1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

ôn thi mon ly thuyet tien te

8 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 132,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Lạm phát là sự gia tăng liên tục trong mức giá với tốc độ cao thì các nhà kinh tế đều nhất trí với Milton Friedman rằng “lạm phát luôn luôn và ở đâu cũng là hiện tượng tiền tệ” hay lạm

Trang 1

Câu 4: Trình bày điểm khác giữa lý thuyết Friedman và Kynes trong

lý thuyết cầu về tiền?

Lý thuyết của Friedman Lý thuyết của Kynes

- Đưa nhiều tài sản làm đối trọng

cho tiền

- Lãi suất chỉ có ảnh hưởng nhỏ

đến cầu tiền

- Không đi sâu vào chi tiết nằm

trong động cơ nắm giữ tiền

- Chia các tài sản có thể cất giữ của cải thành hai nhóm là tiền và trái phiếu

- Lãi suất là yếu tố quyết định hàng đầu

- Đi sâu vào nghiên cứu chi tiết động cơ nắm giữ tiền

Câu 5: Tỉ lệ dự trự bắt buộc là gì? Vai trò của tỉ lệ dự trữ bắt buộc

đối với nền kinh tế?

- Tỉ lệ dự trữ bắt buộc là một quy định của ngân hàng trung ương về

tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các ngân hàng thương mại bắt

buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản

- Vai trò:

 Kiểm soát cung tiền

 Bình ổn lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng

 Điều tiết vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng

 Tạo thu nhập cho ngân hàng Trung ương

Câu 6: Trình bày khái niệm của lạm phát? Vì sao lạm phát là vấn đề

nan giải của nhiều quốc gia trên thế giới?

- Lạm phát là sự gia tăng liên tục trong mức giá với tốc độ cao thì

các nhà kinh tế đều nhất trí với Milton Friedman rằng “lạm phát

luôn luôn và ở đâu cũng là hiện tượng tiền tệ” hay lạm phát là tình

trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên liên tục trong một

thời gian nhất định

- Lạm phát là vấn đề nan giải của nhiều quốc gia trên thế giới vì:

 Lạm phát xảy ra sẽ tạo nên biến động bất thường về giá trị

tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế xã hội

Trang 2

 Lạm phát làm cho đời sống dân cư gặp nhiều khó khăn hơn, làm rối loạn hệ thống toán quốc tế, làm xấu đi tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế

 Lạm phát xảy ra làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp

 Lạm phát tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập và mức sống

7 nêu công cụ thực thi 9 sách tiền tệ nêu nguyên nhân gây ra lạm phát do cầu kéo của nền kinh tế?

- công cụ thực thi chính sách tiền tệ là :

+ thị trường dự trữ và lãi suất vốn liên bang

+ tỷ lệ dự trữ bắt buộc

+ Nghiệp vụ thị trường mở

+ chính sách chiết khấu

- lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng chậm hơn tổng cầu Lúc đó một lượng tiền lớn được dùng để mua hàng hóa ít ỏi sẽ làm tăng giá song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dung máy móc với công suất giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự gia tăng của cầu Sự mất cân đối sẽ được giá cả lấp đầy từ đó mà lạm phát do cầu tăng lên (lạm phát do cầu kéo xuất hiện

Tổng cầu tăng lên là do: tư nhân tự động tăng chi tiêu ( C , I) người trong nước giảm mua hàng nước ngoài hoặc người nước ngoài tăng mua hàng trong nước, chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, ngân hàng trung ương cho lãi suất giảm, kích thích đầu tư làm tăng tổng cầu

8 Hãy trình bày LSVLB tăng giảm ntn dưới tác động của LSCK

cho vay chiết khấu: LSCK là lãi suất mà NHTW cho các NHTM vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hay bất thường của các ngân hàng

Trang 3

này Quy định của LSCK là một trong những công cụ của chính sách tiền

tệ nhằm điều tiết lượng cung tiền

NHTW có thể thay đổi lãi suất mà mình cho các ngân hàng vay, thông qua đó điều chỉnh lượng tiền cơ sở Khi lượng tiền cơ sở thay đổi thì lượng cung tiền cũng thay đổi theo

Kết Luận: khi không có khoản cho vay chiết khấu nào thì hầu hết những thay đổi trong LSCK không tác động đến LSVLB

