B – BÁO CÁO CHI TIẾTI-Địa diểm thực tập 1.Tổng quan về thành phố Đà Lạt Đà Lạt là một thành phố trực thuộc tỉnh và tỉnh lị tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, ở độ cao 1.500 m
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong suốt quá trình thực tập, tham quan tại Đà Lạt Em xin chân thành cảm ơn các thầy
đã hết lòng truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm, sự hiểu biết của mình cho chúng em Để chúng em có chuyến đi thực tập thành công tốt đẹp
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Trọng Hà, là giáo viên giảng dạy cũng như gắn bó với lớp trong suốt quá trình thực tập Cảm ơn thầy đã hướng dẫn , chuẩn
bị tốt kiến thức cho chúng em trước chuyến đi này
Em xin chân thành cảm ơn thầy Bùi Đức Nam đã truyền đạt kinh nghiệm, kiến thức, sự hiểu biết của mình bằng tất cả sự nhiệt tình, hăng say và tận tụy.Để từ đó cho em cái nhìn thực tế hơn về môn học
Sinh viên
Lê Thị Thảo Ly
Trang 3A-NỘI DUNG BÁO CÁO
I Địa điểm thực tập:
- Hồ chứa nước Tuyền Lâm
- Mô hình vườn hoa hiện đại-
II Mục đích thực tập:
- Tìm hiểu về Đà Lạt: Vị trí địa lý, khí hậu
- Tìm hiểu về hồ chứa nước Tuyền Lâm: Sự hình thành hồ chứa; Tổng quan về hồ chứa; Vai trò của hồ chứa trong đời sống
- Tìm hiểu về khu vườn tưới hiện đại: vườn hoa hồng, vườn hoa cúc
Tham quan và tìm hiểu về một số địa điểm du lịch gắn với công trình
Đối với mỗi sinh viên thì việc tiếp xúc thực địa sau khi học xong các môn học là một yếu tố vô cùng quan trọng.Đặc biệt đối với môn chuyên ngành,việc thực tập giúp sinh viên củng cố hơn về kiên thức đã học,có thể gắn kết hơn với lý thuyết,hiểu sâu sắc hơn môn học với thực tế,hiểu rõ từ lý thuyết đến thực tế để những kiến thức học được không phải là những lý thuyết sáo rỗng trên sách vở,cũng là một cơ hội để sinh viên tiếp xúc thực tế với môi trường làm việc sau này
III Thời gian thực tập:
15h ngày 27/11/2017 tham quan hồ chứa Tuyền Lâm8h30p ngày 26/11/2017 tham quan vườn hoa hồng
IV Nội dung thực tập:
1 Hồ Tuyền Lâm
- Tham quan một trong những hồ chứa nước nhân tạo lớn của Việt Nam
- Trao đổi về lịch sử, quá trình hình thành hồ chứa
- Tìm hiểu cấu tạo, chức năng, cách bố trí vận hành công trình
2 Vườn hoa hồng
- Tham quan mô hình canh tác hoa tiên tiến
- Trao đổi về giai đoạn phát triển, sinh trưởng , kỹ thuật chăm sóc hoa hồng
- Khảo sát, đánh giá mô hình trồng hoa của hộ gia đình
Trang 4B – BÁO CÁO CHI TIẾT
I-Địa diểm thực tập
1.Tổng quan về thành phố Đà Lạt
Đà Lạt là một thành phố trực thuộc tỉnh và tỉnh lị tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, ở độ cao 1.500 m so với mặt nước biển và diện tích tự nhiên: 393,29 km².Với nhiều cảnh quan đẹp, Đà Lạt là một trong những thành phố du lịch nổi tiếng nhất của Việt Nam Trong thời Pháp thuộc, tên tiếng Latin Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem cónghĩa là "cho những người này niềm vui, cho những người khác sự mát mẻ"[1] Đà Lạt được mệnh danh là : thành phố hoa, thành phố tình yêu, thành phố mùa xuân, thành phố sương mù
