Cung và cầu trong Thị trường trái phiếu: a Đường cầu trái phiếu: Khi giá trái phiếu giảm các yếu tố khác không đổi => lãi suất tăng => lợi tức dự kiến thu được từ tráiphiếu tăng so với c
Trang 1ÔN THI MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
CHỦ ĐỀ 1: HÀNH VI CỦA LÃI SUẤT VÀ LÝ THUYẾT CẤU TRÚC LÃI SUẤT
I- TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT:
1 Khái niệm lãi suất: từ trước đến nay đã có khá nhiều khái niệm khác nhau về lãi suất:
Theo J M Keynes:
Lãi suất là sự trả công cho số tiền vay, nó là phần thưởng cho sở thích chi tiêu thanh khoản Lãi suấtcòn là sự trả công cho sự chia ly với của cải tiền tệ
Theo P Samuelson– Daid Begg:
Lãi suất là giá cả của việc sử dụng một số tiền vay trong một thời gian nhất định
Theo David S.Kidwell:
Lãi suất là giá cả của sự thuê tiền, là giá cả của sự vay tiền cho quyền sử dụng sức mua và thường đượcbiểu thị bằng một tỷ lệ phần trăm của số tiền vay mượn
Khái niệm lãi suất:
- Là tỷ lệ phần trăm giữa số tiền lãi trên số tiền vốn
- Là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn vị thời gian
- Là giá cả của các khoản vay
2 Phân loại lãi suất:
Theo Thời hạn tín dụng: có các loại lãi suất:
II - HÀNH VI CỦA LÃI SUẤT
Hành vi của lãi suất chính là sự thay đổi của lãi suất
Lãi suất có mối liên hệ tương quan nghịch với giá trái phiếu hay nói cách khác giá trái phiếuthay đổi sẽ làm cho lãi suất thay đổi
Vì vậy, lý giải tại sao giá trái phiếu biến đổi sẽ lý giải được tại sao lãi suất thay đổi
Để lý giải được điều này chúng ta sẽ tiến hành phân tích cung cầu trên hai thị trường: thị trường tráiphiếu và thị trường tiền tệ dựa trên lý thuyết cung- cầu Mỗi thị trường chúng ta sẽ xem xét 3 vấn đề:
Các yếu tố quyết định cầu về TS:
- Của cải: là tổng nguồn lực sở hữu của một cá nhân, bao gồm tất cả các tài sản: đồng biến với cầu về
tài sản
Trang 2- Lợi tức dự kiến: là lợi tức mà mọi người dự kiến, mong muốn thu được từ một tài sản so với tài sản khác trong thời kì tiếp theo: đồng biến với cầu về tài sản.
- Rủi ro: là mức độ bất định gắn với lợi tức của một tài sản so với các tài sản khác: nghịch biến với
cầu về tài sản
- Tính thanh khoản: là mức độ dễ dàng và tốc độ chuyển đổi thành tiền mặt của một tài sản so với một tài sản khác: đồng biến với cầu về tài sản.
1 Xem xét hành vi của trái phiếu qua THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU:
1.1 Cung và cầu trong Thị trường trái phiếu:
a) Đường cầu trái phiếu:
Khi giá trái phiếu giảm (các yếu tố khác không đổi) => lãi suất tăng => lợi tức dự kiến thu được từ tráiphiếu tăng so với các tài sản khác => lượng cầu trái phiếu tăng
è Đường cầu trái phiếu (Bd) dốc xuống
b) Đường cung trái phiếu:
Khi giá trái phiếu tăng (các yếu tố khác không đổi) => lãi suất giảm => việc vay nợ bằng trái phiếu íttốn kém hơn => lượng cung trái phiếu tăng
è Đường cung trái phiếu (Bs) dốc lên
c) Trạng thái cân bằng trên thị trường trái phiếu:
Hình 1: Cung và cầu về trái phiếu
- Đường cầu thể hiện mối quan hệ giữa lượng cầu và giá của trái phiếu, trong điều kiện các biến
số khác cố định
- Xem xét trái phiếu có mệnh giá $1,000; được bán với giá $950 à i= 5.3% (công thức tính tỷsuất sinh lợi kỳ vọng bằng với lãi suất đến ngày đáo hạn) Giả sử tại mức này lượng cầu tráiphiếu là $100 tỷ
- Thể hiện trên biểu đồ: trục tung bên trái thể hiện giá trái phiếu (giá tăng từ gốc đến đỉnh), trụctung bên phải thể hiện lãi suất ( giảm từ gốc đến đỉnh) à thể hiện mối QH nghịch biến giữa giátrái phiếu và lãi suất
- Khi giá trái phiếu là $900, i= 11.1%, à lượng cầu tăng lên $200 tỷ ( khi các biến số kháckhông đổi, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao thì cầu trái phiếu tăng)
- Tương tự ta có các điểm A, B, C, D, E à đường Bd nối các điểm đó là đường cầu- độ dốchướng xuống về bên phải
- Ngược lại ta có đường cung Bs với độ dốc hướng lên thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa giá
và lượng cung
Trạng thái cân bằng trên thị trường trái phiếu diễn ra tại điểm C, giao điểm của đường cầu vềtrái phiếu Bd và đường cung Bs Giá cân bằng là P* = 850 $ và lãi suất cân bằng là i* = 17,6% Hãychú ý rằng P và i thay đổi theo hướng ngược nhau P trên trục tung bên trái tăng khi chúng ta di chuyểnlên phía trên, từ 750$ ở gần đáy của trục tung tới 1000$ ở đỉnh của nó, trong khi i trên trục tung bênphải tăng khi chúng ta di chuyển xuống phía dưới, từ 0% tại đỉnh tới 33% ở gần đáy
Bd = Bs
Trang 3- Cân bằng: lượng cung trái phiếu = lượng cầu trái phiếu
- Điểm cân bằng: giao điểm của đường cung và đường cầu trên đồ thị à mức giá cân bằng và lãisuất cân bằng
- Giá trái phiếu tăng: cung tăng, cầu giảm à giá giảm Giá trái phiểu giảm : cung giảm, cầu tăng
à giá tăng Điều chỉnh về mức cân bằng
1.2 Những thay đổi của lãi suất cân bằng:
a) Xem xét về sự dịch chuyển của đường cầu về trái phiếu:
Lưu ý: cần phân biệt sự di chuyển trên đường cung/ cầu và sự dịch chuyển trên đường cung/ cầu
- Sự di chuyển trên đường cung/ cầu: khi các biến số khác cố định, sự thay đổi trong lãi suất hoặcgiá trái phiếu à lượng cung/ cầu với trái phiếu thay đổi tương ứng với các điểm khác nhau trênđường cung/ cầu
- Sự dịch chuyển đường cung/ cầu: khi có sự thay đổi trong các biến số khác ngoài giá và lãi suất(thu nhập, tính thanh khoản, rủi ro, suất sinh lợi kỳ vọng…) à cả đường cầu/ cung thay đổi
Hình 2: Sự dịch chuyển của đường cầu về trái phiếu
Trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ kinh doanh thì cùng với khối lượng của cải ngày càng tăngthì cầu về trái phiếu cũng tăng và đường cầu về trái phiếu dịch chuyển sang phải và ngược lại
b) Xem xét về sự dịch chuyển của đường cung về trái phiếu:
Bảng 3: Tóm tắt yếu tố làm dịch chuyển đường cung về trái phiếu
25,0 33,0
A B
E D C
B
D 1
Giá trái phiếu,
Lượng trái phiếu, Q B (tỷ
đô la)
B
D 2
Trang 4Lượng trái phiếu, Q B (tỷ đô la)
Hình 3: Sự dịch chuyển của đường cung về trái phiếu
1.3 Vận dụng:
Vận dụng 1: Lạm phát dự kiến tác động đến lãi suất như thế nào?
Hình 4: Đáp lại sự thay đổi trong lạm phát dự kiến
Lạm phát dự kiến tăng, giá trái phiếu giảm, lãi suất tăng (Hiệu ứng Fisher)
Vận dụng 2:
Mở rộng chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng đến lãi suất như thế nào?
Hình 5: Phản ứng đối với sự mở rộng của chu kỳ kinh doanh
Mở rộng chu kỳ kinh doanh, thu nhập của cải tăng lên, giá trái phiếu giảm, lãi suất tăng
Vận dụng 3: Lý giải mức lãi suất thấp ở Nhật
Vào cuối những năm 90 và đầu những năm 2000, Nhật suy thoái kéo dài => Giảm phát (Tỷ lệlạm phát âm)
Tỷ lệ lạm phát âm
Cầu về trái phiếu tăng
Đường cầu trái phiếu dịch sang phải (1)
Lượng trái phiếu, Q B
B
D 2
B
S 2
B
S 1
Trang 5 Tăng lãi suất thực tế
Chi phí thực tế của việc vay nợ tăng
Cung về trái phiếu co lại
Đường cung dịch chuyển sang trái (2)
(1) và (2), giá trái phiếu tăng và lãi suất giảm
2 Xem xét hành vi của trái phiếu qua THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ:
Mô hình ưa thích thanh khoản: Theo J.M Keynes, lãi suất cân bằng được xác định dựa trên
cung và cầu về tiền
Mối quan hệ giữa Thị trường tiền tệ và Thị trường trái phiếu:
Keynes giả định rằng có hai loại tài sản: Tiền và Trái phiếu
(1) Tổng của cải = KL Trái phiếu + KL Tiền tệ
(2) Tổng của cải = Lượng cung về Trái phiếu (B s ) + Lượng cung về tiền (M s)
(3) Tổng của cải = Lượng cầu về Trái phiếu (B d ) + Lượng cầu về tiền (M d)
(2),(3) èB s + M s = B d + M d
ó Bs – B d = M d – M s
Nhận xét:
Khi thị trường trái phiếu cân bằng thì thị trường tiền tệ cũng cân bằng
Lãi suất cân bằng trên 2 thị trường là như nhau
2.1 Cung và cầu trong Thị trường tiền tệ:
a) Đường cầu tiền:
- Keynes giả định: Tiền có tỷ suất lợi tức bằng 0, Trái phiếu có lợi tức dự kiến bằng lãi suất i
- Khi lãi suất tăng: lợi tức dự kiến thu được từ Tiền giảm tương đối so với lợi tức dự kiến thuđược từ Trái phiếu
Cầu tiền giảm
Cầu tiền và lãi suất có quan hệ tỷ lệ nghịch
è Đường cầu tiền có dạng dốc xuống
b) Đường cung tiền:
NHTW kiểm soát lượng cung tiền ở mức cố định
èĐường cung tiền là đường thẳng đứng
c) Trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ
Hình 6: Trạng thái cân bằng trên thị trường tiền tệ
- Giả sử lượng cung tiền cố định do ngân hàng Trung ương quy định là $300 tỷ
Md = Ms
Trang 6=> Điểm cân bằng trên TT tiền tệ lúc này là tại điểm C với mức lãi suất 15% và lượng cầu tiền là $300tỷ.
- Chúng ta dễ dàng nhận ra xu hướng dịch chuyển về điểm cân bằng trên đồ thị này:
+ Khi lãi suất là 25%, mức cầu tiền là $100 tỷ, nhưng lượng cung tiền lại đến $300 tỷ à dư cung,người ta đang giữ tiền nhiều hơn mức mà họ mong muốn à mua nhiều trái phiếu hơn à giá trái phiếutăng à lãi suất giảm về mức cân bằng (A C)
+ Khi lãi suất là 5%, mức cầu tiền là $500 tỷ, nhưng lượng cung tiền chỉ là $300 tỷ à dư cầu, người tađang muốn nắm giữ tiền nhiều hơn số tiền mà họ đang nắm giữà bán trái phiếu à giá trái phiếu giảm
à lãi suất tăng về mức cân bằng (E C)
2.2 Những thay đổi của lãi suất cân bằng
Sự dịch chuyển của đường cầu tiền do hai yếu tố:
Sự gia tăng mức giá làm cầu tiền tăng và đường cầu dịch chuyển sang phải
b) Sự dịch chuyển của đường cung tiền:
NHTW tăng cung tiền sẽ làm dịch chuyển đường cung tiền sang phải
Bảng 4: Tóm tắt các yếu tố làm dịch chuyển đường cầu và cung tiền
2.3 Vận dụng:
a) Vận dụng 1: Những thay đổi trong lãi suất cân bằng do những thay đổi của thu nhập, mức giá, hoặc
cung tiền gây ra
Trang 7Hình 7: Đáp lại sự thay đổi của thu nhập hoặc mức giá
Khi thu nhập hoặc mức giá tăng (các biến số khác không đổi), lãi suất tăng từ i1 đến i2
Hình 8: Đáp lại sự thay đổi trong cung tiền
Khi cung tiền tăng (các biến số khác không đổi), lãi suất giảm từ i1 đến i2
b) Vận dụng 2: Tiền và lãi suất:
Tiền và lãi suất thực sự có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau hay không?
Friedman thừa nhận phương pháp ưa thích thanh khoản là đúng và gọi kết luận trên là hiệu ứng thanhkhoản Tuy nhiên hiệu ứng thanh khoản chỉ là một phần của câu chuyện Sự gia tăng cung tiền khôngnhững không thể giữ cho mọi cái khác vẫn như cũ mà còn gây ra những tác động khác đối với nền kinh
tế và đến lượt chúng, các tác động này có thể làm tăng lãi suất Cụ thể ở đây chúng ta xem xét hiệu ứngthu nhập, hiệu ứng mức giá và hiệu ứng lạm phát dự kiến
Hiệu ứng thu nhập:
Cung tiền tăng è nền kinh tế mở rộng è tăng thu nhập quốc gia và của cải è lãi suất tăng
Hiệu ứng thu nhập của sự gia tăng cung tiền là làm tăng lãi suất
Hiệu ứng mức giá:
Cung tiền tăng è mức giá chung tăng è lãi suất tăng
Hiệu ứng mức giá phát sinh từ sự gia tăng cung tiền là sự gia tăng lãi suất
Hiệu ứng lạm phát dự kiến:
Cung tiền tăng è lạm phát tăng & tỷ lệ lạm phát dự kiến tăng è lãi suất tăng
Hiệu ứng lạm phát dự kiến của sự gia tăng cung tiền là sự gia tăng của lãi suất
Tốc độ tăng cung tiền cao hơn có làm giảm lãi suất không?
Hình 9: Phản ứng theo thời gian đối với sự gia tăng trong tốc độ tăng tiền
Lượng tiền, M
Lượng tiền, M
Trang 8(9a) Hiệu ứng thanh khoản lớn hơn các hiệu ứng khác
- Ban đầu, hiệu ứng thanh khoản làm lãi suất giảm
- Sau đó các hiệu ứng khác làm lãi suất tăng trở lại
=> Do hiệu ứng thanh khoản lớn hơn các hiệu ứng khácnên lãi suất vẫn giảm so với lúc đầu
(9b) Hiệu ứng thanh khoản nhỏ hơn các hiệu ứng khác và sự điều chỉnh chậm chạp của lạm phát dự kiến
- Ban đầu, hiệu ứng thanh khoản làm lãi suất giảm
- Sau đó các hiệu ứng khác làm lãi suất tăng trở lại
=> Do hiệu ứng thanh khoản nhỏ hơn các hiệu ứng khácnên trong ngắn hạn lãi suất giảm nhưng sau đó có thể sẽcao hơn so với lúc đầu
(9c) Hiệu ứng thanh khoản nhỏ hơn hiệu ứng lạm phát dự kiến và sự điều chỉnh nhanh chóng của lạm phát dự kiến
- Ban đầu, hiệu ứng lạm phát dự kiến vượt quá hiệu ứng thanh khoản làm lãi suất tăng
- Sau đó, hiệu ứng thu nhập và mức giá tiếp tục làm lãi suất tăng hơn nữa
=> Sự gia tăng tốc độ cung tiền làm lãi suất tăng
Các nhà hoạch định chính sách vận dụng vào thực tế như thế nào?
Hiệu ứng thanh khoản lớn hơn các hiệu ứng khác:
Muốn cắt giảm lãi suất phải tăng tốc độ cung tiền
Hiệu ứng thanh khoản nhỏ hơn các hiệu ứng khác và sự điều chỉnh chậm chạp của lạm phát dự kiến:
Muốn cắt giảm lãi suất:
Hiệu ứng thu nhập, mức giá và
Trang 9- Trong ngắn hạn: nên tăng tốc độ tăng tiền.
- Trong dài hạn: nên cắt giảm tốc độ tăng tiền
Hiệu ứng thanh khoản nhỏ hơn hiệu ứng lạm phát dự kiến và sự điều chỉnh nhanh chóng của lạm phát dự kiến:
Muốn cắt giảm lãi suất thì phải cắt giảm tốc độ tăng tiền
Trong thực tế, việc tăng cung tiền làm lãi suất tăng hay giảm phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ điều chỉnh của kỳ vọng vào lạm phát Trong những nghiên cứu mới đây cho thấy rằng sự gia tăng trong tốc độ tăng tiền tạm thời làm giảm lãi suất ngắn hạn.
Sau đây xin lấy một vài minh chứng về sự biến động của lãi suất ở Việt Nam trong những năm gần đây và một phần nội dung của bài học là mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất:
Câu chuyện được đề cập vào tháng 10/2011, là thời điểm mà Lạm phát tại Việt Nam chậm lại một chútnhưng vẫn ở mức cao nhất châu Á Câu chuyện căng thẳng về lạm phát - lãi suất đã diễn ra trong 3 - 4năm qua
Lãi suất tín dụng (cả huy động và cho vay) đều là giá vốn vay, cho nên giữa lãi suất và lạm phát có
quan hệ nhân quả, trong đó lạm phát là nhân, lãi suất là quả, cũng là biểu hiện lạm phát trong lĩnh
vực tín dụng
Mặc dù tháng 3/2011, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ra thông tư quy định trần lãi suất huy động14%/năm, nhưng vì lẽ sống còn, trong nhiều tháng các ngân hàng (NH) thương mại đua nhau vượttrần, có trường hợp lên tới 18%, 19%
Lãi suất huy động tăng cao như thế đẩy lãi suất cho vay cũng tăng lên, có trường hợp lên tới 24 - 25%.Nếu kinh doanh dựa vào vốn vay, lãi của phần lớn doanh nghiệp không đủ trả lãi vốn đi vay Bão lãi
suất đang đe dọa sự ổn định hệ thống NH và nền kinh tế Giảm lãi suất đã trở thành một vấn đề rất
nóng.
Trần lãi suất huy động 14% so với trước tuy đã rất cao, nhưng ngay vào thời điểm ban hành đã là một
lãi suất âm, vì lạm phát năm 2010 đã là 11,75%, lại phải cộng thêm 3,83% của tháng 1 và 2/2011.
Thêm nữa lãi suất trần là một con số tĩnh, còn lạm phát lại là một con số động và năm 2011 lại độngmạnh hơn Đối với các NH thương mại, lãi suất huy động âm là một nguy cơ, có thể làm cho NH “hếttiền”, bởi khách gửi tiền đâu có ngồi yên nhìn giá trị đồng tiền của mình ở NH cứ hao mòn mãi
Nếu cảm thấy không ổn, họ sẽ chuyển tiền gửi từ NH sang các hầm trú ẩn khác an toàn hơn (vàng,ngoại tệ, bất động sản, chứng khoán)
Để giữ chân khách, cũng là tự cứu, các NH không bảo nhau nhưng cùng tìm mọi cách duy trì bằngđược lãi suất dương, kể cả vượt trần
Tuy nhiên, đến tháng 8/2011, lạm phát đã bắt đầu hạ nhiệt, chỉ 0,93% và tháng 9 chỉ là 0,82% CPItháng 10 chỉ tăng 0,36% so với tháng trước, nên sau 10 tháng, lạm phát đang ở mức 17,05%, tăng nhẹ
so với con số 16,63% của 9 tháng
Như vậy, lạm phát đã giảm tốc trong hai tháng liên tiếp, một yếu tố giúp giảm áp lực đối với các NH
trung ương khỏi phải tăng thêm lãi suất Với trần 14%/năm, bình quân tháng sẽ là 1,1666%.
Khi lạm phát tháng xuống dưới mức 1% có nghĩa là trần lãi suất bình quân tháng lại đã trở về sốdương, áp lực buộc NH vượt trần không còn căng như những tháng trước Đã có thể bình tĩnh hơn đểbàn về cái trần lãi suất này
Khi giảm lãi suất huy động đã được coi là một mục tiêu cấp bách, tất phải áp dụng các biện pháp ứngphó Nhưng biện pháp quy định trần lãi suất mà NHNN đã áp dụng lại thể hiện sự lẫn lộn giữa mụctiêu (mong muốn chủ quan của nhà quản lý) với biện pháp (những việc phải làm để giảm và xóa bỏnguyên nhân lãi suất tăng)
Cũng như các giá cả khác, lãi suất tăng (giảm) là do các quy luật kinh tế khách quan chi phối Sở dĩ các
NH đua nhau vượt trần lãi suất, bởi không làm thế thì họ sẽ đóng cửa vì “hết tiền”
Cho nên đối với các NH, phải coi đó là bất đắc dĩ Cho nên một khi trần lãi suất đã quy định và yêu cầuthực thi nghiêm, cần mở cho NH một lối thoát Nếu qua thị trường mở và với lãi suất 14% hoặc thấphơn, NH có thể tìm được nguồn vốn cần có để cho vay, chắc chắn họ sẽ chấm dứt ngay hành vi vượttrần
Với chức năng quản lý nhà nước, NHNN có thể (tuy có phần khiên cưỡng) dùng biện pháp hành chínhnhư đã làm Nhưng NHNN lại có chức năng là NH Trung ương, tức là có những công cụ kinh tế mà
Trang 10các cơ quan quản lý nhà nước khác không thể có, đó là những công cụ điều hòa lưu thông tiền tệ,
gồm cả lãi suất, trên thị trường mở.
Cho nên vấn đề đặt ra là NHNN cần và có thể sử dụng các biện pháp hành chính và biện pháp kinh
tế trong sự kết hợp và hỗ trợ nhau Nếu biện pháp hành chính không đủ hiệu lực thì đã có biện pháp
kinh tế hỗ trợ hoặc ngược lại Do thiếu sự hỗ trợ của thị trường mở, NH buộc phải vượt trần, một
hành vi tuy là vi phạm nhưng lại có yếu tố giảm nhẹ
Nhiều người thường nghĩ nguồn cung tiền cho NH chỉ là dân và doanh nghiệp, mà không nghĩ rằng thịtrường mở nằm trong tay NHNN cũng là một nguồn bổ sung quan trọng, có khi có vai trò quyết định.Cho nên thực thi trần lãi suất huy động không chỉ là việc của các NH thương mại, mà còn của cảNHNN Trần lãi suất huy động cần áp dụng cả trên thị trường mở
Điều đáng mừng là dường như NHNN đã rút được kinh nghiệm, nên tại cuộc họp với 12 NH thươngmại lớn nhất tháng 9 vừa qua, NHNN đã đề cập tới sử dụng thị trường mở như những biện pháp giảmlãi suất, đồng thời khuyến khích các NH giảm lãi suất cho vay xuống còn khoảng 17 - 19%, nhưng lạivẫn nhấn mạnh thực thi trần lãi suất huy động 14% và cảnh báo xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.Thực ra khi lạm phát tháng đã dưới 1%, lại có sự hỗ trợ của thị trường mở, hành vi vượt trần chắc chắn
sẽ không xảy ra Do lạm phát với lãi suất có quan hệ nhân quả.
Nếu lạm phát còn tăng thì lãi suất chưa thể giảm Nhắc lại nguyên lý này cũng là nhắc lại tác động
khách quan của lãi suất đối với lạm phát: lãi suất huy động giảm sẽ hạn chế cung vốn từ dân và doanhnghiệp, còn lãi suất cho vay giảm, các doanh nghiệp sẽ có thể vay vốn nhiều hơn, cầu vốn sẽ tăng
Cung cầu vốn sẽ mất cân đối hơn, lạm phát sẽ tăng, chứ không thể giảm Cho nên giảm lãi suất chỉ có
thể trở thành hiện thực khi lạm phát hạ nhiệt.
Tình hình này đã xuất hiện từ tháng 8/2011 Nếu từ nay, lạm phát tính theo tháng được duy trì ở mứcdưới 1% và lạm phát tính theo năm hạ xuống một con số như kỳ vọng, hoàn toàn có khả năng áp dụngtrần lãi suất huy động 14% và có thể thấp hơn, và kéo lãi suất cho vay xuống tới mức 17 - 19% hoặcthấp hơn
Cần thấy rằng cuộc chiến giảm lãi suất là một bộ phận của cuộc chiến chống lạm phát Nếu lạm
phát tính theo tháng lại vọt lên cao hơn 1,1666%, thậm chí tới 2 - 3% như tháng 2 và 3/2011, các NHthương mại sẽ đứng trước hai tình huống: 1) Nếu chấp hành nghiêm trần lãi suất 14%, có nguy cơ “hếttiền” và đóng cửa 2) Nguy cơ trên sẽ không xảy ra, nếu được NHNN tiếp vốn thông qua thị trường mởvới lãi suất tối đa 14%
Như vậy rõ ràng như đã chỉ ra trong hiệu ứng Fisher, lãi suất và lạm phát có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, muốn giảm lãi suất thì cần phải kiểm soát lạm phát Bên cạnh đó, một vấn đề rất quan trọng nữa là cần phải phát triển các công cụ kinh tế khác như thị trường mở nhằm hỗ trợ đắc lực cho các công cụ hành chính trong việc giải quyết những vấn đề này Nói chung, bài toán về lãi suất là bài toán khó nhưng không phải không có cách giải quyết
III - LÝ THUYẾT CẤU TRÚC LÃI SUẤT
Chúng ta vừa tìm hiểu hành vi của lãi suất, đó là sự thay đổi của lãi suất thông qua việc phântích cung cầu trên 2 thị trường, thị trường trái phiếu và thị trường tiền tệ Giả định trong phần hành vicủa lãi suất là chỉ có 1 loại trái phiếu và 1 loại lãi suất duy nhất trong nền kinh tế Trong khi đó, trênthực tế có rất nhiều loại trái phiếu và lãi suất do các loại trái phiếu này tạo ra là khác nhau Do đó, phần
lý thuyết cấu trúc lãi suất này giúp hoàn chỉnh bức tranh về lãi suất bằng cách nghiên cứu mối quan hệgiữa các lãi suất khác nhau ứng với các trái phiếu khác nhau
Cấu trúc lãi suất gồm 2 phần: Cấu trúc rủi ro của lãi suất và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất
1 CẤU TRÚC RỦI RO CỦA LÃI SUẤT:
Cấu trúc rủi ro của lãi suất thể hiện mối quan hệ giữa các lãi suất thu được từ trái phiếu có ngàyđáo hạn như nhau Cấu trúc này được lý giải bởi 3 yếu tố: rủi ro vỡ nợ, tính thanh khoản và các cânnhắc về thuế thu nhập đánh vào lãi suất trái phiếu
1.1 Rủi ro vỡ nợ:
Một thuộc tính của trái phiếu ảnh hưởng đến lãi suất của nó là rủi ro vỡ nợ Hiện tượng vỡ nợxảy ra khi người phát hành trái phiếu không có khả năng hoặc không sẵn sàng thanh toán tiền lãi đãhứa, hoặc họ không hoàn trả được mệnh giá khi trái phiếu đến ngày đáo hạn Trái phiếu của công ty có
Trang 11rủi ro vỡ nợ cao trong khi trái phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro vỡ nợ (VD Trái phiếukho bạc Mỹ: Chính phủ Liên bang Mỹ luôn có thể tăng thuế để hoàn trả các khoản nợ của mình)
Để xem xét ảnh hưởng của rủi ro vỡ nợ đối với lãi suất, ta quan sát đồ thị ở hình 10:
Giả sử ban đầu mức RR vỡ nợ của TP công ty bằng đúng mức RR vỡ nợ của TP kho bạc, ngàyđáo hạn 2 loại TP này như nhau Giá cân bằng và lãi suất ban đầu của chúng lần lượt: PC 1= P T 1, i C 1= i T 1,phần thưởng rủi ro cho TP công ty = 0
Nếu khả năng vỡ nợ tăng do công ty bắt đầu phải chịu các khoản lỗ lớn, RR vỡ nợ của TP công
ty sẽ tăng và lợi tức dự kiến thu được từ những TP này sẽ giảm Ngoài ra, lợi tức của TP công ty cũng
sẽ không chắc chắn Do lợi tức dự kiến thu được từ TP công ty giảm tương đối so với lợi tức dự kiếnthu được từ TP kho bạc không vỡ nợ, trong khi mức rủi ro tương đối của nó tăng, nên nhà đầu tưkhông muốn nắm giữ TP công ty bằng TP kho bạc => Ảnh hưởng đến cầu TP
Cầu TP công ty giảm => đường cầu của nó dịch chuyển sang trái từ DC 1 đến D C 2, đồng thời nhàđầu tư chuyển sang muốn nắm giữ TP kho bạc nên đường cầu của nó dịch chuyển sang phải từ DT 1 đến
DT 1 Lúc này giá cân bằng của TP công ty giảm từ P C 1 đến P C 2, lãi suất cân bằng của TP công ty tăng từ
iC 1 đến i C 2 Đồng thời trên thị trường TP kho bạc thì ngược lại, giá cân bằng tăng và lãi suất cân bằnggiảm
(P trên trục tung bên trái tăng khi chúng ta di chuyển lên phía trên, i trên trục tung bên phải tăng khi chúng ta di chuyển xuống phía dưới trục)
Khoảng chênh lệch lãi suất từ iC 2 đến i T 2 chính là phần thưởng rủi ro cho TP công ty.
Phần thưởng rủi ro (phần chênh lệch lãi suất của 2 loại TP): cho biết lãi suất cần tăng thêm
bao nhiêu để mọi người sẵn sàng nắm giữ TP có RR vỡ nợ cao hơn thay vì nắm giữ TP không có RR
Kết luận: TP có rủi ro vỡ nợ luôn luôn đem lại phần thưởng rủi ro dương, và rủi ro vỡ nợ càng lớn (khoảng chênh lệch lãi suất càng lớn) thì phần thưởng rủi ro càng cao.
kể của rủi ro mặc định cho trái phiếu Baa làm cho mong muốn có Baa giảm đi tại bất cứ mức lãi suấtnào đưa ra => lượng cầu về Baa giảm và đường cầu của nó dịch chuyển sang trái Như đã thể hiệntrong bảng (a) của hình 2 (Sách Tiếng Anh, trang 162) lãi suất của trái phiếu Baa sẽ tăng lên, sự thậtđiều đó đã xảy ra Lãi suất trái phiếu Baa tăng gần 280 điểm cơ bản (2.8% điểm) từ 6,63% tại cuốitháng 7/2007 đến 9,43% vào giai đoạn độc nhất của khủng hoảng tài chính toàn cầu trong giữa tháng
Trang 1210 năm 2008 Trái phiếu kho bạc tương đối hấp dẫn hơn và đường cầu về trái phiếu kho bạc dịchchuyển sang phải – một kết quả được mô tả bởi những nhà phân tích như là một “chuyến bay đến chấtlượng” Cũng như phân tích của chúng tôi dự đoán trong hình 2 (figure 2, sách tiếng Anh, trang 162),lãi suất trái phiếu kho bạc giảm 80 điểm cơ bản, từ 4,78% tại cuối tháng 7/2007 xuống 3,98% vào giữatháng 10/2008 Chênh lệch lãi suất của Baa và trái phiếu kho bạc gần 360 điểm cơ bản, từ 1,85% trướckhủng hoảng đến 5,45% sau khủng hoảng.
Chênh lệch lãi suất tăng, phần thưởng rủi ro tăng
(Subprime mortgage market): Một dạng cho vay thế chấp được thực hiện đối với người vay có xếp
hạng tín dụng thấp Do người vay có xếp hạng tín dụng dưới tiêu chuẩn, nên họ không được vay nhữngkhoản vay thông thường Việc này cũng dễ hiểu bởi vì bên cho vay cho rằng bên đi vay có rủi ro vỡ
nợ cao hơn mức trung bình Những tổ chức cho vay (nhà đầu tư) thường yêu cầu mức lãi suất cao hơn
thông thường để bù lại việc họ phải gánh rủi ro cao hơn Sự sụp đổ của thị trường nợ dưới tiêu
chuẩn hồi tháng 8/2007 đã biến thành một cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính Mỹ và lan rộng
ra thế giới
1.2 Tính thanh khoản:
Một thuộc tính khác của TP cũng ảnh hưởng đến lãi suất của nó là tính thanh khoản TS có tínhthanh khoản cao là TS có thể chuyển đổi 1 cách nhanh chóng (với chi phí thấp) thành tiền mặt khi cần.Khi các yếu tố khác không đổi, TS nào có tính thanh khoản càng cao thì nó càng được mong muốn TPkho bạc là loại TS có tính thanh khoản cao, được mua bán nhiều với chi phí thấp Trong khi TP công tykhông được như vậy, bởi vì TP của bất kỳ công ty nào cũng có khối lượng giao dịch ít hơn, khi muốnbán thì khó tìm được người mua 1 cách nhanh chóng
Để trả lời câu hỏi: Sự thay đổi tính thanh khoản của TP ảnh hưởng đến lãi suất của nó như thế nào,
ta phân tích cung – cầu ở hình 10 (phía trên) Giả sử ban đầu 2 loại TP có tính thanh khoản bằng nhau,các thuộc tính khác giống nhau PC 2= P T 2 và i C 2= i T 2 Nếu TP công ty trở nên có tính thanh khoản thấphơn TP Kho bạc do nó được mua bán ít hơn, theo lý thuyết cầu về tài sản cho thấy, đường cầu của nódịch chuyển sang trái, từ… TP kho bạc giờ đây trở nên có tính thanh khoản cao hơn 1 cách tương đối
so với TP công ty, nên đường cầu của nó dịch chuyển sang phải từ…
Giá TP công ty có tính thanh khoản thấp hơn thì giảm, lãi suất của nó tăng Ngược lại giá TPkho bạc có tính thanh khoản cao hơn thì tăng, lãi suất của nó giảm
Kết quả: Chênh lệch lãi suất tăng => Phần thưởng cho tính thanh khoản tăng
Kết luận: Tính thanh khoản của TP công ty càng thấp so với TP kho bạc thì chênh lệch/khoảng biến thiên lãi suất thu được từ 2 loại TP này càng cao)
(Phần thưởng rủi ro không chỉ phản ánh RR vỡ nợ của TP công ty, mà còn phản ánh cả tính thanhkhoản.)
1.3 Cân nhắc về thuế thu nhập:
Để tìm hiểu tác động của thuế thu nhập đối với lãi suất TP, ta phân tích cung – cầu TP qua 2 thịtrường: Trái phiếu địa phương và trái phiếu kho bạc TP địa phương có rủi ro vỡ nợ cao hơn, tính thanhkhoản thấp hơn TP kho bạc
Giả sử ban đầu TP địa phương và TP kho bạc có các thuộc tính giống nhau, tuy nhiên lãi suất
TP địa phương thấp hơn TP kho bạc, vì các khoản thanh toán lãi suất của TP địa phương được miễnthuế thu nhập liên bang (phần gúc vấn đề cô có nói rõ hơn) => cầu TP địa phương tăng, vì lợi tức dựkiến sau thuế của nó cao hơn TP kho bạc nên được mong muốn nhiều hơn => đường cầu dịch chuyểnsang phải, giá cân bằng tăng, lãi suất cân bằng giảm Ngược lại đối với TP kho bạc, cầu giảm, đườngcầu sang trái, giá giảm, lãi suất tăng
Trang 13Kết quả: Lãi suất TP địa phương thấp hơn và lãi suất TP kho bạc cao hơn Đây là nguyên nhântại sao TP địa phương có rủi ro vỡ nợ cao, tính thanh khoản thấp hơn TP kho bạc nhưng lãi suất của nó
có thể thấp hơn TP kho bạc
Vận dụng: Chinh sách thuế ở Mỹ
- G.W Bush ( 2001 – 2009): giảm thuế cho người có thu nhập cao (thu nhập > 250.000
USD/năm) từ 39% xuống 35%.
