MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền tư pháp vững mạnh, công bằng và nghiêm minh. Theo đó, lợi ích cá nhân luôn được đề cao, tư tưởng chống làm oan người vô tội luôn được chú trọng. Bởi vì, xét xử oan một người không chỉ bản thân và gia đình họ đau khổ, mà cả họ hàng, con cháu họ cũng đau khổ cho nên đòi hỏi khi xử lý hành vi phạm tội phải chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong những năm qua dưới ánh sáng các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, hoạt động của các cơ quan tư pháp đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từng bước thể hiện tính dân chủ, công khai trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm. Hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đã phục vụ kịp thời đáp ứng yêu cầu chính trị của từng thời kỳ cách mạng, nhất là trong giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, trong hoạt động của mình các cơ quan tư pháp còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm. Đối với Viện kiểm sát nhân dân trong một số năm gần đây khi thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đặc biệt sau khi có Nghị quyết số 08NQTW, ngày 02012002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tiếp đó là Nghị quyết 49 NQTW ngày 0262005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu lực và hiệu quả” 6. Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức, hoạt động. Số lượng và chất lượng của Kiểm sát viên các cấp được tăng lên rõ rệt. Cơ sở vật chất các trang bị được đầu tư, nâng cấp đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp. Xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng của quá trình giải quyết một vụ án, trong giai đoạn này tập trung cao nhất quyền tư pháp, Toà án nhân danh Nhà nước quyết định tội danh, hình phạt và những vấn đề khác liên quan đến tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tư pháp có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong hoạt động của mình, một đặc điểm nổi bật trong hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát là hoạt động áp dụng pháp luật. Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát có nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật khi xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Hoạt động áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả vào việc giáo dục ý thức pháp luật cho người dân và giúp cho Toà án ra bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, áp dụng pháp luật khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong bối cảnh hiện nay đang là vấn đề bức xúc đòi hỏi phải được chú trọng và nâng cao chất lượng mới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Một trong những nội dung của cải cách tư pháp là tăng thẩm quyền xét xử cho Toà án nhân dân cấp huyện thì số lượng án sơ thẩm cấp tỉnh giảm so với những năm trước đây. Song theo báo cáo tổng kết hàng năm của ngành Kiểm sát và Toà án cho thấy việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của cấp tỉnh vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như: số lượng bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm bị Toà án cấp phúc thẩm cải sửa còn nhiều; số bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm áp luật pháp luật sai nhưng không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dẫn đến phải xem xét theo thủ tục giám đốc, tái thẩm vẫn xảy ra; một số vụ án Toà án tuyên không phạm không phạm tội. Nguyên nhân để xảy ra tình trạng này có nhiều, song nguyên nhân rất quan trọng được rút ra là việc nhận thức và áp dụng pháp luật chưa được tốt. Với ngành kiểm sát nhân dân thì do hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân còn yếu kém bất cập. Xuất phát từ những lý do này nên học viên chọn đề tài: Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay làm luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình.
Trang 1Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ
SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
1.2 Quy trình áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm
sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh 351.3 Các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2005-2009 532.1 Tình hình tội phạm giai đoạn 2005-2009; cơ cấu tổ chức, bộ máy
của Viện kiểm sát nhân dân ảnh hưởng đến việc áp dụng pháp
luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm
các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh 532.2 Kết quả áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm
sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự từ năm 2005 đến 2009 57
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VIỆC ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH
SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH 783.1 Phương hướng bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của
3.2 Các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ,Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng nền tư pháp vững mạnh, côngbằng và nghiêm minh Theo đó, lợi ích cá nhân luôn được đề cao, tư tưởngchống làm oan người vô tội luôn được chú trọng Bởi vì, xét xử oan mộtngười không chỉ bản thân và gia đình họ đau khổ, mà cả họ hàng, con cháu họcũng đau khổ cho nên đòi hỏi khi xử lý hành vi phạm tội phải chính xác, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật Trong những năm qua dưới ánh sáng cácNghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, hoạt động của các cơ quan tư pháp
đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, từng bước thể hiện tính dân chủ,công khai trong công tác điều tra, truy tố, xét xử tội phạm Hoạt động điều tra,truy tố, xét xử đã phục vụ kịp thời đáp ứng yêu cầu chính trị của từng thời kỳcách mạng, nhất là trong giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước hiện nay Tuynhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, trong hoạt động của mình các
cơ quan tư pháp còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập chưa đáp ứng được yêucầu trong tình hình mới Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước có nhiều chủtrương, biện pháp nhằm đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạtđộng của các cơ quan tư pháp trong công tác đấu tranh phòng, chống vi phạmpháp luật và tội phạm Đối với Viện kiểm sát nhân dân trong một số năm gầnđây khi thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đặc biệt sau khi cóNghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một sốnhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dântiếp đó là Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp
Trang 3trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phụng sự nhândân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp màtrọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu lực và hiệu quả” [6].Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức,hoạt động Số lượng và chất lượng của Kiểm sát viên các cấp được tăng lên
rõ rệt Cơ sở vật chất các trang bị được đầu tư, nâng cấp đáp ứng yêu cầu củacải cách tư pháp
Xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng của quátrình giải quyết một vụ án, trong giai đoạn này tập trung cao nhất quyền tưpháp, Toà án nhân danh Nhà nước quyết định tội danh, hình phạt và nhữngvấn đề khác liên quan đến tội phạm Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan tưpháp có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tưpháp Trong hoạt động của mình, một đặc điểm nổi bật trong hoạt động thựchiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát là hoạt động áp dụng pháp luật.Trong giai đoạn này, Viện kiểm sát có nhiệm vụ thực hành quyền công tố vàkiểm sát việc tuân theo pháp luật khi xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự Hoạtđộng áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử sơthẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm,đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả vào việc giáo dục ý thức pháp luật chongười dân và giúp cho Toà án ra bản án đúng người, đúng tội, đúng phápluật Vì vậy, áp dụng pháp luật khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét
xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong bối cảnh hiệnnay đang là vấn đề bức xúc đòi hỏi phải được chú trọng và nâng cao chấtlượng mới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra
Một trong những nội dung của cải cách tư pháp là tăng thẩm quyền xét
xử cho Toà án nhân dân cấp huyện thì số lượng án sơ thẩm cấp tỉnh giảm sovới những năm trước đây Song theo báo cáo tổng kết hàng năm của ngành
Trang 4Kiểm sát và Toà án cho thấy việc xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của cấptỉnh vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như: số lượng bản án, quyết địnhcủa Toà án cấp sơ thẩm bị Toà án cấp phúc thẩm cải sửa còn nhiều; số bản án,quyết định của Toà án cấp sơ thẩm áp luật pháp luật sai nhưng không bịkháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dẫn đến phải xem xét theothủ tục giám đốc, tái thẩm vẫn xảy ra; một số vụ án Toà án tuyên khôngphạm không phạm tội Nguyên nhân để xảy ra tình trạng này có nhiều,song nguyên nhân rất quan trọng được rút ra là việc nhận thức và áp dụngpháp luật chưa được tốt Với ngành kiểm sát nhân dân thì do hoạt động ápdụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩmcác vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân còn yếu kém bất cập Xuất
phát từ những lý do này nên học viên chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật
trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay" làm
luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu vấn đề liên quan đến áp dụng pháp luật của Viện kiểm sátnhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dântrong những năm qua đã được một số nhà khoa học và cán bộ làm công tácthực tiễn tiến hành, công bố trong nhiều công trình khoa học Có một số luận
án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, một số giáo trình giảng dạy, bài viết trên tạp chí vàmột số sách chuyên khảo ở những khía cạnh nhất định đã nghiên cứu đề cậpđến vấn đề này Đáng chú ý là các công trình sau:
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ:
Trang 5+ "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố
ở Việt Nam từ 1945 đến nay", do Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện
năm 1999;
+ ''Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong công tác kiểm sát hình sự'', đề tài nghiên cứu cấp bộ, do Ngô Văn Đọn chủ biên, năm 2004;
+ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục tố tụng tại phiên toà xét xử vụ án hình sự”, do Toà án nhân dân tối cao thực hiện, năm 2005;
+ “Thực tiễn áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong công tác xét xử của Toà án và một số kiến nghị”, do Toà án
nhân dân tối cao thực hiện, năm 2009;
- Một số công trình đã được in thành sách:
+ ''Sổ tay kiểm sát viên hình sự'', của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tập I năm 2006; ''Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2006;
+ "Tranh luận tại phiên toà sơ thẩm" của TS Dương Thanh Biểu, Nxb Tư
+ Luận án tiến sĩ "Quyền công tố ở Việt Nam", của nghiên cứu sinh Lê
Thị Tuyết Hoa thực hiện năm 2002;
+ Luận văn thạc sĩ "Chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam", của Trần Thị Đông, năm 2008.
Trang 6+ Luận văn thạc sĩ "Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của kiểm sát viên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang",
của Hoàng Tùng, năm 2008
- Một số bài viết trên các tạp chí như:
+ Tạp chí Nhà nước và pháp luật như: "Bàn về quyền công tố" của tác giả Phạm Hồng Hải, số 12/1999; "Đặc trưng của áp dụng pháp luật hình sự " của tác giả Chu Thị Trang Vân, số 3/2006; "Tổ chức và hoạt động của viện công tố ở Việt Nam trong giai đoạn cải cách tư pháp" của Nguyễn Đức Mai, số 10/2007; "Bàn về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn Văn Hiển, số 7/2008; "Hiệu quả thực hiện pháp luật ở Việt Nam" của TS Nguyễn Minh Đoan , số 4/2008;
+ Tạp chí Nghiên cứu lập pháp: "Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp" của Hà Mạnh Trí, số 1/2003; "Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” của Đỗ Văn Đương, số 7/2006.
+ Tạp chí kiểm sát: "Nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra" của Trần Văn Thuận, tháng
9/2003;
- Các bài giảng: "Lý luận thực hiện pháp luật trong thời kỳ mới" của PGS.TS Lê Văn Hoè; "Quy trình thực hiện pháp luật: Lý luận, thực trạng và giải pháp" của PGS.TS Bùi Xuân Đức; "Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật" của PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh
Các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã nghiên cứu về mặt lý luận,thực tiễn và đề xuất những giải pháp khoa học ở những cấp độ, góc độ khácnhau với mục đích nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong thực hành quyềncông tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung, thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói riêng được chính xác, kịp thời,
Trang 7đúng pháp luật và khắc phục các tồn tại vướng mắc Tuy nhiên, do pháp luậtchưa quy định đầy đủ và cụ thể, nên trên thực tế có những nhận thức khác nhau,dẫn đến việc áp dụng các quy định của pháp luật khác nhau Kế thừa các kếtquả nghiên cứu trên, tác giả mạnh dạn tiếp cận vấn đề áp dụng pháp luật dướigóc độ lý luận về nhà nước và pháp luật để nghiên cứu về áp dụng pháp luậttrong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựcủa viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; với mong muốn góp phần tìm ra giảipháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp nói chung và ở giai đoạn xét
xử các vụ án hình sự ở cấp tỉnh nói riêng chính xác, kịp thời, đúng pháp luật,đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và công cuộc đổi mới của Đảng và Nhànước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dâncấp tỉnh
Trang 8nhân dân cấp tỉnh ban hành bản án mà không có kháng cáo hoặc không bịkháng nghị; không nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong thực hành quyềncông tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn xét xử phúc thẩmhoặc bị kháng nghị theo thủ tục đặc biệt (giám đốc thẩm, tái thẩm).
4 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Luận văn nghiên cứu những vấn đề về lý luận, cơ sở pháp lý, thực trạng
áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩmcác vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, đồng thời đưa ra nhữngphương hướng, giải pháp nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viên kiểm sátnhân dân cấp tỉnh được đúng đắn, đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu cải cách tưpháp, góp phần cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công cuộc đấu tranhphòng, chống tội phạm và bảo vệ ngày càng tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân
- Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích, làm rõ khái niệm về áp dụng pháp luật, quyền công tố,thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự củaViện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
+ Đặc điểm, qui trình và các điều kiện đảm bảo việc áp dụng pháp luậttrong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựcủa Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh;
+ Phân tích, đánh giá tình hình áp dụng pháp luật trong thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sátnhân dân cấp tỉnh trong những năm gần đây; một số nguyên nhân và tồn tại;
Trang 9+ Xác định và đưa ra một số giải pháp để bảo đảm việc áp dụng phápluật trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật;các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế trongđấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phát huy dân chủ,công khai minh bạch đối với hoạt động của các cơ quan công quyền trong đó
có hoạt động của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng
về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày2/1/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác Lênin Đồng thời, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: Phân tích,tổng hợp, thống kê, so sánh v.v
-6 Đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình khảo sát đầu tiên nghiên cứu một cách tương đốitoàn diện và có hệ thống ở cấp độ luận văn thạc sĩ về hoạt động áp dụng phápluật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trên phạm vi toàn quốc Ở mức độ nhấtđịnh, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tư liệu thamkhảo phục vụ cho cán bộ, kiểm sát viên trong cơ quan Viện kiểm sát, nhất lànhững Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác thực hành quyền công tố và kiểmsát xét xử hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh Bên cạnh đó, luậnvăn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu
Trang 10giảng dạy và nghiên cứu một số chuyên đề khác có liên quan đến hoạt độngthực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung vàtrong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự ở giaiđoạn sơ thẩm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh nói riêng.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ Lí LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HèNH
SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH.
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1.1 Quyền công tố, thực hành quyền công, kiểm sát hoạt động
tư pháp trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
1.1.1.1 Quyền công tố
* Khái niệm quyền công tố
Quyền công tố cũng như các chế định pháp luật khác, là một phạm trùlịch sử, là sản phẩm của xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhấtđịnh, nó xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước Trên thế giới, do có sựkhác biệt về mặt thể chế chính trị, điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa …nên chế định công tố cũng có sự khác biệt trong cơ chế vận hành, nhưng quátrình diễn biến của nó đều thể hiện rõ quy luật tất yếu chung của sự phát triểnlịch sử Đó là, quyền công tố luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một
bộ phận cấu thành và không tách rời khỏi công quyền
“Công tố” theo Đại từ điển tiếng Việt, “công” có nghĩa là “thuộc vềNhà nước, tập thể, trái với tư”, còn “tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm,tội lỗi của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặctrước nhiều người”, “công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạmpháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án” [25, tr.453, 459,1663]
Như vậy công tố có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là phápluật hình sự Bất kỳ Nhà nước nào cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực hình
sự, bởi chính pháp luật hình sự là phương tiện cai trị hữu hiệu nhất Khi một
Trang 12hành vi bị coi là tội phạm được thực hiện sẽ làm phát sinh một quan hệ phápluật giữa một bên là Nhà nước và bên kia là người phạm tội Trong mối quan
hệ này, Nhà nước là chủ thể quyền lực (quyền lực công), là người thực hiện
sự buộc tội, đối tượng bị Nhà nước cáo buộc là người đã thực hiện hành vi tộiphạm Công tố, vì thế được hiểu là sự buộc tội nhân danh công quyền (Nhànước) đối với người đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm trước Tòa án ỞViệt Nam, quyền công tố và thực hành quyền công tố được nhắc đến nhiềukhi đề cập đến chức năng của Viện kiểm sát các cấp Hiến pháp năm 1980 làvăn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa ra thuật ngữ “thực hành quyềncông tố” (Điều 138 Hiến pháp 1980) và được nhắc lại ở Điều 1, Điều 3 Luật
tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1981 Như vậy, trong các hoạt động củaViện kiểm sát nhân dân, bên cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuântheo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyềncông tố” Từ đó đến nay, đã có nhiều tài liệu nghiên cứu, bài viết trên các tạpchí đề cập đến khái niệm này với những mức độ khác nhau Song cho đến naykhi chúng ta đang trong quá trình đẩy mạnh cải cách tư pháp, vẫn chưa đạtđược sự thống nhất cao trong nhận thức về vấn đề này Có thể khái quát một
số quan điểm chính sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, "quyền công tố là quyền của Nhà nước
giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tạiphiên tòa (thực hiện quyền công tố)" [57, tr.24] Quan điểm này nhấn mạnhvai trò duy nhất của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố và chỉ thựchiện duy nhất là tố tụng hình sự và cũng chỉ có ở một giai đoạn xét xử sơthẩm mà thôi Quan điểm này cũng phản đối việc gắn liền quyền công tố củaViện kiểm sát và một số quyền năng mà luật quy định cho Viện kiểm sát ởgiai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự Nếu hiểu quyền công tố như vậy thì
đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm vi quyền công tố và không phảnánh được đầy đủ bản chất của quyền này Trên thực tế, hoạt động truy tố và
Trang 13buộc tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa chỉ là một số nội dung của hoạt độngthực hành quyền công tố Nói cách khác, truy tố và bảo vệ buộc tội tại phiêntòa chỉ là một số trong các quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyềncông tố.