Quảng trường Tp Đà Lạt
Trang 5a Vị trí địa lí :
Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng
Hàng trăm năm trước đây, Đà Lạt là địa bàn cư trú của người Lạch, vốn là cư dân của toàn bộ cao nguyên Lang Biang Đà Lạt có diện tích hơn 400 km², bao bọc bởi các đỉnh núi cao và dãy núi liên tiếp:
- Phía Bắc và Tây Bắc giới hạn bởi dãy Chorơmui, Yộ Đa Myut (1.816 m), Tây Bắc dựavào chân dãy núi Chư Yang Kae (1.921 m), thuộc quần sơn Lang Biang mà đỉnh cao nhất
là Chư Yang Sinh (1.408 m)
- Phía Đông là chân dãy núi Bi Doup (2.278 m) dốc xuống cao nguyên Dran
- Phía Đông Nam chắn bởi dãy Cho Proline (1.629 m)
- Phía Nam và Tây Nam có dãy núi Voi (1.754 m) và Yàng Sơreng bao bọc
Cao nguyên Lang Biang
b Địa hình và khí hậu
- Nhiệt độ không khí:
Đà Lạt có nền nhiệt độ thấp do ảnh hưởng của độ cao địa hình, nhiệt độ trung bình là
18oC, xấp xỉ với nhiệt độ thích hợp nhất của con người khách vãng lai đến Đà Lạt trong một thời gian ngắn thường không thấy lạnh hay nóng, mà đều nhận xét là mát mẻ
Trang 6+Theo số liệu tại vườn khí tượng Đồi cù từ năm 1977 đến 1981, nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 17,5oC đến 18,2oC Tháng 1 là tháng có nhiệt dộ trung bình, tháng cực tiểu vào khoảng 15,6oC, nhiệt độ trung bình tháng cực đại xuất hiện nào tháng 5: 19,5oC Biên độ nhiệt trung bình tháng là 3,9oC, chứng tỏ nền nhiệt độ ổn định qua các tháng và các mùa trong năm Nhiệt độ trung bình ngày dao động từ 15-20oC với tần suất lớn: 70,3 - 99,7% Nhiệt độ trung bình ngày vào mùa khô thấp hơn 15oC cũng rất ít Số ngày có nhiệt độ trung bình lớn hơn 20oC xuất hiện rải rác trong năm, tập trung chủ yếu vào tháng 5 - 6 Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối quan sát được là - 0,1oC (tháng 1.1932) Tronggiai đoạn 1977 - 1991, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 5,1oC (tháng 1.1977) Nhiệt độ tối caoquan sát được là 31,5oC (các năm 1928, 1930, 1934) Từ 1977 - 1991, nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 31,2oC (tháng 2.1991) Nhiệt độ tối cao quan sát được thường dao động từ 25-
30oC
- Biên độ nhiệt:
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn, trung bình năm là 9oC Các tháng trong mùa khô có biên độ nhiệt lớn (từ tháng 1 đến tháng 4), trị số dao động từ 11,2 - 13,2oC Các tháng mùa mưa có biên độ nhiệt giảm xuống chỉ còn 6 - 7 oC Nhiệt độ mặt đất trung bình hàng năm ở Đà Lạt là 20,6oC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 61oC trên đất trống không cây cỏ, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 0,8oC Nhiệt độ tối cao trung bình lên tới
45 - 50oC, nhiệt độ tối thấp trung bình xuống đến 7 - 9oC
- Chế độ mưa:
Mùa mưa ở Đà Lạt thường bắt đầu giữa tháng 4, mưa tháng 4 và 5 thường là mưa rào
và dông vào buổi trưa - chiều Khi trường gió Tây Nam ổn định và mạnh dần lên từ tháng