→Lợi tức kì vọng sau thuế của trái phiếu thành phố sẽ thấp hơn so với trái phiếu kho bạc
- Trái phiếu địa phương: Lượng cầu giảm, đường cầu dịch chuyển sang trái, giá giảm và lãi suất tăng
- Trái phiếu kho bạc: Lượng cầu tăng, đường cầu dịch chuyển sang phải, giá tăng và lãi suất giảm
Kết quả của việc cắt giảm thuế thu nhập là sự gia tăng lãi suất trái phiếu địa phương so với lãi suất trái phiếu kho bạc
- B H Obama ( 2010 – nay): Xóa bỏ việc cắt giảm thuế suất thuế thu nhập cho người có thu
nhập cao
→ Lợi tức kì vọng sau thuế của trái phiếu thành phố sẽ cao hơn so với trái phiếu kho bạc
- Trái phiếu địa phương: Lượng cầu tăng, đường cầu dịch chuyển sang phải, giá tăng và lãi suất giảm
- Trái phiếu kho bạc: Lượng cầu giảm, đường cầu dịch chuyển sang trái, giá giảm và lãi suất tăng.Kết quả của việc cắt giảm thuế thu nhập là sự thấp hơn của lãi suất trái phiếu địa phương so với lãi suất TP kho bạc
2 CẤU TRÚC KỲ HẠN CỦA LÃI SUẤT:
Chúng ta đã thấy rủi ro, tính thanh khoản và các cân nhắc về thuế (gọi chung là cấu trúc rủi rocủa lãi suất) có thể tác động tới lãi suất Yếu tố khác ảnh hưởng tới lãi suất thu được từ một trái phiếu
là thời gian tới ngày đáo hạn của nó: các trái phiếu với mức rủi ro, tính thanh khoản và cách xử lý thuế
Lợi tức thực tế thu được:
8$
Lợi tức thực tế thu được:
6.5$
Trang 14như nhau có thể có lãi suất khác nhau bởi vì kỳ hạn khác nhau Để lý giải được điều này có ba lýthuyết: lý thuyết kỳ vọng, lý thuyết thị trường bị phân khúc và lý thuyết phần bù thanh khoản
Đường cong lãi suất thu được từ trái phiếu với thời gian tới ngày đáo hạn khác nhau, nhưng rủi
ro, tính thanh khoản và các cân nhắc về thuế như nhau được gọi là đường cong lãi suất Nó mô tả cấutrúc kỳ hạn của lãi suất cho các trái phiếu cụ thể, chẳng hạn trái phiếu chính phủ Các đường cong lợisuất được phân loại thành đường dốc lên, đường phẳng và đường dốc xuống Khi các đường cong lợisuất dốc lên, lãi suất dài hạn cao hơn lãi suất ngắn hạn Khi các đường cong lãi suất phẳng, lãi suấtngắn hạn và lãi suất dài hạn bằng nhau, còn khi các đường cong lãi suất dốc xuống, lãi suất dài hạnthấp hơn lãi suất ngắn hạn
Tuy nhiên để nắm được điều này chúng ta đi vào thực nghiệm Qua 2 đồ thị chúng ta rút ra 3nhận xét:
1 Lãi suất thu được từ trái phiếu với ngày đáo hạn khác nhau biến động cùng nhau theo thời gian
2 Khi LS ngắn hạn thấp, các đường cong lãi suất có nhiều khả năng dốc lên và ngược lại khi LSngắn hạn cao, các đường cong lãi suất có nhiều khả năng dốc xuống
3 Các đường cong lãi suất hầu như luôn dốc lên
Ba lý thuyết được đưa ra để lý giải cấu trúc kỳ hạn của lãi suất, tức mối quan hệ giữa các lãisuất thu được từ trái phiếu với ngày đáo hạn khác nhau được phản ánh lại bằng hình dạng của cácđường cong lãi suất Đó là lý thuyết kỳ vọng, lý thuyết thị trường bị phân khúc và lý thuyết phần bùthanh khoản Lý thuyết kỳ vọng lý giải được bằng chứng thực nghiệm thứ nhất và thứ hai nhưng không
lý giải được bằng chứng thực nghiệm thứ 3 Lý thuyết thị trường bị phân khúc lý giải được bằng chứngthực nghiệm thứ 3 nhưng không lý giải được 2 bằng chứng thực nghiệm đầu Do mỗi lý thuyết lý giảiđược thực tế này mà không lý giải được thực tế kia nên đương nhiên là khi tìm kiếm hiểu biết tốt hơn
về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất chúng ta phải kết hợp các thuộc tính của cả 2 lý thuyết lại với nhau vàđiều này dẫn tới lý thuyết phần bù cho tính thanh khoản – lý giải được cả 3 bằng chứng thực nghiệm.Như vậy, tại sao chúng ta phải mất thời gian thảo luận 2 lý thuyết kia? Có 2 nguyên nhân:
Thứ nhất, các ý tưởng trong 2 lý thuyết này tạo ra mô hình cơ sở lý thuyết phần bù thanh
khoản
Thứ hai, nó có ý nghĩa quan trong trong việc tìm hiểu xem các nhà kinh tế thay đổi lý thuyết
của mình như thế nào để cải thiện chúng khi họ thấy rằng các kết quả dự báo không phù hợp với bằngchứng thực nghiệm
Trang 15Hiện nay
0
Năm 1
Năm 2
i2t =
it + ie, t+1 2
ie, t+1 : Lãi suất thời kỳ t+1 của TP 1 thời kỳ
i2t : Lãi suất thời kỳ t của TP 2 thời kỳ
2.2 LÝ THUYẾT THỊ TRƯỜNG BỊ PHÂN KHÚC:
Giả định:
Nhà đầu tư không quan tâm đến lợi tức mà quan tâm tới ngày đáo hạn Lợi tức dự kiến từ việcnắm giữ 1 TP có ngày đáo hạn nhất định không ảnh hưởng đến nhu cầu về TP có ngày đáo hạn khác:không phải hàng hóa thay thế cho nhau
Nội dung:
- Các dạng đường cong lãi suất khác nhau do khác biệt trong cung và cầu gắn với các TP có ngày đáohạn khác nhau
- TP dài hạn có mức giá thấp hơn và lãi suất cao hơn => đường cong lãi suất có xu hướng dốc lên
Giả sử ban đầu thị trường trái phiếu ngắn hạn và dài hạn cân bằng ở mức Ps 1, lãi suất i s 1 và P l 1 vàlãi suất il 1 Nhà đầu tư có xu hướng muốn nắm giữ trái phiếu ngắn hạn hơn dài hạn vì nó ít rủi ro hơnnên cầu về trái phiếu ngắn hạn tăng: đường cầu dịch chuyển sang phải, cầu về trái phiếu dài hạn giảm,đường cầu dịch chuyển sang trái nên tạo ra sự chênh lệch trong lãi suất Kết quả là lãi suất trái phiếudài hạn cao hơn lãi suất trái phiếu ngắn hạn do đó đường cong lãi suất có xu hướng dốc lên
2.3 LÝ THUYẾT PHẦN BÙ THANH KHOẢN:
Lý thuyết phần bù thanh khoản:
Lãi suất của TP dài hạn bằng số bình quân của lãi suất ngắn hạn được dự kiến xảy ra trong vòngđời TP dài hạn cộng với phần bù thanh khoản
Phần thưởng do nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu dài hạn: l nt
Mối quan hệ giữa Lý thuyết phần thưởng thanh khoản, ưa thích kỳ hạn và Lý thuyết kỳ vọng
Lãi suất
Trang 16Lãi suất
int
Đường cong lãi suất của LT phần thưởng cho tính thanh khoản, ưa thích kỳ hạn
Phần thưởng cho tính thanh khoản
lnt
Đường cong lãi suất của thuyết kỳ vọng
Số năm tới ngày đáo hạn, n
- Đường cong lãi suất của lý thuyết kỳ vọng là đường nằm ngang, lãi suất trong dài hạn bằng trungbình của lãi suất trong ngắn hạn
- Đường cong lãi suất của lý thuyết phần bù thanh khoản cao hơn và dốc hơn vì nó có thêm phầnthưởng cho tính thanh khoản và phần thưởng này sẽ tăng theo thời gian tới ngày đáo hạn
VẬN DỤNG
Ý nghĩa của các đường cong lãi suất trong thời kỳ 1980-2011
Các đường cong lãi suất của trái phiếu chính phủ Mỹ trong những năm gần đây
Đường cong lãi suất cho biết sự mong đợi của công chúng về những biến động trong tương laicủa lãi suất ngắn hạn
Sự dốc ngược của đường cong lãi suất vào ngày 15/1/1981 chỉ ra rằng lãi suất ngắn hạn đượcmong đợi sẽ sụt giảm rõ rệt trong tương lai Để lãi suất dài hạn với mức thưởng thanh khoản chắc chắncủa chúng thì thấp hơn so với lãi suất ngắn hạn; lãi suất ngắn hạn phải mong đợi giảm rõ rệt so vớimức trung bình của chúng, thấp hơn xa so với lãi suất ngắn hạn hiện tại Vì thế, sự mong đợi của côngchúng về sự thấp hơn rõ ràng của lãi suất ngắn hạn thể hiện rõ ràng trong đường cong lãi suất đượcnhận ra ngay sau ngày 15/1; trước tháng ba, lãi suất trái phiếu kho bạc kì hạn 3 tháng đã giảm từ 16%xuống 13%
Những đường cong lợi suất dốc lên trên vào ngày 28/3/1985 và 11/7/2011 đã chỉ ra rằng lãi suấtngắn hạn sẽ tăng lên trong tương lai Lãi suất dài hạn sẽ cao hơn lãi suất ngắn hạn khi đó lãi suất ngắnhạn được mong đợi sẽ tăng bởi vì cộng thêm mức thưởng thanh khoản trung bình của chúng sẽ caohơn lãi suất ngắn hạn hiện tại Những đường lợi tức dốc lên vừa phải vào ngày 16/3/1980 và 3/3/1997chỉ ra rằng lãi suất ngắn hạn được mong đợi không tăng hoặc không giảm trong tương lai gần Trongtrường hợp này, lãi suất trung bình của chúng duy trì giống mức lãi suất hiện tại và phần thưởng cótinh thanh khoản chắc chắn cho trái phiếu dài hạn giải thích mức tăng vừa phải của đường lợi tức.Đường cong lãi suất nằm ngang vào ngày 6/2/2006 chỉ ra rằng lãi suất ngắn hạn được mong đợi giảmnhẹ
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1 Thị trường tài chính có những loại thị trường nào? Và trong thị trường vốn thì hành vi lãi suất như thế nào?
Thị trường tài chính bao gồm những loại thị trường nào thì còn tuỳ thuộc vào tiêu thức xem xét.Nếu căn cứ vào thời hạn vận động của vốn trên thị trường thì người ta chia thị trường thành hai loại thịtrường là thị trường vốn và thị trường tiền tệ Và linh hồn của thị trường vốn, hạt nhân của thị trườngvốn là thị trường chứng khoán Theo quá trình luân chuyển vốn: thịt trường sơ cấp và thị trường thứccấp Hành vi của lãi suất trong thị trường vốn là hành vi của lãi suất trong thị trường trái phiếu
2 Tại sao Miskin lại chọn thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu để nghiên cứu về lãi suất?
Trang 17- Lãi suất là gì? Lãi suất là giá cả của việc sử dụng một số tiền vay trong một thời gian nhất định Mà
phát hành trái phiếu là để đi vay -> xem xét trên thị trường trái phiếu
- Công cụ để Ngân hàng Trung Ương thực hiện chính sách tiền tệ: lãi suất chiết khấu, thị trường mở và
dự trữ bắt buộc Và các công cụ đó thực hiện trên thị trường nào? Lãi suất: trên thị trường tiền tệ, thịtrường mở: trên thị trường tiền tệ Và thông qua lãi suất điều chỉnh cung, cầu tiền tệ
3 Tại sao đồ thị thể hiện biến động của lãi suất thu được từ các trái phiếu có ngày đáo hạn khác nhau mà lãi suất lại biến động cùng nhau?
Đối với cấu trúc rủi ro của lãi suất xem xét tại sao những trái phiếu cùng kỳ hạn nhưng lãi suất lại khácnhau, thì chính cái lý thuyết cấu trúc rủi ro lãi suất nó sẽ giải thích cho chúng ta biết điều đó; Như vậy
sở dĩ các trái phiếu có kỳ hạn giống nhau nhưng lãi suất lại khác nhau là do ảnh hưởng bởi rủi ro vỡ
nợ, bởi thuế; Cấu trúc kỳ hạn và lãi suất xem xét tại sao có những trái phiếu giống nhau như vậy: rủi ro
vỡ nợ , tính thanh khoản…nhưng lại có lãi suất khác nhau là bởi vì kỳ hạn khác nhau và để giải thíchđiều này thì có 3 lý thuyết: lý thuyết kỳ vọng, lý thuyết thị trường bị phân khúc, lý thuyết phần bùthanh khoản
- Đường cong lãi suất hầu như là dốc lên
3 nhận xét này sẽ được giải thích bởi 3 lý thuyết trên trong cấu trúc kỳ hạn của lãi suất
+ Với lý thuyết kỳ vọng thì nó giải thích được cái nhận định 1 và 2 nhưng không giải thích được cáithứ 3
+ Trong khi thị trường bị phân khúc thì giải thích được cái thứ 3 mà không giải thích được cái 1 và2
+ Còn lý thuyết phần bù thanh khoản thì giải thích được cả 3 (xem lại trang 169 sách Mishkin).Như vậy câu hỏi được đặt ra là tại sao lý thuyết thứ 3 giải thích được cả 3 cái thì tại sao phải xem xét 2
lý thuyết kỳ vọng và thị trường bị phân khúc?
4 Liên quan đến cấu trúc rủi ro của các trái phiếu, khi chính phủ bảo lãnh cho các trái phiếu của các doanh nghiệp thì cấu trúc rủi ro của chính phủ và của doanh nghiệp thay đổi như thế nào?
Khi chính phủ tuyên bố sẽ bảo lãnh cho TP công ty thì rủi ro thanh toán và rủi ro vỡ nợ của TPcông ty sẽ giảm => giá TP công ty sẽ tăng, lãi suất TP sẽ giảm
Bên cạnh đó chính việc làm này cũng có thể sẽ làm cho giá của TP chính phủ giảm trong trườnghợp chính phủ bảo lãnh cho 1 công ty có năng lực kinh doanh yếu kém VD: Việc Chính phủViệt Nam bảo lãnh tập đoàn Vinashin, rót vốn khủng, và sự thất bại của Vinashin, quốc tế sẽđánh giá năng lực quản trị tài chính công của quốc gia rất thấp, kiểm toán nhà nước có vấn đề
=> họ sẽ hạ bậc hệ số tín nhiệm khi muốn cho VN đó vay => VN sẽ vay vốn quốc tế với lãi suấtvay cao hơn
5 Nếu như nói lãi suất là công cụ để điều tiết, phân phối thu nhập quốc dân, phân phối lãi suất thặng dư và là phương tiện để hạ giá thành sản phẩm thì đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nó có thích hợp không? Và tại sao?
Tóm lại lãi suất là công cụ thu nhập quốc dân hay là phương tiện hạ giá thành sản phẩm Nhưngviệc sử dụng nó như thế nào có hiệu quả hay là không lại là tùy vào điều kiện cụ thể
6 Lãi suất và tỷ suất lợi tức khác nhau như thế nào?
1 người sở hữu trái phiếu nói riêng và chứng khoán nói chung họ sẽ có 2 nguồn thu nhập; nguồnthứ 1 là tiền lãi do chủ thể phát hành trả => lãi suất; nguồn thứ 2 là do chứng khoán đó tăng giá,nguồn thứ 1 + nguồn thứ 2 tạo nên tỷ suất lợi tức Nếu chứng khoán không tăng giá thì lãi suất =
tỷ suất lợi tức
Các loại thông tin để đánh giá thị trường hiệu quả Nếu thị trường đó giá cả chứng khoán nó thểhiện đầy đủ thông tin quá khứ có liên quan thì chỉ ở mức yếu, cả thông tin quá khứ và hiện tạidạng công khai thì chỉ ở vừa còn được xem là mạnh khi tất cả thông tin quá khứ lẫn tương lai,
Trang 18cả công khai lẫn nội bộ được chuyển vào giá thực Trên thực tế thì hiếm có thị trường hiệu quảthực sự Vận dụng lý thuyết thị trường hiệu quả khi nào, khi bất kì thị trường nào khi mình thamgia vào đều phải xét xem thị trường đó đang ở dạng nào, mạnh vừa hay là yếu để mình cónhững hành vi hợp lý ( Ví dụ nếu mình đang tham gia vào thị trường dạng yếu nghĩa giá củacác sản phẩm những công cụ, dịch vụ trên thị trường chỉ phản ánh được thông tin quá khứ nếunhư tôi có lợi thế tôi có thông tin hiện tại thì tôi sẽ có lợi nhuận cao hơn người khác Còn nếu ởthị trường dạng trung bình đã thể hiện thông tin trong quá khứ lẫn hiện tại và công khai thì khi
đó nếu tôi có thông tin nội bộ thì tôi sẽ có lợi nhuận cao hơn người khác.)