Quan điểm thứ hai cho rằng, "quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà
nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợiích nhà nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật" [63, tr.84-87] Đây làquan điểm phổ biến của ngành Kiểm sát trước đây và được đưa vào chươngtrình giảng dạy chính thức của các trường Đào tạo của ngành kiểm sát Theoquan điểm này, quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật,được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cùng với sự phát của xãhội, của các ngành luật nên quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực tốtụng khác như tố tụng dân sự, tố tụng khác Theo quan điểm này, trong khoahọc pháp lý xã hội chủ nghĩa, khái niệm quyền công tố được xác định trên cơ
sở các khái niệm công tố nhà nước, công tố xã hội và tư tố Quyền công tố làquyền của nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện theo luật định Nộidung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luậtđịnh được tiến hành với sự liên kết chặt chẽ với nhau mà Viện kiểm sát cótrách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp Quyền công tố là mộtquyền năng nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, xét
về nội dung thực hành quyền công tố là kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong lĩnh vực hình sự và dân sự và các lĩnh vực tố tụng khác nhằm đảm bảomọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra xử
lý theo pháp luật, tăng cường pháp chế thống nhất Như vậy, quan điểm này
đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố, dẫn đếnxóa nhòa ranh giới và tính đặc thù của tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụngkhác Quan điểm nêu trên đã thể hiện sự đồng nhất giữa khái niệm quyền
Trang 14công tố nhà nước với khái niệm thẩm quyền của Viện kiểm sát trong quá trìnhgiải quyết các vụ án hình sự, dân sự và các loại án khác
Quan điểm thứ ba cho rằng, "quyền công tố là quyền Nhà nước giao
cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và
áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội" [69, tr.380] Theo quanđiểm này, bản chất của quyền công tố là quyền tư pháp mà Nhà nước dùng nó
để đấu tranh chống tội phạm Quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụngthực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự vàthi hành án hình sự, do vậy công tố chính là nguyên tắc tố tụng hình sự Theoquan điểm này, không chỉ Viện kiểm sát mà các cơ quan tố tụng khác như Cơquan điều tra, Tòa án, Thi hành án đều được thực hiện quyền công tố, vàquyền công tố được thực hiện trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự Hiểu kháiniệm quyền công tố như quan điểm trên là chưa chính xác, nó đã đồng nhấtkhái niệm quyền công tố với nguyên tắc tố tụng hình sự Vì vậy dẫn đến sựnhầm lẫn giữa các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong tố tụng hình
sự Mỗi hoạt động trên được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thể nhất định,tùy thuộc vào từng giai đoạn cụ thể của quá trình tố tụng hình sự
Quan điểm thứ tư cho rằng, "quyền công tố là sự cáo buộc của Nhà
nước đối với cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật bao gồm vi phạm hànhchính, vi phạm pháp luật dân sự, luật kinh tế, luật hình sự và là quyền củaNhà nước thực hiện sự cáo buộc đó" [31, tr.24-33] Theo quan điểm này, công
tố là quyền chỉ thuộc về Nhà nước, Nhà nước thực hiện quyền công tố là mộtnhu cầu tất yếu khách quan, Nhà nước không thể không thực hiện quyền công
tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, nên Nhà nước phải cónhiệm vụ bảo vệ trật tự pháp luật Quyền công tố của Nhà nước không chỉđược thực hiện trong tố tụng hình mà còn được thực hiện cả trong tố tụng dân
sự, kinh tế, lao động và hành chính Biểu hiện của quyền công tố trong cáchoạt động tố tụng này là ở các quyền của Viện kiểm sát như quyền khởi tố vụ
Trang 15án (hình sự, dân sự, hành chính, lao động), quyền tham gia tố tụng từ bất cứgiai đoạn nào, quyền yêu cầu tòa án hoặc tự mình điều tra, xác minh nhữngvấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án Quyền công tố trong các giai đoạn tố tụngkhác nhau thì không giống nhau về nội dung cũng như hình thức thực hiện.Trong tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố có nghĩa là Nhà nước thựchiện sự buộc tội đối với người phạm tội cụ thể, còn trong các hình thức tốtụng khác, thực hành quyền công tố được hiểu là việc Nhà nước trực tiếp haygián tiếp (bằng văn bản) quy lỗi cho một người hay một pháp nhân nào đótrong việc thực hiện một hay nhiều hành vi vi phạm pháp luật tương ứng Nhưvậy, sự buộc tội chỉ là một trong những nội dung của công tố, bởi công tốngoài buộc tội (quy lỗi hình sự) còn là việc quy lỗi cho người khác Hiểu kháiniệm quyền công tố như quan điểm trên là chưa hoàn toàn chính xác, bởi hoạtđộng của Viện kiểm sát và Tòa án không phải lúc nào cũng nhằm truy cứutrách nhiệm pháp lý đối với một người nào đó Trên thực tế, có không íttrường hợp hoạt động của hai cơ quan này chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Chẳng hạn, Viện kiểm sát cóquyền khởi tố vụ án dân sự vì lợi ích chung hoặc liên quan đến quyền và lợiích hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chấthoặc tâm thần
Quan điểm thứ năm cho rằng, "quyền công tố là quyền của Nhà nước,
được Nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt nam là cơ quan Viện kiểm sát)thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làmđược điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủtài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó truy
tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa" [57, tr.40].Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nướcđối với người phạm tội Quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệvới lĩnh vực pháp luật đã gắn liền không thể tách với việc nhân danh nhà
Trang 16nước chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó làlĩnh vực tố tụng hình sự Do vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụnghình sự mà không có trong các lĩnh vực khác.
Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có nhiều quan điểmkhác nhau, mỗi quan điểm trong đó có những hạt nhân hợp lý của nó nhưngcũng bộc lộ những bất cập nhất định Do chưa xác định đúng đối tượng, nộidung và phạm vi của quyền công tố trong mối quan hệ với các lĩnh vực phápluật, nên các quan điểm trên hoặc là thu hẹp phạm vi quyền công tố hoặc là
mở rộng phạm vi quyền công tố sang các lĩnh vực khác ngoài tố tụng hình sự,hoặc là đánh đồng quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật, coiquyền công tố chỉ là quyền năng của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc tuântheo pháp luật Nên dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố là mộthoạt động độc lập nhân danh quyền lực công
Với nhận thức của mình, tác giả ủng hộ quan điểm thứ năm nêu trên vềkhái niệm quyền công tố, bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, tác giả nhận thấy quan điểm này đã khẳng định được quyền
công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh nhà nước để buộc tội đối vớingười có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm xâm hại trật tựchung của xã hội và nó chỉ có trong lĩnh vực hình sự Quan điểm này cũngphù hợp với quan điểm truyền thống nghiên cứu của lịch sử nhà nước và phápluật về quyền công tố
Thứ hai, quan điểm này cũng thừa nhận quyền công tố gắn liền với
quyền tài phán của tòa án Đó là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớingười phạm tội ra tòa và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa Tuy nhiên, cũngcần nhận thức rằng, không có nghĩa cứ phải đưa được người phạm tội ra tòamới là thực hành quyền công tố Trên thực tế, quyền công tố có thể bị triệttiêu bất cứ lúc nào khi sự việc là đối tượng tác động của quyền công tố có đủcăn cứ để triệt tiêu
Trang 17Thứ ba, quan điểm cũng thừa nhận quyền công tố chỉ có thể do một cơ
quan thực hiện và độc lập với cơ quan tài phán (ở Việt nam thực hiện quyềnnày là Viện kiểm sát)
Thứ tư, quan điểm này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng về xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phù hợp với tiến trình cải cách
tư pháp hiện tại, cụ thể là:
- Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VIIkhẳng định: “Tập trung làm tốt chức năng công tố, bảo đảm mọi hành viphạm tội đều bị phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời, đặc biệt là tội xâmphạm an ninh quốc gia và tội tham nhũng Đối với việc bắt giữ, xét xử oan,sai cần truy cứu trách nhiệm của người ra lệnh và người thừa hành đồng thờiminh oan công khai, thỏa đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử oan sai, bảo
đảm quyền công dân đúng pháp luật" [13, tr.38].
- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:
“Viện kiểm sát tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp” [16, tr.49]
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấphành trung ương Đảng nêu rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năngcông tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp” [4]
- Theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sungnăm 2001 và Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002quy định Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng cơ bản là thực hành quyềncông tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp
- Trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội số 729ngày 14/3/2002 về dự án Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã xác định:
“Hoạt động công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện,khởi tố vụ án đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa” Từ những ý kiến
phân tích như trên tác giả đi đến kết luận: Quyền công tố ở Việt nam là quyền
Trang 18của nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện các quyền năng theo quy định của pháp luật để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa.
* Đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố
- Đối tượng của quyền công tố: là cái mà quyền công tố tác động vào
nhằm đạt được mục tiêu cụ thể nào đó như lợi ích chung của xã hội, bảo đảmtrật tự xã hội và pháp luật, trừng trị người phạm tội Hiện nay có nhiều quanđiểm khác nhau về khái niệm quyền công tố nên dẫn đến tồn tại nhiều quanđiểm khác nhau về đối tượng, nội dung và phạm vi quyền công tố
Những người theo quan điểm đồng nhất quyền công tố với kiểm sátviệc tuân theo pháp luật thì cho rằng đối tượng của quyền công tố là sự tuânthủ pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vàngười tham gia tố tụng Về bản chất, kiểm sát việc tuân theo pháp luật vàquyền công tố là hoàn toàn khác nhau Bản chất của kiểm sát việc tuân theopháp luật là việc kiểm tra, giám sát tính có căn cứ và tính hợp pháp, bản chấtcủa quyền công tố là trừng phạt những hành vi phạm tội
Với quan điểm coi quyền công tố là đại diện cho nhà nước để đưa các
vụ việc vi phạm pháp luật ra trước tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích nhànước, bảo vệ lợi ích chung, bảo vệ lợi ích cá nhân và bảo vệ trật tự pháp luậtthì đối tượng của quyền công tố là các hành vi vi phạm pháp luật Nếu nhưvậy thì đối tượng của quyền công tố rất rộng và không cụ thể, vì các hành vi
vi phạm pháp luật trong thực tế rất đa dạng, phong phú và không chỉ có tronglĩnh vực hình sự mà còn có cả trong các lĩnh vực khác Mặt khác, trong quan
hệ dân sự chủ yếu là quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, khi có tranh chấp xảy
ra thì chủ yếu đụng chạm đến lợi ích cá nhân, nên nguyên tắc đặc thù lànguyên tắc tự định đoạt của đương sự Do vậy, ý chí và lợi ích của đương sự
là động lực chủ yếu làm xuất hiện tố tụng dân sự
Trang 19Với quan điểm cho rằng, quyền công tố là quyền nhân danh nhà nướcthực hiện sự buộc tội (thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự) đối vớingười phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó thì đối tượng của quyền công tố làtội phạm và người phạm tội Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật nguyhiểm nhất, nó không chỉ xâm hại đến lợi ích cá nhân mà còn xâm hại đến trật
tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia cho nên Nhà nước phải đại diện xã hộitrừng trị người phạm tội Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cơ bản của tốtụng hình sự là nguyên tắc quyền truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc về nhànước (quyền công tố) và nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơquan tiến hành tố tụng Với sự tán đồng với quan điểm thứ năm về khái niệmquyền công tố như đã nêu ở trên thì đối tượng của quyền công tố là tội phạm
và người phạm tội
- Nội dung của quyền công tố: Còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
về nội dung của quyền công tố, nhưng xuất phát từ quan điểm về bản chất củaquyền công tố là sự buộc tội nhân danh nhà nước, đối tượng của quyền công
tố là tội phạm và người phạm tội, tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng:
“nội dung của quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiệnhành vi tội phạm” [57, tr.40] Còn việc tiến hành những biện pháp gì và cơquan nhà nước nào được giao thực hiện các biện pháp ấy để truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với người phạm tội lại là thực hành quyền công tố
- Phạm vi quyền công tố: Giống như khái niệm, đối tượng, nội dung
của quyền công tố, hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về phạm vi củaquyền công tố cả về không gian lẫn thời gian:
Về phạm vi không gian: Có nhiều quan điểm cho rằng quyền công tố
chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự Tuy nhiên bên cạnh đó còn không ítnhững quan điểm cho rằng quyền công tố không những có trong lĩnh vực tốtụng hình sự mà còn trong các lĩnh vực khác như tố tụng dân sự, tố tụng hànhchính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động Xuất phát từ quan điểm coi quyền
Trang 20công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với ngườiphạm tội, tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng, quyền công tố chỉ cótrong lĩnh vực tố tụng hình sự.
Về phạm vi thời gian (tức thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công
tố): Hiện nay còn nhiều quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, "phạm vi quyền công tố được giới hạn từ
khi kết thúc việc điều tra tội phạm, vụ án hình sự được chuyển sang Việnkiểm sát để truy tố người phạm tội ra tòa và chấm dứt sau khi tòa án xét xửxong và tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật" [40, tr.117] Như vậy, phạm
vi quyền công tố chỉ tồn tại ở giai đoạn xét xử sơ thẩm Loại quan điểm này
đã thu hẹp không chỉ về nội dung mà cả về phạm vi quyền công tố Mặt khác,nếu quan niệm như vậy thì khó mà cắt nghĩa được các hoạt động tố tụng khác,như: việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can, kháng nghị bản án có thuộc quyềncông tố hay không? Hoặc không lý giải được sự có mặt của Kiểm sát viên ởphiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm
Quan điểm thứ hai cho rằng, "phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội
phạm xảy ra và kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án" [79, 60] Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình
tr.1-sự đến cùng đối với người phạm tội Bản án có hiệu lực pháp luật cũng chỉ làcăn cứ Nhà nước tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự, ở đây là hình phạt màngười bị kết án có nghĩa vụ phải thi hành Quyền công tố phải được duy trì đểbảo đảm hiệu quả của cả quá trình tố tụng, bảo đảm mục đích của quyền công
tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với người phạm tội
Quan điểm thứ ba cho rằng, "phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi
tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không
bị kháng nghị" [57, tr.40] Quan điểm này cho rằng, khi hành vi phạm tộiđược thực hiện, bổn phận của cơ quan công tố là phải (và có quyền) tiến hànhngay các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện tội
Trang 21phạm và người phạm tội, xác định các căn cứ để kết tội họ Tác giả đồng tình,ủng hộ quan điểm này, bởi quyền công tố là quyền của Nhà nước truy cứutrách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì quyền này phải phát sinh từkhi tội phạm xảy ra và nó trừng phạt người phạm tội một cách công khai bằngcon đường Tòa án, do đó khi bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, không bịkháng nghị, tức là quyền tài phán chấm dứt thì quyền công tố cũng bị triệt tiêu.
1.1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
* Khái niệm thực hành quyền công tố.
Ở nước ta từ trước tới nay, trong các tài liệu pháp lý chủ yếu đề cậpđến vấn đề quyền công tố, trong khi đó việc nghiên cứu để làm rõ khái niệm,nội dung, phạm vi thực hành quyền công tố, mối quan hệ giữa thực hànhquyền công tố với việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập tới Trong nhận thức của không ítngười làm công tác nghiên cứu và thực tiễn trong cũng như ngoài ngành Kiểmsát đã nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố trên cácphương diện như: đối tượng, nội dung, phạm vi Họ luôn gắn quyền công tốchỉ với Viện kiểm sát, coi đó là quyền của Viện kiểm sát Do đó không lý giảiđược nhiều vấn đề như việc Cơ quan điều tra, Tòa án sử dụng các quyềnnăng pháp luật quy định để khởi tố vụ án, bị can, ra quyết định áp dụng, thayđổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn thì có phải các cơ quan này cũngthực hành quyền công tố hay không? Hay hành vi nào là thực hành quyềncông tố, hành vi nào là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.Chúng ta biết rằng, quyền công tố là quyền nhân danh công quyền buộc tộingười phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa Phạm vi quyền công
tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lựcpháp luật, không bị kháng nghị Để đảm bảo việc thực hiện quyền đó, nhànước quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp
Trang 22dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, cơ quan đượcgiao thẩm quyền đưa vụ án ra tòa để xét xử và bảo vệ việc buộc tội đó gọi là
cơ quan thực hành quyền công tố Việc quy định cơ quan thực hành quyềncông tố ở mỗi nước khác nhau, tùy thuộc vào mỗi nước Ở nước ta, nhà nướcgiao cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng này, cho nên chỉ có Viện kiểmsát mới có chức năng thực hành quyền công tố mà không có cơ quan nào cóđược
Từ những nội dung trình bày ở trên, tác giả tán đồng với quan điểm cho
rằng, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp
lý do luật định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử.