6, bắt đầu có những đợt mưa kéo dài Những đợt mưa này cũng thường xảy ra khi có bão,
áp thấp ở Biển Đông Mùa mưa thường kết thúc vào giữa tháng 10, đôi khi vào giữa tháng
11 Như vậy mùa mưa ở Đà Lạt kéo dài khoảng sáu tháng, tháng 4 và 11 là thời kỳ giao mùa
Từ 1977 - 1991, lượng mưa năm trung bình là 1.755mm, và có tổng lượng mưa năm lớn nhất vào năm 1989: 2.016mm, năm 1981 là năm có tổng lượng mưa nhỏ nhất:
1.356mm Lượng mưa trong năm phân bố không đều theo thời gian Tháng 1 có lượng mưa ít nhất, trung bình 6mm, trong một vài năm đầu như lượng mưa ở tháng này không đáng kể Lượng mưa những ngày có mưa trong mùa khô trung bình chỉ đạt 5 - 7mm, trong mùa mưa cũng chỉ đạt 8 - 10mm Lượng mưa ngày dao động từ 50 - 80mm Lượng mưa ngày trên 100 mm ít xảy ra Tháng 9 là tháng có lượng mưa trung bình lớn nhất: 300mm Lượng mưa vào mùa mưa chiếm khoảng 80%
Ngày 4.5.1932 có lượng mưa lớn nhất trong lịch sử Đà Lạt, 307mm, tạo lũ lớn trên suối Cam Ly, đã tàn phá 2 đập đất của hồ Xuân Hương và đập thủy điện nhỏ của nông trạiCam Ly
Trang 7Số ngày mưa trung bình nhiều năm ở Đà Lạt đạt khoảng 170 ngày/năm Các tháng
12, 1, 2, 3 có số ngày mưa trung bình là 5 ngày Riêng 2 tháng 4 và 11 là 10 - 15 ngày Trong mùa mưa, số ngày mưa dao động từ 20 - 25 ngày/tháng
- Độ ẩm không khí:
Có tương quan chặt chẽ với lượng mưa ở Đà Lạt Trong mùa mưa, độ ẩm tương đối
các tháng đạt trên 85% Thời kỳ ẩm nhất trong năm vào các tháng 7, 8, 9 với độ ẩm trung bình: 90 - 92% Mùa khô, độ ẩm giảm xuống dưới 80% Độ ẩm tương đối thấp nhất vào tháng 2, 3: 75 -78% Độ ẩm thấp nhất tuyệt đối thường xảy ra vào lúc 13 - 14 giờ, có ngàyxuống đến 7-10%
- Lượng mây:
Ở Đà Lạt, lượng mây trung bình năm từ 6/10 - 7/10 bầu trời; so với các tỉnh Bắc Tây Nguyên, lượng mây ở đây ít hơn nhiều Vào mùa mưa, các tháng 7, 8, 9 là thời kỳ nhiều mây, lượng mây trung bình 8/10 - 9/10 Thời kỳ ít mây vào tháng 1, 2, 3 có lượng mây trung bình 4,5/10 - 5/10
Lượng mây này chi phối số giờ nắng, tại Đà Lạt số giờ nắng toàn năm lên đến 2.340 giờ Tháng 6 - 10, lượng mây nhiều, số giờ nắng khoảng 140 -170 giờ Tháng 9 có số giờ nắng ít nhất: 100 - 130 giờ Tháng 1, 2, 3 là các tháng ít mây, số giờ nắng quan sát được là
250 - 270 giờ Các tháng khác có số giờ nắng trên 200 giờ
- Chế độ gió:
Hướng gió thịnh hành tại Đà Lạt thay đổi theo mùa Từ tháng 10 - 4, hướng gió chủ
yếu là Đông - Đông Bắc Gió Đông Bắc hoạt động mạnh vào tháng 11, 12 và tháng 1 Từ tháng 5 - 9 là thời kỳ hoạt động của gió Tây - Tây Nam Gió Tây thịnh hành trong tháng 7
và 8 Tốc độ gió trung bình hàng năm ở Đà Lạt là 2,1m/s Thời kỳ gió mạnh vào các tháng 11, 12, 1 từ 2,1 - 3,2m/s Thời kỳ gió yếu và lặng có tốc độ trung bình từ 1,1 -1,5m/
s (tháng 1, 2, 3, 4) Các tháng còn lại tốc độ gió trung bình từ 1,5 -1,7m/s Trong những tháng gió mùa Tây Nam thịnh hành kết hợp có bão, áp thấp nhiệt đới, thường có gió mạnh Tốc độ gió mạnh nhất ở Đà Lạt là 23m/s (tháng 8) Bên cạnh đó có các đợt gió Đông Bắc tràn về, gió mạnh xảy ra từng đợt, mỗi đợt có khi kéo dài 5 - 6 ngày Vào các tháng cuối năm, do ảnh hưởng bão đổ bộ từ Phú Yên đến Bình Thuận, ở Đà Lạt gió bão
có thể mạnh đến cấp 8 - 9 Hầu hết các tháng trong năm đều có những ngày có gió mạnh
từ 11m/s trở lên Hướng gió thịnh hành tại Đà Lạt thay đổi theo mùa Từ tháng 10 - 4, hướng gió chủ yếu là Đông - Đông Bắc Gió Đông Bắc hoạt động mạnh vào tháng 11, 12
và tháng 1 Từ tháng 5 - 9 là thời kỳ hoạt động của gió Tây - Tây Nam Gió Tây thịnh hành trong tháng 7 và 8 Tốc độ gió trung bình hàng năm ở Đà Lạt là 2,1m/s Thời kỳ gió mạnh vào các tháng 11, 12, 1 từ 2,1 - 3,2m/s Thời kỳ gió yếu và lặng có tốc độ trung bình
từ 1,1 -1,5m/s (tháng 1, 2, 3, 4) Các tháng còn lại tốc độ gió trung bình từ 1,5 -1,7m/s Trong những tháng gió mùa Tây Nam thịnh hành kết hợp có bão, áp thấp nhiệt đới,
thường có gió mạnh Tốc độ gió mạnh nhất ở Đà Lạt là 23m/s (tháng 8) Bên cạnh đó có
Trang 8các đợt gió Đông Bắc tràn về, gió mạnh xảy ra từng đợt, mỗi đợt có khi kéo dài 5 - 6 ngày Vào các tháng cuối năm, do ảnh hưởng bão đổ bộ từ Phú Yên đến Bình Thuận, ở
Đà Lạt gió bão có thể mạnh đến cấp 8 - 9 Hầu hết các tháng trong năm đều có những ngày có gió mạnh từ 11m/s trở lên
- Các hiện tượng thời tiết khác:
Ngoài ra, ở Đà Lạt còn có các hiện tượng thời tiết đáng chú ý: sương mù, dông, mưa
đá và sương muối Ngoài ra, ở Đà Lạt còn có các hiện tượng thời tiết đáng chú ý: sương
mù, dông, mưa đá và sương muối
Sương mù ở Đà Lạt khoảng 80 ngày/năm tập trung vào các tháng 2, 3, 4, 5 với số ngày có sương mù trung bình từ 8 - 16 ngày/tháng Các tháng trong năm đều có sương mùnhưng không nhiều Sương mù tạo cho Đà Lạt một dáng vẻ riêng, thành phố như chìm trong hư ảo, nhưng cũng ảnh hưởng đến các loại phương tiện giao thông
Số ngày có dông ở Đà Lạt quan sát được khoảng 60 ngày Thời kỳ có dông kéo dài từtháng 3 - 11, các tháng 4, 5 và 9 có số ngày có dông nhiều nhất Các tháng đầu mùa mưa thường có những cơn dông vào trưa chiều kèm theo mưa rào, đôi khi có sét Vào giữa và cuối mùa mưa, số ngày có dông về trưa chiều giảm nhưng lại tăng về đêm
Mưa đá thường xảy ra vài ba ngày trong tháng 4 Cường độ mưa không lớn, diện mưahẹp, đường kính hạt từ 0,5 - 1cm, nhưng có khi có hạt lên tới 3 - 4cm, những trận mưa đá này gây thiệt hại đáng kể cho các vườn rau quả Đà Lạt
Sương muối hay sương giá tại Đà Lạt có khả năng xuất hiện nhiều ở các vùng trũng, khuất gió vào thời kỳ lặng gió trong mùa khô, tập trung ở tháng 1 - 2 Cuối tháng 12 và đầu tháng 3, sương muối cũng có khả năng xuất hiện nhưng ở mức độ nhẹ Nguyên nhân chính tạo thành sương muối là do nhiệt độ đất hạ thấp về đêm Sương muối thường gây bỏng lạnh cho cây non và nụ hoa Do vậy trong mùa này, nông dân thường tưới nước sớmtrước khi nắng lên để tránh tình trạng cây bị thay đổi nhiệt độ đột ngột Đôi khi người ta đốt những đống lửa để khói ấm giảm tác hại của sương muối lên cây non trong vườn
Mặt khác, do địa hình bị phân hoá, đồi và thung lũng xen kẽ nhau, vì vậy sự chênh lệch tiểu khí hậu tương đối lớn so với các số liệu trung bình, tạo nên những vùng sản xuất thích hợp nhất như hoa Thái Phiên, mận Trại Hầm, dâu tây ở Hà Đông, Đa Thiện
Tóm lại, khí hậu Đà Lạt mang những đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa
và khí hậu cao nguyên Đà Lạt có một chế độ nhiệt khá điều hòa và thấp, nhiệt độ trung bình năm thấp hơn so với cả nước Việt Nam Biên độ trung bình năm giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất không quá 3 - 4oC Điều kiện bức xạ dồi dào Sự phân hóa theo mùa khí hậu kéo theo sự chia mùa sâu sắc trong chế độ mưa ẩm đã quyết định các mùa vụsản xuất Chính nhờ nền nhiệt độ tương đối ôn hòa mà Đà Lạt đã phát triển thành một thành phố nghỉ dưỡng và du lịch nổi tiếng Các điều kiện khí hậu này đã cho phép việc sản xuất các loại rau hoa, cây đặc sản và nhiều loại cây trồng á nhiệt đới
Trang 9c Đất đai :
- Trải qua các hoạt động địa chất lâu dài, chủ yếu là quá trình phong hóa và chịu ảnhhưởng sâu đậm của khí hậu, địa hình, hệ thực vật khu vực, trên bề mặt địa hình Đà Lạt đã hình thành một lớp phủ thổ nhưỡng với các loại đất khác nhau, mang tính đai cao rõ nét
- Quá trình phong hóa tạo đất ở Đà Lạt xảy ra tương đối mạnh mẽ và trong một thời gian dài để lại lớp phong hoá dày Quá trình này xảy ra trong điều kiện cận nhiệt đới ẩm với sự rửa trôi alumosilicat và silicat, mang đioxyt silic và bazơ xuống các tầng sâu
- Theo bảng phân loại mới dùng cho bản đồ đất của Việt Nam, các loại đất Đà Lạt thuộc hai nhóm chính: nhóm đất feralit vàng đỏ phân bố ở độ cao 1.000 - 1.500 m và nhóm mùn vàng đỏ trên núi phân bố ở độ cao 1.000 - 2.000 m Các nhóm khác như đất phù sa, đất than bùn, đất bồi tụ chiếm diện tích không đáng kể
*Nhóm đất feralit nâu đỏ
Tại những nơi sự trực di diễn ra mạnh mẽ, oxyt silic và bazơ bị rửa trôi hầu hết, các chất Fe2O3 và Al2O3 thì ở lại tại chỗ, do đó, đất sẽ rất giàu sắt và nhôm tạo thành đất sắt nhôm hay là đất feralit nâu đỏ trên bazan Đây là loại đất tốt nhất trong thành phố với cấu tạo đoàn lạp, xốp, rất tơi, thoát nước tốt, rất thích hợp cho các loài cây công nghiệp dài ngày như cà phê, trà Ở những nơi có điều kiện tưới nước vào mùa nắng, nông dân đã canh tác trồng rau tạo thành các vùng chuyên canh rau như Vạn Thành, Cam Ly, Xuân Thọ và Xuân Trường Riêng tại xã Tà Nung chỉ mới phát triển các loại cây công nghiệp như cà phê, thuốc lá và dược liệu
Theo phân tích của Liên hiệp khoa học sản xuất Đà Lạt thì đất feralit nâu đỏ vùng Vạn Thành - Cam Ly có hàm lượng vi lượng tổng số cao hơn hẳn vùng Xuân Thọ - Xuân Trường Đây là yếu tố thuận lợi để mở rộng phát triển nông nghiệp tại vùng này Đất có trắc diện sâu với tầng A: 0 -23cm, tầng B: 23-90cm, tầng C: 90-120cm Do lớp phủ thực vật bị phá nên hiện tượng rửa trôi mạnh và đất có độ chua cao, nhất là tầng mặt (pH = 4), lượng mùn ở tầng mặt cũng rất ít
*Nhóm đất feralit vàng đỏ
Tại những nơi sự trực di không hoàn toàn vì mẫu thạch giàu silic (đá macma axit, trầm tích hỗn hợp), hoặc do sự thoát thủy không đầy đủ thì có sự tạo thành sét caolinit Đây là đất sắt nhôm hơi yếu, giàu caolimit và có màu vàng đỏ, nâu vàng hoặc nâu đo (trênđaxit) tạo thành nhóm đất feralit vàng đỏ chiếm hơn 90% diện tích đất toàn thành phố Tạinhững nơi đất bị rửa trôi mạnh, tầng mặt rất mỏng, đất có độ chua cao Với những vùng bịrửa trôi yếu hơn, đất có tầng mặt khá dày, trắc diện sâu: tầng A: 0-25cm, tầng B: 25-65cm, tầng C: 65-100cm
Trang 10Đất feralit vàng đỏ có độ phì thấp đến trung bình, tầng mặt chua (pH = 4,0-4,7), hàm lượng N% giao động trong khoảng từ 0,06-0,42, P205%: 0,074-0,31 nhưng hàm lượng lân
số điểm đang hình thành các vườn rau và vườn cây ăn trái Riêng đối với các loại đá phuntrào riolit dọc đèo Prenn, không gặp loại đất feralit Nguyên do chính là sau khi đá mẹ bị phong hóa, độ thấm nước của các tầng đất rất kém, silicat và alumosilicat khó bị thủy phân để trực di xuống các tầng sâu hơn, hoặc không bị rửa trôi, mà ở lại tại chỗ nên đã hình thành mỏ cao lanh vùng Prenn Dưới chân các ngọn đồi, lợi dụng các đất thung lũng,một số hộ nhân dân đang khai khẩn trồng các loại cây ăn quả như hồng, dâu tằm, cà phê
và đúc gạch ngói
d Cây trồng :
- Mức độ thích nghi của cây trồng trên các loại đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại
Đà Lạt được đánh giá như sau:
+ Đất phù sa thuận lợi cho sản xuất các loại rau cải, lúa, ngô
+ Đất nâu đỏ thuận lợi cho cây công nghiệp (cà phê), cây ngắn ngày (khoai tây)
+ Đất nâu vàng thuận lợi cho sản xuất hoa cắt cành và a-ti-sô
+ Đất đỏ vàng thuận lợi cho sản xuất hoa, a-ti-sô, rau cải, chè, cây ăn quả
Trang 11Vườn hoa atiso ở Đà Lạt
+ Đất vàng đỏ thuận lợi cho cây rau, cây ăn quả và cây lương thực
- Trong thời gian này, sản xuất nông nghiệp tại Đà Lạt chưa có sự phân vùng một cách rõrệt nhưng cũng đã bắt đầu hình thành một số khu vực sản xuất:
+ Khu vực Hà Đông, Nghệ Tĩnh, Đa Thiện, Đa Cát: chủ yếu là rau cải các loại
+ Khu vực Thái Phiên, Nam Hồ: sản xuất a-ti-sô, hoa glayơn, lys, cúc, marguerite
Trang 12Đồi chè
+ Khu vực Xuân Thọ, Trại Mát: cà rốt, một ít các loại rau cải khác
+ Khu vực Xuân Trường: chủ yếu là chè, cây ăn trái, hoa glayơn
+ Khu vực An Bình, Quảng Thừa: chủ yếu là rau cải, cây ăn trái
Trang 13e Sông ngòi :
- Mạng lưới rãnh, suối tương đối nhiều, nhưng Đà Lạt chỉ có một con sông nhỏ Cam
Ly bắt nguồn từ những dãy núi đồi phía đông bắc chảy qua thành phố, hòa vào hồ
Xuân Hương rồi đổ về thác Cam Ly, cuối cùng nhập vào sông Đa Dung ở huyện Đức Trọng Do nằm giữa hai triền đồi nên về mùa mưa, đặc biệt ở những trận mưa có
cường độ lớn vào tháng 9, nước sông dâng nhanh, uy hiếp những vùng rau màu nhà cửa ven sông
- Đà Lạt có năm hồ, hồ ở đây hầu hết là hồ nhân tạo, đã bị bồi lấp khá nhiều qua mùa mưa, nên phần lớn các hồ cũng cạn dần Gồm có hồ Xuân Hương, hồ Sương Mai, hồ Vạn Kiếp, hồ Đankia và hồ Chiến Thắng Các hồ này là nguồn cung cấp nước đáng kể cho các vùng rau, nhất là về mùa khô
Các điểm tham quan du lịch của vùng:
Khu Biệt thự Trần Lệ Xuân
2.Hồ chứa nước Tuyền Lâm
Sau khi khám phá thác Prenn thơ mộng, kì vĩ, tạo cảm hứng sau một hành trình dài mệtmỏi vì phải di chuyển trên một quảng đường khá xa Xe đưa chúng tôi đến với hồ TuyềnLâm - một công trình thủy lợi hiệu quả, một điểm du lịch hấp dẫn của Đà Lạt Cho chúngtôi lâng lâng một niềm tự hào về mái Trường Đại học Thủy lợi đã góp phần không nhỏtạo nên hồ Tuyền Lâm.Với sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Trọng Hà tôi thêm hiểu rõ hơn
về công trình thủy lợi mang niềm tự hào của trường
Hồ Tuyền Lâm có nghĩa là “ rừng đen” Cái tên gợi cho chúng ta hình dung ra mênh mông hồ nước gắn với rừng cây hoa lá Hơn thế, hồ Tuyền Lâm mang một dấu ấn trí tuệ của thầy và trò Trường Đại học Thủy lợi ngay từ ngày đất nước mới thống nhất
Đến Đà Lạt, về với hồ Tuyền Lâm, có những con đường nhựa êm ru, lan chạy dưới rừng thông cao xanh, rì rào tiếng lá reo
Trang 14Hồ chứa nước Tuyền Lâm- Đà Lạt-Đây là hồ nước ngọt rộng nhất Ðà Lạt, với diện tích khoảng 320 ha, nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt 7 km và cách thác Ðatanla 2 km Hồ nằm gần núi Phụng Hoàng, đây được xem là khu phức hợp tập trung nhiều cảnh quan đẹp và dịch vụ du lịch phong phú.-Hồ Tuyền Lâm là 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam Hồ có nhiều ốc đảo nhỏ vàđược bao bọc bởi khu rừng thông
Quá trình hình thành – Phát triển
-Trước năm 1978 là một rừng thông – Hiện nay là một thung lũng lòng chảo, có nhiều vòi
đổ vào hồ, tựa như bạch tuộc
-Sau giải phóng tiến hành khảo sát-Thiết kế sơ bộ
-Qua khảo sát, năm 1981 bộ Tthủy Lợi chính thức đầu tư, xây dựng và mời đại học ThủyLợi khảo sát, thiết kế hồ
-Trường gồm 3 đoàn:
Trang 15+ Đoàn DH1- Tại thành phố Hồ Chí Minh.
+ Đoàn DH2- Tại Bình Thuận
+ Đoàn DH3- Tại Cần Thơ
=>Giao cho đoàn DH2 nhiệm vụ khảo sát, thiết kế hồ
- Hồ Tuyền Lâm được tạo thành bởi dòng suối Tía ( hay còn gọi là Da Trea ) thượngnguồn sông Đa Tam sau thác Prenn
- Hồ thiết kế chắn ngang dàng sông Tía có diện tích là 33km2 Đầu tựa con voi, núi baobọc quanh hồ, tạo nên địa thế kì vĩ
- Trong quá trình khảo sát ban đầu còn gặp khó khăn về trang thiết bị, kĩ thuật Songđoàn đã khắc phục những khó khăn đó
- Đến năm 1981 toàn bộ hồ sơ thiết kế, thi công được bộ Thủy Lợi phê duyệt
Từ năm 1981 đến năm 1987 Bộ Thuỷ Lợi đầu tư, hoàn thành xây dựng một đập nước dài 235m chắn ngang suối Tía (Da Trea) tạo thành hồ Quang Trung, về sau đổi tên là hồ Tuyền Lâm
Cấu tạo
Tràn xả lũ chính tuyến cong của hồ Tuyền Lâm
- Cuối những năm bảy mươi, Trường Đại học Thủy Lợi thiết kế hồ Tuyền Lâm với mựcnước chết (MNC) ở cao trình +1363 (m), nay do yêu cầu, Trường đã thiết kế nâng MNClên cao trình +1373 (m) và do đó mực nước dâng bình thường đã từ cao trình +1377,5 (m)lên +1379,0 (m)