KẾT LUẬN PHẦN HÀNH VI CỦA LÃI SUẤT:
- VỚI TƯ CÁCH LÀ NHÀ ĐẦU TƯ:
+ Khi lãi suất trên thị trường tiền tệ giảm, nhà đầu tư sẽ thích mua trái phiếu hơn => giá tráiphiếu tăng => lãi suất của trái phiếu phải giảm để đạt được trạng thái cân bằng thị trường + Khi lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng, nhà đầu tư sẽ muốn có nhiều tiền hơn để gửi, họ sẽbán trái phiếu => cung trái phiếu tăng => giá trái phiếu sẽ giảm => lãi suất trái phiếu phải tăng
để đạt được trạng thái cân bằng
- VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI ĐI VAY:
+ Khi lãi suất trên thị trường tiền tệ giảm, để huy động vốn họ sẽ thích vay tiền hơn là bán tráiphiếu => cung trái phiếu giảm => giá trái phiếu tăng => lãi suất của trái phiếu phải giảm để đạtđược trạng thái cân bằng thị trường
+ Khi lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng, để huy động vốn họ sẽ bán trái phiếu => cung tráiphiếu tăng => giá trái phiếu sẽ giảm => lãi suất trái phiếu phải tăng để đạt được trạng thái cânbằng
- VỚI TƯ CÁCH LÀ NGƯỜI CHO VAY:
+ Khi lãi suất trên thị trường tiền tệ giảm, họ thích mua trái phiếu hơn => cầu trái phiếu tăng =>giá trái phiếu tăng => lãi suất của trái phiếu phải giảm để đạt được trạng thái cân bằng thịtrường
+ Khi lãi suất trên thị trường tiền tệ tăng, họ thích cho vay tiền hơn, họ sẽ bán trái phiếu để cótiền => cung trái phiếu tăng => giá trái phiếu sẽ giảm => lãi suất trái phiếu phải tăng để đạtđược trạng thái cân bằng
KẾT LUẬN PHẦN CẤU TRÚC CỦA LÃI SUẤT:
- CẤU TRÚC CỦA LÃI SUẤT = CẤU TRÚC RỦI RO + CẤU TRÚC KỲ HẠN
LÃI SUẤT LÃI SUẤT
Cấu trúc rủi ro của lãi suất: các trái phiếu có cùng ngày đáo hạn nhưng có lãi suất khác nhau,
do bị tác động bởi 3 yếu tốsau: rủi ro vỡ nợ, tính thanh khoản và thuế thu nhập đánh vào lãi suấtcủa trái phiếu:
+ Khi rủi ro vỡ nợ của trái phiếu tăng, phần thưởng rủi ro của trái phiếu đó tăng (khoảngbiến thiên giữa lãi suất của nó là lãi suất thu được từ trái phiếu kho bạc không vỡ nợ tăng)
+ Tính thanh khoản của trái phiếu tăng thì lãi suất của nó sẽ thấp hơn so với lãi suất thuđược từ trái phiếu có tính thanh khoản thấp hơn
+ Nếu trái phiếu được trao quy chế ưu đãi về thuế, lãi suất của nó sẽ thấp
Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất: thể hiện qua 3 lý thuyết:
+ Lý thuyết kỳ vọng
+ Lý thuyết thị trường bị chia cắt
+ Lý thuyết phần bù thanh khoản
Các lý thuyết trên lý giải sự liên quan giữa các lãi suất thu được từ các trái phiếu có kỳ hạn & ngày đáohạn khác nhau
CHUYÊN ĐỀ 2: NGÂN HÀNG & QUẢN TRỊ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
1 NHTW – MỘT VIỄN CẢNH TOÀN CẦU
1.1 Hệ thống dự trữ Liên bang
Trang 191.1.1 Nguồn gốc ra đời của Hệ thống dự trữ LB:
Do người Mỹ không có lòng tin vào giới Ngân hàng và họ chống quyền lực tập trung, vì vậy họchống đối và chính điều này đã dẫn tới sự sụp đổ của 2 hệ thống Ngân hàng Một vấn đề đưa ra ở đây
là không có người cho vay cuối cùng Đến lúc này, họ cần có 1 NHTW, nhưng họ không muốn thànhlập 1 NHTW duy nhất như ở Anh và Chính phủ không được can thiệp quá sâu vào công việc củaNHTW Lúc nay, Quốc hội của Mỹ đã họp và đưa ra 1 đạo luật đó là Đạo luật về Quỹ dự trữ LiênBang năm 1913- văn bản tạo ra Hệ thống dự trữ Liên Bang với 12 ngân hàng dự trữ liên bang khu vực
1.1.2 Cấu trúc của Hệ thống dự trữ liên bang:
o NH dự trữ liên bang: là 1 tổ chức bán công (một phần là tư nhân, một phần là Chính
phủ), thuộc sở hữu của các NH thương mại tư nhân trong khu vực là thành viên của Hệ thống
Dự trữ Liên bang Các NH thành viên này đã mua mua cổ phiếu của NH Dự trữ Liên bangtrong khu vực( đây là yêu cầu để được chấp nhận là thành viên) vả mức cổ tức là 6%/ năm
o NH dự trữ liên bang gồm có:
06 Giám đốc: Do NH thành viên bầu Giám đốc chia thành 3 loại:
Nhóm A: do NH thành viên bầu ra, là các nhà NH chuyên nghiệp
Nhóm B: do NH thành viên bầu ra, là các vị lãnh đạo hàng đầu đại diện cho ngành công nghiệp, công nhân, ông nghiệp hoặc người tiêu dùng
Nhóm C: được hội đồng thống đốc bổ nhiệm, đại diện cho lợi ích công cộng (tức là
toàn quốc) Họ không được phép là công chức, công nhân hoặc cổ đông của các NH
è Đảm bảo các giám đốc của mỗi NH dự trữ liên bang đại diện cho tất cả các thể chế tồn tạitrong xã hội Mỹ
03 người: Do hội đồng thống đốc bổ nhiệm
è 09 giám đốc này bỏ phiếu bầu ra thống đốc ngân hàng khu vực mình và phải được hộiđồng thống đốc phê chuẩn
Trang 20o 12 NH dự trữ liên bang
Tham gia vào chính sách tiền tệ theo nhiều cách:
1 “Thiết lập” lãi suất chiết khấu
2 Họ quyết định ngân hàng nào có thể nhận được các khoản cho vay chiết khấu từngân hàng dự trữ liên bang
Trang 213 Bầu một trong các nhà ngân hàng thương mại trong khu vực làm thành viên củaHội đồng cố vấn liên bang
4 Năm trong số 12 thống đốc ngân hàng khu vức được quyền bỏ phiếu trong Ủy banthị trường tự do liên bang Trong đó có thống đốc của ngân hàng khu vực Niu Oóc và
4 thống đốc của các ngân hàng khu vực khác theo nguyên tắc luân phiên hàng năm
Thực hiện 8 chức năng:
1 Thanh toán séc
2 Phát hành tiền mới Rút các đồng tiền cũ nát ra khỏi lưu thông
3 Quản lý và thực hiện các khoản cho vay chiết khấu đối với những ngân hàng trongkhu vực của mình
4 Xem xét và đánh giá các vụ sáp nhập dự kiến và đơn mở rộng hoạt động của cácngân hàng
5 Đóng vai trò là người liên lạc giữa cộng đồng doanh nghiệp và hệ thống dự trữ liênbang
6 Giám sát các công ty nắm giữ ngân hàng và các ngân hàng thành viên thành lậptheo quy chế bang
7 Thu thập số liệu về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp ở địa phương
8 Sử dụng đội ngũ các nhà kinh tế chuyên nghiệp để nghiên cứu những đề tài liênquan đến chính sách tiền tệ
1.1.2.2 Hội đồng thống đốc:
o Cơ cấu tổ chức:
Gồm 7 người do tổng thống bổ nhiệm và hạ viện phê chuẩn
Làm việc 14 năm không tái nhiệm,
Là những người từ các khu vực khác nhau
o Chủ tịch hội đồng thống đốc:
Được chọn trong số 7 thống đốc
Làm việc trong thời hạn 4 năm để tránh ưu ái địa phương
Khi chủ tịch mới được chọn thì cũng chính là lúc chủ tịch cũ ra khỏi hội đồng thống đốc
o Thực thi chính sách tiền tệ
7 thống đốc là thành viên của FOMC và có quyền bỏ phiếu cho thực thi nghiệp vụ thịtrường mở
Hội đồng đặt ra tỷ lệ dự trữ bắt buộc và kiểm soát lãi suất chiết khấu
Chủ tịch hội đồng tư vấn cho tổng thống về chính sách kinh tế, điều trần trước Quốchội và là người phát ngôn của hệ thống dự trữ liên bang trước công chúng, đại diện chonước Mỹ trong các cuộc thương lượng cấp chính phủ về các vấn đề kinh tế
Hội đồng có một đội ngũ các nhà kinh tế chuyên nghiệp có nhiệm vụ tiến hành cácphân tích kinh tế mà hội đồng sử dụng để đưa ra các quyết định của mình
1.1.2.3 Ủy ban thị trường tự do Liên bang (FOMC): FOMC gồm:
o 7 thành viên của hội đồng thống đốc (chủ tịch hội đồng là chủ tịch FOMC)
è Họp 8 lần/năm: đưa ra quyết định liên quan đến thực thi nghiệp vụ thị trường mởnhằm tác động cơ sở tiền tệ
o Thống đốc ngân hàng dự trữ liên bang Niu Oóc
o Thống đốc của 4 ngân hàng dự trữ liên bang khác
è FOMC nhất thiết phải là tâm điểm cho quá trình hoạch định chính sách trong hệthống dự trữ liên bang
Trang 221.1.2.4 Ngân hàng thành viên ;
o Tất cả các NH quốc gia đều là thành viên của Hệ thống Dự trữ Liên bang
o Các NHTM theo quy chế bang không bắt buộc phải là thành viên,nhưng có thể tham giatheo nguyên tắc tự nguyện
NH thành viên: gửi dự trữ tại NH dự trữ liên bang và không được hưởng lãi
NH không là thành viên: Chấp hành tỷ lệ dự trữ do bang quy định và nắm giữ dựtrữ dưới dạng chứng khoán sinh lãi
Nhiều NH thành viên rời bỏ hệ thống
Năm 1987: Tất cả các NH:
phải gửi dự trữ bắt buộc
có thể tiếp cận dịch vụ của NH dự trữ liên bang như chiết khấu, thanh toán séc
Nguồn thu độc lập và lớn, và có quyền kiểm soát nói chung Tổng cục kế toán
và cơ quan kiểm toán của Chính phủ Liên bang không thể kiểm toán chính sách tiền
tệ hoặc các chức năng thị trường chuyển hối đoái của Fed
Fed chịu tác động
Quốc hội: làm ra luật về quỹ dự trữ liên bang
Thay đổi sự độc lập của Fed bất cứ lúc nào
Để Fed có trách nhiệm hơn với hoạt động của mình
Tổng thống:
Tác động vào Quốc hội
Trang 23 Bổ nhiệm thành viên Hội đồng thống đốc và chủ tịch mới của Hội đồngthống đốc
o Có nên để cho Fed độc lập?
Đặt Fed dưới sự kiểm soát của Quốc hội hay tổng thống có thể sử dụng Fed đểtài trợ cho thâm hụt ngân sách thông qua việc mua trái phiếu Kho bạc
Việc kiểm soát chính sách tiền tệ quá quan trọng nên không thể trao cho nhữngngười không đủ khả năng chuyên môn
Sự độc lập của Fed có thể tạo điều kiện cho nó theo đuổi các chính sách khônghợp lòng dân nhưng vẫn phù hợp với lợi ích công chúng
Chống lại sự độc lập:
Fed độc lập sẽ do 1 nhóm người kiểm soát không chịu trách nhiệm với ai vàkhông bị thay thế khi hoạt động không tốt
Quốc hội cũng biểu quyết cho những vấn đề dài hạn
Loại trừ sự chồng chéo hoặc trung hòa của chính sách tiền tệ và chính sách tàikhóa
Không phải lúc nào Fed cũng sử dụng có hiệu quả quyền tự do của mình
Fed có thể theo đuổi quyền lợi của một số người chứ không phải của công chúng
è Ai thích chính sách của Fedà ủng hộ Fed độc lập Ai không thích chính sách củaFedàchống lại sự độc lập của Fed
1.2 Lí giải hành vi của NHTW
Có hai quan điểm lý giải về hành vi của NHTW:
- Quan điểm thứ nhất là hành vi của NHTW phục vụ lợi ích công cộng
- Quan điểm thứ hai là hành vi của NHTW nhằm tối đa hóa phúc lợi riêng của nó, vì vậy nóluôn tìm cách để làm tăng sức mạnh và địa vị của nó Quan điểm này dự báo rằng Quỹ Dự Trữ LiênBang Mỹ sẽ đấu tranh không khoan nhượng để duy trì quyền tự trị của mình Dự báo này cũng đãđược kiểm chứng khi Fed liên tục chống lại các nỗ lực của Quốc hội nhằm kiểm soát ngân sách của
nó, và Fed đã rất thành công trong hoạt động vận động hành lang đối với giới ngân hàng và doanhnghiệp mỗi khi sự độc lập của nó bị đe dọa Môt dự báo khác là Fed sẽ tìm cách né tránh các cuộcxung đột với các tập đoàn hùng mạnh, có thể đe dọa thu hẹp quyền lực và quyền tự trị của nó, bằngchứng là nó đôi khi chậm trễ trong việc tăng lãi suất để tránh xung đột với Quốc hội và Tổng thống
và không làm minh bạch tất cả các hoạt động của nó Ngoài ra, Fed còn thường xuyên theo đuổi cácchiến dịch gia tăng quyền kiểm soát đối với các ngân hàng và kết quả là nó đã có được thẩm quyềnpháp lý trong việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho tất cả các ngân hàng chứ không phải chỉ cácngân hàng thượng mại thành viên
1.3 Cấu trúc & sự độc lập của NHTW Châu Âu
- Khi NHTW Châu Âu (ECB) ra đời năm 1999 thì Quỹ Dự Trữ Liên Bang Mỹ không còn làNHTW độc lập nhất thế giới Tổng dân số của các nước thành viên Liên minh tiền tệ Châu Âu thì
Trang 24hơn Hoa Kỳ và GDP thì xấp xỉ Hoa Kỳ Hiệp ước Maastricht đã tạo ra ECB và ESCB Ngân hàngtrung ương của mỗi quốc gia được gọi là NCB (NHTW quốc gia) có vai trò giống như ngân hàngLander Các quyết định được quyết định một cách tập trung bởi ECB và được thực hiện thông quacác NCB một cách phi tập trung
- Các tổ chức thuộc Liên minh Châu Âu: ESCB gồm ECB và NHTW của 27 nước thành viên
EU Mặt khác Eurosystem gồm ECB và NCB của 17 nước sử dụng đồng Euro ECB thuộc sở hữucủa 17 nước này và được thành lập ở trung tâm của ESCB và Eurosystem ECB có tư cách phápnhân theo luật quốc tế còn ESCB thì không ESCB và Eurosystem sẽ cùng tồn tại và đến khi nào cả
27 nước thành viên đều sử dụng đồng Euro thì hai tổ chức này sẽ hợp nhất
- Quá trình ra quyết định tại EMU diễn ra ở ba cấp: Hội đồng quản trị, Ban điều hành và Hộiđồng Trong đó, Hội đồng quản trị ra quyết định, Ban điều hành chịu trách nhiệm về thực hiện hằngngày các quyết định của Hội đồng quản trị và Hội đồng đóng vai trò là một cơ quan tư vấn
- HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ, BAN ĐIỀU HÀNH, HỘI ĐÔNG:
+ Hội đồng quản trị: là cơ quan quyết định tối cao của ECB bao gồm 6 thành viên lãnh đạo và
17 thống đốc của 17 ngân hàng trung ương quốc gia Trách nhiệm của hội đồng quản trị là xâydựng chính sách tiền tệ đối với khu vực đồng Euro nhằm đáp ứng những mục tiêu chung của khuvực này Ngoài ra nó ủy quyền cho NCB thay đổi lãi suất, giám sát các ngân hàng nước ngoài.Ngoài ra nó còn có trách nhiệm hương dẫn để NCB thực hiện các quyết định đó Hội đồng quản trịhọp 2 tuần 1 lần Trong phiên họp đầu tiên của tháng, các thành viên Hội đồng quản trị đáng giá cácđiều kiện kinh tế, tiền tệ và điều kiện phát triển trong EMU để đưa ra các quyết định liên quan đếncác chính sách Trong cuộc họp thứ hai của tháng,, Hội đồng quản trị sẽ thảo luận về các vấn đềkhác liên quan đến trách nhiệm của ECB và quá trình thực hiện chi tiết tại mỗi NCB Hội đồngquản trị hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận chứ không lấy phiếu bởi vì họ lo sợ việc lấy phiếu sẽ
có thể dẫn tới việc người đứng đầu các NCB sẽ thiên vị cho các chính sách mà có lợi cho quốc giacủa họ ECB sẽ thiết lập các chính sách lãi suất ngay sau khi cuộc họp kết thúc ECB tổ chức mộtcuộc họp báo để công bố và các chủ tịch, phó chủ tịch của ECB trả lời các câu hỏi của nhà báo,điều này đòi hỏi chủ tịch, phó chủ tịch ECB phải có sự phản ứng nhanh nhạy
+ Ban điều hành: gồm chủ tịch, phó chủ tịch, và bốn thành viên khác, những người này được
bổ nhiệm theo thõa thuận của những người đứng đầu của các quốc gia trong khu vực đồng Euro.Nhiệm vụ của Ban điều hành là thực hiện các chính sách tiền tệ thông qua việc hướng dẫn chi tiếtcho các NCB phù hợp với hướng dẫn của Hội đồng quản trị Ngoài ra Ban điều hành còn chịu tráchnhiệm quản lý kinh doanh hàng ngày của ECB
+ Hội đồng: gồm chủ tịch, hoặc phó chủ tịch ECB, đại diện của 17 quốc gia trong khu vựcđồng Euro và 11 quốc gia không thuộc khu vực đồng Euro Chủ tịch hội đồng liên minh Châu Âu
và thành viên của Ủy ban Châu Âu có thể tham dự cá cuộc họp của Hội đồng nhưng không cóquyền biểu quyết Hội đồng là cơ quan chuyển tiếp và sẽ giải thể khi tất cả các nước thành viên đều
sử dụng đồng Euro Hội đồng thực hiện việc tư vấn cho ngân hàng trung ương, thu thập thông tinthống kê và tiêu chuẩn hóa các hoạt động kế toán của NCB
- Các ngân hàng trung ương quốc gia hoạt động trong Eurosystem như thế nào? Các NCBđóng một vai trò thiết yếu trong ESCB Làm thế nào để ngân hàng trung ương quốc gia hoạt độngphù hợp với hướng dẫn ECB? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta sẽ đi tìm hiểu một trong những thànhviên quan trọng nhất của ECB, đó là Deutsche Bundesbank Lý do cho việc lựa chọn ngân hàngBundesbank, bởi vì nó là ngân hàng trung ương quốc gia lớn nhất trong ECB và cũng hơn một nửacủa khoản vay ngắn hạn liên ngân hàng do ngân hàng khu vực đồng EUR từ ngân hàng trung ương
