái đi làm Vì thế họcũng

không dành tuyệt đối thời gian cho nghề mây tre đan Bởi vậy, thu nhập bình

quân của nhóm này chỉ giữ ở mức 1 – 2 triệu/ tháng

Mức thu nhập từ 2 – 3 triệu chiếm 29 % trong tổng số PN được nghiên

cứu cũng là một con số khá cao, những người phụ nữ nằm trong mức thu nhập

bình quân này thường rơi vào độ tuổi từ 36 – 45 tuổi Ở độ tuổi này PN có

nhiều kinh nghiệm trong sản xuất đồng áng và lại có tay nghề vững về sản

xuất mây tre đan.Mặt khác, phụ nữ trong độ tuổi này thường con cái cũng đã

lớn, họ không phải chăm sóc con hàng ngày nên dành được nhiều thời gian

cho sản xuất, do đó họ đã mang lại thu nhập khá cho gia đình

Mức thu nhập từ 3 – 5 % chiếm 27 % có thể nói, những phụ nữ thuộc

nhóm này là những người giỏi tay nghề, lại dành nhiều thời gian và công sức

để mang lại thu nhập tốt cho gia đình Khi kiếm được kinh tế cho gia đình, họ

Ngày đăng: 21/02/2017, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Borje Ljunggren(2000), Những thách thức trên con đường cải cách Đông Dương, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức trên con đường cải cách Đông Dương
Tác giả: Borje Ljunggren
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
7. Trương Ngọc Chi(2002), “Ảnh hưởng của đặc tính nông hộ tiếp cận khuyến nông và thông tin nông nghiệp đến hoạt động sản xuất lúa của các hộ do nữ quản lý” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ảnh hưởng của đặc tính nông hộ tiếp cận khuyến nông và thông tin nông nghiệp đến hoạt động sản xuất lúa của các hộ do nữ quản lý
Tác giả: Trương Ngọc Chi
Năm: 2002
9. Chủ nghĩa Mac- Lenin, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
10. Vũ Thị Kim Dung(2001), “sự khác biệt về giới trong thu nhập”, bước đầu nghiên cứu về tổ chức lao động ở Việt Nam, kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ 15-17/7/1998, tập III, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “sự khác biệt về giới trong thu nhập”
Tác giả: Vũ Thị Kim Dung
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2001
11. Franklin, Barbara A.K (1999), “Mở rộng chân trời: thay đổi các vai trò giới ở Việt nam, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mở rộng chân trời: thay đổi các vai trò giới ở Việt nam, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ
Tác giả: Franklin, Barbara A.K
Năm: 1999
12. Bùi Đình Hoà (2009), Điều tra đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cáo đời sống kinh tế- xã hội của phụ nữ các dân tộc ít người vùng cao tỉnh Bắc Cạn, báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học đề tài cấp Bộ, mã số B96- 02-14 ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cáo đời sống kinh tế- xã hội của phụ nữ các dân tộc ít người vùng cao tỉnh Bắc Cạn
Tác giả: Bùi Đình Hoà
Năm: 2009
14. Nguyễn Tuyết Lan và cộng sự nghiên cứu (2001), “Khảo sát vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp và nông thôn xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng yên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khảo sát vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp và nông thôn xã Nghĩa Hiệp, Yên Mỹ, Hưng yên
Tác giả: Nguyễn Tuyết Lan và cộng sự nghiên cứu
Năm: 2001
15. Bùi Đắc Ninh (2005), “Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của một số chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nông thôn phát triển kinh tế
Tác giả: Bùi Đắc Ninh
Năm: 2005
16. Những điều cần biết để phát triển kinh tế hộ gia đình, NXB Thanh hóa 17. Nghị quyết 11NQ/TW của Bộ chính trị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ 18. Lê Thị Quý (2010), “Xã hội học giới” , Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xã hội học giới”
Tác giả: Những điều cần biết để phát triển kinh tế hộ gia đình, NXB Thanh hóa 17. Nghị quyết 11NQ/TW của Bộ chính trị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ 18. Lê Thị Quý
Nhà XB: NXB Thanh hóa 17. Nghị quyết 11NQ/TW của Bộ chính trị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ 18. Lê Thị Quý (2010)
Năm: 2010
19. Lê Thị Quý (2010), Quản lý nhà nước về gia đình lý luận và thực tiễn, Nxb Dân trí Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về gia đình lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Dân trí Hà Nội
Năm: 2010
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VII, Chỉ thị số 37- CT/TW, ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác các bộ nữ trong tình hình mới Khác
2. Báo cáo Bridge số 56 (2000), Thực trạng và phát triển Khác
4. Ester Boerup (1970), Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế Khác
5. Bộ Chính trị khoá VII, Nghị quyết số 04- NQ/TW, ngày 12/4/1993 về đổi mới và tăng cường vận động phụ nữ trong tình hình mới Khác
6. Nguyễn Vân Chi (2007), Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò lao động nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Quốc oai, thành phố Hà Nội Khác
8. Chủ nghĩa Mac – Lenin, Gia đình thần thánh hay là phê phán sự phê phán có tính phê phán Khác
13. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt nam với việc triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI về vấn đề phụ nữ Khác
20. Nguyễn Ngọc Quỳnh (2010), Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đỉnh ở nông thôn Ninh Bình Khác
21. Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà nội Khác
29. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở nông thôn Ninh Bình 30. Vương Thị Vân “Vai trò của phụ nữ nong thôn trong phát triển kinh tếhộ trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên – Luận văn thạc sỹ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Độ tuổi của các nhóm Phụ nữ tham gia nghiên cứu - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Bảng 1 Độ tuổi của các nhóm Phụ nữ tham gia nghiên cứu (Trang 21)
Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống tác nhân làm thay đổi: Hội phụ nữ và các - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống tác nhân làm thay đổi: Hội phụ nữ và các (Trang 29)
Hình 1.2. Tháp nhu cầu của Maslow - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Hình 1.2. Tháp nhu cầu của Maslow (Trang 30)
Bảng 3: Cảm nhận của phụ nữ khi tham gia kinh tế - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Bảng 3 Cảm nhận của phụ nữ khi tham gia kinh tế (Trang 46)
Bảng 5. Mong muốn được hỗ trợ của phụ nữ khi làm kinh tế - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Bảng 5. Mong muốn được hỗ trợ của phụ nữ khi làm kinh tế (Trang 52)
Hình 1.4. Quá trình sản xuất sản phẩm theo từng công đoạn khác nhau - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Hình 1.4. Quá trình sản xuất sản phẩm theo từng công đoạn khác nhau (Trang 84)
Bảng 6. So sánh sự hiểu biết về các nguồn vốn giữa các nhóm tuổi - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Bảng 6. So sánh sự hiểu biết về các nguồn vốn giữa các nhóm tuổi (Trang 112)
Bảng 7: So sánh sự hiểu biết về nguồn vốn với nhóm trình độ học vấn - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Bảng 7 So sánh sự hiểu biết về nguồn vốn với nhóm trình độ học vấn (Trang 113)
Bảng 8: Nâng cao sự tự tin của bản thân - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Bảng 8 Nâng cao sự tự tin của bản thân (Trang 114)
Bảng 9: So sánh sự tự tin của bản thân với trình độ học vấn - Nhận diện những vấn đề của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ gia đình ( nghiên cứu trường hợp phụ nữ làm nghề mây tre đan xã phú nghĩa, huyện chương mỹ, thành phố hà nội)
Bảng 9 So sánh sự tự tin của bản thân với trình độ học vấn (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm