+ Theo WB : “ Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quanvới nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời giannhất định” + Theo Quy chế
Trang 2ĐỀ CƯƠNG
1. Tên học phần: THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
2. Số đơn vị học trình: 45 tiết lý thuyết + 30 tiết thực hành
3. Trình độ: Trung học chính quy năm thứ 2
4. Điều kiện tiên quyết: Đã học xong môn Toán, Toán kinh tế, lý thuyết tài chính, tài
chính doanh nghiệp
5. Mục tiêu của học phần:
+ Làm rõ các vấn đề lý luận chung về đầu tư, dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư
+ Làm rõ cơ sở khoa học và các nội dung của thẩm định dự án đầu tư, phươngpháp phân tích, tính toán các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả tài chính của dự án, phân tích rủi
ro của dự án, làm cơ sở để đánh giá tính khả thi của dự án
6. Mô tả tóm tắt nội dung học phần:
Môn học “ Thẩm định dự án đầu tư” tập trung vào các vấn đề sau:
+ Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư
+ Lý luận chung về dự án đầu tư, nguồn vốn cho dự án
+ Nghiên cứu các vấn đề về dự án đầu tư: Khái niệm, mục đích, yêu cầu, nội dungcủa thẩm định dự án đầu tư
+ Ứng dụng phần mềm excel trong tính toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chínhcủa dự án
7. Nhiệm vụ của sinh viên:
+ Dự học trên lớp theo quy chế
+ Làm bài tập về nhà
+ Làm bài kiểm tra định kỳ(cả lý thuyết và thực hành)
8. Tài liệu học tập:
+ Tô Ngọc Hưng, Tài trợ dự án, NXB Thống kê, 2003
+ Nguyễn Quốc Ân và các tác giả, Thiết lập và thẩm định dự án đầu tư, NXB Tài
chính, 2006
+ Nguyễn Ninh Kiều, Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng, NXB Tài chính,
2006
+ Nguyễn Minh Trang, Quản trị dự án đầu tư, NXB Thống kê, 2000
+ Các báo, tạp chí chuyên ngành, internet…
9. Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
+ Dự lớp: Theo quy chế
+ Kiểm tra định kỳ: 3 bài lý thuyết + 1 bài thực hành
+ Thi cuối kỳ: 1 bài lý thuyết + 1 bài thực hành
10 Thang điểm : 10
11 Nội dung chi tiết học phần:
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ 1.1 Khái niệm đầu tư
1.2 Đặc điểm của đầu tư
1.2.1 Đầu tư là hoạt động cĩ tính sinh lời
1.2.2 Đầu tư diễn ra trong thời gian dài
1.2.3 Đầu tư đối mặt với nhiều rủi ro
1.3 Phân loại hoạt động đầu tư
1.3.1 Phân loại đầu tư theo ngành
1.3.2 Phân loại đầu tư theo hình thức đầu tư
1.3.3 Phân loại theo nguồn vốn đầu tư
1.3.4 Phân loại theo chủ thể đầu tư
1.3.5 Phân loại theo chức năng quản trị vốn
1.4 Vai trị của đầu tư
1.4.1 Đối với nền kinh tế:
1.4.1.1 Đầu tư thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
1.4.1.2 Đầu tư tác động đến dịch chuyển cơ cấu kinh tế
1.4.1.3 Đầu tư tăng cường khả năng khoa học, cơng nghệ của đất nước
1.4.2 Đối với doanh nghiệp
CHƯƠNG II: DỰ ÁN ĐẦU TƯ 2.1 Sự cần thiết phải đầu tư theo dự án
2.2 Tổng quan về dự án đầu tư
2.2.1 Khái niệm về dự án đầu tư
2.2.2.Phân loại dự án đầu tư
2.2.2.1 Căn cứ vào trình tự lập dự án
2.2.2.2.Căn cứ vào tầm quan trọng của dự án
2.2.2.3.Căn cứ vào tính chất của dự án
2.2.2.4.Căn cứ vào hình thức đầu tư theo hợp đồng
2.2.3 Nội dung cơ bản của dự án đầu tư
2.2.4 Vai trị của dự án đầu tư
2.2.4.1 Đối với chủ đầu tư
2.2.4.2 Đối với các tổ chức tài chính
2.2.4.3 Đối với cơ quan quản lý nhà nước
2.2.5 Yêu cầu của dự án
2.2.6 Chu trình của dự án đầu tư
2.3 Nguồn vốn cho dự án
2.3.1 Nguồn vốn trong nước
2.3.2 Nguồn vốn nước ngồi
CHƯƠNG III: THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 3.1 Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư
3.2 Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư
3.2.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
3.2.2 Mục đích, ý nghĩa thẩm định dự án
Trang 43.2.3 Những yêu cầu đối với cán bộ thẩm dịnh dự án
3.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án
3.2.4.1 Đội ngũ cán bộ
3.2.4.2 Thông tin
3.2.4.3 Trang thiết bị, công nghệ
3.2.4.4 Quy trình, phương pháp và các chỉ tiêu thẩm định dự án
3.2.4.5 Tổ chức điều hành công tác thẩm định
3.2.4.6 Môi trường kinh tế - xã hội
3.3 Nội dung thẩm định dự án đầu tư
3.3.1 Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu của dự án
3.3.2 Thẩm định thị trường của dự án
3.3.2.1 Mục đích, vai trò của thẩm định thị trường
3.3.2.2 Thẩm định về sản phẩm, dịch vụ của dự án
3.3.2.3 Thẩm định khu vực thị trường của dự án
3.3.2.4 Thẩm định tình hình cạnh tranh và các phương thức cạnh tranh của dự án3.3.2.5.Thẩm định các kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm
3.3.3 Thẩm định kỹ thuật, công nghệ của dự án
3.3.3.1 Mục đích của thẩm định kỹ thuật, công nghệ của dự án
3.3.3.2 Thẩm định về địa điểm xây dựng công trình
3.3.3.3 Thẩm định quy mô công suất của dự án
3.3.3.4 Thẩm định thiết bị và công nghệ của dự án
3.3.3.5 Thẩm định về nguyên vật liệu sử dụng cho dự án
3.3.3.6 Thẩm định về kỹ thuật xây dựng của dự án
3.3.3.7 Thẩm định nguồn cung cấp năng lượng và nước cho dự án
3.3.4 Thẩm định phương diện tổ chức quản lý và nhân lực của dự án
3.3.4.1 Sự cần thiết phải thẩm định phương diện tổ chức quản lý và nhân lực của
dự án
3.3.4.2 Hình thức kinh doanh
3.3.4.3 Cơ cấu tổ chức quản lý điều hành
3.3.4.4 Dự kiến nhân lực và chi phí nhân lực cho dự án
3.3.5 Thẩm định tài chính của dự án
3.3.5.1 Mục đích của thẩm định tài chính dự án
3.3.5.2 Thẩm định tổng vốn đầu tư cho dự án
3.3.5.3 Xác định các nguồn tài trợ và khả năng đảm bảo các nguồn tài trợ
3.3.5.4 Các bảng kế hoạch tài chính cho dự án
3.3.5.4.1 Bảng kế hoạch đầu tư
3.3.5.4.2 Kế hoạch khấu hao
3.3.5.4.3 Kế hoạch trả nợ
3.3.5.4.4 Bảng dự tính doanh thu
3.3.5.4.5 Bảng dự tính chi phí của dự án
3.3.5.4.6 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
3.3.5.4.7 Bảng kế hoạch ngân lưu
3.3.5.5 Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả tài chính của dự án
3.3.5.5.1 Các chỉ tiêu theo phương pháp phân tích tài chính giản đơn
a, Chỉ tiêu lợi nhuận ròng
b, Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư – ROI
Trang 5c, Chỉ tiêu thời gian hồn vốn giản đơn:
d, Chỉ tiêu điểm hồ vốn:
3.3.5.5.2 Các chỉ tiêu theo phương pháp phân tích tài chính theo giá trị tươngđương
a Lãi kép và giá trị kép
b Hiện giá
c Biểu đồ dòng tiền của dự án
d Dùng hiện giá để so sánh lựa chọn các phương án
e Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của dự án theo phương phápphân tích giá trị tương đương
e1, Chỉ tiêu hiện giá thu nhập thuần – NPV (Net Present Value)
e2, Tỷ suất thu hồi nội bộ – IRR: Internal Rate of Return
e3, Tỷ lệ lợi ích – chi phí (B/ C)
e4, Thời gian hồn vốn đầu tư cĩ chiết khấu( DPP- Discounting paybackperiod)
e5/ Chỉ số sinh lời ( Profitability Index: PI)
3.3.5.6 Phân tích rủi ro của dự án
3.3.5.6.1 Phân tích độ nhạy của dự án3.3.5.6.2 Phương pháp phân tích tình huống3.3.6 Thẩm định lợi ích kinh tế- xã hội của dự án
3.3.7 Đánh giá, kết luận dự án
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ 1.1 Khái niệm đầu tư
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư, chẳng hạn:
Theo David Begg cho rằng “ Đầu tư là việc các hãng mua sắm tư liệu sản xuất mới” Xuất phát từ nguồn gốc của đầu tư, Samuelson chỉ ra rằng “ Đầu tư là sự hy sinh tiêudùng hiện tại để tăng tiêu dùng cho tương lai Thay vì ăn nhiều bánh pizza hôm nay,chúng ta hãy xây các lò bánh nướng để có thể sản xuất ra nhiều bánh pizza hơn cho tiêudùng ngày mai”
Theo quan điểm của chủ đầu tư ( Doanh nghiệp): “ Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận trong thời hạn tương lai”.
Theo quan điểm xã hội : “ Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế - xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia”
Theo Luật đầu tư được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họpthứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và được Chủ tịch nước Trần Ðức Lương đã ký Lệnh số32/2005/L/CTN công bố vào ngày 12/12/2005, nêu rõ :
“Ðầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
Như vậy, dù được nhìn nhận dưới góc độ nào đi chăng nữa thì công cuộc đầu tưđều phải bỏ vốn ban đầu và mục đích là để thu lợi trong tương lai
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) vào
một việc nhất định trong thời gian tương đối dài nhằm mục đích sinh lợi trong tương lai.
1.2 Đặc điểm của đầu tư
1.2.1 Đầu tư là hoạt động có tính sinh lời
Thực tiễn cho thấy, không ai bỏ vốn, công sức để thực hiện đầu tư, mà không tínhtoán đến lợi ích thu được từ hoạt động đầu tư đó Tất cả những người có ý định đầu tưđều ấp ủ niềm hy vọng rằng họ sẽ thu được lợi ích lớn hơn chi phí đã bỏ ra Chính niềm
hy vọng đó là động lực chủ yếu khiến họ thực hiện công cuộc đầu tư
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, khả năng sinh lời là điều kiện tiên quyết của đầu tư Không thể coi là đầu tư nếu việc sử dụng vốn không nhằm mục đích thu được kết quả lớn hơn số vốn đã bỏ ra ban đầu Điều này cho phép chúng ta phân biệt đầu
- Việc chi tiêu cho những mục đích nhân đạo, tình cảm, chẳng hạn các phongtrào xây dựng nhà tình thương, nhà tình nghĩa, trợ cấp học bổng cho các học sinh, sinhviên có hoàn cảnh gia đình khó khăn…
Trang 7Ngoài mục tiêu hiệu quả tài chính, đầu tư còn nhằm mục đích giải quyết việclàm cho người lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước… nhằm góp phần làmtăng lợi ích kinh tế xã hội.