là do các ngân hàng Bundesbank Nó cũng góp gần 20% vốn của ECB Hơn nữa, ECB được môhình hóa sau khi Deutshe Bundesbank một cách để đảm bảo hoàn toàn độc lập
- Deutsche Bundesbank: Năm 1948, các lực lượng Đồng Minh tạo ra Ngân hàng DeutscherLander (BDL ) để hoạt động như các ngân hàng trung ương của nước Cộng hòa Liên bang Đức(West Germay ) Một hệ thống ngân hàng trung ương hai tầng được thành lập gồm các BDL vàLander (hoặc nhà nước ) Ngân hàng trung ương có Chủ tịch được bổ nhiệm bởi các chính phủLander Một hội đồng cao hơn bao gồm các thống đốc của ngân hàng trung ương Lander , mộttổng thống liên bang bổ nhiệm và chủ tịch của BDL Trong hệ thống ngân hàng trung ương phân
Trang 25cấp mạnh mẽ này, BDL được xem có nhiệm vụ chính trong việc tiến hành chính sách tiền tệ , phốihợp các chính sách và nhiệm vụ của các ngân hàng trung ương Lander và quản lý hệ thống ngoạihối của đất nước Trong khi đó, các ngân hàng trung ương Lander là rất tự trị , với mỗi tiểu bangphát hành ghi chú tiền tệ , cùng với BDL
Năm 1957 ngân hàng Bundesbank, thay thế BDL như ngân hàng trung ương mới của Tây Đức
và một cấu trúc mới đã được thông qua Bundesbank , cũng có biệt danh là " Buba " đã trở thànhnhà phát hành duy nhất của Deutsche Mark ghi chú tiền tệ và đã được yêu cầu hợp tác với các tổchức hoạch định chính sách khác để đảm bảo mục tiêu và chính sách hài hòa Hội đồng Ngân hàngTrung ương bao gồm mười đại diện chính quyền trung ương và mười một Lander Chủ tịch ngânhàng trung ương , được lựa chọn bởi chính phủ Lander Cấu trúc này phục vụ các mục tiêu kép củachính sách phối hợp , đồng thời đảm bảo rằng các ngân hàng trung ương vẫn duy trì một số Lander
tự chủ
Sau khi thống nhất giữa Đông và Tây Đức , ngân hàng Bundesbank, được tổ chức lại vào năm
1990 để cho phép sự kết hợp của Đông Đức vào hệ thống Thành phần của hội đồng đã bị thay đổi ,
do đó, nó bao gồm tám người do hính phủ bổ nhiệm và chín Lander Chủ tịch ngân hàng trung ương, trong khi các bang trọng yếu giữ lại ngân hàng trung ương của họ Cấu trúc mới này của ngânhàng Bundesbank tạo sự cân bằng giữa cấp chính phủ liên bang trong hoạch định chính sách , trongkhi vẫn giữ vai trò chính của Chủ tịch ngân hàng trung ương nhà nước Điều này đảm bảo sự độclập của ngân hàng Bundesbank tiếp tục
Đến năm 2008 ngân hàng Bundesbank, có chín văn phòng khu vực và 47 chi nhánh trên toànnước Đức Năm 2008 công bố lợi nhuận 6,3 tỷ đồng, trong đó tích lũy cho các ngân hàng Lander ,
kể từ khi họ là chủ sở hữu hợp pháp của ngân hàng Bundesbank Từ năm 2009, Ban điều hành củangân hàng Bundesbank sẽ bao gồm sáu thay vì tám thành viên Ba thành viên sẽ được đề cử bởichính phủ liên bang và ba của Bundesrat (hoặc Hội đồng Liên bang Đức ) và tất cả các thành viênđược bổ nhiệm bởi Tổng thống Đức
- ECB khác với Bundesbank như thế nào? Vào năm 2001, Đức sử dụng đồng euro nhưđồng tiền của mình để thay thế cho Deutsche Mark Bundesbank không còn tồn tại như là một cơquan độc lập , nhưng là một phần của ngân hàng Trung ương châu Âu Mục tiêu của nó là hài hòavới ECB , với mục tiêu chính của sự ổn định giá cả Hội đồng quản trị của ECB có mục tiêu chính
là tỷ lệ hàng năm của lạm phát trong khu vực đồng euro vào khoảng 2%
Bundesbank có năm nhiệm vụ cốt lõi mà nó cùng thực hiện với ECB
Các chức năng cốt lõi của ngân hàng Bundesbank là thực hiện chính sách tiền tệ Eurosystemnhư quy định trong Hiệp ước EC Đảm bảo giá cả ổn định và điều này được thực hiện thông quabiểu quyết tại cuộc họp hàng tháng của Hội đồng quản trị của ECB nơi quyết định chính sách tiền
tệ được thực hiện Chủ tịch ngân hàng Bundesbank là thành viên bỏ phiếu trong Hội đồng quản trịcủa ECB và tư vấn các chuyên gia trước khi biểu quyết mỗi tháng Bundesbank không có quyềnphát hành tiền tệ và đồng tiền ghi chú theo ý riêng của mình , ngoại trừ được sự cho phép của ECB Nó cũng thực hiện các chức năng chính như nhà thanh toán bù trừ cho các ngân hàng thànhviên, các nhân viên ngân hàng của ngân hàng Tất cả các ngân hàng trung ương trong khu vực đồngeuro bây giờ là thành viên của hệ thống thanh toán tiên tiến , được gọi là mục tiêu 2 cho phép cácngân hàng thực hiện thanh toán trong thời gian thực và cũng cho phép họ sử dụng truy cập thanhtoán ECB không có nhiệm vụ giám sát các ngân hàng , nhưng nhiệm vụ này được giao cho từngngân hàng quốc gia như ngân hàng Bundesbank, đó là trách nhiệm giám sát các hệ thống khả năngthanh toán , thanh khoản và quản lý rủi ro của 2.300 tổ chức tín dụng tại Đức Bundesbank cũngđảm bảo rằng tổ chức ngân hàng yêu cầu đủ vốn phù hợp với các yêu cầu của Basel Accord II Bundesbank là ngân hàng của nhà nước và đại lý tài chính của Chính phủ Liên bang Hơnnữa, ngân hàng Bundesbank, cố vấn cho chính phủ về các vấn đề chính sách tiền tệ
Nó cũng quản lý dự trữ ngoại tệ của Đức; ECB không nói dự trữ ngoại hối từng ngân hàngtrung ương quốc gia nên giữ là bao nhiêu Nhưng mỗi NCB là cần góp phần vào việc dự trữ ngoạihối của ECB tương đương với đóng góp của mình vào vốn của ECB
Cuối cùng, ngân hàng Bundesbank, cũng có thể hợp tác với các tổ chức quốc tế khác để duytrì một hệ thống tài chính ổn định Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay , nó
Trang 26đã hợp tác với FED trong một chương trình được gọi là Cơ sở đấu giá hạn để cải thiện thanh khoản
đô la trong khu vực Euro và để giúp ổn định thị trường tiền tệ
- ECB độc lập như thế nào? Mặc dù dự trữ liên bang là một ngân hàng trung ương độc lậpcao, Hiệp ước Maastricht, thành lập Eurosystem, thành lập ngân hàng trung ương ECB độc lập nhấttrên thế giới Như Hội đồng Thống đốc , các thành viên của Ban chấp hành Hiệp hội có thời hạndài (tám năm ) , trong khi người đứng đầu Ngân hàng Trung ương Quốc gia được yêu cầu phải cócác điều kiện dài ít nhất là năm năm Như Fed, Eurosystem xác định ngân sách riêng của mình, vàcác chính phủ của các nước thành viên không được phép can thiệp hoạt động của ECB Những yếu
tố này của Hiệp ước Maastricht làm cho ECB độc lập cao
Một yếu tố khác làm cho ECB độc lập hơn là nó không được phép cấp các khoản vay cho các
tổ chức khu vực công quốc gia, để bảo vệ nó từ bất kỳ ảnh hưởng bởi cơ quan công quyền Hơnnữa, để đảm bảo sự độc lập của NCB, ECB cấm họ hướng dẫn các tổ chức Cộng đồng châu Âu, bất
kỳ chính phủ của một nước thành viên EU hay bất kỳ cơ quan quốc tế khác Điều này đảm bảo phùhợp của NCB với các quyết định chính sách tiền tệ được thực hiện bởi Hội đồng quản trị
1.4 NHTW trên thế giới
- NHTW Canada: bộ máy tổ chức gồm: Các giám đốc nhiệm kỳ 3 năm, Thống đốc nhiệm kỳ 7năm, Hội đồng điều hành gồm 1 thống đốc và 4 phó thống đốc, là cơ quan thực hiện chính sách.Đặc điểm: Trên giấy tờ: không độc lập về công cụ, trên thực tế: hầu như toàn quyền kiểm soátchính sách tiền Mục tiêu chính sách tiền tệ do ngân hàng và chính phủ phối hợp đưa ra => It độclập hơn Fed
- NHTW Anh: 1946: quyền kiểm soát thuộc về chính phủ, 1997: Tăng, giảm lãi suất do Bộtrưởng Bộ TC quyết định, 5/1997: Chính phủ quyết định lãi suất trong một số trường hợp đặc biệt.Đặc điểm: quyết định lãi suất được trao cho Ủy ban chính sách tiền tệ, mục tiêu lạm phát do Bộtrưởng Bộ Tài chính đặt ra
- NHTW Nhật: trước 1998 Ngân hàng trung ương không độc lập chính phủ Sau 1998, NHTWđộc lập hơn về mục tiêu và công cụ,chính phủ không được quyền bỏ phiếu trong Hội đồng chínhsách nữa, Bộ Tài chính mất quyền giám sát nhiều hoạt động của NH
- Ngân hàng Trung ương các nền kinh tế CHUYỂN TIẾP: Trong những năm 1990 ,chủ nghĩa
xã hội sụp đổ ở một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông và Trung Âu và Liên Xô cũ Các quốc gianày đã chuyển từ kế hoạch tập trung và quyền sở hữu công cộng để tự do hóa và sở hữu tư nhân , vìvậy nó kéo theo những thay đổi đáng kể và sự hình thành của thị trường không tồn tại trước đó.Trước năm 1990 , hầu hết các quốc gia chuyển đổi sở hữu một ngân hàng quốc doanh đảmnhận vai trò kép của một ngân hàng thương mại và ngân hàng trung ương , trong khi một vài nướckhác đã sở hữu một ngân hàng trung ương riêng biệt mà giám sát hoạt động của các ngân hàngquốc doanh khác Đến những năm 1990 , nền kinh tế của các quốc gia đang trong tình trạng hỗnđộn , nơi mà ngành ngân hàng đã có một danh mục nợ xấu rất lớn, nợ của các doanh nghiệp tư côngkém hiệu quả Hơn nữa, với sự ra đời đột ngột của thị trường để các nền kinh tế của họ phải chịuđựng áp lực lạm phát do giá tự do hóa , cùng với thâm hụt ngân sách đáng kể trong cán cân thanhtoán của họ và phá giá đồng loạt của các đồng tiền trong nước của họ
Do đó, nó là bắt buộc tạo ra ngân hàng trung ương mới , bằng cách phá vỡ các mono- ngânhàng thành một ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại , hoặc cấp một số mức độ độc lậpvới những cái đã có Điều này đòi hỏi nhiều cải cách ngân hàng trung ương để tổ chức cải cách Độc lập ngân hàng trung ương ở các nước Đông Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập ( mười lămquốc gia mà giành được độc lập sau sự sụp đổ của Liên Xô ) đã được cấp , mặc dù không được đầy
- Ngân hàng Trung ương nước đang phát triển và nền kinh tế mới nổi : Nước đang phát triển
là những nền kinh tế có GDP thấp đến trung bình Một nền kinh tế đang nổi lên là một nước đang
Trang 27phát triển hoặc chuyển đổi nền kinh tế đang bắt tay vào một chương trình cải cách kinh tế mới đểđạt được hiệu quả kinh tế cao hơn , hiệu quả hơn trong các thị trường vốn và cải cách hệ thống tỷgiá hối đoái Quốc gia đó có khuynh hướng thu hút đầu tư nước ngoài đáng kể cả thông qua thịtrường tài chính cũng như trong lĩnh vực dịch vụ và các ngành công nghiệp sản xuất khác như cácnền kinh tế mới nổi từ Ấn Độ và Trung Quốc với các nước ở châu Mỹ Latinh , châu Phi , TrungĐông và châu Á.
Nhiều nước trong số các quốc gia này là nước mới có khái niệm về ngân hàng trung ương Mức độ độc lập của ngân hàng trung ương của họ cao liên quan đến trình độ phát triển của ngànhtài chính và các tổ chức chính trị Tuy nhiên, một trong những rào cản chính mà làm cho sự độc lậpcủa ngân hàng trung ương trong một số các quốc gia như không có là mức thấp của vốn và không
có khả năng của họ để tạo ra các nguồn thu Trường hợp của Ngân hàng Trung ương của CostaRica là một ví dụ điển hình của một ngân hàng trung ương độc lập tương đối, mặc dù thiếu cácnguồn lực cần thiết để cung cấp cho nó với thực tế ngân hàng trung ương hiệu quả , mặc dù chínhsách tiền tệ Một ví dụ khác của một nền kinh tế mới nổi phải đối mặt với vấn đề tương tự không
đủ vốn là Ngân hàng của Indonesia , trong đó có đủ vốn vào thời điểm chuyển giao thế kỷ và do đókhông thể mở rộng hỗ trợ tín dụng cho các ngân hàng ốm yếu trong cuộc khủng hoảng năm 1997châu Á Vì lý do này , khi ngân hàng trung ương bị các điều kiện tài chính bấp bênh mà có thể làmảnh hưởng tới hành vi của chính sách tiền tệ , nó sẽ trở thành bắt buộc để tái cơ cấu vốn các ngânhàng trung ương
Để đảm bảo tính độc lập và chủ quyền của ngân hàng trung ương của họ, nhiều chính phủ củacác quốc gia phát triển và các nền kinh tế mới nổi đã bắt đầu tăng kỳ thủ đô của ngân hàng trungương của họ Mặt khác, ngân hàng trung ương của các quốc gia Hội đồng hợp tác vùng Vịnh có đủvốn nhưng được hưởng độc lập hạn chế Điều này đã thúc đẩy họ cố gắng để tạo thành một ngânhàng trung ương đa quốc gia để đảm bảo độc lập từ điều khiển chính phủ quốc gia
Trong số các ngân hàng trung ương độc lập nhất mà tự do thực hiện chính sách tiền tệ ở châuPhi là Ngân hàng Dự trữ của châu Phi và Ngân hàng Trung ương Ai Cập, trong đó có mức độ đáng
kể độc lập từ áp lực chính trị Tuy nhiên , điều này không có nghĩa là các ngân hàng trung ương làkhông biết gì về các mục tiêu kinh tế vĩ mô nói chung của đất nước Ngược lại, trong nhiều trườnghợp ngân hàng trung ương hành động phối hợp với các đại lý tài chính của chính phủ , đặc biệt làtại thời điểm khủng hoảng
- Ngân hàng nhân dân Trung Quốc: Nhân dân Trung Quốc ( PBC) , được thành lập vào thángMười Hai năm 1948, là một ví dụ của một ngân hàng trung ương tương đối mới trong một nền kinh
tế mới nổi Nó đóng vai trò như duy nhất, thực hiện cả hai ngân hàng thương mại và vai trò củangân hàng trung ương Đây là mô hình của ngân hàng ở hầu hết các chế độ xã hội chủ nghĩa , kể từkhi ngân hàng tư nhân bị cấm hoạt động trong các hệ thống kinh tế Chỉ trong năm 1980, Hội đồngNhà nước Trung Quốc đã phân chia các hoạt động ngân hàng thương mại thành bốn ngân hàng nhànước , năm 1985 Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc được thành lập một cách hợp pháp, bắt đầuchức năng của nó như là một ngân hàng trung ương chính thức với trụ sở chính tại Bắc Kinh vàchín văn phòng khác trong khu vực Kể từ ngày đó, cải cách dần dần đã được tiến hành với cấplãnh đạo PBC trong lĩnh vực ngân hàng và cơ quan thực hiện chính sách tiền tệ Tuy nhiên, PBCphải báo cáo quyết định của mình , ngay cả trước khi thực hiện, Hội đồng Nhà nước liên quan đếnchính sách tiền tệ , khối lượng cung tiền, lãi suất và tỷ giá hối đoái Như vậy, mức độ cao của sựtham gia của Hội đồng Nhà nước trong hoạt động của mình làm cho sự độc lập của PBC hạn chế sovới hầu hết các ngân hàng trung ương ở các nước công nghiệp
Một vấn đề nghiêm trọng vốn có trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc là danh mục đầu tưlớn của các khoản nợ xấu, mà lên tới 700 tỷ trong năm 2007 Điều này đã buộc các PBC bảo lãnhcho một số ngân hàng quốc doanh
Bây giờ chúng ta chuyển sự chú ý sang việc Trung Quốc đã bị xử lý như thế nào đối với lĩnhvực ngân hàng ở Hồng Kông Năm 1997, Vương quốc Anh nhượng lại Hồng Kông trở về TrungQuốc Tuy nhiên , nói về kinh tế, Hồng Kông vẫn tự trị và độc lập của Trung Quốc, tự chịu tráchnhiệm bảo đảm quốc phòng quân sự của mình và tiến hành các quan hệ đối ngoại trên danh nghĩa
Do đó, Hồng Kông vẫn là một khu vực tự do thương mại và duy trì đồng tiền riêng của mình , đồng
Trang 28đô la Hồng Kông Trong bối cảnh này, Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa không chịu trách nhiệmcho lĩnh vực ngân hàng ở Hồng Kông, đó là trách nhiệm của Cơ quan tiền tệ Hồng Kông.
Các HKMA là tổ chức ngân hàng trung ương của Hồng Kông và được thành lập vào tháng 4năm 1993 Nó có bốn chức năng chính : điều chỉnh và giám sát ngân hàng và các tổ chức lưu ký ,duy trì sự ổn định của đồng tiền với tỷ lệ 7,80 HK $ 1 để quản lý dự trữ chính thức của HồngKông , và giám sát một cơ sở hạ tầng tài chính mạnh mẽ và đa dạng Tuy nhiên , Cơ quan tiền tệHồng Kông vấn đề chỉ là tiền giấy 10 đô la và cho phép ba ngân hàng thương mại , các LimitedHồng Kông và Thượng Hải Banking Corporation , và Ngân hàng Trung Quốc ( Hong Kong)Limited , phát hành tất cả các ghi chú ngân hàng khác ở Hồng Kông So với Ngân hàng Nhân dânTrung Quốc, HKMA là độc lập hơn và có khả năng duy trì một hệ thống ngân hàng lành mạnh
- Ngân hàng trung ương đa quốc gia ở các nước đang phát triển: ECB không phải là ngânhàng trung ương đa quốc gia theo nghĩa này, một số quốc gia đang phát triển đã thành lập ngânhàng trung ương đa quốc gia nhằm tăng cường hợp tác kinh tế với các quốc gia láng giềng khác Một lý do khác là thiếu vốn và chuyên môn cần thiết để thiết lập một cơ quan điều tiết và giám sátphức tạp Ngân hàng trung ương Caribbean đông ( eccb ) bao gồm tám quốc gia thành viên , trong
đó có sáu quốc gia độc lập , trong khi hai quốc gia có lãnh thổ của vương quốc thống nhất Cáceccb được thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1983 và hiện nay bao gồm Antigua và Barbuda, thịnhvượng chung của dominica , grenada , montserrat , st Kitts và Nevis , Saint Lucia và Saint Vincent ,Grenadines và Anguilla Tất cả các quốc gia nhỏ, các nền kinh tế dễ bị tổn thương cần phải đoànkết để đạt được phát triển kinh tế Tương tự như các ngân hàng Trung ương châu Âu , một chủ tịchđược bầu hàng năm trên cơ sở luân phiên và Hội đồng tiền tệ có trách nhiệm thực hiện chính sáchtiền tệ và đảm bảo sự ổn định của đơn vị tiền tệ chung Đồng dollar EC Tuy nhiên , không giốngnhư ECB các quốc gia không sở hữu ngân hàng trung ương của riêng mình
Xu hướng tương tự được theo sau ở châu Phi, nơi mà hầu hết các quốc gia châu Phi có ngânhàng trung ương của họ, ngoại trừ hai khu vực có ngân hàng trung ương đa quốc gia BanqueCentrale des Etats de I'Afrique de I'Ouest , hoặc Ngân hàng Trung ương Tây Phi , nhấn chìm támquốc gia Tây Phi sử dụng đồng franc Tây Phi CFA là đồng tiền chung của họ Tương tự như vậy ,sáu quốc gia Trung Phi là thành viên của Banque des Etats de I'Afrique Centrale , hoặc Ngân hàngTrung ương Trung Phi , và sử dụng đồng franc Trung Phi CFA như hợp pháp của họ
- Cải cách ngân hàng trung ương ở Nam Mỹ: Tại nhiều quốc gia Mỹ Latinh ngân hàng trungương đã tìm thấy chính mình trong khủng hoảng tài chính, dẫn đến cuộc khủng hoảng ngân hàngthường xuyên Trong những năm 1980 , các nước Mỹ Latinh có tỷ lệ lạm phát cao, ba hoặc bốn chữ
số Vì lý do này, chính phủ bắt tay vào cải cách ngân hàng trung ương ; Chile là nhà tiên phong ,nơi mà vào năm 1989 ngân hàng trung ương đã được độc lập hơn, tăng cường tính minh bạch vàtrách nhiệm giải trình Để đảo ngược lạm phát, ngân hàng trung ương ở Brazil , Chile, Colombia,Mexico , và Peu đã thông qua một tỷ lệ lạm phát danh nghĩa bằng cách giới thiệu lạm phát mục tiêu Hơn nữa, từ những năm 1990 hầu hết các quốc gia Nam Mỹ đã bắt đầu các cuộc hẹn riêng ngânhàng trung ương từ lịch bầu cử và cấp ngân hàng trung ương có quyền tiến hành chính sách tiền tệ
mà không có sự can thiệp của chính phủ Đổi lại, ngân hàng trung ương đã được thực hiện có tráchnhiệm để đạt được mục tiêu lạm phát cụ thể hơn là tập trung vào tăng trưởng kinh tế
- Liên minh tiền tệ ở các nước đang phát triển: Cuối cùng, một số nước đang phát triển rấtnghèo và nhỏ đơn phương áp dụng các đồng tiền của các nước lớn hơn Ví dụ, Panama , ElSalvadorm , Ecuador, và một số quốc gia Caribbean nhỏ hiện đang sử dụng đồng đô la Mỹ , vì họkhông có một đồng nội tệ Ví dụ, Ecuador loại bỏ đồng tiền quốc gia của nó, là sucre , vào năm
2000 và thông qua đồng đô la Mỹ như là đồng tiền chính thức của nó Điều này là do thực tế là tỷgiá hối đoái của sucre giảm từ 25 sucres mỗi đồng đô la Mỹ trong 1.980-25.000 năm 2000 Trongtrường hợp này , ngân hàng trung ương quốc gia không thể thực hiện chính sách tiền tệ và mất khảnăng ảnh hưởng đến giá trị của đồng tiền , điều này làm hạn chế vai trò của ngân hàng trung ươngtrong việc giám sát các ngân hàng trong nước Tương tự như vậy , các quốc gia châu Phi Swaziland
và Lesotho sử dụng đồng rand của Nam Phi như đồng tiền hợp pháp của họ
1.5 Nhận xét
1.5.1 Ngân hàng NN Việt Nam
Trang 291.5.1.1 Tổ chức & cơ cấu hoạt động
Tổ chức:
o NHNN được tổ chức thành hệ thống tập trung, thống nhất:
o Bộ máy điều hành
o Các đơn vị hoạt động nghiệp vụ
Cơ cấu hoạt động:
o 20 đơn vị giúp Thống đốc NHNN thực hiện chức năng quản lý NN và chức năngNHTW
o 7 đơn là đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của NHNN
1.5.1.2 Lịch sử hình thành ngân hàng nhà nước Việt Nam
1951 – 1954: Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập tương
đối trong hệ thống tài chính, thực hiện trọng trách đầu tiên: Phát hành giấy bạc Ngânhàng, thu hồi giấy bạc Tài chính, Thực hiện quản lý Kho bạc Nhà nước, Phát triển tíndụng ngân hàng
1955-1975: cả nước kháng chiến chống Mỹ, Ngân hàng Quốc gia thực hiện những
nhiệm vụ cơ bản sau: Củng cố thị trường tiền tệ, Phát triển công tác tín dụng
1875 -1985: Ngân hàng Quốc gia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã được quốc
hữu hóa và sáp nhập vào hệ thống Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoạt động như làmột công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắcthị trường
1986 đến nay: Tháng 5/1990: Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh về
ngân hàng ( Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và công ty tài chính) Sự ra đời của 2 Pháp lệnh Ngân hàng đã chính thứcchuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp,trong đó Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinhdoanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngânhàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối
và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật
o Quyết định thành lập, chấm dứt hoạt động của một số cơ quan
o Tổ chức và chỉ đạo thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
o Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định
o Đại diện pháp nhân của Ngân hàng Nhà nước
1.5.2 NHTW độc lập với chính phủ
o Ưu điểm:
NHTW có toàn quyền quyết định việc xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ
Tăng hiệu quả các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giảm thâm hụt ngânsách và ổn định hệ thống tài chính
Được trao quyền lựa chọn mục tiêu mà không chịu sự can thiệp, chỉ đạo từ Chính phủhay cơ quan liên quan khác
Quyết định trong việc thực thi các chính sách tiền tệ à tăng tính chủ động và giảm độtrễ của CSTT
Có thể từ chối trong mục tiêu thâm hụt ngân sách
Tự chủ về tổ chức và cơ chế tài chính, nhân sự
Trách nhiệm giải trình đầy đủ và minh bạch
o Nhược điểm:
Trang 30 Khó có sự kết hợp hài hoà giữa chính sách tiền tệ - do NHTW thực hiện và chính sáchtài khoá - do chính phủ chi phối để quản lý vĩ mô một cách hiệu quả
1.5.3 NHTW trực thuộc chính phủ:
o Ưu điểm:
Chính phủ có thể dễ dàng phối hợp chính sách tiền tệ của NHTW đồng bộ với các chínhsách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo mức độ và liều lượng tác động hiệu quả của tổngthể các chính sách đối với các mục tiêu vĩ mô trong từng thời kỳ
Mô hình này được xem là phù hợp với yêu cầu cần tập trung quyền lực để khai thác tiềmnăng xây dựng kinh tế trong thời kỳ tiền phát triển
o Nhược điểm:
NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thực hiện chính sách tiền tệ
Có thể làm cho NHTW xa rời mục tiêu dài hạn của mình
là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế
o Lợi ích từ việc sử dụng mô hình NHTW trực thuộc chính phủ của Việt Nam:
Tạo được sự đồng bộ trong mục tiêu phát triển kinh tế với chính phủ
Tương lai để tăng cường hiệu quả hoạt động của NHNN với tư cách là một NHTWtrong nền kinh tế thị trường, việc nâng cao tính độc lập của NHNN là hết sức cần thiết
do đó việc sử dụng mô hình này chính là nền tảng cho những thay đổi mang tính độc lậphơn của NHTW sau này
Giúp chính phủ thuận lợi trong việc hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, giảm thâm hụtngân sách cho chính phủ
Tạo niềm tin vào hệ thống ngân hàng
o Hạn chế từ việc sử dụng mô hình:
Điểm hạn chế chủ yếu của mô hình là NHTW sẽ mất đi sự chủ động trong việc thựchiện chính sách tiền tệ Sự phụ thuộc vào chính phủ có thể làm cho NHTW xa rời mụctiêu dài hạn của mình là ổn định giá trị tiền tệ, góp phần tăng trưởng kinh tế thẩm quyềncủa NHNN trong xây dựng và điều hành CSTT còn hạn chế, NHNN có mức độ độc lậpthấp và chịu sự can thiệp hành chính toàn diện của Chính phủ
Về lí thuyết khi áp dụng mô hình NHTW trực thuộc chính phủ thì tỷ lệ lạm pháp khóduy trì ở tỷ lệ thấp hơn là mô hình độc lập với chính phủ vì chính phủ có thể lợi dụngNHTW để bù đắp thâm hụt ngân sách
Chính phủ là nơi quyết định chính sách (cả về mục tiêu lẫn chỉ tiêu hoạt động) cũng nhưcan thiệp vào quá trình triển khai thực thi CSTT Đây là một trong những nguyên nhânlàm hạn chế hiệu quả hoạt động của NHTW, nhất là trong việc thực hiện mục tiêu ổnđịnh giá trị đồng tiền Đây chính là trường hợp của NHNN Việt Nam hiện nay và trênthực tế thì mức độ độc lập tự chủ này đã bắt đầu bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập.Làm giảm tính linh hoạt trong việc điều hành thực hiện CSTT quốc gia, thậm chí đôi khigây ra sự chậm trễ trong chính sách phản ứng trước các diễn biến khó lường trên thịtrường tài chính tiền tệ ảnh hưởng đến sự ổn định của đồng tiền
Vì là cơ quan của Chính phủ nên có khi NHNN phải thực hiện những nhiệm vụ khôngphù hợp với mục tiêu của CSTT, chẳng hạn như tái cấp vốn để khoanh, xoá nợ cáckhoản vay của NHTM Nhà nước như vậy NHNN Việt Nam chỉ được coi là cơ quanquản lý hành chính nhà nươc, giống như các bộ khác chứ không phải là thiết chế đặcbiệt dù tổ chức, hoạt động của NHNN ảnh hưởng rất lớn đến tính an toàn của hệ thốngngân hàng, sự ổn định của giá trị đồng tiền, an ninh tiền tệ của 1 quốc gia
2.2 Những nguyên tắc quản trị chung của NH
Giám đốc NH có 4 mối quan tâm lớn:
- Đảm bảo rằng NH có đủ tiền mặt chờ để trả cho người gửi tiền khi có dòng tiền gửi chảy ra(quản trị thanh khoản)
- Phải theo đuổi mức rủi ro thấp đến mức chấp nhận được bằng cách mua các TS có tỷ lệ vỡ nợthấp và bằng cách đa dạng hóa TS nắm giữ (quản trị TS có)
- Thu hút được vốn với chi phí thấp (quản trị TS nợ)
Trang 31- Quyết định lượng vốn mà NH cần duy trì, sau đó thu hút được số vốn cần thiết (quản trị vốn chủ
sở hữu)
Tìm hiểu chi tiết về những nguyên tắc quản trị chung của NH
2.2.1 Quản trị thanh khoản và vai trò của dự trữ
- VD1 : Đối với NH có khoản dự trữ vượt mức
Ban đầu, dự trữ của NH là 20 triệu, TS tiền gửi là 100 triệu, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc là10% Lúc này tiền dữ trữ bắt buộc của NH là 10 triệu (100tr ×10%), do đang nắm giữ 20 triệu dự trữnên NH có dự trữ vượt mức là 10 triệu Nếu tiền gửi bị rút 10 triệu thì sẽ có sự thay đổi trên TS có và
TS nợ Nhìn vào bảng cân đối TS, ta thấy tiền gửi sẽ còn 90 triệu (100 triệu – 10 triệu) và dự trữ banđầu 20 triệu sẽ còn 10 triệu Theo quy định, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% nên tiền dữ trữ bắt buộc của
NH là 9 triệu (90tr ×10%), hiện giờ dữ trữ vượt mức là 1 triệu (10tr – 9 tr) Quan sát ta thấy chứngkhoán, các khoản cho vay và vốn sở hữu của NH không có sự thay đổi khi xảy ra vụ rút 10 triệu tiềngửi
Trong ngắn hạn, nếu một NH có khoản tiền dự trữ vượt mức dồi dào, một dòng tiền rút ra khôngđòi hỏi phải có những thay đổi ở các phần khác trong bảng quyết toán tài sản của NH
- VD2 : Đối với NH không có khoản dự trữ vượt mức
Ban đầu, dự trữ của NH là 10 triệu, TS tiền gửi là 100 triệu, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc là10% Lúc này tiền dữ trữ bắt buộc của NH là 10 triệu (100tr ×10%), do đang nắm giữ 10 triệu dự trữnên NH không có dự trữ vượt mức Nếu tiền gửi bị rút 10 triệu thì sẽ có sự thay đổi trên TS có và TS
nợ Nhìn vào bảng cân đối TS, ta thấy tiền gửi sẽ còn 90 triệu (100 triệu – 10 triệu) và dự trữ ban đầu
sẽ bằng 0 Theo quy định, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% nên tiền dữ trữ bắt buộc của NH là 9 triệu (90tr
×10%), nhưng NH đã không còn tiền để dự trữ Vậy làm cách nào để NH có tiền dự trữ ? Để có tiền dựtrữ, NH có 4 cách sau:
+ Cách 1: Vay của NH khác trong thị trường liên NH
+ Cách 2: Bán chứng khoán cho Fed
+ Cách 3: Vay với lãi suất chiết khấu từ Fed
+ Cách 4: Mang các khoản cho vay ký gửi tại Fed
Nhưng để thực hiện 4 cách này, NH phải mất 1 khoản chi phí
Các khoản tiền dữ trữ quá mức là sự đảm bảo nhằm đối phó với chi phí khi có giao dịch rút tiền.Chi phí cho việc rút tiền càng lớn thì NH càng muốn giữ nhiều tiền dự trữ vượt mức hơn
2.2.2 Quản trị tài sản có
- Mục tiêu của quản trị TS có:
+ Giảm rủi ro
+ Tìm kiếm lợi nhuận cao từ việc cho vay và kinh doanh chứng khoán
+ Tạo ra dự trữ tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền
- Có 4 cách để thực hiện mục tiêu:
+ Tìm người đi vay với lãi suất cao và rủi ro thấp bằng cách NH có thể quảng cáo hoặc tiếp cậnkhách hàng để chào mời những món vay mà NH đề ra
+ Mua chứng khoán với lợi nhuận cao và rủi ro thấp
+ Đa dạng hóa nguồn đầu tư
+ Quản lý khả năng thanh khoản của tài sản
Trước năm 1960: Các NH coi tài sản nợ là cố định và cố gắng tối ưu tài sản có
- Kể từ năm 1960 trở đi: Các NH lớn (Monney center bank) bắt đầu nghiên cứu kỹ những phươngpháp trong đó những tài sản nợ trên bảng quyết toán tài sản của họ có thể đem lại những khoản tiền dựtrữ và tính thanh khoản
Trang 32 Sự ra đời của công cụ tài chính mới: CDs (chứng chỉ tiền gửi) có thể bán lại được (Chứng chỉtiền gửi là 1 chứng từ có giá, do NH phát hành để huy động vốn từ cá nhân hoặc công ty.Chứng chỉtiền gửi cũng như tiết kiệm, nhưng so với tiết kiệm thì chứng chỉ tiền gửi có lãi suất cao hơn và 1 điềuquan trọng là nó có thể chuyển nhượng được).