9 Lý giải lý do của 1 ng nắm giữ tiền mặt theo lý thuyết ưa thích thanh khoán của Kens

Nội dung của lý luận này là nhu cầu về tiền mặt của người ta gồm hai bộ phận Một bộ phần là nhu cầu tiền mặt cho giao dịch Lượng cầu tiền mặt này là hàm số thuận của thu nhập Con người kinh tế điển hình hễ có thu nhập nhiều hơn thì tiêu dùng nhiều hơn Bộ phận còn lại là nhu cầu tiền mặt cho mục đích đầu cơ Lượng cầu tiền mặt thứ hai này là hàm số nghịch của lãi suất Lãi suất càng hấp dẫn thì người ta càng ít giữ tiền mặt Lãi suất kém hấp dẫn thì có xu hướng giữ tiền mặt nhiều hơn Nói cách khác, lãi suất chính là cái giá để người ta hy sinh sự ưa chuộng tính thanh khoản của tiền mặt

Phần thu nhập kiếm được nếu không đem tiêu dùng mà để đấy dưới dạng tiền mặt thì không sinh lời Muốn nó sinh lời thì phải đem đầu tư vào đâu

đó, chẳng hạn mua chứng khoán Giữ tiền mặt thì có cái lợi là tính tính thanh khoản cao Còn nếu mua chứng khoán thì lại được cái lợi là sinh lãi Những người lạc quan thì dự tính giá chứng khoán lên (lãi suất giảm)

sẽ từ bỏ tiền mặt và mua chứng khoán Những người bi quan thì dự tính giá chứng khoán giảm (lãi suất tăng) sẽ bán chứng khoán đang giữ đi và nhận tiền mặt về Chứng khoán sẽ di chuyển từ tay người bi quan sang tay người lạc quan Giá chứng khoán rốt cục cùng bị quy định bởi cả những người lạc quan mua vào và những người bi quan bán ra Và lãi suất cũng bị quy định cùng bởi mức độ thích tiền mặt của hai loại người này

Trang 4

Câu 10: Anh chị hãy trình bày quan điểm của Keynes về lạm phát

Lạm phát là tình trạng gia tăng liên tục và nhanh chóng của mức giá

Sự gia tăng liên tục của cung tiền sẽ tác động đến đường cầu và tổng đường cung: đường tổng cầu sẽ liên tục dịch chuyển sang phải và đường tổng cung liên tục dịch chuyển sang trái Do đó sự gia tăng nhanh chóng của cung tiền sẽ làm cho mức giá tăng liên tục với tốc độ cao và bởi vậy gây ra lạm phát

- Ban đầu nền kinh tế ở mức tự nhiên

- Đường tổng cầu AD1, đường tổng cung AS1, với mức giá P1

- Khi cung tiền tăng liên tục đường tổng cầu AD1 dich chuyển AD2, trong ngắn hạn, sản lượng lượng tăng dịch chuyển sang Y’

- Trong dài hạn thất nghiệp giảm, tiền lương tăng dẫn đến tổng cung dịch chuyển sang trái, và sản lượng nền kinh tế về cân bằng Y*, dẫn đến giá tăng từ P1 lên P2

- Nếu cung tiền tăng trong các năm tới thì giá tăng theo cơ chế phân tích như trên lên P3… Như vậy, tăng cung tiền làm tăng giá liên tục dẫn tới lạm phát

Câu 11: Anh chị hãy trình bày vai trò của nghiệp vụ thị trường mở trong nền kinh tế

- Vai trò của NHTW trên tttt liên NH :

- NHTW là chủ thể xd lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên NH (do NHTW xd) nó ảnh hưởng lãi suất chung trên thị trường

- Kiểm tra giám sát chặt chẽ các hd của thị trường thong qua việc đưa ra các thiết chế các điều luật,các quy định nhằm đảm bảo cho

- TT nào cũng có nguyên tắc, quy tắc chung Trên TTTT lien ngân hàng cũng có những điều luật, quy định tham gia TT liên NH như thế nào ?tất cả những điều này đều do NHTW quyết định

→ NHTW là chủ thể đóng vai trò quan trọng trên TTTT nói chung

và TTTT liên NH nói riêng với vai trò là người độc quyền phát hành đồng thời NHTW còn tham gia kiểm soát khả năng tạo tiền của các NHTM thông qua các công cụ của mình như : lãi suất tái

Trang 5

cấp vốn, tỉ lệ dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở Đối với TTTT nói chung và TTTT liên NH nói riêng NHTW có vai trò rất quan trọng : Là người điều hành tổ chức là cơ quan duy nhất phát hành tiền, điều này làm ảnh hưởng tới lượng tiền trong nền kinh tế

Câu 12: Anh chị hãy phân loại các hình thức lạm phát trong nền kinh tế

Lạm phát thể hiện những mức độ nghiêm trọng khác nhau Chúng được phân thành ba cấp: Lạm phát vừa phải, Lạm phát phi mã và siêu lạm phát

- Lạm phát vừa phải: được đặc trưng bằng giá cả tăng chậm và có thể dự đoán được Tỷ lệ lạm phát hàng năm là một chữ số Khi giá tương đối ổn định, mọi người tin tưởng vào đồng tiền, họ sẵn sàng giữ tiền vì nó hầu như giữ nguyên giá trị trong vòng một tháng hay một năm Mọi người sẳn sàng làm những hợp đồng dài hạn theo giá trị tính bằng tiền vì họ tin rằng giá trị và chi phí của họ mua và bán sẽ không chệch đi quá xa

- Lạm phát phi mã: tỷ lệ tăng giá trên 10% đến < 100% được gọi là lạm phát 2 hoặc 3 con số Đồng tiền mất giá nhiều, lãi suất thực tế thường âm, không ai muốn giữ tiền mặt mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cần thiết cho việc thanh toán hằng ngày Mọi người thích giữ hàng hóa, vàng hay ngoại tệ Thị trường tài chính không ổn định ( do vốn chạy ra nước ngoài)

- Siêu lạm phát : Tiền giấy được phát hành ồ ạt giá cả tăng lên với tốc độ chóng mặt, tỷ lệ tăng giá khoảng trên 1000% /năm Đồng tiền gần như mất giá hoàn toàn Các giao dịch diễn ra trên cơ sở hàng đổi hàng tiền không còn làm được chức năng trao đổi Nền tài chính khủng hoảng (siêu lạm phát đã từng xảy ra ở Đức 1923 với tỷ lệ 10.000.000.000% và xảy ra

ở Bolivia 1985 với 50.000%/năm)

13/ Ưu điểm của nghiệp vụ thị trường mở trong nền kinh tế

Thông qua việc mua – bán các GTCG NHTW có thể chủ động can thiệp vào thị trường tiền tệ, từ đó tác động trực tiếp vào khả năng cung ứng tín dụng của các tổ chức tín dụng

Sử dụng công cụ này đảm bảo độ linh hoạt và chính xác cao Trong NVTTM, tác động vào cung ứng tiền có thể sử dụng ở bất kỳ mức

độ nào để thay đổi dự trữ hoặc cơ số tiền lớn hay nhỏ NHTW có thể thực hiện bằng cách mua, bán khối lượng lớn hay nhỏ chứng khoán NHTW dễ dàng đảo ngược tình thế khi có một quyết định sai lầm về việc sử dụng

Trang 6

công cụ này bằng cách lập tức đảo ngược lại việc sử dụng công cụ đó Ví dụ: nếu NHTW thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do mua quá nhiều giấy tờ có giá trên thị trường mở thì nó có thể sửa chữa ngay bằng

bán trên thị trường mở Việc tác động đến khối lượng tiền tệ có thể được hoàn thành nhanh chóng, không gây nên những chậm trễ về mặt hành chính Khi muốn thay đổi cơ số tiền hoặc dự trữ, NHTW có thể quyết định và thực hiện ngay trong phiên giao dịch

NHTW luôn có thể chủ động số lượng tiền “bơm” vào hay “hút” ra khỏi lưu thông bằng cách khống chế lượng mua và bán.Mặt khác tính linh hoạt còn thể hiện ở chỗ NHTW vừa thực hiện mua ngay sau đó lại bán ngược lại

14/ Trình bày đường cầu về dự trữ tiền tệ

Cầu tiền: Cầu tiền tỷ lệ nghịch với lãi suất vì vậy là đường thẳng dốc

xuống Các yếu tố làm dịch chuyển đường cầu tiền:

– Thu nhập thực tế theo Năng lực sản xuất: khi năng lực sản xuất tăng

thì sản lượng hàng hóa sản xuất ra tăng vì vậy sẽ cần một lượng tiền tăng tương ứng để cân bằng Ví dụ như có 100.000 đồng tiền mặt, có 10 cái bút bi giá 10.000 đ Nếu như có 20 cái bút bi trong khi vẫn có 100.000 đ thì vì khan hiếm tiền nên sẽ không trao đổi được 10 cái bút tăng thêm hoặc giá bút sẽ giảm đi còn 5000 đ (Giá trị đồng tiền tăng lên)

– Mức giá cả tăng: Trước đây mua 1 cân gạo hết 10 đồng; nay mua một

cân gạo hết 12 đồng vì vậy sẽ cần phải bổ sung thêm 2 đồng -> với cùng một lượng hàng hóa như cũ nhưng người ta phải nắm giữ nhiều tiền hơn

Trang 7

15/ Trình bày lý thuyết về số lượng tiền trong quan điểm Friedman

Theo Friedman, việc chi tiêu được quyết định bởi thu nhập thường xuyên tức là thu nhập bình quân mà người ta dự tính sẽ nhận được trong thời gian dài Thu nhập thường xuyên ít biến động, bởi vì nhiều sự biến động của thu nhập là tạm thời trong thời gian ngắn Vì vậy cầu tiền tệ sẽ không

bị biến động nhiều cùng với sự chuyển động của chu kỳ kinh doanh Một

cá nhân có thể giữ của cải dưới nhiều hình thức ngoài tiền, Friedman xắp xếp chúng thành 3 loại: trái khoán, cổ phiếu (cổ phiếu thường) và hàng hoá Những động lực thúc đẩy việc giữ những tài sản đó hơn là giữ tiền thể hiện bằng lợi tức dự tính về mỗi một tài sản đó so với lợi tức dự tính

về tiền Lợi tức về tiền bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố:

Các dịch vụ ngân hàng cung cấp đi kèm với các khoản tiền gửi nằm trong cung tiền tệ, khi các dịch vụ này tăng lên, lợi tức dự tính về tiền tăng Tiền lãi trả cho các khoản tiền gửi nằm trong cung tiền tệ

rong học thuyết của mình, Friedman thừa nhận rằng có nhiều cái chứ không phải chỉ có lãi xuất là quan trọng của nền kinh tế tổng hợp Hơn nữa, Friedman không coi lợi tức dự tính về tiền là một hằng số Khi lãi suất tăng lên trong nền kinh tế, các ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận cho vay hơn và do vậy các ngân hàng có thể trả lãi cao hơn cho các khoản tiền gửi giao dịch hoặc nâng cao chất lượng các dịch vụ cung cấp cho

Trang 8

khách hàng tức là lợi tức dự tính về tiền sẽ tăng lên, như vậy sẽ tương đối

ổn định khi lãi xuất thay đổi, tức là theo Friedman những thay đổi của lãi xuất sẽ có ít tác dụng đến cầu tiền tệ

Từ những phân tích đó, hàm số cầu tiền tệ của Friedman chủ yếu là một hàm số trong đó thu nhập thường xuyên là yếu tố quyết định đầu tiên của cầu tiền tệ và phương trình cầu tiền tệ của ông có thể được tính gần với:

Theo quan điểm của Friedman, cầu tiền tệ không nhạy cảm với lãi suất vì những thay đổi của lãi suất ít có tác dụng đến lợi tức dự tính tương đối của những tài sản khác so với tiền, cùng với sự ít biến động của thu nhập thường xuyên, cầu tiền tệ sẽ tương đối ổn định và có thể dự đoán được bằng hàm số cầu tiền tệ Và như vậy tốc độ (V) có thể dự đoán được tương đối chính xác theo phương trình cầu tiền tệ viết lại:

Nếu tốc độ có thể dự đoán được, thì một sự thay đổi trong mức cung tiền

tệ sẽ tạo một sự thay đổi dự đoán được trong tổng chi tiêu Do đó học thuyết số lượng tiền tệ của Friedman thực sự là một sự phát biểu lại của học thuyết số lượng tiền tệ vì nó dẫn đến cùng một kết luận về tầm quan trọng của tiền tệ đối với tổng chi tiêu của nền kinh tế

Ngày đăng: 23/04/2018, 08:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w