1.2.2 Đầu tư diễn ra trong thời gian dài
Đầu tư được xem là quá trình tìm kiếm lợi ích Đây là quá trình cực kỳ gian nan,vất vả với rất nhiều công việc cụ thể phải tiến hành Một khối lượng công việc rất lớntrong đầu tư không thể hoàn thành trong 1 thời gian ngắn
Vì vậy, việc đầu tư thường không diễn ra trong ngày một ngày hai, mà phải trảiqua một thời gian khá dài, thậm chí rất dài Điều đó thể hiện rõ qua các giai đoạn của mộtquá trình đầu tư
Thời gian đầu tư được ghi rõ trong quyết định hay giấy phép đầu tư Người lập dự
án cũng như người thẩm định dự án cần có tầm nhìn xa
1.2.3 Mọi hoạt động đầu tư đều liên quan đến vốn và đối mặt với nhiều rủi ro.
Muốn đầu tư phải có một số vốn nhất định Vốn bao gồm các loại vốn sau:
- Vốn bằng tiền ngoại tệ, nội tệ và các loại tài sản có giá trị như tiền ( vàng bạc,
đá quý )
- Vốn bằng tài sản hữu hình: đất đai, nhà xưởng, thiết bị, nguyên nhiên liệu
- Vốn bằng tài sản vô hình: uy tín thương hiệu, lợi thế
- Vốn bằng tài sản đặc biệt: tín phiếu, cổ phiếu, trái phiếu
Chính vì tính chất dài hạn của hoạt động đầu tư, nên chứa đựng nhiều yếu tố rủi
ro Với khoảng thời gian dài đó, có thể có rất nhiều biến cố xảy ra gây cản trở cho hoạtđộng đầu tư, thậm chí làm cho nhà đầu tư bị thất bại, thua lỗ và phá sản Chẳng hạn như:
* Trong quá trình xây dựng: có thể gặp thiên tai bất ngờ gây nguy hại đến côngtrình đang thi công, hoặc làm chậm tiến độ thi công gây ảnh hưởng đến thời gian dự kiếntung sản phẩm ra thị trường Ngoài ra, trong giai đoạn này việc biến động của các nguyênvật liệu phục vụ cho việc xây dựng cũng ảnh hưởng đáng kể đến dự án
* Khi công trình xây dựng xong đưa vào vận hành: dự án có thể gặp phải sựcạnh tranh gay gắt của các đối thủ khác trên thị trường, hoặc sản phẩm của dự án khôngđược thị trường chấp nhận và ưa chuộng Ngoài ra việc biến động của các yếu tố nguyênvật liệu đầu vào cho sản xuất về nguồn cung cấp hay giá cả cũng gây tác động đến dự án
* Các yếu tố kinh tế vĩ mô: lạm phát, chủ trương chính sách của chính phủ, tìnhhình của nền kinh tế
* Các rủi ro bất khả kháng khác: Thiên tai, chiến tranh
Nhận thức rõ ràng những rủi ro trong đầu tư là điều có ý nghĩa hết sức quan trọnggiúp tìm ra những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế rủi ro, nhằm đem lạihiệu quả cao cho nhà đầu tư và cho xã hội
1.3 Phân loại hoạt động đầu tư
1.3.1 Phân loại đầu tư theo ngành
Hình thành ý tưởng
và thẩm định
Trang 8Theo tiêu thức này, hoạt động đầu tư bao gồm các loại sau:
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: Là hoạt động bỏ vốn để phát triển cơ sở hạ tầng
kỹ thuật: điện, nước, cầu đường, thông tin liên lạc…và cơ sở hạ tầng xã hội: trường học,bệnh viện
- Đầu tư phát triển công nghiệp: là hoạt động bỏ vốn để xây dựng, cải tạo, mở rộng
các công trình công nghiệp
- Đầu tư phát triển nông nghiệp: là hoạt động bỏ vốn để xây dựng, cải tạo, mở rộng
các công trình nông nghiệp
- Đầu tư phát triển dịch vụ: là hoạt động bỏ vốn để xây dựng, cải tạo, mở rộng các
công trình dịch vụ (khách sạn, du lịch )
1.3.2 Phân loại đầu tư theo hình thức đầu tư
Khi sử dụng tiêu chí này để phân loại, hoạt động đầu tư bao gồm:
- Hình thức đầu tư mới, là hoạt động bỏ vốn để xây dựng các công trình mới hoặccác đơn vị SXKD có tư cách pháp nhân riêng
- Hình thức đầu tư mở rộng qui mô SX, là hoạt động bỏ vốn để mở rộng công trình
cũ đang hoạt động, nâng cao công suất, tăng thêm mặt hàng, hoặc nâng cấp, hiện đại hoá,đồng bộ hoá dây chuyền SX, dịch vụ trên cơ sở các công trình sẵn có
2.
2.2.1 Phân loại theo nguồn vốn đầu tư
Theo tiêu thức này, 1 cách khái quát nhất, hoạt động đầu tư bao gồm:
1.3.3.1 Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước như vốn NS, vốn tự có, vốn vay trong nước
1.3.3.2 Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài : vốn đầu tư trực tiếp (FDI), Vốn đầu tư gián tiếp (FII), vốn vay nước ngoài, vốn viện trợ
a) Hình thức đầu tư trực tiếp (FDI, Foreign Direct Investment)
_ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
_ Công ty liên doanh (tổ chức trong nước và nước ngoài cùng góp vốn để kinhdoanh)
_ Công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài
b) Hình thức vay vốn từ quỹ hỗ trợ phát triển chính thức (ODA , Official Development Assistance)
Theo hình thức này các doanh nghiệp trong nước vay vốn nước ngoài với lãisuất thấp để thực hiện dự án Tuy nhiên chủ cho vay thường ép buộc phải mua kémthiết bị và máy móc với giá cao và trình độ kỹ thuật lạc hậu thì không có lợi chongười vay vốn
c) Hình thức Xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT, Building – Operation – Transfer)
Chủ đầu tư nước ngoài ban đầu tự bỏ vốn để xây dựng công trình, sau
đó họ tự quản lý khâu vận hành khai thác để thu hồi vốn và lợi nhuận trong một thờigian nhất định Hết thời gian này chủ đầu tư nước ngoài phải chuyển giao công trìnhcho nước chủ nhà không có bồi hoàn Hình thức này thường dùng xây dựng các côngtrình cơ sở hạ tầng
d) Hình thức Xây dụng – chuyển giao – khai thác (BTO, Building – Transfer – Operation)
Trang 9Chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn xây dựng công trình và chuyển giao cho nướcchủ nhà, sau đó nước chủ nhà dành cho chủ đầu tư nước ngoài một thời hạn nhất định
để kinh doanh
e) Hình thức Xây dụng – Chuyển giao (BT, Building – Transfer)
Chủ đầu tư nước ngoài bỏ vốn xây dựng công trình sau đó chuyển giao hẳncho nước chủ nhà để khai thác kinh doanh Chính phủ nước chủ nhà sau đó tạo điềukiện cho chủ đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn và lợi nhuận
2.2.2 Phân loại theo chủ thể đầu tư
Khi sử dụng tiêu chí này để phân loại, hoạt động đầu tư bao gồm:
- Đầu tư nhà nước
- Đầu tư doanh nghiệp
- Đầu tư cá nhân
2.2.3 Phân loại theo chức năng quản trị vốn
Cách phân loại này còn gọi là phân loại theo mối quan hệ quản lý của chủ đầu tư.Theo tiêu thức này, hoạt động đầu tư bao gồm:
- Đầu tư trực tiếp: là hoạt động đầu tư trong đó, chủ đầu tư trực tiếp tham gia QTquản trị vốn bỏ ra Vì vậy, họ trực tiếp tham gia quản lý điều hành quá trình thực hiện đầu
tư & vận hành kết quả đầu tư Thực chất trong hoạt động đầu tư này, người bỏ vốn vàngười sử dụng vốn là 1 chủ thể Đi sâu hơn nữa, hoạt động đầu tư này được chia thành :đầu tư phát triển và đầu tư chuyển dịch
+ Đầu tư phát triển: là loại đầu tu tư bỏ vốn nhằm tạo ra năng lực SX mới làmphương tiện sinh lời Những năng lực mới hình thành qua quá trình đầu tư đó là: cáccông trình xây dựng, các dây chuyền SX, máy móc trang thiết bị…
+ Đầu tư chuyển dịch: là hoạt động bỏ vốn để mua lại 1 số cổ phần đủ lớn nhằm
nắm quyền chi phối hoạt động của DN Trong trường hợp này, việc đầu tư không làmtăng TS của DN, mà chỉ làm chuyển dịch quyền sở hữu giá trị TS
- Đầu tư gián tiếp: là loại đầu tư trong đó, người bỏ vốn không trực tiếp tham gia
quản trị vốn bỏ ra Vì vậy, họ cũng không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trìnhthực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư Đây là loại đầu tư trong đó, người bỏ vốn
và người quản trị sử dụng vốn là những chủ thể khác nhau Vd: việc bỏ vốn mua lại cổphiếu, trái phiếu với số lượng nhỏ
2.3 Vai trò của đầu tư
2.3.1 Đối với nền kinh tế:
2.3.1.1 Đầu tư thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Ngày nay, tăng trưởng và phát triển kinh tế là những khái niệm thường được nhắcđến, rất gần gũi và thu hút sự quan tâm của mọi người Nhà kinh tế … Đã khẳng định: “
Vấn đề tăng trưởng không phải là cái mới mà là sự cải trang cái mới của 1 vấn đề cổ xưa, 1 vấn đề luôn luôn hấp dẫn các nhà kinh tế học và làm cho họ phải bận tâm suy nghĩ : cái hiện tại so với cái tương lai.
Tăng trưởng kinh tế thường được hiểu là sự tăng lên về quy mô sản lượng của
nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mứcgia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng đại lượng tổng sản phẩm quốc dân (GNP)hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu,
chủ thể kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 10Vì vậy, tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững là phương hướng và mục tiêuphấn đấu của các quốc gia Để đạt được điều đó cần quan tâm giải quyết các nhân tố ảnhhưởng đến sự tăng trưởng là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, vốn và công nghệ Thôngqua hoạt động đầu tư, các yếu tố đó sẽ được khai thác và huy động, từ đó tạo ra cơ sở vậtchất- kỹ thuật và nguồn lực mới cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Có thể nói rằng:Đầu tư là con đường đúng đắn, duy nhất để tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kinh nghiệm xây dựng và phát triển kinh tế của các nước trên thế giới và ở nước tacho thấy, điều kiện cơ bản để nền kinh tế có thể “cất cánh” được là phải dành cho đầu tư
1 tỷ lệ khoảng 20% GDP Đồng thời, coi trọng hiệu quả của hoạt động đầu tư
2.3.1.2 Đầu tư tăng cường khả năng khoa học, công nghệ của đất nước
Cơ cấu kinh tế được hiểu một cách đơn giản là mối quan hệ giữa các bộ phận hợpthành nền kinh tế Cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia thường được phân chia theo nhữngcách chủ yếu sau:
- Cơ cấu kinh tế theo ngành
- Cơ cấu kinh tế theo vùng ( lãnh thổ)
- Cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi thành phần kinh tế đều có tiềm năng và thế mạnh riêng Hoạtđộng đầu tư sẽ giúp khai thác tiềm năng, thế mạnh đó và tạo ra sự dịch chuyển về cơ cấukinh tế, từng bước tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý
Để đạt được điều đó, việc phân bổ vốn đầu tư cần thực hiện theo hướng :
-Vốn ngân sách và vốn ODA do trung ương quản lý được phân bổ đều cho cácvùng nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội
-Vốn ngân sách do địa phương quản lý dành 30% cho vùng kinh tế trọng điểm,70% dành cho các vùng khác
-Vốn của các doanh nghiệp, của nhân dân và vốn FDI đầu tư vào các vùng kinh tếtrọng điểm chiếm hơn 30 %
1.4.1.3 Đầu tư tăng cường khả năng khoa học, công nghệ của đất nước
Ứng dụng khoa học và phát triển công nghệ là một yếu tố quan trọng của việcphát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đây cũng là mối quan tâm hàngđầu của hầu hết các quốc gia.Việc nâng cao và đổi mới cơ cấu công nghệ một mặt phục
vụ cho những yêu cầu mà dịch chuyển cơ cấu kinh tế đặt ra Mặt khác, nó cũng tác độngtrở lại tới tốc độ và quy mô của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong mỗi thời kỳ.Thông qua hoạt động đầu tư, các nhà đầu tư sẽ tận dụng những thành tựu khoa học đểđem lại hiệu quả cao trong kinh doanh Đây sẽ được xem là động lực để các quốc gia tăngcường khả năng khoa học công nghệ của đất nước
2.3.2 Đối với doanh nghiệp
- Hoạt động đầu tư có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, đặtbiệt là tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
- Thông qua đầu tư, công nghệ thiết bị của doanh nghiệp được đổi mới, chấtlượng sản phẩm được nâng cao, sản phẩm ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu, thị
Trang 11hiếu của người tiêu dùng từ đó tăng khả năng tiêu thụ và mang lại lợi nhuận nhiều hơncho doanh nghiệp Điều này khẳng định đầu tư đóng vai trò rất quan trọng đối với sự tồntại và phát triển của doanh nghiệp.
Trang 12CHƯƠNG II: DỰ ÁN ĐẦU TƯ 2.1 Sự cần thiết phải đầu tư theo dự án
Chúng ta biết rằng giữa đầu tư và dự án có mối quan hệ chặc chẽ với nhau Đây làmối quan hệ nhân quả Đầu tư phát triển là nguồn gốc ra đời của các dự án Ngược lại,việc xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư sẽ kiểm nghiệm tính đúng đắn và hiệu quảcủa quyết định đầu tư
Trong chương 1, chúng ta đã biết rằng hoạt động đầu tư thường gắn với một khốilượng vốn lớn và được thực hiện trong một thời gian tương đối dài Do vậy, trước khiquyết định đầu tư vào lĩnh vực nào đó, nhà đầu tư luôn phải tính toán, suy xét hết sức kỹlưỡng, cụ thể họ luôn tiến hành lập dự án trước khi ra quyết định đầu tư Muốn tối đahóa hiệu quả của đầu tư thì trước khi ra quyết định đầu tư nhất thiết phải có dự án đầu tư.Hay nói cách khác, đầu tư phải được tiến hành trên cơ sở các dự án đã được soạn thảo vàxem xét một cách kỹ lưỡng Vì vậy, đầu tư theo dự án là một điều hết sức cần thiết đốivới các nhà đầu tư
2.2 Tổng quan về dự án đầu tư
2.2.1 Khái niệm về dự án đầu tư
Do đặc điểm của đầu tư và sự phức tạp về mặt kỹ thuật, và mục tiêu của đầu tư là
hiệu quả cho nên để tiến hành một công cộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận, kỹlưỡng và nghiêm túc Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án đầu tưtức là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án thì mới đạt hiệu quả mongmuốn
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
+ Về mặt hình thức: “Dự án là một tập hồ sơ, tài liệu trình bày một cách chi tiết
và hệ thống một kế hoạch, một chương trình hành động trong tương lai phù hợp với cácmục tiêu cụ thể”
+ Về mặt nội dung: “Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan vớinhau được hoạch định nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định bằng việc tạo ra các kếtquả cụ thể thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định trong một khoảng thời gian xácđịnh”
+ Về mặt quản lý: “Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư,lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế trong một thời gian dài”
+ Về mặt kế hoạch hoá: “Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiếtcủa một công cuộc đầu tư, SXKD, phát triển kin tế xã hội làm tiền đề cho các quyết địnhđầu tư và tài trợ Dự án đầu tư là một hoạt động riêng biệt, nhỏ nhất trong công tác kếhoạc hoá nền kinh tế quốc dân”
Một số ý kiến khác cho rằng:
+ Theo Quan điểm Tài chính.“Dự án là một tập hợp những đề xuất về nhu cầuvốn, cách sử dụng vốn và kết quả tương ứng thu được trong khoản thời gian xác định đốivới cụ thể để hoạt động SXKD, cung cấp dịch vụ và đầu tư phát triển”
Trang 13+ Theo WB : “ Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quanvới nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời giannhất định”
+ Theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng do Chính phủ Việt Nam ban hànhnhằm quản lý các hoạt động đầu tư và xây dựng đối với các dự án đầu tư trong nước, đưa
ra khái niệm một cách tổng quát
“Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất, kiến nghị liên quan đến việc bỏ vốn
để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăngtrưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của một sản phẩm hoặc dịch vụnào đĩ trong một thời gian xác định ”
Dù được xem xét dưới bất kỳ gĩc độ, hay quan điểm nào thì dự án đầu tư cũng baogồm các đặc điểm chính như sau:
- Dự án khơng chỉ là một ý định hay phát thảo, mà phải cĩ tính cụ thể, cĩ mục tiêuxác định, nhằm đáp ứng một nhu cầu chuyên biệt Các mục tiêu cần đạt được khi thựchiện dự án Cụ thể là khi thực hiện, dự án sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nĩichung và cho bản thân chủ đầu tư nĩi riêng Những mục tiêu này cần được biểu hiệnbằng kết quả cụ thể như tạo nguồn thu cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người laođộng, mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư…
- Dự án khơng nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng, mà phải cấu trúc nên mộtthực tế mới, một thực tế mà trước đĩ chưa tồn tại nguyên bản tương đương Các hoạtđộng của dự án Dự án phải nêu rõ những hành động cụ thể phải thực hiện, địa điểm diễn
ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hồn thành, và các bộ phận cĩ tráchnhiệm thực hiện những hành động đĩ
- Dự án khơng chỉ là dự báo Khác với dự báo, trong đĩ người làm dự báo khơng
cĩ ý định can thiệp vào các sự cố Dự án địi hỏi sự tác động tích cực của các bên thamgia
- Vì liên quan đến một thực tế trong tương lai nên bất kỳ dự án nào cũng cĩ rủi ronhất định
- Dự án nào cũng cĩ những hạn chế về nguồn lực và thời gian Hoạt động của dự
án khơng thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính, con người…
Vì vậy, phải nêu rõ các nguồn lực cần thiết cho dự án Tổng hợp các nguồn lực này chính
là vốn đầu tư cần cho dự án.Theo WB : “ Dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động vàchi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt được những mục tiêu nhất địnhtrong một thời gian nhất định”
Theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng do Chính phủ Việt Nam ban hành nhằmquản lý các hoạt động đầu tư và xây dựng đối với các dự án đầu tư trong nước:
“Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liênquan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo cơsở vật chất nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng
Trang 14hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặcdịch vụ trong khoảng thời gian xác định”
Một số ý kiến khác cho rằng: “Dự án là một tập hợp những đề xuất về nhu cầuvốn, cách sử dụng vốn và kết quả tương ứng thu được trong khoản thời gian xác định đốivới cụ thể để hoạt động SXKD, cung cấp dịch vụ và đầu tư phát triển” (Quan điểm Tàichính)
Về mặt hình thức: Dự án là một tập hồ sơ, tài liệu trình bày một cách chi tiết và
hệ thống một kế hoạch, một chương trình hành động trong tương lai phù hợp với các mục tiêu cụ thể.
Khác với dự báo, trong đĩ người làm dự báo khơng cĩ ý định can thiệp vào các sự
cố Dự án địi hỏi sự tác động tích cực của các bên tham gia
Vì liên quan đến một thực tế trong tương lai nên bất kỳ dự án nào cũng cĩ rủi
Dự án tiền khả thi : Là những dự án nghiên cứu sơ bộ về một số vấn đề như:
địa điểm đầu tư, quy mơ dầu tư, lựa chọn thiết bị cơng nghệ, nhu cầu vốn, tổ chức thựchiện dự án, xác định cá chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả dự án Dự án tiền khả thi( haycịn gọi là Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi) là kết quả của giai đoạn nghiên cứu tiền khảthị trên cơ sở làm cho việc triển khai nghiên cứu khả thi
Trong giai đoạn này cần trả lời các câu hỏi sau:
- Dự án cĩ khả thi về mặt tài chính, kinh tế, xã hội khơng?
- Các biến hay chỉ tiêu chủ yếu là gì?
Trang 15- Phân tích nhu cầu cơ bản
Dự án khả thi (còn gọi là luận chứng kinh tế - kỹ thuật) : Là nghiên cứu một
cách toàn diện và chi tiết về tất cả các phương diện càn phân tích của một dự án như: thịtrường, kỹ thuật, nhân sự, tài chính, kinh tế - xã hội Dự án khả thi (còn gọi là Báo cáokhả thi) là kết quả của bước nghiên cứu khả thi để làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu
tư, cấp giấy phép đầu tư và các quyết định tài trợ
Trong giai đoạn này cần trả lời các câu hỏi sau:
- Dự án có khả thi về mặt tài chính, kinh tế, xã hội không?
- Mức độ không tin cậy của các biến số chủ yếu?
- Ra quyết định thiết kế chi tiết hay không?
2.2.2.2 Căn cứ vào tầm quan trọng của dự án
- Dự án quan trọng cấp quốc gia
Loại dự án đầu tư xây dựng công trình Tổng mức đầu tư
Quốc hội
II Nhóm A
1 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuộc lĩnh vực bảo vệ
an ninh, quốc phòng có tính chất bảo mật quốc gia, có ý nghĩa
chính trị - xã hội quan trọng
Không kể mức vốn
2 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: sản xuất chất độc hại,
chất nổ; hạ tầng khu công nghiệp
Không kể mức vốn
3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai
thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện
Trên 600 tỷ đồng
Trang 16kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu,
cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây
dựng khu nhà ở
4 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông
(khác ở điểm II-3), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ
thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin
học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất
vật liệu, bưu chính, viễn thông
Trên 400 tỷ đồng
5 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành
sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản
xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông,
lâm sản
Trên 300 tỷ đồng
6 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục,
phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây
dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên
cứu khoa học và các dự án khác
Trên 200 tỷ đồng
III Nhóm B
1 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai
thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện
kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu,
cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ), xây
dựng khu nhà ở
Từ 30 đến 600 tỷ đồng
2 - Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông
(khác ở điểm II-3), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ
thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin
học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất
vật liệu, bưu chính, viễn thông,
Từ 20 đến 400 tỷ đồng
3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: hạ tầng kỹ thuật khu đô
thị mới, công nghiệp nhẹ, sành sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc
gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi
trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản
Từ 15 đến 300 tỷ đồng
4 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo dục,
phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây
dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên
cứu khoa học và các dự án khác
Từ 7 đến 200 tỷ đồng
IV Nhóm C
1 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp điện, khai
thác dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy, xi măng, luyện
kim, khai thác chế biến khoáng sản, các dự án giao thông (cầu,
cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ) Các
trường phổ thông nằm trong quy hoạch (không kể mức vốn),
xây dựng khu nhà ở
Dưới 30 tỷ đồng
2 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuỷ lợi, giao thông
(khác ở điểm II-3), cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ
thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin
Dưới 20 tỷ đồng
Trang 17học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất
vật liệu, bưu chính, viễn thông
3 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: công nghiệp nhẹ, sành
sứ, thuỷ tinh, in, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, sản
xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông,
lâm sản
Dưới 15 tỷ đồng
4 Các dự án đầu tư xây dựng công trình: y tế, văn hoá, giáo
dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dân dụng khác (trừ xây
dựng khu nhà ở), kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên
2.2.2.3 Căn cứ vào tính chất của dự án
* Dự án độc lập: Hai dự án được gọi là độc lập nhau nếu việc chấp nhận hoặc từ
bỏ dự án này không ảnh hưởng đến việc chấp nhận hay từ bỏ dự án khác
* Dự án phụ thuộc: Hai dự án được gọi là phụ thuộc lẫn nhau nếu việc chấp
nhận hay từ bỏ dự án này sẽ dẫn đến việc chấp nhận hay từ bỏ thực hiện dự án khác Vd:
dự án lắp ráp máy điện toán cá nhân và dự án sản xuất phần mềm cho máy vi tính
* Dự án loại trừ lẫn nhau: Hai dự án được gọi là loại trừ lẫn nhau nếu việc chấp
nhận thực hiện dự án này sẽ phải từ bỏ việc thực hiện dự án khác
2.2.2.4 Căn cứ vào hình thức đầu tư theo hợp đồng
Dự án BOT ( Dư án Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao): Là các dự án
xây dựng công trình và kinh doanh công rình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi
vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý Sau đó, hết thời hạn đầu tư, nhà đầu tư chuyển giao
không bồi hoàn công trình đó cho chính quyền sở tại để chính quyền sở tại tiếp tục quản
lý và sử dụng Vd: dự án xây dựng cầu đường, thu lệ phí
Dự án BTO (Dự án Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh): Là
dự án xây dựng công trình và sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình
đó cho chính quyền sở tại và chính quyền sở tại sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh đoanh
trong một thời gian nhất định để thu hồi vốn đầu tư và có lợi nhuận hợp lý
Dự án BT (Dự án Xây dựng – Chuyển giao): Là các dự án xây
dựng công trình và sau khi xây dựng xong , nhà đầu tư chuyển iao công trình đó cho
chính quyền sở tại và chính quyền sở tại sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án
khác gắn liền với dự án BT để thu hồi vốn đầu tư vào công trình BT và có lợi nhuận hợp
lý
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng
BCC): là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân
chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân
Trang 182.2.3 Nội dung cơ bản của dự án đầu tư
1 Giới thiệu đơn vị đầu tư
2 Các căn cứ pháp lý
3 Mục tiêu và phạm vi của dự án
4 Mô tả kỹ thuật của dự án
5 Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư
6 Phân tích và nghiên cứu thị trường
7 Nghiên cứu phương diện kỹ thuật- công nghệ của dự án
8 Phân tích phương diện quản trị nhân lực của dự án
9 Phân tích và phương án tài chính
10 Các hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
11 Tổ chức thực hiện dự án
12 Kết luận và kiến nghị
2.2.4 Vai trò của dự án đầu tư
2.2.4.1 Đối với chủ đầu tư
- DAĐT là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn đầu tư
- DAĐT là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốn đầutư
- DAĐT là cơ sở để chủ đầu tư xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi, đôn đốc vàkiểm tra quá trình thực hiện đầu tư
- DADT còn là căn cứ để theo dõi đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại
và vướng mắc trong quá trình thực hiện đầu tư và khai thác công trình
Dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn đầu tư Dự án đầu tư đượcsoạn thảo theo 1 qui trình chặt chẽ trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ các mặt về thị trường, kỹthuật, tài chính, tổ chức quản lý… Do đó, chủ đầu tư sẽ yên tâm hơn trong việc bỏ vốn ra
để thực hiện dự án vì có khả năng mang lại lợi nhuận và ít rủi ro
Mặt khác, vốn đầu tư của 1 dự án thường rất lớn và để san xẻ rủi ro (nếu có) nênngoài phần vốn tự có, để thực hiện các dự án thì chủ đầu tư còn cần đến nguồn vốn vay
Dự án là một phương tiện để thuyết phục các tổ chức tài chính-tín dụng xem xét tài trợcho vay vốn hoặc là phương tiện để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ vốnđầu tư
Dự án cũng là cơ sở để chủ đầu tư xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi đôn đốc vàkiểm tra quá trình thực hiện đầu tư Đó là những kế hoạch mua sắm máy móc thiết bị, kếhoạch thi công xây lắp, kế hoạch sản xuất kinh doanh…
Ngoài ra, dự án còn là căn cứ để đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại vàvướng mắc trong quá trình thực hiện đầu tư và khai thác công trình
2.2.4.2 Đối với các tổ chức tài chính( nhà tài trợ)
- DADT là cơ sở để các nhà tài trợ xem xét, đánh giá quyết định có đầu tư cho dự
án đó hay không? Dự án đó chỉ được đầu tư vốn nếu mang tính khả thi theo quan điểm
Trang 19của nhà tài trợ và ngược lại Đồng thời thông qua đó sẽ quyết định các hình thức cho vay
và mức độ cho vay đối với nhà đầu tư
- Biết được tuổi thọ của dự án để áp dụng linh hoạt các chính sách về lãi suất vàthời hạn trả nợ vay nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện dự án
DADT là cơ sở để các nhà tài trợ xem xét, đánh giá quyết định có đầu tư cho dự
án đó hay không? Dự án đó chỉ được đầu tư vốn nếu mang tính khả thi theo quan điểmcủa nhà tài trợ và ngược lại Đồng thời thông qua đó sẽ quyết định các hình thức cho vay
và mức độ cho vay đối với nhà đầu tư
Biết được tuổi thọ của dự án để áp dụng linh hoạt các chính sách về lãi suất vàthời hạn trả nợ vay nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện dự án
2.2.4.3 Đối với cơ quan quản lý nhà nước
- DAĐT là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước xem xét, phê duyệt cấp vốn vàcấp giấy phép đầu tư
- DADT là căn cứ quan trọng để xem xét, xử lý các mối quan hệ về quyền vànghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh và đây cũng là cơ sở pháp lý để xét xử khi cótranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh
Dự án đầu tư là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước xem xét, phê duyệt cấpvốn và cấp giấy phép đầu tư Vốn ngân sách nhà nước sử dụng để đầu tư phát triển theo
kế hoạch thông qua các dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế- xãhội, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, các dự án đầu tư quan trọng của quốcgia trong từng thời kỳ( điện, xi măng, sắt, thép, …)
Dự án sẽ được phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư khi mục tiêu của dự án phù hợpvới đường lối, chính sách phát triển kinh tế của đất nước, hoạt động của dự án không gâyảnh hưởng đến môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội
Khi dự án đã được phê chuẩn thì các bên liên quan đến dự án phải tuân thủ theonội dung yêu cầu của dự án Nếu nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên có liênquan thì dự án là một trong những cơ sở pháp lý để xem xét, giải quyết
2.2.5 Yêu cầu của dự án
- Tính khoa học:
Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của dự án đầu tư Đảm bảo yêu cầu này
sẽ tạo tiền đề cho việc triển khai và thực hiện thành công dự án Người lập dự án phải
có một quá trình nghiên cứu thất tỉ mĩ và kỷ càng, tinh toán chính xác từng nội dungcủa dự án Nhiều nội dung rất phức tạp như: Phân tích tài chính, phân tích kỹ thuật,phân tích thị trường cần phải có sự tư vấn của các cơ quan chuyên môn
Hiện nay có một số cá nhân hoặc tổ chức muốn dự án được chấp nhận và tìmđược đối tác đầu tư, nên trong quá trình lập dự án đã đưa vào những thong tin khôngchính xác, thậm chí tự nghĩ ra các số liệu cho ăn khớp nhằm là đẹp kết quả của dự án.Hậu quả là rất nhiều dự án trong số đó gặp khó khăn và thua lỗ trong quá trình thựchiện
Tính khoa học của dự án được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:
Trang 20+ Về số liệu thông tin: những dữ liệu, thông tin để xây dựng dự án phải đảm bảotrung thực, chính xác, tức là phải chứng minh được nguồn gốc và xuát xứ của nhữngthông tin và số liệu đã thu thập được.
+ Về phương pháp lý giải:
Các nội dung của dự án không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà chúng luôn nằm trongmột thể thống nhất, đồng bộ Vì vậy, quá trình phân tích, lý giải các nội dung đã nêutrong dự án phải đảm bảo logic và chặc chẽ
+ Về phương pháp tính toán: khối lượng tính toán trong một dự án thườn rất lớn
Do đó, khi thực hiện tính toán các chỉ tiêu cần phải đảm bảo tính chính xác
+ Về hình thức trình bày: dự án chứa đựng rất nhiều nội dung, nên khi trình bàyphải đảm bảo có hệ thống, rõ ràng và sạch đẹp
- Tính pháp lý:
Dự án muốn được Nhà nước cấp giấy phép đầu tư thì trước hết dự án không chứađựng những điều trái với pháp luật và chính sách của Nhà nước Điều này đòi hỏi ngườisoan thảo dự án phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước và các văn bảnpháp luật có liên quan đến hoạt động đầu tư đó
Tính pháp lý của dự án phản ánh quyền lợi của quốc gia trong dự án Vì vậy, việctriển khai, thực hiện dự án phải được phép của các cơ quan có thẩm quyền Muốn vậy, dự
án đầu tư không chứa đựng những điều trái với luật pháp và chính sách của nhà nước vềđầu tư Nói khác đi là dự án cần có cơ sở pháp lý vững chắc, tức là phù hợp với chínhsách và luật pháp của nhà nước Điều này đòi hỏi người soạn thảo dự án phải nghiên cứu
kỹ chủ trương, chính sách của nhà nước và các văn bản luật pháp có liên quan đến cáchoạt động đầu tư đó
- Tính thực tiễn:
Tính thực tiễn của dự án đầu tư được thể hiện ở chỗ nó có khả năng ứng dụng vàtriển khai trong thực tế Một dự án mang tính thực tiễn cho phép giảm bớt những yếu tốrủi ro Muốn như vậy, dự án phải được xây dựng trong những điều kiện và hoàn cảnh cụthể
Tính thực tiễn của dự án đầu tư được thể hiện ở chỗ nó có khả năng ứng dụng vàtriển khai trong thực tế Mỗi dự án bao giờ cũng thuộc 1 ngành cụ thể, có những thông
số, tính toán và chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật cụ thể, chịu tác động của những yếu tố môitrường xác định và đặt ở mỗi địa điểm cụ thể; cho nên các nội dung, khía cạnh phân tíchcủa dự án đầu tư không thể chung chung mà dựa trên những căn cứ thực tế, tức là dự ánphải được xây dựng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, thị trường,vốn…
- Tính thống nhất:
Lập và thực hiện dự án đầu tư không phải là công việc độc lập của chủ đầu tư mà
nó liên quan đến nhiều bên như cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xâydựng, các nhà tài trợ …Vì vậy, dự án phải biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa các bên
có liên quan đến dự án Muốn các bên đối tác hiểu và quyết định tham gia dự án đầu tư,các tổ chức tài chính quyết định tài trợ hay cho vay đối với các dự án và muốn được cơquan có thẩm quyền xem xét cấp giấy phép đầu tư thì việc xây dựng dự án từ cácbướctiến hành đến nội dung, hình thức, cách trình bày dự án phải tuân thủ theo những quiđịnh chung mang tính quốc tế Điều này sẽ tạo thuận lợi cho các bên chấp thuận dự án
Trang 21- Tính phỏng định:
Người soạn thảo dự án dù có nhiều kinh nghiệm và chuẩn bị hết sức chu đáo, kỹlưỡng cũng không thể lường hết được những yếu tố chi phối hoạt động đầu tư trongtương lai Những nội dung, tính toán về qui mô sản xuất, chi phí, giá cả, doanh thu, lợinhuận… trong dự án chỉ có tính chất dự trù, dự báo Trong nhiều trường hợp, thực tế xảy
ra lại khác xa so với dự kiến ban đầu trong dự án Vì vậy, dự án có tính phỏng định.Nhưng sự phỏng định phải dựa trên những căn cứ khoa học, trung thực và khách quannhằm giảm thiểu rủi ro, độ bất định trong quá trình thực hiện dự án
2.2.6 Chu trình của dự án đầu tư
Chu trình đư án đầu tư là tất cả những bước công việc mà một dự án đầu tư phảitrải qua để đảm bảo cho công cuộc đầu tư đạt được mục tiêu đề ra, bắt đầu từ thời điểm
có ý định đầu tư, cho đến thời điểm kết thúc ý định đó
Chu trình dự án đầu tư bao gồm ba thời kỳ và 7 giai đoạn sau:
Nghiên cứu
cơ hội đầu
tư
Nghiêncứu tiềnkhả thi
Nghiêncứu khảthi
Xây dựng
cơ bản Đưa dự ánvào hoạt
động
Kiểm kêđánh giá dựán
Thanh lý dựán
12 2.6.1/ Giai đoạn nghiên cứu hội đầu tư
Đây là giai đoạn đầu tiên trong việc hình thành ý tưởng về một dự án đầu tư,người ta gọi đây là giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư Mục đích của giai đoạn này là đểtrả lời câu hỏi có hay không có cơ hội đầu tư Giai đoạn này bao gồm việc nghiên cứu sơ
bộ nhằm xác định triển vọng mang lại hiệu quả và phù hợp với thứ tự ưu tiên trong chiếnlược phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của ngành, cũng như chiến lượcphát triển của một quốc gia
Cần phân biệt hai cấp độ nghiên cứu cơ hội đầu tư: Cơ hội đầu tư chung và Cơhội đầu tư cụ thể
Cơ hội đầu tư chung là cơ hội được xem xét ở cấp độ ngành hay cả nước nhằm
phát hiện những ngành hay những lĩnh vực cần đầu tư hay có thể đầu tư trong từng thời
kỳ phát triển của nền kinh tế
Cơ hội đầu tư cụ thể là cơ hội được xem xét ở từng đơn vị SXKD.
Đây là một giai đoạn quan trọng và có ý nghĩa rất lớn đến sự thành công hay thấtbại của dự án sau này Chính vì lẽ đó, việc nghiên cứu cơ hội đầu tư không thể thực hiệnmột cách tùy tiện, chiếu lệ mà phải xuất phát từ những căn cứ có cơ sở khoa học Các căn
cứ để phát hiện cơ hội đầu tư là:
- Chiến lược phát trển kinh tế - văn hóa – xã hội của cả nước, của từng vùng lãnhthổ; hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, của cơ sở
Trang 22- Nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước đối với sản phẩm dịch vụ cụ thể.
- Tình hình sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ đó trên thị trường trong vàngoài nước để xác định khoảng trống còn lại của thị trường mà dự án có thể chiếm lĩnhtrong một thời gian tương đối dài sau này, tối thiểu cũng phải vượt qua thời gian thu hồivốn đầu tư
- Tiềm năng sẵn có cần và có thể khai thác để thực hiện dự án Đó chính là nhữngthế mạnh của doanh nghiệp về trình độ chuyên môn, khả năng quản lý, uy tín…
- Những kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư
12 2.6.2/ Giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu tiền khả thi là nỗ lực đầu tiên nhằm đánh giá triển vọng chung của dự
án Nội dung của bước này là thu thập những thông tin cơ bản có liên quan đến dự án,tiến hành xử lý và đưa ra những kết luận sơ bộ ban đầu, từ đó khẳng định được là nên haykhông nên tiếp tục đầu tư
Để thực hiện giai đoạn này, cần duy trì chất lượng thông tin cho mọi biến số ở cácphần phân tích khác nhau của dự án Việc sử dụng thông tin sơ cấp trong giai đoạn này làkhông cần thiết vì rất tốn kém chi phí, do đó thông tin thứ cấp có thể được sử dụng bất cứkhi nào, đặt biệt là những thông tin sẵn có ở các dự án tương tự
Trong suốt quá trình thẩm định dự án, đặt biệt là trong giai đoạn nghiên cứu tiền
khả thi, việc sử dụng thông tin thiên lệch về một hướng nào đó lại có giá trị hơn là việc
tính toán trị số trung bình của các biến số mà chúng ta chỉ biết được với mức độ khôngchắc chắn lắm Vì vậy, trong phân tích tiền khả thi, để tránh việc chấp nhận những dự ándựa trên những ước tính quá lạc quan về chi phí và lợi ích, chúng ta nên sử dụng thôngtin thiên lệch về hướng làm giảm bớt lợi ích của dự án trong khi làm tăng cao mưc độ ướctính về chi phí Nếu dự án vẫn còn hấp dẫn sau khi đã tiến hành thẩm định ở giai đoạnnày, thì có rất nhiều khả năng dự án sẽ đứng vững khi được triển khai trong thực tế
Nghiên cứu tiền khả thi cần xem xét các vấn đề như:
- Sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn
- Dự kiến hình thức đầu tư và quy mô đầu tư, địa điểm đầu tư
- Phân tích sơ bộ về các yếu tố kỹ thuật, công nghệ, cơ sở hạ tầng, NVL đầuvào, dịch vụ hỗ trợ
- Phân tích tài chính sơ bộ: tổng mức vốn đầu tư, khả năng huy động vốn,khả năng hoàn trả (gốc + lãi)
- Tính toán sơ bộ hiệu quả về mặt kinh tế xã hội
Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề ở trên trong giai đoạn này l à chưa thật cho tiết, xem xét ở trạng thái tĩnh, ở mức trung bình của các yếu tố đầu vào, đầu ra Do đó kết quả thu được chưa có độ chính xác cao.
* Sản phẩm cuối cùng của Nghiên cứu tiền khả thi là dự án tiền khả thi Nội dungbao gồm các vấn đề sau đây:
Trang 23+ Giới thiệu chung về cơ hội đầu tư theo các nội dung nghiên cứu tiền khả thi ởtrên.
+ Chứng minh cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đến mức có thể quyết định đầu
tư Các thông tin đưa ra phải đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư
+ Những khía cạnh có thể gây khó khăn cho việc đầu tư và vận hành dự án saunày từ đó đề xuất các nghiên cứu chức năng và nghiên cứu hỗ trợ nếu cần thiết
Nội dung nghiên cứu hỗ trợ đối với các dự án khác nhau thường khác nhau, như:
_ Nghiên cứu hỗ trợ về thị trường tiêu thụ sản phẩm nhằm khẳng định lại quy môcủa dự án, thời gian hoạt động của dự án bao lâu là tối ưu, hoặc phải thực hiện biện pháptiếp thị như thế nào để có thể tiêu thụ được sản phẩm của dự án
_ Nghiên cứu thị trường đầu vào của các nghiên liệu cơ bản, đặc biệc quan trọngđối với các dự án sử dụng nhiều nghiên liệu mà việc cung cấp có thể gặp nhiều trở ngại
do phụ thuộc vào nhập khẩu, hoặc đòi hỏi phải có nhiều thời gian (như trồng tre, nứa, gỗ
để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất giấy)
_ Nghiên cứu hỗ trợ về vị trí thực hiện dự án, đặc biệt là với những dự án có chiphí vận chuyển đầu vào và đầu ra đáng kể, hoặc những dự án có thể gậy ô nhiễm môitrường
Các nghiên cứu hỗ trợ này có thể tiến hành song song với nghiên cứu khả thi Chiphí cho nghiên cứu hỗ trợ nằm trong chi phí nghiên cứu khả thi
12 2.6.3/ Giai đoạn nghiên cứu khả thi
Là bước nghiên cứu toàn diện và chi tiết các yếu tố của dự án Trong bước này cóthể phải thực hiện những nghiên cứu riêng (nghiên cứu chuyên đề) Là bước nghiên cứu
cụ thể và chính xác hơn nghiên cứu tiền khả thi Mục tiêu của giai đoạn này là để khẳngđịnh một lần cuối cùng là nên đầu tư hay không đầu tư
Nội dung của một Báo cáo nghiên cứu khả thi:
- Sự cần thiết phải đầu tư
- Lựa chọn hình thức đầu tư
- Lựa chọn địa điểm cụ thể phù hợp với quy hoạch xây dựng
- Phương án giải phóng mặt bằng
- Phân tích lựa chọn các phương án kỹ thuật công nghệ
- Phương thức tiếp thị
- Tổ chức quản lý, khai thác và sử sụng lao động
- Phương án tài chính kinh tế
- Các mốc thời gian thực hiện đầu tư
Mục đích của nghiên cứu tiền khả thi là nhằm loại bỏ những dự án còn bấp bênh ( về thị trường, kỹ thuật), dự án có mức sinh lợi không hấp dẫn Nhờ đó chủ đầu tư có thể loại bỏ hẳn dự án để khỏi phải tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm hoãn dự án lại để chờ
Trang 24cơ hội thuận lợi hơn Hay nói cách khác, mục đích của nghiên cứu khả thi là đưa ra kết luận cuối cùng trên cơ sở những tính toán cẩn thận, chi tiết.
Chức năng của giai đoạn nghiên cứu khả thi trong việc thẩm định dự án là nhằmtăng cường mức độ chính xác của việc tính toán các biến số chủ yếu nếu như dự án cótriển vọng thành công Để tăng cường mức độ chính xác cho gia đoạn nghiên cứu này, thìviệc sử dụng thông tin sơ cấp là cần thiết khi tính toán các biến số chủ yếu của dự án.Những câu hỏi chủ yếu đặt ra trong giai đoạn này:
- Liệu dự án có hấp dẫn về mặt tài chính đối với các đối tác có quyền lợi trong dự
án hay không?
- Mức độ chắc chắn của các biến số chủ yếu này như thế nào?
- Quyết định đầu tư vào dự án có được đưa ra hay không?
Ở gia đoạn này, nếu xét thấy dự án không tốt, mặt dù đã tốn rất nhiều chi phí choviệc nghiên cứu chi tiết, chúng ta vẫn phải mạnh dạn bát bỏ Nếu dự án được chấp thuậnthì việc nghiên cứu dự án sẽ được chuyển sang gia đoạn xây dựng cơ bản
1.2.6.4/ Giai đoạn xây dựng dự án đầu tư
a, Thiết kế chi tiết
Sau khi việc thẩm định dự án ở giai đoạn nghiên cứu khả thi đã được dẫnđến quyết định phê duyệt dự án thì công việc tiếp theo là thực hiện thiết kế chi tiết Giaiđoạn này bao gồm các công việc chủ yếu sau:
- Xác định các chương trình cơ bản, phân chia nhiệm vụ, xác định nguồnlực dùng cho dự án cũng như các hoạt động phải tiến hành để thực hiện các công việc đó
- Xác định rõ các yêu cầu về kỹ thuật: nhu cầu lao động kỹ thuật, hoàn tất
hồ sơ, bản vẽ thiết kế chi tiết và quy cách kỹ thuật cho việc xây dựng nhà xưởng và trangthiết bị…
- Lên kế hoạch và thời gian biểu thực hiện dự án cũng như kế hoạch dựphòng bất trắc… Đồng thời, tổng hợp thành kế hoạch thực hiện chính thức
b, Thực hiện dự án
Giai đoạn này bao gồm các công việc:
- Điều phối và phân bổ nguồn lực để thực hiện dự án
- Thành lập nhóm thực hiện dự án bao gồm các nhà chuyên môn và kỹthuật gia, các chuyên gia tư vấn, các nhà thầu, các nhà cung ứng vật tư thiết bị và các đơn
vị có liên quan khác để thực hiện dự án
- Bổ nhiệm quản trị gia dự án gắn việc giao trách nhiệm và quyền hạnquản lý dự án một cách rõ ràng
- Lập thời gian biểu thực hiện dự án cũng như xây dựng cơ chế kiểm tra vàbáo cáo để tổng hợp thông tin và cung cấp cho các cấp quản lý để ra các quyết định liênquan tới quá trình thực hiện dự án
- Thương lượng ký kết hợp đồng kinh tế
- Xây dựng, lắp đặt và tuyển chọn lao động
Trang 25- Nghiệm thu và bàn giao công trình
12 2.6.5/ Giai đoạn đưa dự án vào hoạt động
Giai đoạn này còn được gọi là vòng đời của dự án, đó là thời gian được tính từ khi
dự án hoàn thành xong việc xây dựng cơ bản, đưa vào hoạt động cho đến khi chấm dứt sựhoạt động Nói một cách khác vòng đời dự án là thời gian mà dự án đi vào hoạt động vàphát huy hiệu quả của tài sản đã được đầu tư trước đó
12 2.6.6/ Giai đoạn đánh giá dự án sau khi hoạt động
Đây là gia đoạn kiểm kê, đánh giá và xác định giá trị còn lại của tài sản sau mộtthời gian sử dụng
12 2.6.7/ Giai đoạn thanh lý dự án
Đây là giai đoạn thu hồi phần gá trị còn lại của tài sản Đây là gia đoạn ghi nhậnnhững giá trị thanh lý tài sản ở năm cuối cùng trong vòng đời của dự án và điểm khởi đầucủa một chu trình dựa án mới
2.3 Nguồn vốn cho dự án
2.3.1 Nguồn vốn trong nước
Vốn trong nước là vốn hình thành từ nguồn tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân.
Các thành phần vốn trong nước bao gồm:
2.3.1.1 Nguồn vốn ngân sách Nhà nước:
Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước được hình thành chủ yếu dựa vào thu thuế, phí
và lệ phí, nguồn tài nguyên quốc gia và vay nợ… trong đó thu thuế vẫn là nguồn quantrọng nhất
Vốn ngân sách Nhà nước được được sử dụng trong những trường hợp sau:
* Những dự án đầu tư được cấp phát vốn từ vốn Ngân sách Nhà nước là những dự
án không thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả trực tiếp Đối tượng của nguồn vốn này baogồm:
- Các dự án đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốcphòng, an ninh như dự án giao thông, thủy lợi…
- Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, liêndoanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theoquy định của pháp luật
- Chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với cácchương trình, dự án phát triển kinh tế
* Những dự án được cấp vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước là những dự án đầu tưthực hiện theo nguyên tắc hoàn trả trực tiếp Đối tượng cụ thể bao gồm:
- Các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế, cơ sở sản xuất – kinh doanh tạo việclàm có khả năng thu hồi vốn
- Các dự án đầu tư cho các ngành kinh tế quan trọng của Nhà nước trong từng thờikỳ
Trang 26- Một số dự án đầu tư của ngành khác có khả năng thu hồi vốn đã được xác địnhtrong cơ cấu kế hoạch của Nhà nước.
2.3.1.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp:
Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp được hình thành chủ yếu từ khấu hao và lợinhuận để lại của doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có thể huy động vốn bổsung dưới hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu để thực hiện đầu tư
2.3.1.3 Nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại, các trung gian tài chính:
Trên cơ sở các dự án có nhu cầu vay vốn của khách hàng gửi đến, các ngân hàngthương mại sẽ tiến hành thẩm định, đánh giá tính khả thi của dự án để quyết định có nênđáp ứng nhu cầu vay vốn cho các dự án đó hay không
2.3.1.4 Nguồn vốn từ dân cư
Tiềm năng của nguồn vốn này hiện nay đối với nước ta là rất lớn bởi trong nhữngnăm gần đây thu nhập của người dân được tăng lên đáng kể Tuy nhiên, nguồn vốn nhàrỗi của nhiều gia đình được hình thành từ tiết kiệm và tích lũy qua nhiều năm, nhiều thế
hệ chưa được tung vào dòng chảy đầu tư của xã hội Để có thể tận dụng được nguồn vốnnày, chúng ta cần phải có những giải pháp cụ thể giàu tính khả thi
2.3.2 Nguồn vốn nước ngoài
2.3.2.1 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nưới ngoài, gọi tắc là FDI (Foreign direct investment)được hình thành do các doanh nghiệp, cá nhân người nước ngoài thực hiện đầu tư trựctiếp vào nước ta theo Luật đầu tư nước ngoài
Thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với cácnước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng Thông qua hoạt động này, chúng ta
sẽ tranh thủ được vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý để phát triển kinh tế Mặt khác,thu hút hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài không có rằng buộc về chính trị và không
để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế
Tác động chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện trên các khíacạnh chính như sau:
- Góp phần quan trọng vào quá trình tăng trưởng kinh tế
- Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động và phát triển nguồnnhân lực
- Góp phần tăng nhanh khả năng xuất khẩu
- Góp phần tạo ra sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế
- Góp phần tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Để đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cần thực hiện các biện pháp sau:
- Xây dựng và hoàn thiện chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài
- Coi trọng việc tìm kiếm và lựa chọn đối tác đầu tư
- Cải thiện môi trường đầu tư:
+ Hoàn thiện hệ thóng pháp luật
Trang 27+ Tăng cường kết cấu cơ sở hạ tầng
+ Thực hiện đồng bộ hóa chính sách khuyến khích đầu tư
+ Hoàn thiện bộ máy quản lý đầu tư nước ngoài
2.3.2.2 Nguồn vốn đầu tư gián tiếp
Nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được hình thành trên cơ sở các Chính phủ,các tổ chức quốc tế thực hiện viện trợ, tín dụng dài hạn ưu đãi, vay dài hạn từ các ngânhàng thương mại nước ngoài và thực hiện phát hành trái phiếu, cổ phiếu ra nước ngoài
Do có quy mô lớn nên nguồn vốn này có tác động nhanh và mạnh đối với việcgiải quyết các nhu cầu phát triển của nền kinh tế Nhưng đi đôi với nguồn vốn này,thường có các điều kiện do các nhà tài trợ đặt ra để mưu tìm lợi ích kinh tế hoặc chính trị,chẳng hạn, các nhà tài trợ tuy không trực tiếp điều hành dự án nhưng có thể tham gia giántiếp dưới hình thức đấu thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia Mặt khác, cần đặc biệt chú ý đếntính hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn này, bởi vì, nếu sử dụng nguồn vốn này kémhiệu quả thì sẽ dẫn đến tình trạng nợ nần chồng chất, vì phần lớn nguồn vốn này phảihoàn trả có thời hạn
Hiện nay, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức gọi tắt là ODA (OfficialDevelopment Assistance) là nguồn vốn đầu tư nước ngoài gián tiếp quan trọng nhất củanước ta hiện nay Đây là nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ các nước, các hệ thống của tổchức Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế dành choChính phủ Việt Nam để thực hiện các chương trình phát triển, các dự án đầu tư và hỗ trợcán cân thanh toán, trong đoa hỗ trợ cho dự án là chủ yếu nhất
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA) bao gồm các khoản viện trợ khônghoàn lại và các khoản cho vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán
* Đối với nguồn vốn ODA không hoàn trả được ưu tiên sử dụng cho các dự ánthuộc lĩnh vực sau đây:
- Y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình
- Giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
- Các vấn đề xã hội (xóa đói, giảm nghèo, phát triển miền núi và nông thôn, cấpnước sinh hoạt…)
- Bảo vệ môi trường sinh thái
* Đối với nguồn vốn ODA cho vay ưu đãi, được ưu tiên sử dụng cho các dự ánđầu tư cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực sau đây:
- Năng lượng, điện tử ( xây dựng, nâng cấp nhà máy điện, đường dây tải điện…)
- Giao thông vận tải ( xây dựng, cải tạo, mở rộng đường xá, cầu cống…)
- Nông nghệp, thủy lợi (xây dựng, cải tạo đê điều, kênh mương, nước sạch nôngthôn…)
- Thông tin liên lạc (các dự án bưu chính viêc thông )
- Xã hội ( dự án xây dựng, cải tạo bênh viện, trường học…)
- Một số lĩnh vực khác
Trang 28* Lưu ý: Trong một số chương trình, dự án cụ thể có thể kết hợp một phần ODA
không hoàn lại và một phần ODA cho vay
Để đẩy mạnh thu hút nguồn vón này cần tiến hành các biện pháp chủ yếu sau:
- Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch về huy động và sử dụng vốn ODA theohướng:
+ Huy động và sử dụng ODA cần có đối sách hợp lý với các đối tác khác nhau,đảm bảo lợi ích của đất nước, khai thác hết lợi thế của từng loại hình ODA, đảm bảo pháttriển bền vững
+ ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển được thực hiện duwisi nhiều hình thứckhác nhau Vì vậy, trong huy động vốn ODA cần làm rõ những hướng ưu tiên vận độngvốn theo các đối tác, các loại hình hỗ trợ phát triển
+ Cần gắn huy động và sử dụng vốn ODA với quy hoạch đầu tư
+ Cần nghiên cứu kỹ vấn đề cho vay lại nhằm tạo điều kiện hỗ trợ vốn cho cácdoanh nghiệp với điều kiện bình đẳng, đồng thời tránh hiện tường ưu tiên tràn lan
- Xây dựng danh mục các dự án ưu tiên gọi vốn ODA
- Xác định rõ nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của các cơ quan tham gia quá trìnhquản lý, điều phối và sử dụng ODA
Trang 29CHƯƠNG III: THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 3.1 Sự cần thiết phải thẩm định dự án đầu tư
Một dự án đầu tư cho dù được soạn thảo kỹ lưỡng đến đâu cũng không thể lườnghết được các rủi ro và đủ độ tin cậy để có thể tiến hành thực hiện dự án Vì vậy, để đánhgiá tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và ra quyết định dự án có được thựchiện hay không phải có một quá trình xem xét kiểm tra, đánh giá một cách độc lập, táchbiệt với quá trình soạn thảo dự án Quá trình đó gọi là thẩm định dự án
Việc thẩm định dự án đầu tư được coi là việc phản biện của việc thiết lập dự án, làmột bước quan trọng của thời kỳ chuẩn bị dự án
3.2 Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư
3.2.1 Khái niệm thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hưởng tới công cuộc đầu tư để ra quyết định đầu
tư và cho phép đầu tư.
Như vậy, thẩm định dự án đầu tư là một quá trình giải quyết các công việc sau:
- Rà soát lại bộ nội dung dự án đã được lập xem có đầy đủ hay không? Nếucòn thiếu thì yêu cầu bổ sung theo đúng quy định
- So sánh một cách có hệ thống các tính toán và các chỉ tiêu của dự án vớicác tiêu chuẩn quy định của nhà nước, hoặc những tiêu chuẩn mà nhà đầu tư kỳ vọng
- Kết luận dự án có được chấp nhận đầu tư hay không?
Thực chất của thẩm định dự án là đánh giá sức mạnh chung của dự án trên mọikhía cạnh Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào mọi chủ thể tham gia thẩm định mà mục tiêu và thờigian tiến hành thẩm định khác nhau
- Chủ đầu tư và cơ quan chủ quản tham gia thẩm định từ giai đoạn tiền khả thi
để đưa ra quyết định tiếp tục hoặc dừng nghiên cứu khả thi
- Các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng thẩm định dự án tiềnkhả thi và khả thi để xét duyệt cho phép tiếp tục nghiên cứu khả thi hoặc cấp giấy phépđầu tư
- Đối với ngân hàng, với tư cách là người tài trợ dự án, thẩm định dự án là việcngân hàng phân tích: (1) Lợi ích, (2) rủi ro của dự án, để quyết định (1) có tài trợ haykhông và (2) các điều kiện tài trợ thích hợp
Việc thẩm định dự án từ nhiều góc độ khác nhau là rất quan trọng, nó cho phépnhìn nhận vấn đề một cách toàn diện vì không thể có sự nhất trí hoàn toàn giữa các chủthể tham gia thẩm định dự án Song, cần tuân thủ nguyên tắc cơ bản là bảo đảm quyềnlợi chính đáng của các bên tham gia dự án và công tác thẩm định cần hoàn thành trong 1thời gian nhất định, tránh chậm trễ gây khó khăn cho quá trình triển khai thực hiện dựán
3.2.2 Mục đích, ý nghĩa thẩm định dự án
Trang 303.2.2.1 Mục đích thẩm định dự án đầu tư
- Tránh thực hiện những dự án không hiệu quả, nhưng cũng không bỏ lỡ cơhội đầu tư tốt Tuy nhiên cần lưu ý rằng lợi ích của nhà đầu tư và lợi ích của quốc giakhông phải lúc nào cũng thống nhất với nhau
- Xác định các bộ phận của dự án có phù hợp hay không? Sự phù hợp giữachi phí bỏ ra và lợi ích mà dự án sẽ đạt được; Sự phù hợp của dự án với bối cảnh chungcủa khu vực mà dự án đang đầu tư hoặc mục tiêu mà dự án đang hướng đến hay không
- Đánh giá nguyên nhân và quy mô của các yếu tố rủi ro Việc nhận dạngcác rủi ro mà dự án có thể gặp phải căn cứ vào nguồn rủi ro gắn liền với môi trường hoạtđộng của dự án: Môi trường kinh tế, chính trị, luật pháp, môi trường xã hội, môi trườngcông nghệ…những rủi ro này có thể làm giảm lợi ích hoặc gia tăng chi phí của dự án từ
đó ảnh hưởng xấu đến kết quả cuối cùng của dự án Chẳng hạn như giá bán sản phẩm, thịphần giảm do sở thích của người tiêu dung thay đổi; Tiền lương tăng do mức sống dân cưtăng lên; chi phí đầu vào tăng do nguyên vật liệu trở nên khan hiếm…
- Quyết định các biện pháp để hạn chế và xử lý các rủi ro nhằm hạn chế đếnmức thấp nhất những thiệt hại cho lợi ích của dự án Việc quản lý rủi ro có thể dựa vàocác hợp đồng bảo hiểm để chuyển giao rủi ro; hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ hạnhay hợp đồng tương lai Còn nếu rủi ro xuất phát từ thị trường thì cần quan tâm đếnnhững biện pháp thâm nhập thị trường mới hoặc những biện pháp Marketing phù hợp đểgiữ chân khách hàng cũ, tìm kiếm khách hang mới và đối phó với các đối thủ cạnh tranh
3.2.2.2 Ý nghĩa thẩm định dự án đầu tư
Đối với các chủ đầu tư: việc thẩm định dự án được thực hiện độc lập với quátrình soạn thảo dự án sẽ cho phép họ nhìn nhận lại dự án của mình một cách khách quanhơn, từ đó thấy được những thiếu sót trong quá trình soạn thảo để bổ sung kịp thời
việc thẩm định dự án được thực hiện độc lập với quá trình soạn thảo dự án sẽcho phép họ nhìn nhận lại dự án của mình một cách khách quan hơn, từ đó thấy được cácnội dung của dự án được lập có đầy đủ hay còn thiếu sót ở những nội dung nào, từ đó cócăn cứ để chỉnh sửa hoặc bổ sung một cách cụ thể, kịp thời Xác định được tính khả thi
về mặt tài chính, qua đó biết được khả năng sinh lời cao hay thấp Biết được những rủi ro
có thể xảy ra trong tương lai, từ đó nhà đầu tư chủ động có những giải pháp nhằm ngănngừa hoặc hạn chế rủi ro một cách thiết thực và hiệu quả nhất
Đối với các đối tác đầu tư: việc thẩm định dự án đầu tư là căn cứ để quyết
định có nên góp vốn cùng với nhà đầu tư để thực hiện dự án hay không
Biết được mức độ hấp dẫn về hiệu quả tài chính để có thể an tâm hoặc lựachọn cơ hội đầu tư tốt cho đồng vốn mà mình đã bỏ ra
Đối với các nhà tài trợ dự án: Một trong những nhà tài trợ chủ yếu cho các
dự án đó chính là các ngân hàng thương mại Việc thẩm định dự án đầu tư là giúp cho cácnhà tài trợ dự án:
- Rút ra các kết luận chính xác hơn về tính khả thi, hiệu quả tài chính, khả năngtrả nợ và những rủi ro có thể xảy ra của dự án để quyết định đồng ý hay từ chối cho vay
Trang 31- Thông qua những thông tin và kinh nghiệm đã đúc kết được trong quá trìnhthẩm định nhiều dự án khác nhau, ngân hàng thương mại chủ động tham gia góp ý chochủ đầu tư nhằm bổ sung điều chỉnh những nội dung còn thiếu sót trong dự án, góp phànnâng cao tính khả thi của dự án.
- Biết được tuổi thọ của dự án, từ đó làm cơ sở để xác định số tiền cho vay, thờihạn cho vay, các chính sách về lãi suất, về mức thu nợ và thời hạn trả nợ hợp lý Đảm bảovừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư thực hiện dự án có hiệu quả, vừa có khả năngthu hồi vốn đã cho vay đúng thời hạn
Đối với cơ quan quản lý Nhà nước:
- Mục đích của thẩm định là nhằm đánh giá tính phù hợp của dự án đối với quyhoạch phát triển chung của ngành, của địa phương và của cả nước trên các mặt: mục tiêu,quy mô, quy hoạch và hiệu quả Đồng thời, việc thẩm định giúp xác định tính lợi hại và
sự tác động của dự án khi đi vào hoạt động trên các khía cạnh như: ứng dụng công nghệmới, trình độ sử dụng vốn, ô nhiễm môi trường cũng như các lợi ích kinh tế - xã hội khác
mà dự án đem lại
- Mục đích của thẩm định dự án đầu tư là nhằm đánh giá được khả năng và mức
độ đóng góp của dự án vào việc thực hiện mục tiêu phát triển chung của ngành, của địaphương và của quốc gia trên các mặt: mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả
- Đồng thời, việc thẩm định dự án giúp đánh giá chính xác và có cơ sở khoa họccác ưu và nhược điểm của dự án, xác định tính lợi hại và sự tác động của dự án khi đi vàohoạt động trên các khía cạnh như: ứng dụng công nghệ mới, trình độ sử dụng vốn, ônhiễm môi trường cũng như các lợi ích kinh tế - xã hội khác mà dự án đem lại Từ đó, cócăn cứ ngăn chặn những dự án xấu và bảo vệ những dự án tốt không bị loại bỏ
- Có cơ sở để áp dụng các chính sách ưu đãi nhằm chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư
Ví dụ: nhà nước áp dụng chính sách thuế suất thấp, miễn thuế, thực hiện gói kích cầukinh tế hoặc kéo dài thời hạn trả nợ vay
3.2.3 Những yêu cầu đối với cán bộ thẩm dịnh dự án
- Phải nắm vững chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - chính trị - xã hội củaNhà nước, của ngành, của địa phương và các quy chế quản lý kinh tế, quản lý đầu tư xâydựng cơ bản…
- Có hiểu biết thực tế về bối cảnh, điều kiện và đặc điểm cụ thể của từng dự áncũng như diễn biến tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của địa phương, của đất nước vàbối cảnh quốc tế
- Các nhà thẩm định phải là các chuyên gia phân tích chứ không phải là chuyêngia đánh máy hay chuyên gia quảng cáo.(phải biết cách xác định các chỉ tiêu kinh tế-kỹthuật quan trọng của dự án)
- Nghiên cứu và kiểm tra một cách khách quan, khoa học và toàn diện về nộidung dự án, tình hình đơn vị vay vốn, phối hợp với các cơ quan chuyên môn và chuyêngia để đưa ra các nhận xét, kết luận, kiến nghị tương đối chính xác Đồng thời, cán bộthẩm định cần tiến hành thực hiện các biện pháp sau:
Trang 32+ Tham gia thực địa, khảo sát hiện trang hoạt động nhà máy hay địa điểm kinhdoanh nếu có (nếu là đầu tư mở rộng), địa điểm để xây dựng, lắp đặt nhà máy mới, nơi cơ
sở sản xuất, những máy móc thiết bị mà dự án sẽ đầu tư
+ Thu thập thông tin, số liệu từ nhiều nguồn khác nhau để so sánh đối chiếu và
xử lý thông tin
+ Phối hợp cơ quan chuyên môn, các chuyên gia để kiểm tra các chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật quan trọng của dự án
Lưu ý: Cán bộ thẩm định không cần làm lại công tác của người soạn thảo dự án
mà cần đi sâu vào tìm hiểu ưu, nhược điểm của dự án như nêu ra những câu hỏi chưa rõ
để người soạn thảo dự án hoặc chủ đầu tư giải trình thêm đảm bảo đủ cơ sở để thẩm định, đảm bảo dự án có tính khả thi cao, ổn định về mọi mặt và hạn chế thấp nhất mọi rủi ro có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự án.
3.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án
3.2.4.1 Đội ngũ cán bộ
Kết quả thẩm định dự án đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ làm côngtác thẩm định Chính vì điều đó mà người làm công tác thẩm định phải thỏa mãn nhữngyêu cầu nhất định mà chúng ta đã nghiên cứu ở phần trên Một đội ngũ cán bộ thẩm địnhchuyên nghiệp tất nhiên sẽ có cách nhìn nhận và đưa ra kết luận về tính khả thi của dự ánchính xác hơn những người không có chuyên môn về lĩnh vực này Bên cạnh đó, trình độcủa đội ngũ thẩm định cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác thẩm định dự án đầu tư
3.2.4.2 Thông tin
Việc thu thông những thông tin của dự án càng chi tiết, chính xác, trung thực thìhiệu quả thẩm định càng cao và ngược lại Hiện nay, nhà thẩm định có thể sử dụng hainguồn thông tin để phục vụ cho công tác thẩm định đó là: nguồn thông tin thứ cấp vànguồn thông tin sơ cấp Mỗi nguồn thông tin đều có những ưu, nhược điểm riêng Tùytừng giai đoạn và điều kiện mà cán bộ làm công tác thẩm định sẽ sử dụng hai nguồnthông tin này sao cho có hiệu quả nhất Thông thường, người ta sử dụng cả hai nguồnthông tin trên để thẩm định một dự án đầu tư
3.2.4.3 Trang thiết bị, công nghệ
Công cụ thẩm định dự án đầu tư hiện nay được sự hỗ trợ rất nhiều từ các trangthiết bị, công nghệ hiện đại Thông qua các trang thiết bị, công nghệ hiện đại này ngườilàm công tác thẩm định sẽ đưa ra kết luận về tính khả thi của dự án một cách nhanhchóng, kịp thời, đúng đắn
3.2.4.4 Quy trình, phương pháp và các chỉ tiêu thẩm định dự án
a) Quy trình thẩm định dự án:
- Tìm hiểu uy tín của người lập dự án, tiếp xúc với chủ dự án để tìmhiểu động lực khởi xướng dự án
- Tham quan khảo sát hiện trạng hoạt động của nhà máy (nếu đầu tư
mở rộng), địa điểm xây dựng, máy móc thiết bị mà dự án sẽ đầu tư
Trang 33- Thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để so sánh đối chiếu
- Giấy phép kinh doanh
- Quyết định bổ nhiểm giám đốc, kế toán trưởng
- Biên bản Hội đồng quản trị
- Điều lệ hoạt động
- Báo cáo tài chính thời điểm gần nhất (tối thiểu 2 năm)
Hồ sơ dự án:
- Luận chứng kinh tế kỹ thuật được duyệt
- Hồ sơ đảm bảo tiền vay
- Hợp đồng nhập khẩu, hợp đồng vay vốn khác
- Giấy phép xuất - nhập khẩu
- Hợp đồng ủy thác nhập khẩu (nếu không đươc nhập khẩu trực tiếp)
- Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa thiết bị
- Quyết định cấp giấy phép sử dụng đất, thuê đất, giấy phép xâydựng
- Các văn bản khác có liên quan
Báo cáo thẩm định:
Giới thiệu về chủ đầu tư ở các khía cạnh như:
- Tên chủ đầu tư
Trang 34- Công nghệ và trang thiết bị của dự án
- Khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh
- Tổng mức vốn đầu tư
- Hiệu quả tài chính
- Hiệu quả kinh tế xã hội
Kết luận và kiến nghị
- Đánh giá về toàn bộ dự án
- Quyết định có tài trợ hay không
- Kiến nghị các biện pháp cần được áp dụng để đảm bảo khả nănghoàn trả vốn
Phương pháp thẩm định dự án là cách thức thẩm định nhằm đạt được mụcđích đặt ra đối với công tác thẩm định Thông thường thẩm định dự án được tiến hànhtheo các phương pháp sau:
Thẩm định chi tiết tiến hành sau khi đã tiến hành thẩm định tổng quát.Thực chất của tiến hành thẩm định chi tiết là đi sâu vào từng nội dung của dự án để có ýkiến nhận xét, kết luận, đồng ý, không đồng ý, những gì cần phải sửa đổi, bổ sung
Trường hợp không có chỉ tiêu để đối chiếu ở trong nước thì tham khảo củanước ngoài
Khi thẩm định 1 dự án thường tính toán và sử dụng nhiều chỉ tiêu Mỗi chỉtiêu có một ý nghĩa và mức độ quan trọng khác nhau Vì vậy, tuỳ từng loại dự án có thểlựa chọn ra những chỉ tiêu quan trọng, cơ bản để xem xét kỹ, giúp cho công tác thẩm định
đi đúng trọng tâm, rút ngắn được thời gian mà vẫn bảo đảm được chất lượng
Như vậy, việc lựa chọn phương pháp thẩm định và lựa chọn các chỉ tiêu
để so sánh đánh giá cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả thẩm định dự án đầu tư Chẳng hạn,
Trang 35nếu so sánh đối chiếu với các định mức tại Việt Nam thì các chỉ tiêu trong dự án đầu tưđược thỏa mãn nhưng khi so sánh với nước ngoài thì dự án bị loại….
3.2.4.5 Tổ chức điều hành công tác thẩm định
Mục đích của việc thẩm định dự án đầu tư là nhằm giúp các chủ đầu tư và các bênliên quan lụa chọn được phương án đầu tư tốt nhất, quyết định đầu tư đúng hướng và đạtđược lợi ích kinh tế xã hội thông qua việc thực hiện dự án đầu tư Như vậy, việc thẩmđịnh dự án đầu tư là công việc rất quan trọng Hoạt động thẩm định đầu tư được sự quantâm không chỉ của chủ đầu tư, mà còn của các tổ chức khác nhau Tuy nhiên, có một điềuquan trọng hơn đó chính là công tác tổ chức điều hành công tác thẩm định sao cho đemlại hiệu quả cao nhất Việc tổ chức điều hành công tác thẩm định phải được tiến hành bởinhững người có năng lực, kinh nghiệm
3.2.4.6 Môi trường kinh tế - xã hội
Một môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho việc thẩm định dự
án đầu tư được dễ dàng hơn Mọi sự thay đổi các yếu tố thuộc môi trường kinh tế - xã hộiđều có tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thực hiện dự án đầu tư, chính vìvậy mà nó cũng sẽ ảnh hưởng đến công tác thẩm định dự án đầu tư Chẳng hạn, trong nềnkinh tế, nếu có lạm phát xảy ra không đúng như dự đoán ban đầu của các nhà đầu tư vànhà thẩm định thì điều này sẽ làm cho các kết quả đã được tính toán trong dự án hoàntoàn bị đảo lộn
3.3 Nội dung thẩm định dự án đầu tư
3.3.1 Thẩm định sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu của dự án
Cũng như bao hoạt động khác, khi thẩm định dự án trước hết cần phân tích, khẳngđịnh sự cần thiết, đồng thời xác định những mục tiêu cần phải đạt được khi thực hiện dự
án Nhìn chung, tuỳ theo từng dự án cụ thể sẽ có cách tiếp cận và xác định khác nhau vềvấn đề này Đối với những dự án đầu tư mới, vấn đề có tính chất bao trùm khi phân tíchđánh giá sự cần thiết phải thực hiện dự án là bối cảnh kinh tế - xã hội của địa phương vàcủa đất nước có liên quan đến lĩnh vực dự định đầu tư Đối với các dự án đầu tư chiềusâu, mở rộng quy mô sản xuất, cơ sơ chủ yếu để phân tích đánh giá là thực trạng sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể, đó là tình hình máy móc thiết bị, tình hình tiêu thụsản phẩm, tình hình cạnh tranh và mở rộng thị trường
Tuy nhiên, dù là dự án nào đi chăng nữa thì người thẩm định cần phải nắm bắt đượcnhững nội dung chủ yếu sau đây:
- Mục tiêu của dự án có phù hợp và đáp ứng mục tiêu của ngành, của địa phương
và của cả nước không
Mục tiêu dự án là những vấn đề cơ bản mà dự án cần hướng tới và đạt được Mỗi
dự án có thể có nhiều mục tiêu, nhưng tựu chung lại thành hai nhóm mục tiêu là mục tiêukinh tế và mục tiêu xã hội
Mục tiêu kinh tế phản ánh lợi ích trực tiếp cần đạt được của chủ đầu tư Chẳnghạn, tiến hành dự án nhằm thu được lợi nhuận cao nhất, giảm chi phí đến mức thấp nhất,hoặc chiếm lĩnh thị trường, duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp Mục tiêu xã hội phảnánh lợi ích toàn xã hội có được do thực hiện dự án Chẳng hạn, dự án thực hiện đã gópphần tăng thu cho ngân sách, tạo thêm nhiều việc làm, bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 36Thực tiễn cho thấy giữa hai nhóm mục tiêu này của dự án có thể có mâu thuẫn vớinhau Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể để tìm ra giải pháp thích hợp giải quyết các mâuthuẫn đó Song quan điểm có tính chất bao trùm trong vấn đề này là vừa phải đảm bảo lợichung của toàn xã hội vừa phải đảm bảo lợi ích chính đáng của chủ đầu tư trên cơ sở luậtpháp.
- Đánh giá dự cần thiết phải phát triển dự án đầu tư trước những đòi hỏi của thịtrường
- Đánh giá quan hệ cung cầu của sản phẩm hiện tại và dự đoán trong tương lai, để
từ đó xác định khả năng tham gia thị trường cũng như tiềm năng phát triển của dự án
3.3.2 Thẩm định thị trường của dự án
3.3.2.1 Mục đích, vai trò của thẩm định thị trường
Mục đích của việc thẩm định thị trường là xác định và đánh giá xem dự án đầu tư
sẽ khai thác sản phẩm nào có triển vọng nhất, khu vực nào sẽ tiêu thụ sản phẩm đó Trên
cơ sở những nghiên cứu về thị trường như quy mô tiêu thụ hiện tại, tình hình cạnhtranh… cán bộ thẩm định sẽ khẳng định được khả năng tiêu thụ sản phẩm đồng thời đánhgiá được tính đúng đắn về chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, chiến lược phân phối
và chiến lược tiếp thị của dự án
Đây là nội dung quan trọng đầu tiên và có ý nghĩa sống còn của dự án bởi lẽ thịtrường là nơi phát ra những tín hiệu rất cần thiết đối với chủ đầu tư Thị trường là nhân tốquyết định việc lựa chọn mục tiêu và quy mô của dự án Mặt khác, phân tích đánh giá vềphương diện thị trường cũng là một vấn đề rất phức tạp, mang nằng tính lý thuyết, vậndụng vào thực tế gặp rất nhiều khó khăn do thiếu số liệu hoặc số liệu không đủ độ tin cậycao
3.3.2.2 Thẩm định về sản phẩm, dịch vụ của dự án
Xuất phát từ đòi hỏi của thị trường, căn cứ vào năng lực và thế mạnh của mình,nhà đầu tư sẽ lựa chọn sản phẩm và dịch vụ mà dự án sẽ cung cấp sau này Cần xem xét
cụ thể sản phẩm, dịch vụ của dự án ở các khía cạnh sau:
- Tên gọi, quy cách, hình thức, tiêu chuẩn…
- Xem sản phẩm tiêu thụ của dự án thuộc loại nào: sản phẩm phục vụ cho sản xuấthay tiêu dùng, sản phẩm thuộc mặt hàng chiến lược hay hàng thay thế nhập khẩu… để từ
đó biết được đối tượng khách hàng tiềm năng, chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư của Nhànước
- Xem sản phẩm của dự án hiện đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sông sản phẩm.Đây là một trong những yếu tố để kết luận quy mô đầu tư, thời hạn đầu tư, chiến lược giá
cả phù hợp với từng giai đoạn của chu kỳ sản phẩm Nếu sản phẩm của dự án đang ở vàogiai đoạn suy thoái có nghĩa là xã hội không cần đến sản phẩm đó nữa
- Sở trường của chủ đầu tư Mỗi doanh nghiệp thường có một sở trường riêng Sởtrường này đôi khi đã trở thành truyền thống nhiều năm hoặc từ đời này sang đời khác.Khi lựa chọn sản phẩm nên quan tâm đến điều này để phát huy sở trường và hạn chế sởđoản Nhờ có sở trường truyền thống nên doanh nghiệp có thể tạo được các đặc trưng độcđáo cho Sp của mình, tạo lợi thế trong cạnh tranh
Trang 37Quá trình thẩm định về sản phẩm dịch vụ của dự án cần phải khẳng định đượcrằng những sản phẩm và dịch vụ này phải đang có nhu cầu lớn trên thị trường, mức độsản xuất và cung ứnghiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ Nếu chọn được nhữngsản phẩm và dịch vụ có khả năng tồn tại và triển vọng lâu dài thì càng tốt.
3.3.2.3 Thẩm định khu vực thị trường của dự án
Thẩm định khu vực thị trường tiêu thụ được thực hiện bằng cách xem xét sảnphẩm của dự án sẽ được tiêu thụ ở khu vực thị trường nào ( trong nước hay ngoài nướchay sẽ tiêu thụ ở cả hai khu vực thị trường đó), quy mô của thị trường đó có đủ lớn haykhông, triển vọng thị trường sản phẩm của dự án, thị phần dự án có thể chiếm lĩnh Đốivới thị trường trong nước thì chủ yếu được tiêu thụ ở vùng nào và tiềm năng phát triểncủa khu vực đó trong tương lai Đối với thị trường nước ngoài thì sản phẩm chủ yếu đượcxuất khẩu sang thị trường nước nào, điều kiện, tiêu chuẩn để được xuất khẩu sang khuvực hay thị trường nước đó
Thẩm định khu vực thị trường cần chú ý đến đặc điểm của từng vùng như: dân số,thu nhập, sức mua, thị hiếu, tâm lý tiêu dùng, điều kiện địa lý, điều kiện cơ sở hạ tầng,tập quán tiêu thụ, văn hóa tiêu dùng…
Đối với những dự án có sản phẩm dự kiến xuất khẩu, thì cần phân tích cần phân tích các vấn đề:
Quan hệ chính trị- kinh tế giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu
Chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước: về thuế nhập khẩu, hạn ngạch,
Nghiên cứu chính sách thuế xuất khẩu và quy định của nước sở tại về mặthàng xuất khẩu
Mức độ khắc khe của thị trường xuất khẩu: Bao bì sản phẩm, tiêu chuẩn
vệ sinh…
Phải phù hợp với văn hóa, phong tục tập quán của nước nhập khẩu
Phương thức, khoảng cách, giá cước vận chuyển đến thị trường nhập khầusản phẩm của dự án
Tỷ giá hối đoái của đồng tiền dùng trong thanh toán
Đối với NHTM tham gia tài trợ cho dự án, phải phân tích các yếu tố:
Các hợp đồng tiêu thụ hoặc bao tiêu sản phẩm về số lượng, chủng loại, giá
cả, thời gian và phương thức thanh toán
Các văn bản giao dịch về sản phẩm như đơn đặt hàng, hiệp định đã ký, cácbiên bản đàm phán
Chú ý tính hợp lý, hợp pháp, mức độ tin cậy của các văn bản nói trên,tránh trường hợp giả mạo Nên đa dạng hóa các thị trường và các mối tiêu thụ để tránh ứđọng hàng và bị ép giá
3.3.2.4 Thẩm định tình hình cạnh tranh và các phương thức cạnh tranh của
dự án
Trang 38Cạnh tranh là điều thường xuyên xảy ra trong nền kinh tế thị trường do có nhiềudoanh nghiệp cùng sản xuất một loại sản phẩm Quá trình này nhiều lúc diễn ra rất gaygắt Vì vậy phân tích đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án là điều cần coitrọng Khi thẩm định về vấn đề này, người làm công tác thẩm định cần tập trung phân tíchmột số nội dung sau:
- Trước hết cần xác định tất cả các nhà cạnh tranh chính ở hiện tại và tương lai.Thu thập các thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của họ có ước tính đến sự thayđổi trong tương lai để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh
- Phân tích đánh giá ưu thế và bất lợi của dự án trong cạnh tranh trên các mặt chủyếu: chi phí sản xuất, khả năng tài chính, kỹ năng quản lý và kỹ thuật Điều quan trọng làcần xác định rõ những ưu thế đó của dự án sẽ tồn tại được bao lâu và những bất lợi của
dự án có khắc phục, hạn chế được hay không ? Dự án phải chỉ ra được những thế mạnhcạnh tranh của mình trong tương lai so với những doanh nghiệp khác, ví dụ về chất lượngsản phẩm, sự đa dạng phong phú về chủng loại, kiểu dáng…
3.3.2.5.Thẩm định các kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm
Người thẩm định phải xác định rõ dự án sử dụng kênh phân phối và tiêu thụ sảnphẩm nào Mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của dự án phải được xây dựng như thế nào đểtăng nhanh khả năng tiêu thụ và đảm bảo cho sản phẩm đến được tay người tiêu dùngmột cách nhanh chóng và thuận tiện
Bên cạnh đó, cần phải quan tâm đến chiến lược tiếp thị của dự án Với sự pháttriển của nền kinh tế thị trường, tiếp thị đóng vai trò quan trọng tỷ lệ với số lượng và sựphức tạp của khách hàng Mục đích của tiếp thị là làm cho người tiêu dùng sử dụng sảnphẩm của dự án thay vì sử dụng sản phẩm cạnh tranh khác Vì vậy, cần nghiên cứu kỹlượng đối tượng khách hàng, các hình thức phân phối và kỹ năng của chúng cũng như cácphương án giới thiệu sản phẩm
3.3.3 Thẩm định kỹ thuật, công nghệ của dự án
3.3.3.1 Mục đích của thẩm định kỹ thuật, công nghệ của dự án
Thẩm định kỹ thuật, công nghệ là việc xem xét các yếu tố có liên quan đến tínhkhả thi ở khía cạnh kỹ thuật, công nghệ của dự án, bao gồm: địa điểm xây dựng, lựa chọnthiết bị công nghệ, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, những tác động đến môi trường của
dự án…
Mục đích chính của công việc này là nhằm xác định, kiểm tra các thông số đầuvào, quy trình sản xuất và nhu cầu để sản xuất một cách tối ưu và phù hợp nhất với nhữngđiều kiện hiện có Đây là một trong những tiền đề quan trọng cho việc phân tích về mặtkinh tế tài chính của dự án Không có số liệu của phân tích kỹ thuật thì không thể phântích về mặt kinh tế tài chính Quyết định đúng đắn trong thẩm định kỹ thuật - công nghệ
có tác dụng to lớn trong tiết kiện các nguồn lực và tranh thủ được các cơ hội để tăng thêmnguồn lực Mặt khác, kỹ thuật- công nghệ của từng dự án phụ thuộc vào các ngành kinh
tế - kỹ thuật và là một vấn đề rất phức tạp nhất là đối với dự án lớn Vì vậy, cần có nhữngnghiên cứu hỗ trợ bổ sung với sự tham gia của các chuyên gia có am hiểu sâu sắc về vấn
đề đó Nội dung cơ bản cần tập trung thẩm định đánh giá là địa điểm xây dựng dự án,công nghệ, thiết bị và các yếu tố đầu vào (chủ yếu là nguyên vật liệu)
Trang 39Như vậy, đảm bảo kỹ thuật là một nội dung quan trọng Nó nhằm đản bảo cho quátrình đầu tư và vận hành dự án đúng như dự kiến ban đầu
3.3.3.2 Thẩm định về địa điểm xây dựng công trình
Để việc lựa chọn địa điểm xây dựng được thuận lợi, tiết kiệm chi phí cần phảiquan tâm phân tích, đánh giá các vấn đề sau đây:
- Cần xác định rõ ranh giới vị trí xây dựng dự án, xem xét các điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội ở nơi đó để thấy rõ những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện dự án
- Chủ trương, chính sách của Nhà nước về phân bổ các ngành, các cơ sở sản xuất
- Ảnh hưởng của địa điểm đến quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của dự án
- Cơ sở hạ tầng của nơi xây dựng dự án
- Diện tích mặt bằng xây dựng dự án, có chú ý đến khả năng mở rộng sản xuấtkinh doanh khi cần thiết
- Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nơi xây dựng dự án
- Khả năng đảm bảo an ninh, quốc phòng
3.3.3.3 Thẩm định quy mô công suất của dự án
Phân tích về quy mô công suất của dự án chủ yếu căn cứ vào các yếu tố sau đây:
- Mức độ yêu cầu của thị trường hiện tại và tương lai đối với các loại sản phẩmcủa dự án
- Khả năng chiếm lĩnh thị trường của dự án
- Khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào của sản xuất, nhất là các loại nguyên vậtliệu nhập khẩu
- Khả năng mua được các thiết bị công nghệ có công suất phù hợp
- Khả năng đáp ứng về vốn đầu tư và năng lực quản lý của doanh nghiệp
Lưu ý trong phần này cần thẩm định để trả lời cho được câu hỏi: công suất cóquá lớn hay quá nhỏ không ? Nếu quá lớn sản phẩm khó tiêu thụ hệ số sử dụng TSCĐthấp, lâu hoàn vốn Quá nhỏ sản phẩm tiêu thụ nhanh, không chiếm được thị phần, bỏ lỡ
cơ hội đầu tư Quy mô công suất phải cân đối với nhu cầu thị trường và khả năng cungcấp nguyên vật liệu cũng như khả năng quản lý và nhu cầu nhân lực
3.3.3.4 Thẩm định thiết bị và công nghệ của dự án
Điều quan trọng nhất của phân tích về phương diện kỹ thuật công nghệ là vấn đềlựa chọn công nghệ và trang thiết bị Công nghệ và thiết bị được lựa chọn phải phù hợpvới điều kiện sản xuất ở Việt Nam (về điều kiện khí hậu, thời tiết, trình độ người laođộng) Thông thường công nghệ và thiết bị có mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau Lựa chọnthiết bị được tiến hành trên cơ sở công nghệ đã lựa chọn Công nghệ được lựa chọn phảimang tính hiện đại, kinh tế, đảm bảo vệ sinh môi trường Khi lựa chọn công nghệ, cầncăn cứ vào:
Yêu cầu kỹ thuật và chất lượng sản phẩm
Trình độ tay nghề và khả năng tiếp thu kỹ thuật của người lao động; trình
độ quản lý của nhà đầu tư
Yếu tố đầu vào sử dụng
Trang 40 Đảm bảo công suất thiết kế
Xu hướng tồn tại của công nghệ trong tương lai để tránh lạc hậu
Khả năng nguồn vốn
Thiết bị là bộ phận chủ lực của tài sản cố định, có ảnh hưởng trực tiếp đến chấtlượng sản phẩm và toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, khi lựa chọn thiết bịchú ý chọn của những hãng nổi tiếng, có uy tín trên thị trường để đảm bảo chất lượng củathiết bị và giá cả để tránh lảng phí về năng lực sản xuất Máy móc thiết bị phải phù hợpvới công suất và đồng bộ, phụ tùng thay thế phải dễ tìm Mặt khác, chi phí thiết bị trongcác dự án, nhất là các dự án công nghiệp thường rất lớn, vì vậy khi lựa chọn cần đưa ratối thiểu 2 phương án để lựa chọn Cần thông qua đấu thầu để đảm bảo chất lượng và giácả
3.3.3.5 Thẩm định về nguyên vật liệu sử dụng cho dự án
Về nguyên vật liệu cho dự án, cần chú trong nguồn cung cấp nguyên vật liệu đểđảm bảo cho dự án hoạt động trong suốt đời (tránh trường hợp thiếu nguyên vật liệu saumột thời gian ngắn đi vào hoạt động) Chú trọng khai thác nguồn vật liệu trong nước đểthuận tiện cho việc cung cấp, tiết kiệm được ngoại tệ, giá thành thường hạ Hơn nữa, đốivới việc khai thác và sử dụng nguyên vật liệu trong nước sẽ có tác dụng hỗ trợ cho cácngành cùng phát triển
Đối với nguyên liệu mang tính thời vụ cần tính toán một mức dự trữ hợp lý đểđảm bảo cung cấp thường xuyên Đối với nguyên liệu nhập khẩu cần xem xét khả năngcung ứng thực tế ngoài nước thông qua các hợp đồng hoặc các văn bản cam kết củadoanh nghiệp với các nhà cung cấp về số lượng, giá cả, quy cách phẩm chất, điều kiệngiao hàng, thanh toán… Cần tìm nhiều nguồn nguyên vật liệu, không nên lệ thuộc vàomột nhà cung cấp tránh hiện tượng ép giá
Đối với nguyên nhiên vật liệu khan hiếm cần xét đến khả năng cung ứng thực tếthông qua các văn bản cam kết của các nhà cung cấp về số lượng, giá cả, phẩm chất, điềukiện giao hàng…
Đối với dự án khai thác tài nguyên khoán sản phải kiểm tra tính đúng đắn của cáctài liệu điều tra, khảo sát, phân tích trữ lượng, chất lượng tài nguyên và giấy phép khaithác để đảm bảo dự án hoạt động được lâu dài
3.3.3.6 Thẩm định về kỹ thuật xây dựng của dự án
Trước hết xác định các hạng mục công trình xây dựng, thông thường bao gồm: cácphân xưởng sản xuất chính, phụ; hệ thống điện, nước; hệ thống đường nội bộ, bến đỗ bốc
dỡ hàng; văn phòng, phòng học; nhà ăn, khu giải trí, vệ sinh;hệ thống kho bãi, nguyên vậtliệu và sản phẩm; hệ thống xử lý chất thải và bảo vệ môi trường; hệ thống tường rào bảovệ Đối với từng hàng mục công trình phải xem xét về diện tích xây dựng, đặc điểm kiếntrúc (bê tông, gạch, khung sắt, lắp ghép ), quy mô và chi phí dự kiến, sau đó xem xéttính hợp lý trong việc bố trí các hạng mục công trình, các bản vẻ thiết kế, thi công, thiết
bị thi công, chi phí xây dựng
Ngoài ra, khi thẩm định kỹ thuật- công nghệ của dự án, người ta còn đề cập đếnmột số nội sung sau:
3.3.3.7 Thẩm định nguồn cung cấp năng lượng và nước cho dự án