- Tính chất mềm dẻo trong việc quản lý tài sản nợ Sự thay đổi trong phương pháp quản lý NH:+ Không còn lệ thuộc vào tiền gửi có thể phát séc như là nguồn vốn hàng đầu của NH
+ Đề ra mục tiêu cho sự tăng trưởng của TS có
+ Đảm bảo lợi ích cho cổ đông
+ Duy trì vốn theo quy định của NHNN
- Để quản trị VCSH, người ta đánh giá qua chỉ tiêu ROE Có 3 cách làm tăng ROE (làm ngược lại
để giảm ROE):
+ Trả cổ tức cao cho các cổ đông
+ Mua trở lại một số cổ phiếu của NH
+ Vẫn giữ vốn chủ sở hữu nhưng tăng tài sản có
- Khi có một sự thiếu hụt trong Vốn cổ phần có khả năng làm cho NH có thể giảm tài sản và một
số hợp đồng vay
3 Quản trị rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất
3.1 Quản trị rủi ro tín dụng
- Rủi ro này NH thường xuyên gặp phải Biểu hiện của rủi ro tín dụng là các khoản cho vay của
NH giảm giá trị hay không thu hồi được
- Các hoạt động quản trị rủi ro tín dụng như sau:
3.1.1 Kiểm tra và giám sát
- Kiểm tra
+ Loại bỏ khách hàng vay có triển vọng tốt ra khỏi khách hàng vay có triển vọng xấu để đánhgiá rủi ro khách hàng
+ Các bước để 1 NH quyết định cho vay khi khách hàng có yêu cầu:
Tìm hiểu thông tin khách hàng
Đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng
Sau cùng mới quyết định cho vay
+ Chuyên môn hóa trong hoạt động cho vay: NH chỉ cho vay những khách hàng trong một khuvực hay ngành nghề nhất định nhằm dự báo về khả năng thanh toán,hạn chế rủi ro
- Giám sát: Theo dõi tình trạng sử dụng vốn của khách hàng, tình trạng kinh doanh và giới hạn lạinhững dự án rủi ro nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng
3.1.2 Quan hệ lâu dài với khách hàng
- Nhờ mối quan hệ lâu dài với khách hàng mà NH sẽ:
+ Giảm được RRTD tốt & xấu
+ Tiết kiệm chi phí tìm hiểu thông tin
+ KH có thể vay nhanh với lãi suất thấp
Trang 33+ Giúp NH đối phó với bất ngờ rủi ro đạo đức
- Thế chấp: Tài sản thế chấp là tài sản được dùng để đền bù cho NH khi người đi vay vỡ nợ (NH
có thể dùng tài sản thế chấp để bù lại những tổn thất do món vay đó gây ra)
- Ký quỹ: Khách hàng sẽ ký quỹ một phần của khoản vay tại NH Hình thức này sẽ:
+ Tăng khả năng thanh toán món tiền vay
+ Giúp NH giám sát được người vay tiền
3.1.5 Hạn mức tín dụng
- Hai phương thức hạn chế tín dụng:
+ Từ chối cho vay với số lượng bất kỳ dù lãi suất cao để hạn chế RRTD xấu
+ Chỉ cho khách hàng vay trong hạn mức tín dụng cho phép để hạn chế RR đạo đức
3.2 Quản trị rủi ro lãi suất
- Trong bảng cân đối TS trên, TS có nhạy cảm với lãi suất là 20 triệu, TS nợ nhạy cảm với lãi suất
là 50 triệu Khi lãi suất tăng 5% thì:
+ TS có tăng 1 triệu (20tr×5%)
+ TS nợ tăng 2.5 triệu (50tr×5%)
Tức là khi lãi suất tăng 5% thì chi phí đi vay của NH là 2.5 triệu, trong khi lợi nhuận thu được từ
TS cho vay chỉ có 1 triệu Lúc này lợi nhuận của NH giảm tương ứng là 1.5 triệu (2.5tr – 1tr)
Nếu 1 NH có khoản tài sản nợ nhạy cảm với lãi suất biến động lớn hơn tài sản có thì một sự giatăng của lãi suất sẽ làm giảm lợi nhuận của NH và ngược lại
3.2.1 Phân tích chênh lệch
- GAP = TS có nhạy cảm với lãi suất – TS nợ nhạy cảm với lãi suất
Khi lãi suất tăng 5% thì lợi nhuận giảm –1.5 triệu [5%× (–30tr)]
3.2.2 Phân tích thời gian đáo hạn bình quân gia quyền
- Phần trăm thay đổi trong giá trị thị trường của chứng khoán ≈ −Phần trăm thay đổi trong lãi suất
× Thời gian đáo hạn của chứng khoán
- VD : Thời gian đáo hạn trung bình của TS có là 3 năm, giá trị là 100 triệu
Thời gian đáo hạn trung bình của TS nợ là 2 năm, giá trị là 90 triệu
Khi lãi suất tăng 5% thì:
+ Giá trị thị trường của TS có giảm 15% (−5%×3 năm), tương ứng giảm 15 triệu (−15%×100tr).+ Giá trị thị trường của TS nợ giảm 10% (−5%×2 năm), tương ứng giảm 9 triệu (−10%×90tr)
Giá trị ròng = −15tr – (-9tr) = -6tr
Vậy khi lãi suất tăng 5% thì giá trị ròng giảm 6% trên tổng giá trị TS
NH có thể giảm rủi ro bằng những cách sau:
- Nếu lãi suất mong đợi giảm trong tình trạng NH có tài sản nợ lớn hơn tài sản vốn với lãi suấtbiến động thì NH sẽ không có hành động gì
- Nếu lãi suất mong đợi tăng thì NH sẽ rút ngắn thời gian tồn tại của tài sản có và hoặc tăng thờigian tồn tại của tài sản nợ
- Thưc hiện công cụ tài chính phái sinh: hợp đồng kỳ hạn, tương lai, quyền chọn, hoán đổi
3.3 Quản trị RRTD và RRLS tại VN
3.3.1 Quản trị RRTD
- Thực trạng: Các ngân hàng tại Việt Nam đều thiết lập một quy trình cho vay đối với các khoảnvay của ngân hàng như thu thập thông tin, thẩm định, xét duyệt, giải ngân, … và các uy trình theo dõiđánh giá phân loại nợ Tuy nhiên, tình quản trị rủi ro tại Việt Nam Ngân hàng vẫn ở mức trung bình
Trang 34- VD : Tình trạng nợ xấu khoảng 10% Nhiều vụ lừa đảo ngân hàng gây chấn động lớn như vụHuyền Như đã lừa đảo 4000 tỷ đồng, vụ Bầu Kiên- phó Chủ tịch HĐQT NH ACB.
- Hạn chế:
+ Chưa có quy trình hướng dẫn cụ thể về quản trị rủi ro lãi suất
+ Quản trị rủi ro lãi suất không được hoạch định một cách riêng lẻ, mà thực hiện xen kẻ trongquản trị huy động vốn và cho vay
+ Hệ thống thông tin chưa hỗ trợ tốt
+ Công tác quản lý rủi do lãi suất tại Việt Nam đã xuất hiện trên thị trường cách đây hơn 10 nămnhưng chỉ mang tính thí điểm, nhỏ bé, đơn lẻ,…
4 Các hoạt động ngoại bảng của NH
- Hoạt động ngoại bảng của NH là hoạt động không dùng đến vốn, TS của NH; các chỉ tiêu củahoạt động ngoại bảng cũng không được quyết toán trên bảng cân đối TS của NH Hoạt động ngoạibảng liên quan đến việc mua bán các công cụ tài chính và tạo ra thu nhập từ các khoản lệ phí và bánnhững món cho vay…
- Ba hoạt động ngoại bảng của NH như sau:
4.1 Bán các khoản cho vay (Bán nợ)
- NH bán những khoản cho vay của mình cho những tổ chức khác với mức giá có thể cao hơn mộtchút so với khoản nợ gốc Người mua có thể kiếm được một khoản lợi nhuận với chênh lệch lãi suất,
thường là khoản 0.15%.
4.2 Tạo các khoản thu nhập về phí
- NH cung cấp những dịch vụ chuyên biệt cho khách hàng:
+ Kinh doanh ngoại hối nhân danh 1 khách hàng
+ Phục vụ một chứng khoán hỗ trợ vay thế chấp bằng cách thu tiền gốc và tiền lãi rồi đem thanhtoán hết
+ Đảm bảo các chứng khoán vay nợ (hối phiếu…)
+ Cung cấp mức tín dụng hỗ trợ.( cho vay thấu chi, thư tín dụng dự phòng….)
4.3 Hoạt động thương mại và các kỹ thuật quản trị rủi ro
- Hoạt động thương mại thường mang về những khoản lợi nhuận cao cho NH tuy nhiên có nhiềurủi ro
- Những phương pháp để hạn chế rủi ro:
+ Tách biệt giữa người phụ trách hoạt động giao dịch và người giữ sổ sách
+ Giới hạn lượng tiền giao dịch và những rủi ro về tài chính
+ Sử dụng cộng cụ đo lường rủi ro (value-at-risk, stress testing)
4.4 Các hoạt động ngoại bảng tại VN
- Tiềm năng phát triển:
Trang 35+ NHNN quản lý chặt chẽ LS huy động vốn, điều này ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn và
áp lực khả năng thanh khoản cho NHTM
+ Hoạt động tín dụng tăng chậm
+ Đa dạng hóa DV, SP từ nội bảng đến ngoại bảng để theo kịp chuẩn mực hoạt động của NHquốc tế
+ TT phái sinh tín dụng sớm hình thành tại VN → phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá
Hoạt động ngoại bảng là mảnh đất tiềm năng, cần phát triển
- Các hoạt động ngoại bảng ở VN:
+ Nghiệp vụ bảo lãnh
+ Các nghiệp vụ thanh toán quốc tế
+ Các nghiệp vụ phái sinh: Swaps, Options, Futrues
+ Cho thuê tài sản
+ …
- Quản trị rủi ro hoạt động ngoại bảng:
+ Xây dựng mô hình bộ phận chuyên trách về rủi ro
+ Nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro
+ Dự báo rủi ro hoạt động NH
+ Đo lường rủi ro: xếp hạng TD, Duaration, Factor Sensitivity, Value at Risk…)
+ Kiểm soát và giám sát rủi ro hoạt động ngoại bảng
5 NGÂN HÀNG VÀ CẤU TRÚC CẠNH TRANH
5.1 Quá trình phát triển lịch sử
1930-1933: 9.000 vụ sụp đổ ngân hàng -> Đạo luật Glass Steagall ra đời
5.2 Sự đổi mới tài chính và sự phát triển của ngành ngân hàng
* Đổi mới tài chính làm thay đổi cả hệ thống tài chính
* Đổi mới tài chính do các định chế tài chính tạo ra với mục đích tạo lợi nhuận cho họ
* Sự thay đổi môi trường tài chính đã khuyến khích các định chế tài chính tìm kiếm đổi mới tài chính
* Bắt đầu năm 1960, có 3 sự thay đổi lớn trong môi trường tài chính, cùng với nó là các hành động liênquan của các định chế tài chính:
- Thay đổi điều kiện cầu: biến động của lãi suất
Biến động lãi suất ngày càng lớn và càng khó dự đoán (1950-1980) (tình hình cụ thể trang 253),dẫn đến rủi ro lãi suất cao Để góp phần giảm rủi ro lãi suất, 2 công cụ tài chính mới ra đời:
+ Cho vay cầm cố với lãi suất linh hoạt: các khoản cho vay cầm cố lãi suất thay đổi khi lãi suấtthị trường (tín phiếu kho bạc) thay đổi Cho vay với hình thức này, khi lãi suất lên các định chế tàichính được hưởng lợi, nhưng hộ gia đình không ưa thích hình thức này nên tồn tại 2 hình thức songsong (hình thức cố định)
+ Các công cụ tài chính phái sinh: một dạng trong các công cụ này là hợp đồng kỳ hạn (trong đóngười bán nhất trí cung cấp một hàng hóa tiêu chuẩn nào đó cho người mua tại một thời điểm cụ thểtrong tương lai)
- Thay đổi điều kiện cung: công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin tiến bộ Dẫn đến giảm chi phí xử lý giao dịch tài chính (tạo lợi nhuận chođịnh chế tài chính khi tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới) và dễ dàng thu thập thông tin (giúp dễ dàng pháthành chứng khoán hơn) Do đó nảy sinh nhiều sản phẩm dịch vụ mới (trang 326 sách tiếng Anh, trang
254 sách tiếng Việt):
+ Tín dụng ngân hàng và thẻ ghi nợ
+ Ngân hàng điện tử
+ Trái phiếu đắm đò (junk bond) (trái phiếu chưa đạt tiêu chuẩn đầu tư)
+ Thị trường thương phiếu Thương phiếu là chứng chỉ nợ ngắn hạn được các ngân hàng và công
ty lớn phát hành
+ Chứng khoán hóa Là khái niệm dùng để chỉ quá trình chuyển đổi những tài sản tài chính màthông thường có tính thanh khoản thấp thành các chứng khoán mua bán được trên thị trường vốn
- Lẫn tránh các quy định hiện hành
Trang 36Chính phủ Mỹ đã có những biện pháp điều hành nặng nề đối với ngành tài chính cản trở nặng vớiviệc kiếm lợi nhuận của các định chế tài chính, nên họ đã lẫn tránh chúng để tìm kiếm lợi nhuận 2nhóm biện pháp điều hành hạn chế nghiêm trọng khả năng kiếm lợi nhuận là:
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (tỷ lệ tiền gửi nhất định dưới dạng dự trữ, bao gồm tiền mặt trong két vàtiền gửi Hệ thống Dự trữ Liên bang) Vì tiền dự trữ không được trả lãi nên quy định tỷ lệ dự trữ cũngtương tự như quy định nộp một khoản thuế
+ Các hạn chế đối với lãi suất trả cho tiền gửi (áp dụng đến năm 1980): có 2 hạn chế, một làkhông cho trả lãi cho tài khoản séc, 2 là quy định lãi suất trần với tài khoản tiền gửi Làm khó thu hútvốn
Hai biện pháp điều hành này đã dẫn đến 2 sự đổi mới tài chính (trang 260 sách tiếng Việt):
+ Quỹ hỗ tương trên thị trường tiền tệ Quỹ hỗ tương trên thị trường tiền tệ được hình thành, pháthành cổ phiếu bán với giá cố định, sau đó dùng tiền bán cổ phiếu đầu tư chứng khoán ngắn hạn để đemlãi suất cho người mua cổ phiếu Tương tự khách hàng cũng có thể viết séc, và nhận lãi suất cao vìkhông phải tuân thủ tỷ lệ dự trữ bắt buộc và hạn chế lãi suất
+ Tài khoản quét sạch Bất kỳ số dư nào cao hơn một mức nhất định trong tài khoản viết séc củacác công ty đều bị quét sạch ra khỏi tài khoản vào cuối ngày kinh doanh và được đầu tư vào nhữngchứng khoán qua đêm đem lại lãi suất cho công ty Do bị quét sạch nên chúng không phải chịu tỷ lệ dựtrữ bắt buộc đồng thời có thể trả lãi cao Đổi mới này được hỗ trợ bởi công nghệ tiến bộ
- Đổi mới tài chính dẫn đến suy giảm của nghiệp vụ ngân hàng truyền thống.
Đổi mới tài chính làm ngân hàng truyền thống bị suy giảm (ngân hàng bị đẩy đến chỗ phải đi tìmlĩnh vực kinh doanh mới): giảm sút về ưu thế về chi phí trong thu hút vốn và giảm sút của ưu thế về thunhập trong sử dụng vốn
Ngân hàng đã phản ứng bằng 2 cách: duy trì hoạt động cho vay của mình bằng cách thâm nhậpvào những lĩnh vực cho vay mới, rủi ro hơn; và theo đuổi các hoạt động ngoại bảng
Tương tự ở Mỹ, một số nước khác, ngân hàng cũng gặp khó khăn như Nhật, Ôxtralia
5.3 Cơ cấu ngành ngân hàng thương mại Mỹ
Ở nước Mỹ có đến 6.500 ngân hàng thương mại, nguyên nhân là do các biện pháp điều hànhtrong quá khứ:
Những hạn chế về lập chi nhánh Theo đó tất cả các bang đều quy định chi tiết về loại hình và sốlượng ngân hàng mà một chi nhánh có thể thành lập Mục đích chống lại sự cạnh tranh trong ngân hàngthương mại và cho phép nhiều ngân hàng nhỏ tiếp tục tồn tại bởi vì các ngân hàng lớn không được mởchi nhánh gần đó
Phản ứng đối với những hạn chế về lập chi nhánh Bị hạn chế cạnh tranh, 2 đổi mới tài chính đã
ra đời:
+ Công ty nắm giữ ngân hàng (công ty mẹ) là khái niệm dùng để chỉ các công ty sở hữu một haynhiều công ty khác Các công ty này nắm cổ phần của ngân hàng để nắm giữ ngân hàng, ngoài ra nócòn tham gia vào hoạt động khác gắn với ngân hàng (cung cấp tư vấn, đầu tư; dịch vụ xử lý và truyềndẫn số liệu, cho thuê tài chính…) Đổi mới này rất thành công
+ Máy rút tiền tự động (ATM) Sử dụng ATM để mở rộng thị trường nhưng không đứng tên sởhữu mà sử dụng hình thức thuê để các cơ quan điều hành không cho ATM là một chi nhánh Mặt khác,nguyên nhân tạo ra ATM cũng có sự phát triển của công nghệ Thuận lợi: Máy tính rẽ -> chi phí thấp
CÔNG NGHỆ + NGUYỆN VỌNG NÉ TRÁNH CÁC QUY ĐỊNH -> ĐỔI MỚI TÀI CHÍNH.
5.4 Sự hợp nhất và sự phân tách
5.4.1 Sự hợp nhất
- Số lượng ngân hàng giảm mạnh có 2 hình thức: thứ nhất là sụp đổ và thứ 2 là hợp nhất Hợp
nhất bao gồm sáp nhập và mua lại (thôn tính) Tuy nhiên, lý do giảm đáng kể số lượng ngân hàng đượctrả lời chính là do sự hợp nhất ngân hàng Các ngân hàng đã sáp nhập lại để tạo ra một thể chế lớn hơnhoặc đã mua các ngân hàng khác
- Bằng chứng thực tế:
+ Thời kỳ ổn định: từ năm 1934 tới giữa những năm 1980,
Trang 37+ Thời kỳ khó khăn trong những năm 1980 và đầu những năm 1992: số lượng ngân hàng thươngmại bắt đầu giảm mạnh 1985 – 1992: số lượng ngân hàng đã giảm tới 3000 – nhiều hơn gấp đôi số vụsụp đổ
+ Thời kỳ 1992 – 2002, khi ngành ngân hàng trở lại lành mạnh: số lượng ngân hàng lại giảm tớitrên 4100, trong đó có gần 5% bị sụp đổ và hầu hết các ngân hàng này là ngân hàng nhỏ
- Nguyên nhân dẫn đến hợp nhất hàng loạt:
+ Nới lỏng quy định hạn chế thành lập chi nhánh:
+ Lợi ích của việc hợp nhất đem lại: lúc này họ có thể đa dạng hóa
Ít xảy ra vỡ nợ: họ có thể cho vay ở nhiều bang, chứ ko phải một bang như trước Điều này đemlại cho họ lợi thế là nếu nền kinh tế ở một bang yếu kém, thì nền kinh tế ở các bang khác mà họ đanghoạt động có thể mạnh, bởi vậy khả năng các khoản cho vay ở những bang khác nhau đồng thời vỡ nợ
ít xảy ra hơn
Tăng quy mô: việc cho phép các ngân hàng sở hữu ngân hàng ở các bang khác còn có nghĩa làcho phép họ tận dụng những lợi thế kinh tế quy mô nhờ việc tăng quy mô bằng cách mua lại hoặc sápnhập với các ngân hàng ở bang khác
+ Hỗ trợ của web và công nghệ máy tính: Sự ra đời của các trang Web và công nghệ máy tính
ngày càng hoàn thiện là yếu tố thúc đẩy sự hợp nhất ngân hàng Công nghệ thông tin cũng làm tănghiệu quả của quy mô lớn, tức khả năng sử dụng một nguồn lực để cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụkhác nhau
- Sự hợp nhất dẫn tới 2 hậu quả:
+ Thứ nhất, các dạng trung gian tài chính khác nhau ngày càng thâm nhập vào lãnh địa của nhau,làm cho chúng ngày càng giống nhau hơn
+ Thứ 2, sự hợp nhất dẫn tới sự phát triển của cái mà Quỹ dự trữ liên bang gọi là định chế ngânhàng lớn và phức tạp
Lợi ích quan trọng của sự hợp nhất ngân hàng và ngân hàng toàn quốc:
o Việc dỡ bỏ các hạn chế địa lý đối với ngân hàng sẽ làm tăng sự cạnh tranh và đẩy cácngân hàng ko có hiệu quả ra khỏi thị trường, qua đó làm tăng hiệu quả của ngànhngân hàng
o Việc chuyển sang các tổ chức ngân hàng lớn hơn cũng có nghĩa là hiệu quả tăng lên,bởi vì các tổ chức lớn có thể tận dụng lợi thế kinh tế quy mô và hiệu quả quy mô lớn
o Sự đa dạng hóa ngày càng tăng của danh mục đầu tư cho vay của ngân hàng có thểlàm giảm xác suất xuất hiện khủng hoảng ngân hàng trong tương lai
Nỗi lo:
o Sự giảm sút quy mô cho vay đôi với doanh nghiệp nhỏ
o Sự vội vả của ngân hàng trong việc mở rộng phạm vi hoạt động vào những khu vựcđịa lý mới có thể làm tăng nguy cơ gây ra sụp đổ ngân hàng
Tuy nhiên cái lợi vượt quá cái hại
Trang 38o Ngân hàng bảo lãnh chứng khoán công ty.
o Ngân hàng tham gia hoạt động môi giới
o Ngân hàng tham gia vào hoạt động bảo hiểm và kinh doanh bất động sản
o Ngân hàng đầu tư và công ty bảo hiểm tham gia vào các nghiệp vụ của ngân hàng thương
mại
- Nhưng sự theo đuổi lợi nhuận và đổi mới tài chính đã khuyến khích các ngân hàng và định chếtài chính tìm cách né tránh:
o Công ty môi giới tham gia hoạt động ngân hàng
o Công ty nắm giữ ngân hàng bảo lãnh chứng khoán
o Ngân hàng tham gia vào bất động sản
- Tuy nhiên, sự lách luật này vẫn không tạo cho ngành ngân hàng Mỹ cạnh tranh tốt với ngành ngân hàng ở nước ngoài Năm 1999 Đạo luật về Hiện đại hóa dịch vụ tài chính Gramm – Leach – Bliley ra đời Nó cho phép các công ty chứng khoán và bảo hiểm mua ngân hàng và cho phép
các ngân hàng bảo lãnh chứng khoán, bảo hiểm và tham gia vào hoạt động kinh doanh bất động sản
- Sự phân tách giữa ngân hàng và các ngành dịch vụ tài chính trên khắp thế giới: trên thế
giới có 3 mô hình cơ bản cho ngành ngân hàng và các ngành chứng khoán
Mô hình thứ 1: ngân hàng tổng hợp tồn tại ở Đức, Thụy Sĩ và Hà Lan Nó không hề phân táchgiữa ngân hàng và ngành chứng khoán
Mô hình thứ 2: hệ thống tiền tệ và ngân hàng tổng hợp kiểu Anh tồn tại ở Anh và các nước gầngũi với nó như Canađa, Oxtraylia và hiện nay là Mỹ
Mô hình thứ 3: có một số thuộc tính biểu thị sự phân tách giữa ngân hàng và các ngành dịch vụtài chính khác Mô hình này được vận dụng ở Nhật
5.5 Cạnh tranh nước ngoài
Cạnh tranh nước ngoài phát triển mạnh, do 3 nguyên nhân:
Sự gia tăng nhanh chóng thương mại quốc tế và công ty đa quốc gia
Kiếm được nhiều lợi nhuận từ thị trường nước ngoài
Thu hút lượng lớn tiền đô la
- Ngân hàng Mỹ ở nước ngoài
+ Hình thức hoạt động ban đầu:
o Hoạt động với tư cách là trung tâm kế toán, không cung cấp dịch vụ ngân hàng bình thường
o Ngân hàng Mỹ sở hữu cổ phần khống chế ở các công ty nước ngoài
- Ngân hàng nước ngoài ở Mỹ Hình thức hoạt động ban đầu:
- Khuyến khích ngân hàng nước ngoài thực hiện nhiều nghiệp vụ ở Mỹ:
1981 Quỹ dự trữ liên bang thành lập Cơ sở ngân hàng quốc tế IBF
Được nhận tiền gửi nước ngoài
Không quy định tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Không có hạn chế về lãi suất thanh toán
Không cho người trong nước vay
Thảo luận của lớp :
1 Trong quản trị thanh khoản và vai trò của dự trữ, có 4 cách tài trợ cho tiền dự trữ Nêu ưu,
nhược điểm của từng cách Theo bạn, cách nào là cách tốt nhất trong 4 cách
Trang 39 Ưu điểm của cả 4 cách là: đều đảm bảo khả năng thanh toán và các nghĩa vụ tài chính khác của NH
để hạn chế rủi ro và khả năng thanh khoản
Nhược điểm của cả 4 cách là: để tài trợ cho khoản tiền dự trữ này thì NH không tạo ra được lợinhuận và phải chịu mất khoản phí
Tùy theo tình hình kinh tế, thị trường khác nhau, hoàn cảnh khác nhau mà từng NH sẽ có lựa chọnkhác nhau nên không thể nói phương án nào là phương án tốt nhất
1: Vay ngân hàng khác Có được khoản dự trữ bắt buộc Bị nợ
2 Bán chứng khoán Có được khoản dự trữ bắt buộc,
không bị nợ
Tốn chi phí môi giới, chi phí giaodịch chứng khoán
3.Vay từ FED Có được khoản dự trữ bắt buộc Bị nợ
4 Mang khoản vay ký gửi
2 Kể tên 5 NHTM nhà nước
5 NHTM nhà nước: NHTM cổ phần ngoại thương VN, NHTM cổ phần công thương VN, NHTM
cổ phần đầu tư và phát triển VN, NH nông nghiệp và phát triển nông thôn, NHTM cổ phần pháttriển nhà ĐBSCL
- NH phát triển VN là NH chính sách, không phải là NHTM NH nhà nước ở VN chỉ có 1 đó làNHTW của VN NHTM nhà nước tức là có quy định nhà nước sở hữu bao nhiêu % thì được gọi nhưthế
3 Hiện nay, các NH bán nợ xấu cho công ty VAMC (công ty quản lý TS của các tổ chức tín dụng
ở VN) Sau khi VAMC mua các khoản nợ xấu của các NHTM thì họ sẽ xử lý các khoản nợ này nhưthế nào? Giả sử, nếu VAMC xử lý không được thì ai là người chịu thiệt cuối cùng từ các khoản nợ xấunày?
Cách thức VAMC xử lý các khoản nợ xấu đã đưa vào mục tiêu của VAMC là: phân loại và cơ cấu lạicác khoản nợ để giúp cho các doanh nghiệp có khó khăn; sau khi mua bán các khoản nợ xấu đó sẽ bánlại cho các tổ chức nước ngoài Mục tiêu thứ 1: hỗ trợ cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn thì sẽ
có 1 số doanh nghiệp khi đã bị nợ xấu thì tình hình của doanh nghiệp đã rất yếu kém rồi, cho dù có kéodài thời gian trả nợ thì chưa chắc nó đã trả được nợ Mục tiêu thứ 2: bán lại cho các tổ chức nước ngoàithì pháp lý của VN về việc cho các tổ chức nước ngoài mua các khoản nợ xấu vẫn chưa đầy đủ, đây làmột rào cản Dẫn đến 1 khả năng là sau này khi VAMC xử lý các khoản nợ xấu thì nó rất khó khăn, dễxảy ra rủi ro
Khi VAMC mua các khoản nợ xấu của các NHTM thì sẽ đưa NHTM các trái phiếu cuả VAMC,NHTM sẽ cầm trái phiếu này đi vay của NH nhà nước Do đó, nếu sau này VAMC xử lý không đượccác khoản nợ xấu này thì NHTM sẽ không có tiền để trả cho NH nhà nước, người chịu thiệt cuối cùng
là NH nhà nước, vô hình chung NHTM đã đẩy được các khoản nợ xấu này ra khỏi NH của mình
4 NH nhà nước VN có thực sự độc lập với Chính phủ chưa ?
Chưa, vì có nhiều chính sách vẫn phải thông qua chính phủ Để nói đến độc lập thì phụ thuộc vàomục tiêu và công cụ mà NHNN sử dụng Mỗi công cụ hay mục tiêu chính sách đều phải thông quachính phủ, đôi khi là phải trình lên Quốc hội duyệt Suy cho cùng thì NHNN cũng là 1 cơ quan củachính phủ
5 Ai ủng hộ Fed độc lập ?Ai không ủng hộ Fed độc lập ?
- Những người ủng hộ Fed độc lập: là những người hiểu rõ về các chu kỳ kinh tế, hiểu rõ về chínhsách tiền tệ, chính sách tài khóa Họ biết Fed gồm những người có chuyên môn cao, ít bị ảnh hưởng vềchính trị nên Fed sẽ đưa ra những quyết định công tâm, có lợi cho nền kinh tế, không chỉ trong ngắnhạn mà còn trong dài hạn nữa
Trang 40- Những người không ủng hộ Fed độc lập: là những chính khách, những người ứng cử vào quốc hội.Điển hình như ở Mỹ có chu kỳ gọi là chu kỳ chính trị thì khi mà họ ứng cử vào vị trí đó thì họ thườngmuốn là giảm lãi suất, giảm lạm phát trong ngắn hạn để họ tạo ra uy tín, lấy được nhiều phiếu bầu.Nhưng mà họ không biết rằng trong ngắn hạn thì đạt được như thế nhưng trong dài hạn thì lạm phát,thất nghiệp càng tăng lên Chính vì vậy những người này muốn mục tiêu trong ngắn hạn được thỏamãn, vì vậy họ muốn Fed thuộc quyền sở hữu của họ để họ có thể điều khiển được những quyết địnhcủa Fed Bên cạnh đó còn có những người dân không ủng hộ Fed độc lập, đó là những người cho rằng
để đạt được sự toàn diện trong vấn đề điều hành, thúc đẩy sự phát triển kinh tế Vì chính sách tiền tệ là
do các chính khách quản lý, còn chính sách tài khóa là do chính phủ quản lý nên theo họ nghĩ để không
bị chồng chéo trong điều hành cũng như đồng nhất trong tất cả các hoạt động thì Fed và chính phủ nênhợp nhất làm một
* Ngày cả công chúng đôi khi cũng không ủng hộ vì lợi ích riêng của họ Ví dụ: khủng hoảng tín dụngdưới chuẩn của Mỹ, là nguyên nhân làm bùng nổ khủng hoảng tài chính năm 2008, lan rộng đến bâygiờ và vẫn chưa khắc phục được Thời kỳ đó, bắt đầu từ năm 2001, vì mục tiêu kinh tế nên Fed đãgiảm lãi suất, nhân cơ hội đó Fed muốn người dân Mỹ sở hữu nhà ở Nhưng sau đó, do tình hình thếgiới bắt buộc Fed phải tăng lãi suất nên người mua nhà vay tiền từ các NH gặp khó khăn, lợi ích của họ
bị xâm hại và họ muốn Fed phải thay đổi chính sách Như vậy, nếu lợi ích nhóm này đủ lớn và họthuyết phục được các nhà chính sách, họ muốn các nhà chính sách này (tức chính phủ) tác động đếnFed để Fed có chính sách ngược lại, làm sao phù hợp với lợi ích của họ Chu kỳ chính trị: tôi là chínhkhách, tôi muốn đánh bóng tên tuổi, muốn lấy lòng cử tri thì tôi sẽ làm sao đó để tình hình kinh tế ổnhơn, dễ chịu hơn đối với cử tri Ví dụ thất nghiệp đang tăng thì phải làm sao cho giảm xuống, tạo điềukiện, công ăn việc làm cho người dân Có thể tạo sức ép đối với Fed để Fed thực hiện mục tiêu ngắnhạn của tôi để tôi tranh cử Trong trường hợp này, các nhà chính khách rất muốn Fed làm theo ý muốncủa mình Nói tóm lại, các nhóm lợi ích, các chủ thể thường hành xử vì lợi ích của họ Do vậy, Fedphải được kiểm soát bởi nhiều chiều Nếu không trong trường hợp mà lợi ích của nhóm điều hành Fed
bị ảnh hưởng, có thể họ sẽ hành động vì lợi ích của họ thì như vậy sẽ không tốt Tóm lại, ai thích Fedđộc lập ? Câu trả lời là: đó là những người mà Fed độc lập thì tốt cho họ Ngược lại, ai không thích Fedđôc lập? là những người mà nếu Fed bớt độc lập đi thì sẽ có lợi cho họ Ví dụ bản thân tôi là nhà chínhkhách, có khi tôi thích Fed bớt độc lập đi, có khi tôi lại thích Fed độc lập Tùy theo lợi ích lúc đó củatôi thế nào
6 Những hạn chế khi áp dụng NH điện tử ở VN hiện nay.
Do tập quán tiêu dùng, kiến thức, nhận thức của người Việt về thanh toán điện tử còn yếu Do nhữngđịa điểm chấp nhận thanh toán điện tử còn ít Lo ngại về sự an toàn trong giao dịch Vấn đề tội phạmcông nghệ ngày càng nhiều Do cơ sở vật chất ở VN thì chưa phát triển đồng bộ
Thực trạng ATM hiện nay ở VN Tại sao nó chưa mang lại hiệu quả như lý thuyết?
Chi phí lắp đặt máy ATM ở VN cao, do: công nghệ còn thấp, hiệu quả kinh doanh chưa cao Chi phí
xử lý giao dịch: khi lắp đặt ATM đã giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian giaodịch
Thực trạng: máy ATM được lắp đặt ở nhiều nơi, phục vụ rất tốt cho người dân
ATM chưa mang lại hiệu quả vì: người dân chưa hiểu biết nhiều, thói quen sử dụng tiền mặt; côngnghệ kém phát triển Máy ATM của VN phải nhập khấu từ nước ngoài về nên nó không đồng bộ, dẫnđến tình trạng nhiều khi máy hư nhưng không có thiết bị thay thế
7 Khi NH xử lý TS đảm bảo thì khi TS bị trượt giá, NH có bị thiệt hại hay không?
- NH trước khi cho vay, họ phải thẩm định TS đảm bảo và sẽ đưa ra lãi suất tương ứng TS đảm bảochỉ được tính 70% giá trị nên dù TS trượt giá, NH cũng không bị thiệt hại
- NH xử lý TS đảm bảo có 2 giai đoạn:
+ GĐ1: NH chuyển quyền sở hữu TS đó từ khách hàng sang cho NH
+ GĐ2: NH phát mãi TS thế chấp
Nếu TS xuống giá mà rơi vào giai đoạn 1 thì NH sẽ bắt khách hàng bù thêm số tiền cho mà TS bịxuống giá, rơi vào giai đoạn 2 thì lúc này NH đã sở hữu TS rồi thì NH sẽ bị thiệt hại
8 Vấn đề sụp đổ của ngân hàng: