1. Trang chủ
  2. » Tất cả

14NCKH-Nguyễn-Khánh-Ly- Lộc đã sửa

21 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 252,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1988, Ủy ban Basel giới thiệu hệ thống đo lườngvốn và rủi ro tín dụng, yêu cầu các ngân hàng phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thểđối phó với những rủi ro có thể xảy ra .Hiệp

Trang 1

Kiểm soát rủi ro tín dụng theo Basel II tại các ngân hàng

thương mại Việt Nam

Nguyễn Thị Hồng Ngọc_K17NHG Nguyễn Khánh Ly_K17KTC Nguyễn Thị Lộc_K17KDQTC

1 Hiệp ước quốc tế về an toàn vốn và giám sát hoạt động Ngân Hàng

1.1.Giới thiệu chung về sự ra đời của Ủy ban Basel và sự hình thành của hiệp định Basel

Nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, Ủy ban Baselđược thành lập vào năm 1974 do các Ngân hàng Trung ương và các cơ quan giám sát của 10nước phát triển (G10) tại thành phố Basel , Thụy Sỹ Các thành viên của Ủy ban gồm đạidiện ngân hàng trung ương hay cơ quan giám sát hoạt động các ngân hàng của các nước:Anh, Bỉ, Cannada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật , Pháp, Tây Ban Nha, ThụyĐiển, Thụy Sỹ, Ý Tuy nhiên, Ủy ban Basel không có bất kỳ một cơ quan giám sát nào vànhững công bố, kết luận của Ủy ban này không có tính pháp lý và yêu cầu tuân thủ đối vớiviệc giám sát hoạt động của ngân hàng Thay vào đó, ủy ban Basel chỉ xây dựng và công bốnhững tiêu chuẩn và những hướng dẫn giám sát rộng rãi, đồng thời giới thiệu các báo cáothực tiễn tốt nhất trong kỳ vọng rằng các tổ chức riêng lẻ sẽ áp dụng rộng rãi thông quanhững sắp xếp chi tiết phù hợp nhất cho hệ thông các quốc gia của chính họ

Mục tiêu quan trọng của Ủy Ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hainguyên lý cơ bản là : Không ngân hàng nào được thành lập mà không thực hiện việc giámsát và việc giám sát phải tương xứng Năm 1988, Ủy ban Basel giới thiệu hệ thống đo lườngvốn và rủi ro tín dụng, yêu cầu các ngân hàng phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu để có thểđối phó với những rủi ro có thể xảy ra Hiệp ước này cung cấp khung xây dựng an toàn vốnvới tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8% Hiệp ước Basel không những được phổ biến ở các quốc giathành viên mà còn được rất nhiều quốc gia trên thế giới tự nguyện tuân thủ Tuy nhiên, Hiệpước Basel 1 vẫn có khá nhiều điểm hạn chế Đến năm 2004, sau nhiều lần sửa đổi hiệp ướcBasel 1 , thì hiệp ước Basel 2 với nhiều tính đổi mới và cải tiến chính thức ra đời

1.2.Nội dung của Hiệp ước Basel I

1.2.1.Các yếu tố cấu thành của vốn

Vốn của ngân hàng bao gồm vốn gốc (vốn cấp 1)và vốn bổ sung (vốn cấp 2) Cáctiêu chí để phân loại vốn được quy định cụ thể.Việc khấu trừ ra khỏi vốn những khoản đầu

tư của một ngân hàng vào một tổ chức tài chính khác nhằm mục đích giảm tình trạng sở hữuchéo, làm giảm nguy cơ xảy ra khủng hoảng ngân hàng mang tính chất hệ thống Để khuyến

Trang 2

khích các ngân hàng không ngừng tăng cường quy mô vốn cấp 1, không quá phụ thuộc vàovốn cấp 2, Ủy ban quy định ra mức tối thiểu cho vốn cấp I và mức vốn tối đa cho vốn cấp II.

1.2.2.Tỷ trọng rủi ro

Trong số rất nhiều những rủi ro có thể phát sính thì rủi ro tín dụng là rủi ro chủ yếuđối với hoạt động của các ngân hàng Do vậy, Basel I mới chỉ tập trung vào rủi ro tín dụngvới 5 nhóm trọng số rủi ro Tài sản đảm bảo và bảo lãnh cũng được đề cập đến trong Basel

I Uỷ ban Giám sát ngân đã rất nỗ lực khi yêu cầu các hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sảncủa ngân hàng cần phải được tính đến khi xác định mức độ đủ vốn theo quy định của Basel

I So với những phương pháp của các nước đã sử dụng, phương pháp đo lường vốn củaBasel I đã tạo ra một cơ sở công bằng hơn để so sánh trên bình diện quốc tế giữa các hệthống ngân hàng khác nhau Nó cho phép tính đến các khoản mục rủi ro ngoại bảng khi đolường mức độ đủ vốn của ngân hàng và không cản trở việc các ngân hàng giữ tài sản có tínhlỏng cao hoặc các tài sản khác có mức độ rủi ro thấp

1.2.3 Tỷ lệ tiêu chuẩn mục tiêu

Bản Thoả thuận về vốn tháng 7/1988 đặt ra tỷ lệ tối thiểu giữa vốn so với tài sản córủi ro mà các ngân hàng hoạt động quốc tế cần đạt được là 8% (trong đó phần vốn gốc phảichiếm ít nhất 4%).Theo cách tính này, ngân hàng có mức vốn tốt là ngân hàng có CAR >10%, có mức vốn thích hợp khi CAR > 8%, thiếu vốn khi CAR < 8%, thiếu vốn rõ rệt khiCAR < 6% và thiếu vốn trầm trọng khi CAR < 2%

1.2.4 Quy định sử đổi bổ sung tháng 1/1996

Trong quy định bổ sung tháng 1/1996, Ủy ban đã bổ sung thêm rủi ro thị trường gồmrủi ro lãi suất, rủi ro trạng thái cổ phiếu, rủi ro ngoại hối và rủi ro hàng hoá đồng thời cũng

đã xây dựng khung đo lường những rủi ro này Vốn tối thiểu đối với rủi ro lãi suất được xácđịnh theo hai nhóm riêng - dành cho rủi ro cụ thể (những biến động bất lợi về giá cả của mộtloại chứng khoán do nguyên nhân liên quan đến từng người phát hành) và rủi ro thị trườngchung (thay đổi về lãi suất thị trường) Các khoản mục vốn đáp ứng đủ tiêu chuẩn để bù đắprủi ro thị trường sẽ bao gồm vốn cổ phần và lợi nhuận không chia (vốn cấp 1) và vốn bổsung (vốn cấp 2) theo quy định tại Basel I Ngoài ra, ngân hàng cũng có thể đưa thêm mộtthành phần nữa là vốn cấp 3 bao gồm nợ thứ cấp ngắn hạn chỉ nhằm một mục đích duy nhất

là đáp ứng phần vốn cần có dành cho rủi ro thị trường

1.3 Hiệp định Basel 2 – Chuẩn mực an toàn vốn theo thông lệ quốc tế

1.3.1 Mục tiêu của Basel 2

Nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế, tạo lập và duytrì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế, đẩy mạnhviệc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro

Trang 3

1.3.2.Nội dung hiệp ước Basel 2

Basel 2 sử dụng khái niệm 3 trụ cột:

a Trụ cột I-Yêu cầu về vốn

Basel II yêu cầu ngân hàng thương mại phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để đảmbảo cho những rủi ro trong ngân hàng mình, gồm rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi rothị trương Tương tự Basel I, Basel II vẫn quy định mức an toàn vốn tối thiểu là 8%

Rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường xảy ra do giá cả biến động thất thường, gắn với 04 rủi ro cơ bản rủi

ro lãi suất, rủi ro trạng thái vốn, rủi ro tỷ giá và rủi ro giá cả hàng hóa Vốn yêu cầu đối vớirủi ro thị trường: Ngoài vốn tự có theo Basel I gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2, khi đánh giá rủi

ro thị trường, ngân hàng được phép tính thêm phần vốn cấp 3 gồm các khoản nợ phụ thuộcngắn hạn với mục đích dự trữ Rủi ro thị trường có thề sử đo lường bằng phương phápchuẩn hóa, Phương pháp mô hình nội bộ

b Trụ cột thứ II

Liên quan tới việc hoạch định chính sách ngân hàng, Basel II cung cấp cho các nhàhoạch định chính sách những “công cụ” tốt hơn so với Basel I Trụ cột này cũng cung cấpmột khung giải pháp cho các rủi ro mà ngân hàng đối mặt, như rủi ro hệ thống, rủi ro chiếnlược, rủi ro danh tiếng, rủi ro thanh khoản và rủi ro pháp lý, mà hiệp ước tổng hợp lại dướicái tên rủi ro còn lại (residual risk)

Basel II nhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát: Thứ nhất, các ngân

hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn nội bộ theo danh mục rủi

Trang 4

ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó Thứ hai, các giám

sát viên nên rà soát và đánh giá việc xác định mức độ vốn nội bộ và chiến lược của ngânhàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo tuân thủ tỉ lệ vốn tối thiểu; giám sát viên nênthực hiện một số hành động giám sát phù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy

trình này Thứ ba, Giám sát viên khuyến nghị các ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểu theo quy định Thứ tư, giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức

vốn của ngân hàng không giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổingay lập tức nếu mức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu

c Trụ cột thứ III

Các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thịtrường Basel II đưa ra một danh sách các yêu cầu buộc các ngân hàng phải công khai thôngtin, từ những thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ vốn đến những thông tin liên quan đếnmức độ nhạy cảm của ngân hàng với rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro vận hành vàquy trình đánh giá của ngân hàng đối với từng loại rủi ro này

1.4 Lộ tình áp dụng Basel trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam

Giai đoạn trước năm 2005, Quyết định 297/199/QĐ-NHNN đã đưa ra cách tính toán

tài sản có rủi ro tương đối gần với các quy định của Basel I Theo quyết định đình này cácNHTM phải đảm bảm vốn tự có tối thiếu phải bằng 8% giá trị tài sản rủi ro Tuy nhiên, tàisản rủi ro mới chỉ tính đến rủi ro tín dụng Thời kỳ này, khối NHTM Nhà nước không đảmbảo được mức an toàn vốn tối thiểu Trong khi các NHTM Nhà nước gặp khó khăn trongviệc đạt chuẩn an toàn vốn thì các NHTM cổ phẩn thời điểm này lại đảm bảo được mức antoàn vốn Mặc dù, các NHTM Việt Nam đã nỗ lực và hầu hết các NHTM cổ phần đều đạtđược hệ số an toàn vốn trên 8%, song nếu so sánh với cách tính hệ số an toàn của Basel IIthì mẫu số phải cộng thêm cả vốn dành cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động nữa, nhưvậy thì rất ít các NHTM Việt Nam đạt được tỷ lệ an toàn vốn ở mức trên 8% trong giai đoạnnày

Từ năm 2006-2010, các ngân hàng thực hiện yêu cầu về vốn tối thiểu theo quyết

định 457/2005/QĐ-NHNN Về cơ bản, quyết định đã tiếp cận tương đối toàn diện Basel Ituy nhiên trong cách tính tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, nếu so sánh với cách tính hệ số an toàncủa Basel như đã nêu ở phần cơ sở lý thuyết thì mẫu số chưa tính đến vốn dành cho rủi rothị trường Bên cạnh đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% được áp dụng thống nhất cho tất cảcác ngân hàng mà không tính đến sự khác biệt trong phạm vi, quy mô cũng như rủi ro củacác ngân hàng

Trong giai đoạn 2006-2008, vốn tự có của các NHTM đã gia tăng nhanh chóng nhờ

sự thuận lợi của môi trường kinh doanh cũng như sự bùng nổ của thị trường chứng khoán.Song làn sóng chuyển đổi từ NHTM cổ phần nông thôn sang NHTM cổ phần đô thị và việcthành lập mới một số ngân hàng trong giai đoạn này đã khiến cho hệ số an toàn vốn trong hệ

Trang 5

thống ngân hàng có nhiều bất ổn Theo Nghị định 141/2006/NÐ-CP, thì đến cuối năm 2010,các NHTM cổ phần phải đạt mức vốn pháp định tối thiểu là 3.000 tỷ VND Do phải gấp gáptăng vốn theo Nghị định 141/2006/NÐ-CP đồng thời do tác động của chính sách kích cầucũng như việc thực hiện nới lỏng tiền tệ của NHNN nên tín dụng tại các NHTM đã tăng độtbiến Ðiều này dẫn đến hệ lụy tổng tài sản rủi ro của các NHTM tăng lên và kết quả là cácNHTM trong nhóm trên đều có xu hướng sụt giảm tỷ lệ an toàn vốn

Giai đoạn sau 2010, các ngân hàng thực hiện yêu cầu vốn theo quy định của Thông

tư số 13/2010/TT-NHNN và các thông tư sửa đổi bổ sung quy định về các tỷ lệ đảm bảo antoàn trong hoạt động của các NHTM: Trước những bất cập của các quy định đi trước và tínhcấp thiết của công tác quản trị rủi ro, ngày 25/5/2010, NHNN đã ban hành thông tư 13 quyđịnh về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các NHTM Thông tư 13 có ít nhất 3điểm mấu chốt: nâng tỷ lệ an toàn vốn từ 8% lên 9% cùng với quy định về vốn pháp định tốithiểu là 3.000 tỷ đồng; hạn chế việc tham gia vào các hoạt động liên quan đến kinh doanhchứng khoán và kinh doanh bất động sản của các NHTM và tăng cường quy định về đảmbảo khả năng thanh khoản của các NHTM Kế thừa quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN, Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoàiphải thường xuyên duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu bao gồm tỷ lệ an toàn vốn tối thiểuriêng lẻ và tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu hợp nhất ở mức 9% Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu đượctính theo tỷ lệ phần trăm giữa vốn tự có và tổng tài sản có đã được 24 điều chỉnh theo hệ sốrủi ro Trong đó hệ số rủi ro của tài sản có được chia theo 5 mức: 0%, 20%, 50%, 100% và150% Thông tư 36 đã giảm hệ số rủi ro từ 250% xuống 150% đối với 3 nhóm tài sản có là:các khoản cấp tín dụng để kinh doanh bất động sản, kinh doanh, đầu tư chứng khoán vàkhoản cho vay được bảo đảm bằng vàng

Từ năm 2016, Sau thời gian cân nhắc kỹ lưỡng, NHNN đã có những định hướng rõ

ràng về việc triển khai Basel II tại Việt Nam khi ban hành Công văn 1601/NHNN TTGSNH ngày 17/3/2014 về việc thực hiện Hiệp ước Basel II Theo lộ trình đã được phêduyệt, đến cuối năm 2015, 10 ngân hàng được chỉ định thí điểm theo tiêu chuẩn Basel II đápứng tuân thủ các chuẩn mực vốn của Basel II theo phương pháp chuẩn hóa Đến cuối năm

-2018, các ngân hàng được chọn thực hiện các chuẩn mực vốn của Basel II theo phươngpháp nâng cao Sau năm 2018, các chuẩn mực của Basel II sẽ được áp dụng vào toàn bộ cácngân hàng trong hệ thống

NHNN Việt Nam thành lâp Ban chỉ đạo triển khai Basel II có sự tham gia và phốihợp của lãnh đạo cao cấp của 10 ngân hàng Đồng thời thiết lập đội ngũ triển khai Basel IIcác tổ công tác của cán bộ thanh tra của Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng và các cán bộđại diện của ngân hàng được chọn Dựa trên báo cáo đánh giá khoảng cách của các ngânhàng, NHNN và các NHTM đã xây dựng giải pháp và đặt ra các kế hoạch thu hẹp khoảngcách cho các ngân hàng, xây dựng kế hoạch thực hiện Basel II theo quy lộ trình đã đượcThống đốc NHNN Việt Nam phê duyệt

Trang 6

NHNN Việt Nam đã phối hợp với nhiều dự án để tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấnnhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của NHNN đặc biệt là cán bộ của CQTTGS vàcán bộ ở các tổ chức tín dụng Nội dung tập huấn tập trung ở việc tính toán và đo lường cácloại rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động theo phương pháp chuẩn hóa

Liên quan đến việc xây dựng các văn bản pháp luật, xây dựng cơ sở pháp lý để cácNHTM thực hiện các yêu cầu của Basel II, NHNN Việt Nam đang xây dựng dự thảo Thông

tư về vốn theo Basel II và lấy ý kiến từ phía các NHTM Chỉ còn hai năm nữa là các NHTMphải chuyển sang áp dụng phương pháp nội bộ, và toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽtriển khai áp dung Basel nhưng Thông tư về vốn vẫn chưa được NHNH hoàn thiện và chínhthức ban hành

Về phía các NHTM, các ngân hàng đã thuê tư vấn từ các công ty và tổ chức nướcngoài để hoàn thiện các bản đánh giá khoảng cách đồng thời thành lập kế hoạch triển khaiBasel II tại ngân hàng Hiện tại các ngân hàng đang xây dựng mô hình đo lường rủi ro vàkho dữ liệu phục vụ cho việc tính toán Đây là một trong những khó khăn mà ngân hàngđang phải tập trung xử lí khi các mô hình tính toán và các số liệu tham chiếu không nhấtquán

Cuối năm 2018, 10 NHTM sẽ thực hiện chuẩn mực vốn của Basel II theo phương

pháp nội bộ nâng cao Không giống như phương pháp chuẩn hóa khi mà các ngân hàng đềuđược áp 25 dụng một “chuẩn” chung, phương pháp tiếp cận nội bộ cho phép các NHTMđược quyền tự quyết định mức vốn cần phải nắm giữ, tùy theo hồ sơ rủi ro của mình Ngânhàng nào kinh doanh với nhiều rủi ro thì phải nắm giữ nhiều vốn, và ngược lại.Tất nhiên, đểđược quyền tự quyết định như vậy, các ngân hàng sẽ cần phải đáp ứng nhiều điều kiện phứctạp về dữ liệu, hệ thống quản lý rủi ro cũng như hạ tầng công nghệ thông tin

Thứ nhất, dữ liệu yêu cầu cho việc tính toán vốn theo phương pháp nội bộ không chỉbao gồm dữ liệu cho việc tính toán tài sản có rủi ro, mà còn cả các dữ liệu để phục vụ chocác mô hình đo lường rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng

Thứ hai, Basel II và các văn bản bổ sung của Basel yêu cầu các NHTM phải có hệthống quản lý rủi ro tiên tiến, trong đó bao gồm chính sách quản lý rủi ro, các phương phápluận quản lý rủi ro Các yêu cầu của Basel II về hệ thống quản lý rủi ro xoay quanh việc xâydựng, triển khai và ứng dụng các mô hình đo lường rủi ro Theo yêu cầu của NHNN, đếnthời điểm cuối năm 2018, các NHTM sẽ phải xây dựng các mô hình để đo lường.Xác suấtkhách hàng không trả được nợ, giá trị chịu rủi ro Các mô hình này cần phải được triển khaitrong hoạt động quản lý rủi ro và phải được ứng dụng trong các hoạt động kinh doanh hàngngày của ngân hàng

Áp lực từ việc áp dụng các chuẩn mực của trụ cột I trong Basel II còn xuất pháp từviệc phải tăng vốn đối với các ngân hàng Việc áp dụng Basel II sẽ khiến CAR của các ngânhàng giảm, yêu cầu vốn tăng lên do ngoài rủi ro tín dụng, Basel II tính đến yêu cầu vốn đối

Trang 7

với rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường Do đó, những ngân hàng có hệ số CAR dao độngquanh mức 9% sẽ phải tính đến phương án tăng vốn cấp 1 hoặc cấp 2 để cải thiện CAR

Ngoài ra, các NHTM được lựa chọn để triển khai Basel II theo phương pháp tiêuchuẩn vào cuối năm 2015 phần lớn là các ngân hàng quy mô lớn, có trình độ quản lý rủi rotiên tiến hơn so với mặt bằng chung Nếu NHNN áp dụng một hệ số rủi ro theo đúng quytắc của Basel II, rất có khả năng các NHTM này sẽ phải nắm giữ mức vốn cao hơn các ngânhàng không tuân thủ Basel II Điều này, ở một chừng mực nào đó, sẽ làm giảm động lực củacác ngân hàng khi muốn triển khai Basel II

Trong bối cảnh còn bộn bề thách thức giải quyết nợ xấu, quy mô vốn còn khiêm tốn,chi phí để triển khai áp dụng Basel II lớn, chưa có đủ nhân sự, chưa có khung pháp lý hướngdẫn là những thách thức không nhỏ đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam để có thể thựchiện được Hiệp ước vốn Basel II theo đúng lịch trình của NHNN

2 Thực trạng việc ứng dụng Basel II trong quản trị rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam.

2.1.Bối cảnh thực hiện Basel II tại Việt Nam

Trên thực tế, Basel II được công bố lần đầu vào tháng 6/2004, nhưng đến năm 2008mới bắt đầu được áp dụng tại Mỹ, EU, các nước phát triển khác và một vài nước đang pháttriển Đây cũng là thời điểm khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu lan rộng, nên tiến độ ápdụng Basel II không tránh khỏi sự chậm trễ

Còn tại Việt Nam, theo lãnh đạo cao cấp một NHTM, đến tháng 10/2011, trên bảngcân đối, hầu hết các TCTD đã chấp hành tỷ lệ khả năng chi trả theo quy định, nhưng thực tếcòn nhiều TCTD chưa đảm bảo Số lượng TCTD vi phạm về tỷ lệ này đến cuối mỗi năm đãgiảm, song vẫn còn đơn vị vi phạm liên tục, nhiều lần Việc quy định tỷ lệ khả năng chi trảngày hôm sau (15%) và 7 ngày tiếp theo (100%) và phương pháp tính toán theo Thông tư 13chỉ phù hợp với hoạt động của các TCTD trong điều kiện bình thường

“Trong điều kiện thị trường có biến động bất thường thì quy định trên không còn phùhợp do việc xác định các kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không diễn ra như kế hoạch Do

đó, một số TCTD dù duy trì đúng tỷ lệ khả năng chi trả theo quy định của NHNN, nhưngthực tế vẫn thiếu hụt thanh khoản (thực tế có khoảng 15/37 NHTM cổ phần yếu kém) vàphải nhờ đến sự hỗ trợ của NHNN thông qua vay tái cấp vốn”, vị lãnh đạo trên nói

Các chuyên gia nhận định, đánh giá được những khó khăn của các ngân hàng vềthanh khoản, nên ngay từ tháng 10/2011, NHNN đã công bố chủ trương tái cơ cấu toàn diện

hệ thống ngân hàng Và ngày 1/3/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số254/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015”

Trang 8

Để phát triển hệ thống các TCTD đa năng, hiện đại, đặc biệt là hoạt động an toàn,hiệu quả, vững chắc, với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình, có khả năng cạnhtranh hơn thì việc triển khai Basel II là một trong những công cụ được NHNN lựa chọn.Theo nhiều chuyên gia, đây là bước đi phù hợp với hệ thống ngân hàng Việt Nam lúc này.

2.2 Bước đầu triển khai tại Việt Nam hiện nay

Sau khi Basel II công bố, NHNN ban hành Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày19/4/2005 thay thế Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN nhằm khắc phục hạn chế của Quyếtđịnh số 297/1999/QĐ-NHNN, khi quy định CAR là tỷ lệ một phần của vốn cấp 1 trên tổngtài sản “Có” điều chỉnh rủi ro (Bảng 1) Tuy vậy, về phương pháp tính theo hướng dẫn củaQuyết định 457/2005/QĐ-NHNN chỉ đạt đến mức tiếp cận phần lớn các yêu cầu theo BaselI

Năm 2010, NHNN ban hành Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 thaythế Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN cùng với Nghị định 141/2006/NÐ-CP ngày22/11/2006 của Chính phủ, yêu cầu vốn pháp định tối thiểu của ngân hàng thương mại(NHTM) phải đạt 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010 nhằm đảm bảo an toàn vốn và nâng caotiềm lực tài chính của các NHTM

Trang 9

Ngoài quy định việc xác định vốn tự có bao gồm, vốn cấp 1 và vốn cấp 2, NHNN đãhướng dẫn cách xác định CAR riêng lẻ, CAR hợp nhất và nâng CAR tối thiểu lên 9% nhằmphù hợp với xu hướng các NHTM hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con, gópphần tăng cường quản lý thanh khoản của các TCTD và phương pháp tính toán CAR đãtừng bước tiếp cận Basel II.

Ngày 20/11/2014, NHNN ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN, trong đó vẫn quyđịnh CAR bao gồm, mức riêng lẻ và hợp nhất, đều phải duy trì ở mức 9%, quy định vốn cấp

1 phải bị loại trừ cổ phiếu quỹ và các khoản cấp tín dụng để góp vốn, mua cổ phần tạiTCTD khác Thông tư này khắc phục một số nội dung chưa phù hợp với điều kiện thực tếcũng như quá trình hội nhập quốc tế, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu, xử lý nợ xấu của cácTCTD gắn với tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Đồng thời, tạo nên các chuẩn mực mới, quy định chặt chẽ và phù hợp hơn về quản trịngân hàng, tăng cường tính công khai, minh bạch và nâng cao khả năng chịu đựng rủi ro củacác TCTD trước những cú sốc của thị trường, từng bước thực hiện các chuẩn mực của Basel

II, tiếp cận gần hơn với thông lệ quốc tế về quản trị và giám sát ngân hàng

Bên cạnh đó, “Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và địnhhướng đến năm 2020” theo Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5/2006 của Chínhphủ cũng đã định hướng “Từng bước tiến tới thực hiện các nguyên tắc, chuẩn mực cơ bảntheo chuẩn mực vốn mới (Basel II) sau năm 2010”

Ngoài ra, thực hiện “Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015” củaChính phủ, bên cạnh các giải pháp như sáp nhập, hợp nhất, xử lý các Ngân hàng yếu kém thì cũng đã định hướng “Phát triển các hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc,chuẩn mực của Ủy ban Basel”; “Ban hành chuẩn mực an toàn vốn phù hợp với Basel II; đổimới, hoàn thiện các quy định an toàn hoạt động của TCTD” Đặc biệt, nhận thức, tư duy củacác TCTD về sự cần thiết phải áp dụng Basel II đã có sự thay đổi tích cực

Theo lộ trình của NHNN, đến cuối năm 2015 sẽ có 10 ngân hàng thí điểm thực hiệnphương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II, bao gồm BIDV, VietinBank,Vietcombank, Techcombank, ACB, VPBank, MB, Maritime Bank, Sacombank và VIB Vàđến năm 2018, cả 10 ngân hàng trên sẽ hoàn thành việc thí điểm này, sau đó sẽ mở rộng ápdụng Basel II với các ngân hàng thương mại khác trong nước Tại 10 NH này, việc thựchiện Basel II được coi là giải pháp đột phá về quản lý rủi ro, phân bổ vốn hợp lý theo rủiro Việc áp dụng Chuẩn mực vốn Basel II sẽ tạo động lực và định hướng trong việc nângcao năng lực quản lý rủi ro và quản lý, phân bổ vốn theo các chuẩn mực quốc tế

Trang 10

Điểm qua tình hình thực hiện một số ngân hàng, có thể nhận thấy sự quyết tâm củacác ngân hàng được lựa chọn thí điểm triển khai Basel II cho dù còn nhiều khó khăn cầngiái quyết.

Vietcombank: Vietcombank nằm trong số 10 NH được lựa chọn triển khai áp dụngđầu tiên Hiệp ước Basel II Tháng 6/2014, Vietcombank đã có những bước chuẩn bị tích cựctrong lộ trình triển khai Basel II, bắt đầu khởi động dự án “Phân tích hiện trạng và xây dựng

lộ trình triển khai nâng cao năng lực quản trị rủi ro NH theo yêu cầu của Hiệp ước vốnBasel II” Theo đó, Vietcombank đã phối hợp cùng với Ernst&Young (EY) cùng xây dựng

lộ trình nâng cao năng lực quản trị rủi ro NH theo yêu cầu Basel II trong vòng 3 – 5 năm

BIDV: Với quyết tâm triển khai thành công Basel II, ngày 15/9/2014, Chủ tịchHĐQT BIDV Trần Bắc Hà ký quyết định thành lập Ban Quản lý dự án Triển khai Basel II(PMO) tại BIDV do Tổng Giám đốc làm Trưởng ban Ngày 26/3/2015, BIDV thành lập Banquản lý dự án Tư vấn rà soát báo cáo phân tích chênh lệch GAP và xây dựng kế hoạch triểnkhai Master Plan Basel II (GAP&MP Basel II) vào tháng 03/2015 Đây là dự án khởi đầutrong chuỗi dự án triển khai Basel II, đóng vai trò bản lề trong quá trình triển khai Basel IItại BIDV 5-7 năm tới Công ty TNHH PricewaterhouseCoopers (PwC) Việt Nam là đối tácchính của BIDV tham gia hỗ trợ thực hiện dự án này

Một số ngân hàng khác: Techcombank đã hình thành Văn phòng Quản lý dự án Basel

để có thể trực tiếp báo cáo lên Giám đốc khối Quản trị rủi ro trong việc thực hiện điều phốinguồn lực triển khai Basel II Sacombank đã dần đáp ứng được yêu cầu trong việc xây dựng

hệ thống quản trị rủi ro trong toàn bộ hệ thống, cùng với đó thành lập Ban chỉ đạo và Đội dự

án thực hiện Basel II, tích cực đẩy mạnh hoàn thiện Basel II vào năm 2018

Bên cạnh đó, định hướng tăng cường mức độ an toàn vốn và triển khai Basel II cònđược triển khai qua Kế hoạch hành động của NHNN thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CPngày 18/03/2014, trong đó lựa chọn một số NHTM đi tiên phong trong việc triển khai Basel

II Hay như việc hình thành khung pháp lý cho ứng dụng Basel II cùng với định hướng cảithiện mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của các TCTD

Theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 27/01/2015 của NHNN cho thấy, về mặt quản lýnhà nước đã tạo lập cơ chế, chính sách thúc đẩy các NHTM ứng dụng Basel II theo địnhhướng và lộ trình cụ thể đã đặt ra

Thực tiễn cho thấy, mức độ an toàn vốn và việc tuân thủ CAR tối thiểu được nhiềuNHTM Nhà nước quan tâm Các NHTM thí điểm áp dụng Basel II theo lộ trình thực hiện từnăm 2015-2018, đã tiến hành bước chuẩn bị về nhân lực, công nghệ và kế hoạch triển khai.Mục tiêu nhằm hoàn thành việc thí điểm các yêu cầu về chuẩn mực an toàn vốn theo BaselII

Ngày đăng: 10/05/2018, 17:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w