* Phạm vi thực hành quyền công tố
Xác định đúng đắn phạm vi thực hành quyền công tố có ý nghĩa quantrọng, vì có xác định đúng đắn phạm vi thực hành quyền công tố thì mới nângcao chất lượng thực hành quyền công tố Để xác định được chính xác phạm vithực hành quyền công tố, thì không thể không xem xét đến phạm vi của quyềncông tố Xét về mặt nguyên tắc thì chúng đồng nhất với nhau, nhưng trên thực
tế thì giữa hai phạm vi này còn có một khoảng cách Như trên đã trình bày,phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khibản án có hiệu lực pháp luật (trừ trường hợp có căn cứ do pháp luật quy địnhlàm quyền công tố bị triệt tiêu trước khi bản án có hiệu lực pháp luật) Mụcđích là mọi tội phạm xảy ra phải được phát hiện kịp thời, nhanh chóng và xử
lý đúng pháp luật Do vậy, cứ có tội phạm xảy ra là đòi hỏi quyền công tốphải được phát động Để có cơ sở phát động quyền công tố cần phải có mộtgiai đoạn chuẩn bị (tiền tố tụng) Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào tộiphạm xảy ra thì việc khởi tố vụ án hình sự được tiến hành, cho nên còn rấtnhiều vụ phạm tội còn tồn tại trong đời sống xã hội Nhưng quyền công tố
Trang 23luôn luôn “treo trên đầu” đối với tất cả những người đã thực hiện hành vi tộiphạm nhưng chưa bị phát hiện, khởi tố, điều tra, xét xử Điều này cũng cónghĩa là phạm vi quyền công tố rộng hơn so với phạm vi thực hành quyền
công tố Từ những suy nghĩ trên, tác giả cho rằng, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật
* Nội dung thực hành quyền công tố.
Nội dung thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổnghợp các quyền năng tố tụng độc lập để truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớingười phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng phápluật và được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án đến khi bản án có hiệu lựcpháp luật Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố bao gồm: Khởi tố vụán; khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hànhđiều tra; khi cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; quyếtđịnh áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biệnpháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơquan điều tra; hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cơquan điều tra; quyết định việc truy tố bị can; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;
Thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sựbao gồm: đọc Cáo trạng và trình bày các ý kiến bổ sung (cáo trạng là văn bảnpháp lý mang tính quyền lực nhà nước quyền công tố để Viện kiểm sát truy tốngười phạm tội ra trước Tòa án để xét xử); tham gia xét hỏi với mục đích làm
rõ các căn cứ thực tế đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật được chính xác.Nếu trong quá trình tham gia xét hỏi, căn cứ vào kết quả thẩm vấn nếu có đủcăn cứ thì giữ nguyên quyết định truy tố, trong trường hợp qua thẩm vấn thấychưa có đủ căn cứ để truy tố hoặc quyết định truy tố chưa phù hợp với thực tế
Trang 24khách quan của vụ án thì Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyếtđịnh truy tố; thực hiện việc luận tội đối với các bị cáo; tranh luận với người bàochữa và với những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm
Vậy, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi Viện kiểm sát quyết định việc truy tố người phạm tội ra tòa để xét xử và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không
bị kháng cáo, kháng nghị.
1.1.1.3 Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
* Khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp
Từ khi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đãchỉ rõ: “Viện kiểm sát tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát cáchoạt động tư pháp” [16, tr.49] và theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp 1992
đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001, Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểmsát nhân dân năm 2002 quy định Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng cơbản là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Một vấn
đề đặt ra là hoạt động tư pháp là gì? Kiểm sát hoạt động tư pháp là gì?
Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm hoạt động tư pháp,nhưng tác giả cho rằng hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan điềutra, truy tố, xét xử, thi hành án, các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ choviệc xét xử của Tòa án Tuy nhiên, không phải tất cả các hoạt động của cơquan tư pháp đều được gọi là hoạt động tư pháp Xuất phát từ nghĩa rộng củakhái niệm tư pháp, thì hoạt động tư pháp là các hoạt động liên quan đến quátrình giải quyết tranh chấp bao gồm các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu,chứng cứ về tranh chấp, hoạt động khởi kiện, khởi tố, truy tố, xét xử và thihành các phán quyết của Tòa án Cũng như các cơ quan nhà nước khác, các
cơ quan tư pháp cũng có nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Bên cạnh hoạtđộng tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) mỗi cơ quan tư pháp còn
có nhiều lĩnh vực hoạt động khác, như phòng ngừa tội phạm, tuyên truyền
Trang 25giáo dục pháp luật cũng do các cơ quan tư pháp tiến hành nhưng nó khônggắn với quá trình giải quyết một vụ án cụ thể nên không gọi là hoạt động tưpháp Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan tư pháp còntiến hành một loạt hoạt động được điều chỉnh bằng pháp luật hành chính chứkhông phải bằng pháp luật tố tụng, vì vậy không được coi là hoạt động tưpháp, như báo công tác của cấp dưới với cấp trên, thanh tra, kiểm tra Từ đó,
khái niệm hoạt động có thể được nêu như sau: Hoạt động tư pháp là tập hợp những việc làm cụ thể do các chủ thể thực hiện trong tố tụng trực tiếp, liên quan và hướng tới mục đích giải quyết các vụ án một cách đúng đắn, khách quan.
Kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của Viện kiểmsát Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát nhà nước về tưpháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác vớihoạt động giám sát nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát hoạt động tưpháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp vàcác cơ quan được giao một số hoạt động trong quá trình tố tụng như Kiểmlâm, Hải Quan, Cảnh sát biển khi tham gia và hoạt động tham gia tố tụng
Mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp là nhằm đảm bảo cho phápluật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án Trong giai đoạn tố tụng hình sự, Viện kiểm sát cótrách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định đểloại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, cá nhân nào Theo quyđịnh của pháp luật hiện hành ở nước ta, hoạt động kiểm sát các hoạt động tưpháp chỉ do một chủ thể duy nhất tiến hành, đó là Viện kiểm sát Hoạt độngnày được thực hiện bởi các Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng hình sự,
trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát Như vậy, Kiểm sát hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, do
Trang 26Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhằm đảm bảo pháp chế trong hoạt động tư pháp hình sự
* Nội dung, đối tượng, phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự.
Trên cơ sở khẳng định bản chất của kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong các hoạt động tư pháp hình sự là kiểm sát tính hợp pháp trong hành vicủa các chủ thể bị kiểm sát, từ đó có thể thấy nội dung của hoạt động kiểm sáthoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử là kiểm sát việc tuân theo pháp luậtcủa Tòa án và những người tham gia tố tụng nhằm đảm bảo việc xét xử củaTòa án được đúng pháp luật, nghiêm minh kịp thời Đối tượng của kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự là hành vi xử sựcủa các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng, các chủ thể hoạt động thamgia tố tụng Đối tượng của kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự là việctuân theo pháp luật trong hoạt động của Tòa án trong quá trình xét xử các vụ
án hình sự theo thủ tục sơ thẩm vụ án hình sự và việc tuân theo pháp luật củanhững người tham gia tố tụng
Phạm vi của kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự nói chung là vấn
đề đang còn nhiều ý kiến khác nhau Theo ý kiến của tác giả, về mặt lý luận,phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra, theo đó các cơquan tư pháp có thẩm quyền có trách nhiệm phát động quyền công tố để truycứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Khi quyền công tố được phátđộng thì mặc nhiên phát sinh hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tốtụng và tham gia tố tụng Do đó, đòi hỏi hoạt động kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động tư pháp sẽ chấm dứt khi kếtthúc các hoạt động tố tụng và mục đích của tố tụng hình sự đã đạt được Theoquy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát và Bộ luật tố tụng hình sự, công táckiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp hình sự được chiathành các lĩnh vực khác nhau gắn liền với từng giai đoạn tố tụng Mỗi công
Trang 27tác kiểm sát tư pháp trong từng giai đoạn khác nhau thì có đối tượng, phạm vi
và nhiệm vụ quyền hạn riêng nhưng đều có quan hệ mật thiết với nhau, cùngthực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tưpháp Từ phân tích trên thì, phạm vi kiểm sát việc tuân theo pháp luật tronggiai đoạn xét xử hình sự bắt đầu từ khi Viện kiểm sát quyết định việc truy tốngười phạm tội ra Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án có hiệu lực phápluật, không bị kháng cáo, kháng nghị
Kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự thể hiện trên các khía cạnhsau: Tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng trong hội đồng xétxử; việc tuân theo các quy định về tố tụng hình sự trong quá trình xét xử; việctuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra xét hỏi tại phiên tòa; việc tuântheo pháp luật của những người tham gia tố tụng; việc tuân theo pháp luật củanhững người tham gia tố tụng; việc tuân theo các quy định của trật tự phiêntòa; việc tuân theo pháp luật trong các bản án, quyết định của Tòa án
Như vậy, có thể thấy những hoạt động trên đây của Viện kiểm sát làhoàn toàn mang tính độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào Ở đây,Viện kiểm sát thực hiện việc buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quanđiểm truy tố của mình, không hề có hoạt động kiểm sát việc tuân theo phápluật Hiện nay trong lý luận cũng như thực tiễn vẫn còn nhầm lẫn giữa chứcnăng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư phápcủa Viện kiểm sát Những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát tự quyếtđịnh có liên quan đến việc cáo buộc bị can, bị cáo thì đó là những quyền năngthuộc nội dung thực hành quyền công tố Những quyền năng pháp lý mà Việnkiểm sát sử dụng để phát hiện và yêu cầu xử lý những vi phạm pháp luật của
cơ quan, người tiến hành tố tụng là những quyền thuộc chức năng kiểm sátcác hoạt động tư pháp Tuy nhiên giữa thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt tư pháp luôn đan xen lẫn nhau, quan hệ chặt chẽ, biện chứng vớinhau, có tác dụng hỗ trợ cho nhau trong suốt quá trình thực hiện chức năng,
Trang 28nhiệm vụ của mình Mối quan hệ này song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu
từ khi tội phạm được phát hiện khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cho đến khibản án có hiệu lực pháp luật Trong mối quan hệ này đều nhằm đến mục đíchchung là bảo đảm việc giải quyết chính xác, đúng đắn vụ án hình sự Bởi vì,mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố là nhằm chứng minh tộiphạm và người phạm tội cũng như các hành vi tội phạm của họ Hoạt độngnày phải hết sức đầy đủ, chính xác, khách quan theo đúng các trình tự, thủtục, nội dung do pháp luật quy định Còn kiểm sát các hoạt động tư pháp cómục đích bảo đảm các hoạt động điều tra được đúng đắn, đầy đủ, khách quan,tức là được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quyđịnh Như vậy, cả hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạtđộng tư pháp có chung mục đích bao quát là nhằm bảo đảm cho mọi hành viphạm tội đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm
và người phạm tội, không làm oan người vô tội
1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật, nội dung áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
1.1.2.1 Áp dụng pháp luật
Bất kỳ nhà nước nào cũng phải ban hành và sử dụng pháp luật như mộtcông cụ hữu hiệu nhất để quản lý xã hội Nhưng bản thân pháp luật sẽ khôngthể có được vai trò to lớn ấy nếu chúng chỉ được ban hành mà không đượcthực hiện hoặc thực hiện không triệt để, thiếu tính thống nhất Nguyên Tổng
bí thư Đỗ Mười đã nhấn mạnh:
Có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ cũng mới chỉ là cóđược một yếu tố cần của Nhà nước pháp quyền, nhưng chưa đủ Nhànước pháp quyền Việt nam của dân, do dân và vì dân, đòi hỏi pháp luật
Trang 29phải được thi hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và công bằng,theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật [41, tr.1] Thực hiện pháp luật được xem là hình thức để nhà nước thực hiện cácchức năng, nhiệm vụ của mình, quản lý và bảo vệ xã hội, còn đối với các tổchức khác hoặc các cá nhân thì đó là việc thực hiện quyền tự do hoặc các nghĩa
vụ pháp lý của họ mà pháp luật đã quy định Do vậy, thực hiện pháp luật là mộtquá trình hoạt động có lý trí và có ý chí của các chủ thể pháp luật làm cho nhữngquy định của pháp luật đi vào cuộc sống nhằm đạt được những mục đích nhấtđịnh vì lợi ích của mỗi thành viên, cũng như của cả cộng đồng xã hội
Các quy phạm pháp luật được thể hiện trong hệ thống pháp luật với sốlượng rất lớn và nội dung rất phong phú, đa dạng nên hình thức thực hiệnpháp luật cũng rất khác nhau Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiệnpháp luật, khoa học pháp lý phân chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức
là tuân thủ pháp luật; chấp hành pháp luật; sử dụng pháp luật; áp dụng phápluật
Khác với tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật lànhững hình thức thực hiện pháp luật mọi chủ thể pháp luật đều có thể thựchiện còn áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật luôn có sự thamgia của Nhà nước Đây là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt và hết sứcphức tạp bởi để thực hiện được một quy định pháp luật, nhiều khi đòi hỏi sựtham gia của rất nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau, thông qua nhiều côngđoạn, thủ tục khác nhau, với những mối liên hệ chằng chịt về vật chất, vềpháp lý, về tổ chức, kỹ thuật, tâm lý và những mối liên hệ khác
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật vừa diễn ratrong hoạt động thực hiện quyền hành pháp và thực hiện quyền tư pháp củanhà nước Đây là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan Nhà nước, làđảm bảo của nhà nước cho các quy phạm pháp luật được thực hiện có hiệuquả trong đời sống xã hội Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp nào cũng
Trang 30áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật được thực hiện trong các trường hợp
sau: Thứ nhất, trong trường hợp cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế bằng
các chế tài thích hợp đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật; Thứ hai,
khi các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cụ thể không tự phát sinh nếu
không có sự tác động của Nhà nước; Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền
và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia các quan hệ pháp luật mà họ không
tự giải quyết được; Thứ tư, trong trường hợp Nhà nước thấy cần thiết phải
tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó,hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc, sự
kiện thực tế
Áp dụng pháp luật có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, áp dụng
pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước; Thứ hai, áp dụng pháp
luật là hoạt động phải tiến hành theo những hình thức và thủ tục pháp lý chặt
chẽ; Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh có tính cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định; Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo Hình thức thể hiện chính thức của hoạt động áp dụng
pháp luật được thể hiện chủ yếu là văn bản áp dụng pháp luật
Như vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiệnquyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước traoquyền, nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thểđối với các cá nhân, tổ chức cụ thể [24, tr.503]
1.1.2.2 Nội dung áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơthẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là một dạng của
Trang 31áp dụng pháp luật nói chung, thuộc trường hợp khi Nhà nước cần truy cứutrách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm pháp luật, mà ở đây làhành vi vi phạm pháp luật hình sự bị coi là tội phạm nghiêm trọng mà cókhung hình phạt từ 15 năm tù trở lên và trách nhiệm pháp lý đó là trách nhiệmhình sự Nó được thực hiện khi kết thúc giai đoạn điều tra, bắt đầu khi Việnkiểm sát cấp tỉnh hoặc Viện kiểm sát nhân dân tối cao truy tố ủy quyền choViện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố quyết định truy tốngười phạm tội ra Tòa cấp tỉnh để xét xử sơ thẩm Cơ sở phát sinh hoạt động
áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này của Viện kiểm sát nhân dân đó là Cáotrạng của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc của Viện kiểm sát nhân dântối cao (trong trường hợp những vụ án do Viện kiểm sát nhân dân tối caokiểm sát điều tra) Khi đó, Nhà nước thông qua hoạt động áp dụng pháp luậtcủa Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, nhằm chứng minh tội phạm và ngườiphạm tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đảm bảo đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật Đồng thời thông qua hoạt động kiểm sát xét
xử sơ thẩm các vụ án hình sự để xem xét: Tư cách pháp lý của những ngườitiến hành tố tụng trong hội đồng xét xử; việc tuân theo các quy định của Bộluật tố tụng hình sự trong quá trình xét xử; việc tuân theo pháp luật tronghoạt động điều tra xét hỏi tại phiên tòa; việc tuân theo pháp luật của nhữngngười tham gia tố tụng; việc tuân theo các quy định của trật tự phiên tòa;việc tuân theo pháp luật trong các bản án, quyết định của Tòa án, giúp choTòa án ra các bản án, quyết định thấu tình đạt lý, trừng trị nghiêm khắcngười phạm tội và giáo dục phòng ngừa chung Trong giai đoạn xét xử sơthẩm các vụ án hình sự, chủ thể tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật chủyếu là Kiểm sát viên được phân công
Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét
xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân có thể coi là hoạt
Trang 32động mang tính quyền lực nhà nước của Viện kiểm sát nhân dân nhằm cábiệt hóa các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật hình
sự, pháp luật tố tụng hình sự nói riêng đối với các chủ thể trong quá trìnhgiải quyết vụ án hình sự mà
Từ khái niệm về áp dụng pháp luật nói chung và những phân tích nêu trêntác giả đưa ra khái niệm: Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố vàkiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
là một dạng thực hiện pháp luật đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân mang tính
tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước mà chủ thể tiến hành là Viện kiểm sátnhân dân cấp tỉnh tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ nhằm cá thể hóa cácquy phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình
sự và các văn bản pháp luật liên quan để xử lý các hành vi phạm tội cụ thể mà
mức hình phạt của hành vi phạm tội đó quy định trong Bộ luật hình sự từ 15năm tù trở lên, chung thân và tử hình; một số tội về xâm phạm an ninh quốcgia, phá hoại hòa bình chống loài người, tội phạm chiến tranh, những vụ ánhình sự có yếu tố nước ngoài và một số tội phạm cụ thể khác mà Bộ luật tốtụng hình sự quy định không thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dâncấp huyện Với mục đích chứng minh tội phạm, người phạm tội, bảo đảm việctruy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và ngườiphạm tội, không làm oan người vô tội
1.1.3 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là một dạng ápdụng pháp luật đặc thù Do vậy, nó mang những đặc điểm, đó là:
Trang 33Thứ nhất: áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm
sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh chỉ
do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tiến hành theo quy định của pháp luật
Theo Hiến pháp và pháp luật quy định thì Viện kiểm sát nhân dân cấptỉnh là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theopháp luật đối với các vụ án mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử Với chức năng,nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện quyền lực nhànước, trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật khixét xử sơ thẩm các vụ án hình sự mà Tòa án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, góp phầnbảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, quyền làmchủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tàisản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm mọi hành vi xâmphạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp pháp của công dân phảiđược phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là cơ quan duy nhất có chức năng thựchành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các vụ án hình sự
mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm, theo quy định tại điều 17 Luật tổ chứcViện kiểm sát nhân dân năm 2002 và các điều 199, 200, 206, 207, 217, 229, 232,
237 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyềnhạn: Đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung, nếu có; quyết định của Viện kiểmsát liên quan đến việc giải quyết vụ án; xét hỏi; thực hiện việc luận tội bị cáo tạiphiên toà; tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụngkhác; kiểm sát biên bản phiên toà; bản án, quyết định của Toà án; kiểm sát việcchuyển giao bản án, quyết định của Toà án; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản
án, quyết định sơ thẩm của Toà án; kiểm tra việc gửi hồ sơ kháng cáo, kháng nghị;cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành cáchoạt động tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 34Thứ hai, áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh phảituân thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự là hoạt động có trình tự, thủ tụcchặt chẽ vào loại bậc nhất, bởi đặc thù của hoạt động này có đối tượng tác động
là các quyền tự do, dân chủ của công dân, nếu chỉ sơ xuất nhỏ có thể làm hạnchế các quyền của công dân như: tự do thân thể, tự do đi lại, thậm chí dẫn đếnhậu quả rất lớn đó là việc ảnh hưởng đến sinh mạng chính trị và cả tính mạngcủa con người nếu quy kết oan và kéo theo là việc bồi thường thiệt hại theo Nghịquyết 388-NQ/UBTVQH10 ngày 17/3/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hộikhoá X Nhất là trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủnghĩa và công cuộc cải cách tư pháp hiện nay nhằm xây dựng nền tư pháp trongsạch, vững mạnh, dân chủ thì các yêu cầu đó ngày một chặt chẽ hơn, cụ thể hơn.Chính vì vậy, pháp luật hiện hành đã quy định rất chặt chẽ trình tự, thủ tục từviệc tiến hành các hoạt động chuẩn bị xét xử, đọc cáo trạng, trình tự xét hỏi,tranh luận
Thứ ba, chủ thể tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Việnkiểm sát nhân dân cấp tỉnh tại phiên toà chủ yếu do Kiểm sát viên cấp tỉnh tiếnhành Ở giai đoạn này thì hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyềncông tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhândân cấp tỉnh tập trung chủ yếu ở phiên toà mà tại đó chủ thể tiến hành chỉ làKiểm sát viên cấp tỉnh Ngoài ra, còn có các chủ thể khác tham gia, nhưng chỉ
có ở giai đoạn trước và sau phiên toà sơ thẩm nhưng đều có sự tham gia củaKiểm sát viên có thẩm quyền Chẳng hạn việc xem xét yêu cầu trả hồ sơ vụ
án, quyết định điều tra bổ sung hay trả lại cho Toà án thì người quyết định làViện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh quyết địnhnhưng trên cơ sở đề xuất của Kiểm sát viên cấp tỉnh được phân công hoặc
Trang 35việc kiểm tra biên bản phiên tòa, bản án, quyết định để xem xét có đề xuấtkháng nghị phúc thẩm hay không, dự thảo kháng nghị phúc thẩm bản án sơthẩm có thể do Kiểm tra viên, Chuyên viên thực hiện nhưng cũng đều có sựnhất trí của Kiểm sát viên cấp tỉnh được phân công giải quyết vụ án đó trướckhi trình lãnh đạo quyết định
Thứ tư, áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát
xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh đòi hỏi ởmỗi Kiểm sát viên cấp tỉnh phải có những khả năng phẩm chất đặc trưng, có tinhthần sáng tạo tích cực
Một đặc điểm nữa của hoạt động áp dụng pháp luật của các vụ án hình
sự xét xử sư thẩm ở cấp tỉnh giải quyết đòi hỏi Kiểm sát viên phải là người cónăng lực nhất định, hiểu biết nhiều lĩnh vực, chủ động sáng tạo một cách tíchcực Năng lực Kiểm sát viên đòi hỏi là sự am hiểu pháp luật, nhạy bén trongcông việc, có khả năng tổng hợp cao, phản ứng nhanh để bảo đảm việc truy tốđúng người, đúng tội, đúng pháp luật Tinh thần sáng tạo đòi hỏi ở họ cũngchính là do hoạt động này tập trung nhất tại phiên toà mà ở đó họ là chủ thể tiếnhành không ai làm thay, chất lượng áp dụng pháp luật trong thực hành quyềncông tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhândân cấp tỉnh ở đây đều tuỳ thuộc khả năng, sự sáng tạo của chính Kiểm sát viên.Kiểm sát viên phải có một khả năng nhất định nào đó không chỉ về chuyên môn,nghiệp vụ mà kể cả về kiến thức xã hội lẫn khả năng hùng biện mới có thể thamgia tranh tụng một cách có hiệu quả tại phiên toà Trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng viết, nói là những yếu tố hội tụbắt buộc ở Kiểm sát viên tham gia tranh tụng tại phiên toà Hay nói cách khácKiểm sát viên phải là người có năng lực chuyên môn cao và bản lĩnh chính trịvững vàng
Trang 36Thứ năm, hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấptỉnh chủ yếu không sử dụng việc ban hành các văn bản cá biệt
Hoạt động áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong giaiđoạn này thể hiện tập trung tại phiên toà sơ thẩm cấp tỉnh với đặc điểm của nó
là trực tiếp và dùng lời nói, nên ở đây giai đoạn thứ tư của quy trình áp dụngpháp luật thường là các quyết định của Kiểm sát viên được công bố trực tiếp tạiphiên toà mà ý kiến này được ghi vào biên bản phiến tòa không ban hành thànhcác văn bản cá biệt
Nói như vậy không có nghĩa là hoạt động áp dụng pháp luật ở đâykhông có giai đoạn thứ tư của quy trình áp dụng pháp luật là ban hành cácquyết định áp dụng pháp luật Bởi lẽ, một mặt hoạt động áp dụng pháp luậttrong giai đoạn này của Viện kiểm sát còn có bắt đầu trước phiên toà và kếtthúc sau phiên toà nên trước hết Viện kiểm sát nhân dân có quyền ban hành cácquyết định bằng văn bản cá biệt khác nhau như Quyết định truy tố, Quyết địnhkháng nghị; mặt khác quyết định áp dụng pháp luật cần được hiểu theo nghĩarộng, có thể là quyết định trực tiếp có hiệu lực thi hành ngay như quyết địnhcủa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà về việc luận tội truy tố
bị cáo ở điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự và các văn bản pháp luậtliên quan, đề nghị mức hình phạt ra sao, cũng như quyết định rút một phầnhoặc toàn bộ cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát trước đó
Thứ sáu, các quyết định áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhândân cấp tỉnh được pháp luật bảo đảm thi hành
Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật đã ban hành làgiai đoạn cuối của quá trình áp dụng pháp luật, nó có ý nghĩa hết sức quantrọng Khi một quyết định áp dụng pháp luật sau khi ban hành mà không đượcthi hành trên thực tế thì cũng đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa pháp luật, cơ
Trang 37quan thực thi và bảo vệ pháp luật, gây tổn hại nghiêm trọng đến pháp chế Xãhội chủ nghĩa
Việc thực hiện các quyết định áp dụng pháp luật trong thực hành quyềncông tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhândân cấp tỉnh sẽ đảm bảo cho quá trình giải quyết những vụ án hình sự theođúng quy định của pháp luật; đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêmchỉnh và thống nhất Tại điều 23, khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003quy định “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS có tráchnhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng
và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định
để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này” [53, tr.17]
1.1.4 Vai trò áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Viện kiểm sát nhân dân nói chung và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnhnói riêng có vai trò và nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa;bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệtài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do,danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm mọi hành vi vi phạm lợi íchcủa Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phải được
xử lý theo pháp luật Một trong những hoạt động cơ bản để thực hiện chứcnăng nhiệm vụ đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, trong đó áp dụng phápluật trong giai đoạn này nhằm quyết định truy tố người phạm tội ra trước Toà
án cấp tỉnh để xét xử sơ thẩm, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được
xử lý nghiêm minh, kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, khônglàm oan người vô tội là một nội dung hết sức quan trọng
Trang 38Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh còn có vai trò đảm
bảo tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng trong hội đồng xét xử;việc tuân theo các quy định về tố tụng hỡnh sự trong quỏ trỡnh xột xử; việctuõn theo phỏp luật trong hoạt động điều tra xét hỏi tại phiên tũa; việc tuõntheo phỏp luật của những người tham gia tố tụng; việc tuân theo pháp luật củanhững người tham gia tố tụng; việc tuân theo các quy định của trật tự phiêntũa; việc tuõn theo phỏp luật trong cỏc bản ỏn, quyết định của Tũa ỏn, giúpcho Toà án ra các bản án quyết định thấu tình đạt lý, trừng trị nghiêm khắcngười phạm tội và giáo dục phòng ngừa chung
Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơthẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có vai trò quantrọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật; kích thích tư duy pháp lýmới; tạo cho công dân hiểu và tự giác tuân thủ pháp luật Thực tế cho thấy, cácquy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thựchành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểmsát nhân dân cấp tỉnh nói riêng đều được kiểm nghiệm qua quá trình điều tracông khai tại phiên toà, kiểm nghiệm về tính phù hợp hay không phù hợp, tính
có căn cứ hay không có căn cứ Là cần phải có những quy định mới hay cần sửađổi bổ sung những quy định cụ thể nào khác Qua công tác này, phát hiện ranhững dạng vi phạm pháp luật mới, những dạng quan hệ xã hội mới cần phải cónhững quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời, những quy phạm đã lạc hậu,chồng chéo cần thay thế sửa đổi
Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơthẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thông qua hoạtđộng này, làm rõ hành vi phạm tội, động cơ mục đích, tác hại của tội phạm,nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội để giáo dục riêng và phòng ngừa chung,
Trang 39đồng thời kiến nghị các cơ quan hữu quan có biện pháp phòng ngừa, hạn chế viphạm và tội phạm Công tác vận động tuyên truyền của Viện kiểm sát khôngchỉ đối với các đối tượng vi phạm, tội phạm mà còn tác động rộng lớn trongcộng đồng dân cư, các cơ quan ban ngành hữu quan, đặc biệt là đối với nhữngphiên toà điển hình, phiên toà xét xử lưu động.
1.2 QUY TRÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.2.1 Khái niệm qui trình áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
Ở nước ta trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, đòihỏi phải đề cao vai trò của hoạt động áp dụng pháp luật, đặc biệt là hoạt động
áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp Điều đó nhằm tạo ra cơ chế đồng bộbảo đảm trật tự kỷ cương, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, công bằng và tiến
bộ xã hội
Áp dụng pháp luật là hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều giai đoạnkhác nhau được pháp luật quy định chặt chẽ Các giai đoạn của quy trình ápdụng pháp luật diễn ra kế tiếp nhau về mặt thời gian, trong đó giai đoạn trước
là cơ sở, tiền đề của giai đoạn sau Áp dụng pháp luật là hoạt động được tiếnhành liên tục ngay sau khi có sự kiện pháp lý xảy ra cho đến khi ban hành vănbản áp dụng pháp luật và tổ chức thực hiện văn bản đó Áp dụng pháp luật làhoạt động mang tính cá biệt, luôn có đối tượng xác định Tùy thuộc vào tínhchất của vụ việc được xem xét, pháp luật quy định trình tự, thủ tục áp dụngkhác nhau Có những vụ việc pháp luật quy định trình tự, thủ tục áp dụng rấtđơn giản, như thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, nhưng cũng có những vụviệc trình tự, thủ tục áp dụng được pháp luật quy định chặt chẽ, được thựchiện bởi một hệ thống các cơ quan có thẩm quyền khác nhau, như việc áp
Trang 40dụng pháp luật hình sự Kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật là việc banhành văn bản áp dụng pháp luật nhằm xác định quyền nghĩa vụ cụ thể mangtính tích cực của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp tráchnhiệm pháp lý đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Bởi vậy,tuân thủ nghiêm các quy định về trình tự, thủ tục là một trong những yếu tốbảo đảm hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật
Từ những phân tích trên có thể định nghĩa, quy trình áp dụng pháp luật
là trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, buộc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tuân theo trong quá trình áp dụng pháp luật.
Áp dụng pháp luật được phân chia thành các giai đoạn sau: Phân tíchđánh giá đúng, chính xác mọi tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của sự việc thực
tế đã xảy ra; Lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm rõ nộidung, ý nghĩa của quy phạm pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng; Ravăn bản áp dụng pháp luật; Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật đãban hành Mỗi ngành luật có quy định về trình tự, thủ tục áp dụng pháp luậtkhác nhau Điều đó tùy thuộc vào tính chất quan hệ pháp luật được xem xét,mức độ nghiêm khắc của chế tài pháp luật thì nhà nước quy định trình tự thủtục áp dụng pháp luật chặt chẽ hay ít chặt chẽ
Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơthẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là hoạt độngphức tạp Trên cơ sở những quyền năng pháp lý mà pháp luật trao cho ngànhkiểm sát nói chung và những vụ án thuôc thẩm quyền truy tố, xét xử của Việnkiểm sát nhân dân cấp tỉnh nói riêng để thực hành quyền công tố và kiểm sátxét xử các vụ án thuộc thẩm quyền Việc ban hành các văn bản áp dụng phápluật của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh khi thực hành quyền công tố và kiểmsát xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền có giá trị bắt buộc thi hành không chỉ