Phát triển theo bước phát triển của công cuộckháng chiến, lại được tiếp sức bởi các đoàn cán bộ, giáo viên chi viện Liên khu 4,sau những năm 50, các trường và lớp bổ túc văn hoá được mở
Trang 1-Ở vị trí bản lề của đất nước, lưng tựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt
hướng ra biển Đông bao la, với diện tích 4.795km2, với dân số 608.950 người vàvới 7 huyện, 2 thị xã, 136 xã phường - Quảng Trị là một tỉnh đất không rộng,người không đông nhưng là địa bàn có ý nghĩa chiến lược và đã từng có một lịch
sử rất đặc thù
Phải đến năm Minh Mạng thứ 13 (năm 1832) thì Quảng Trị với tư cách làmột đơn vị hành chính cấp tỉnh mới chính thức hình thành nhưng lịch sử củavùng đất đã có từ xa xưa Những bằng chứng xác thực về khảo cổ học cho thấyhàng vạn năm trước những tộc người thuộc ngữ hệ Môn - Khơ me sống trên triềnđông - tây Trường Sơn và những tộc người thuộc ngữ hệ Mã Lai - Đa đảo sống ởcác vùng đồng bằng ven biển là những chủ nhân đầu tiên đã sớm cùng cộng cư ởđây Chính họ là những người đi tiên phong trong công cuộc khai sơn phá thạchxây dựng vùng đất này
Trong lịch sử, Quảng Trị đã từng chịu nhiều biến động, xáo trộn và cắt chia.Nguyên là một phần trong bộ Việt Thường của nước Văn Lang - Âu Lạc đến thời
kỳ Hán thuộc là một phần của quận Nhật Nam (từ năm 179 trước Công nguyên).Tiếp đó là một phần của Vương quốc Chămpa (gồm châu Ô và một phần châu
Ma Linh) Đến 1069 với võ công của nhà Lý, từ Bắc cầu Đông Hà được trả vềĐại Việt nhưng phải đến tháng 6/1306, sau cuộc tình nhuốm màu sắc chính trịcủa Huyền Trân công chúa với vua Chăm là Chế Mân thì cả tỉnh Quảng Trị mớihoàn tất việc trở về đất mẹ Việt Nam Nhưng thế kỷ XV, Quảng Trị trở thànhchiến trường ác liệt với quân xâm lược nhà Minh Rồi các thế kỷ tiếp nối lại làvùng tranh chấp ác liệt giữa các tập đoàn thống trị: Lê-Mạc, Trịnh-Mạc, Nguyễn-Mạc và Trịnh-Nguyễn Trong thời kỳ hiện đại, khi dân tộc ta tiến hành hai cuộcchiến tranh giải phóng vĩ đại chống xâm lược, đất Quảng Trị sau nhiều năm khóilửa chống Pháp lại được lịch sử chọn làm nơi đối đầu khốc liệt nhất về chính trị,nơi tập trung binh lực hùng mạnh nhất của cả hai bên và cũng là nơi diễn ra cácchiến dịch có tính chiến lược trong cuộc quyết chiến với tên sen đầm quốc tếhùng mạnh - đế quốc Mỹ Suốt cả một quá trình lịch sử lâu dài cũng là quá trìnhnhân dân Quảng Trị cầm súng, cầm gươm chống giặc ngoại xâm và cũng là quátrình gồng mình lên chống đỡ thiên tai dồn dập Khói lửa chiến tranh, bão tố, lũlụt cùng những xáo trộn, chia cắt là một thực tế nghiệt ngã, tàn phá nặng nềvùng đất này và đã làm cho con người phải chịu biết bao gian khổ, mất mát, đauthương
Về văn hoá, tuy có chung các quy luật của văn hoá Việt Nam nhưng với mộtdiễn trình lịch sử và một vị trị địa lý khá đặc thù nên Quảng Trị đã là nơi gặp gỡ,tiếp nhận và giao hoà nhiều hệ văn hoá khác nhau Trên cái nền của văn hoá tiền
và sơ sử mà hội tụ ở đó không ít dấu tích của văn hoá Sơn Vi, Hoà Bình, Đông
Trang 2Sơn là quá trình tiếp biến khi tiếp cận với văn hoá Hán, Chămpa, Đại Việt, kể cảvăn hoá phương Tây Tất cả đã đan vào nhau trong khả năng dung hoà, dunghợp của người Quảng Trị để trở thành tài sản của chính mình trên hành trình tiến
về phía trước
Với một phức thể về địa lý, lịch sử, văn hoá và xã hội mang nhiều nét khubiệt đó, các thế hệ người Quảng Trị đã nối tiếp nhau cùng cộng sinh, vượt quamọi thách thức, chung sức chung lòng xây dựng quê hương Quá trình đó đã tạo
ra bản lĩnh và làm nên những phẩm chất tốt đẹp cảu con người Quảng Trị Đó là
"kiên cường, bất khuất, dũng cảm trong đấu tranh vì nghĩa lớn Cần cù, tự lập tựcường trong sản xuất và xây dựng đời sống Có tâm hồn trong sáng, bình dị, khíkhái, bộc trực, thẳng thắn và rất mực thuỷ chung" (1)
Cơ sở sâu xa làm nên sức mạnh ý chí trong những ngặt nghèo của hoàncảnh, đó chính là khát vọng sống, khát vọng vươn tới một ngày mai tươi sánghơn như một câu ca dao mà chính người Quảng Trị là tác giả:
Đừng than phận khó ai ơi
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây
Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà trong cổ sử vẫn gọi Quảng Trị là: "Trấnbiên", "trọng trấn", "phên dậu", "cửa ngõ" phía nam tổ quốc Càng không phải
vô tình khi ba lần trong ba thời điểm cam go lịch sử đã chọn Quảng Trị làm "thủphủ":
- Lần 1: (1558-1626) Nguyễn Hoàng chọn làm nơi định đô dinh chúa để khởiđộng sự nghiệp nhà Nguyễn
- Lần 2: Năm 1885, vua Hàm Nghi xây thành Tân Sở (Cam Lộ) để dựng cờ cầnvương cứu nước, chống ngoại xâm
- Lần 3: Năm 1973, thị trấn Cam Lộ vinh dự được chọn đặt trụ sở của chính phủCộng hoà miền Nam Việt Nam để thay mặt toàn miền Nam tiếp nhận quốc thưcủa các đại sứ
Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại, khi Quảng Trị trở thành
"tuyến đầu của Tổ quốc", hàng vạn người con ưu tú của đất Việt đã về đây tụnghĩa, cùng quân và dân Quảng Trị làm nên những chiến công lẫy lừng Nhiềutên đất, tên làng, tên núi, tên sông của Quảng Trị đã không chỉ còn là một địadanh thông thường mà đã thành những biểu trưng về một thời oanh liệt của dântộc Vinh dự thay khi đã có 57 cá nhân, 130 đơn vị, 100% huyện -
(1) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị - NXB Chính trị quốc gia Trang 19
-thị xã và toàn tỉnh Quảng Trị đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quýnhất: Danh hiệu anh hùng (Trong đó có 2 trường học và 1 thầy giáo là Anh hùnglao động)
Đặc điểm của vùng đất và con người nói trên đã chi phối sâu sắc quá trìnhhình thành và phát triển nền giáo dục Quảng Trị Nếu như thực tế của chiếntranh, thiên tai cùng những xáo trộn, chia cắt và với khoảng cách xa các đô thịlớn đã kìm hãm, cản trở sự phát triển thì ngược lại với khát vọng sống, khát vọng
Trang 3muốn vươn lên và bản chất cần cù, chịu thương, chịu khó của con người đã lànguyên nhân tạo nên sức sống bên trong của nền giáo dục trên mảnh đất này.Nhìn chung, so với cả nước, hệ thống giáo dục ở Quảng Trị thời bấy giờphát triển chậm và nhỏ bé Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống vănhoá và văn hiến Từ rất sớm, đặc biệt là thời kỳ Lý - Trần đã có nhiều chủ trươngtiến bộ và đã đầu tư lớn cho sự phát triển giáo dục Dưới triều Lý Thánh Tông(năm 1070, Văn Miếu Quốc Tử Giám được thành lập Năm 1075 đã có kỳ thiquốc gia đầu tiên Dưới triều Lý Nhân Tông, năm 1076, kiểu trường Đại học đầutiên: Văn Miếu Quốc Tử Giám ra đời Tiếp đó, nhất là thời kỳ nhà Trần, nhiềutrường học ở các châu, huyện được ra đời, các kỳ thi tuyển chọn nhân tài được tổchức thường xuyên, các thiết chế và bầu không khí học hành đã được hình thành
từ rất sớm Trong khi đó ở Quảng Trị vào thời kỳ này gần như chưa có gì Chođến hiện nay, chưa thấy có tư liệu nào ghi lại hệ thống giáo dục Quảng Trị tronghơn 1000 năm Hán thuộc và thời kỳ Chiêm Thành Ngay Dương Văn An khi viết
"Ô Châu Cận Lục" - năm 1555 - mặc dù đánh giá rất cao "địa khí" nơi đây, đến
mức đã đặt câu hỏi: "Nếu chẳng bảo đây là nơi nuôi dưỡng nên những bậc anh
tài, tuấn kiệt, khai mở ra đường học hành thành đạt thì làm sao có thể xứng với khí đất như vậy" (*)
(*) Ô châu Cận Lục - Dương Văn An
Nhưng trong khi ghi chép rất chi tiết nhiều mặt của xã hội cũng không thấy phảnánh về hệ thống giáo dục Điều đó cho thấy nếu có cũng rất ít và sơ sài Hệ thốnggiáo dục cùng các thể chế, định chế để phát triển được bắt đầu và ngày càng rõ
nét ở thời kỳ nhà Nguyễn, với hai thời kỳ khác nhau: Thời kỳ chúa Nguyễn
(1558-1778) là giai đoạn đặt nền móng ban đầu và giai đoạn triều Nguyễn tiếpnối thì được phát triển rộng và mạnh hơn Năm 1558, Nguyễn Hoàng chọn ái Tử
để định đô dinh chúa Trong 68 năm đặt "thủ phủ" ở Quảng Trị cũng như nhữngnăm kế tiếp khi đã chuyển vào Chính Dinh (Huế) chúa Nguyễn đã: thực thi
"những chính sách kinh tế, xã hội tích cực hơn so với đàng ngoài, các chúa
Nguyễn đã góp phần không nhỏ vào việc ổn định đời sống xã hội, tạo ra các điều kiện cần thiết để cho văn hoá Quảng Trị khẳng định cơ sở nền tảng của mình và
vươn dậy trong những vận hội mới" (1) Riêng về phát triển giáo dục, thì đúng
như nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Long: "Thời chúa Nguyễn mới
vào phải tiếp tục lo mở mang bờ cõi, tổ chức cho dân khai phá đất đai, tổ chức chính quyền cai trị, tuyển mộ binh lính, tích trữ lương thực, đào hầm đắp luỹ để chuẩn bị đối phó với chúa Trịnh, vì vậy vấn đề giáo dục được ở hàng thứ yếu Mãi đến 1674, chúa Nguyễn Phúc Tấn mới mở khoa thi Chính đồ và Hoa Văn ".
(2) Tuy nhiên trong 68 năm đóng ở Quảng Trị, với những chính sách tích cực củamình, Nguyễn Hoàng đã góp phần đáng kể cho sự phát triển giáo dục Theo tưliệu của giáo sư Nguyễn Quang Ngọc (3) thì từ 1660 đã có các kỳ thi tuyển chọnnhân tài mà nội dung đã chú trọng đến các kiến thức thực tế của người dự tuyển
Nguyễn Hoàng thực hiện chọn người vào bộ máy cai trị bằng cả hai cơ chế:
(1)Lịch sử ngành Văn hoá - Thông tin Quảng Trị - NXB 2001 Trang 10
-(2)Nho học Việt Nam - NXB Giáo dục -1995
(1): Lịch sử ngành Văn hoá tư tưởng Quảng Trị, trang 11- xuất bản năm 2001
Trang 4(3)Tiến trình lịch sử Việt Nam - Nguyễn Quang Ngọc (NXB Giáo dục-năm 2000,Trang 160)
tiến cử và thi tuyển Nhờ những chính sách tiến bộ này mà tại một số làng, xã đãlập đền Văn Thánh thờ Khổng Tử, nhiều làng xây dựng các hương ước, khoánước khích lệ sự học, phong trào đi học đã có những khởi động tích cực Học lúcnày là Nho học với vị thánh là Khổng Tử nên đã có một tục lệ mới ra đời: trướckhi cho con đi học, gia đình đưa con đến đền Văn Thánh khấn lạy với lễ vật làmột con gà, một đĩa xôi, sau đó mới gửi con cho một ông đồ nho dạy chữ Hán đểhọc Như vậy, thế kỷ XVI-XVII, thời chúa Nguyễn, tuy chưa có gì nổi trội nhưng
đã tạo được tiền đề cho giáo dục Quảng Trị, chuẩn bị cho sự phát triển cao hơnvào thời triều Nguyễn (1802-1945)
Ngay từ buổi đầu cai trị đất nước, các vua triều Nguyễn đã lấy Nho giáo làmquốc giáo và lấy Nho học làm hệ thống giáo dục duy nhất áp dụng trên toànquốc Quốc Tử Giám được chuyển từ Hà Nội vào Huế Bộ máy quản lý giáo dụcđược hình thành từ triều đình đến phủ, huyện Hệ thống trường học được pháttriển mạnh hơn Triều đình cho xây Văn Miếu ở các tỉnh, các Văn chỉ ở cáchuyện (có nhiều nơi đến xã), cho dựng bia ghi tên những người khoa bảng trongđịa hạt Các làng xã cho lập Hội Tư Văn gồm những người khoa bảng và theonho học Các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình được tổ chức thường xuyên hơn.Tính từ kỳ thi Hương đầu tiên vào năm 1807 đến kỳ thi Hội cuối cùng vào năm
Kỷ Mùi (1919) thì đã có 47 khoá thi Hương, lấy đỗ 5.252 cử nhân và 39 khoá thi
Hội, thi Đình, lấy đỗ 558 người (trong đó có 292 tiến sĩ và 266 phó bảng).
Là tỉnh ở sát cạnh kinh đô lại có một số yếu tố tiền đề từ thời chúa Nguyễn,
Quảng Trị giờ đây có thêm thuận lợi để phát triển Theo " Đại Nam thực lục
chính biên" tập VI và tập XII thì:
"Quý Mùi _ Minh Mạng (7-1823) đặt chức đốc học ở Quảng Trị, lấy tri
huyện Yên Lãng Trương Cam Triêm bổ làm phó đốc học".(1)
(1)Đại Nam thực lục chính biên - NXB Sử học, năm 1962, Trang 205
"Quý Tỵ _ Minh Mạng (1833) thăng giáo thụ là Hồ Sỹ Trinh lên đốc học
Quảng Trị".(1)
Cơ quan đốc học Quảng Trị đóng ở xã Thạch Hãn, phía tây bắc tỉnh lỵ Đếnthời Thành Thái (1907) chuyển về phía nam tỉnh lỵ Lúc này, tỉnh có hai phủ(Triệu Phong- Cam Lộ) có quan Giáo thụ, có ba huyện thuộc phủ Triệu Phong(Vĩnh Linh -Do Linh -Hải Lăng) có quan huấn đạo Ngoài các trường đã có tạitỉnh và hai phủ, các trường mới ở các huyện được hình thành Học xá của huyện
Do Linh ra đời vào thời Thành Thái thứ 2 (1890) và học xá tại Cam Lộ ra đời vàonăm Thành Thái thứ 17 (1905) Như vậy so với các thời trước, các trường học đãđược phát triển khá hơn nhất là vào thời Minh Mạng, Tự Đức Đây là các trườngquốc lập và được tổ chức, quản lý khá chặt chẽ Tại làng xã không có trường
công lập mà chỉ có trường dân lập hoặc học tại tư gia: "Trong dân gian thì xưa
nay việc học tập vẫn hoàn toàn tự dân lo liệu lấy Thầy học thì có từ thầy khoá, thầy đồ, thầy tư dạy trẻ con cho đến bậc đại khoa" (2) Đây cũng là thời kỳ pháttriển việc xây dựng các hương ước, khoán ước với các quy định rất cụ thể phục
vụ cho việc phát triển sự học
Trang 5Về hình thức tổ chức học tại các làng xã, ở Quảng Trị không có gì khác sovới nhiều địa phương khác mà nhà nghiên cứu nho học Nguyễn Thế Long đã
khái quát: "Lớp học thường đặt ở nhà thầy đồ hoặc một nhà giàu đứng ra mời
thầy về dạy con mình và trẻ em gần đó Thầy giáo ngồi trên phản hoặc chõng, học sinh trải chiếu ra sàn để học hoặc nằm phủ phục để viết Có bốn mức về trình độ: Mông học; ấu học, Trung tập và sau đó lên học bậc Đại tập ở tỉnh, rồi tham gia các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình do Triều Đình tổ chức"
(1)Đại Nam thực lục chính biên - NXB Sử học, năm 1962, Trang 34)
-(2) Đào Duy Anh - Việt Nam văn hoá sử cương NXB Đồng Tháp, 1998
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, biến nước ta thành một xã hội
thuộc địa nửa phong kiến " Cùng với chính sách cai trị nham hiểm, các thủ đoạn
đàn áp những người yêu nước và khai thác, bọc lột thuộc địa tàn nhẫn, thâm độc, chúng thực thi những âm mưu rất xảo quyệt về giáo dục", " chủ trương nhất quán của chúng là thi hành chính sách ngu dân" (1) Chương trình "Phát
triển giáo dục theo chiều nằm chứ không phát triển giáo dục theo chiều đứng"
của toàn quyền Martin năm 1924 chính là kế hoạch thực thi ý đồ đen tối đó Hậuquả trực tiếp của nó là 95% dân số Việt Nam mù chữ, cả nước năm 1940 chỉ có
44 vạn học sinh tiểu học, 5.000 học sinh trung học và 700 sinh viên đại học.Trong cái "khung" chung đó, lại là tỉnh nghèo, ở xa trung tâm nên giáo dụcQuảng Trị càng không có sự phát triển gì đáng kể Hệ thống giáo dục bao gồmcác hương trường, liên hương trường và trường sơ cấp Thực tế cho thấy, đếnnăm 1939-1940 toàn tỉnh cũng chỉ có 6 trường tiểu học: 1 trường tỉnh và 5 trườngcủa huyện (Hải Lăng, Triệu Phong, Vĩnh Linh, Cam Lộ, Do Linh) Ngoài ra, cómột số trường tiểu học với ba lớp đầu cấp ở Ngô Xá, Tường Vân (Triệu Phong),Mai Xá (Do Linh), An Ba Đông (Vĩnh Linh),
vào Quốc học (Huế) hoặc Võ Tánh (Quy Nhơn) Rõ ràng là giáo dục Quảng Trịtrong thời Pháp thuộc, cả hệ thống tổ chức cũng như quy mô người học đều bénhỏ Mục đích đào tạo là phản động, nội dung thì nghèo nàn và xa rời thực tế.Tuy nhiên, đúng như nhận định của Bộ Giáo dục và Đào tạo: "Âm mưu đồng hoáthông qua giáo dục của chúng đã thất bại về cơ bản" Số đông học sinh Quảng Trịđược học qua nhà trường thời Pháp đã không thành tay sai đắc lực của thực dân,trái lại vẫn giữ được lòng yêu nước, thương dân Đặc biệt có
(1) 50 Năm phát triển sự nghiệp Giáo dục-Đào tạo (Bộ GD & ĐT, trang 13)
một bộ phận ưu tú, gặp ánh sáng cách mạng, được Đảng dìu dắt, giáo dục, bảnthân lại giàu lòng yêu nước, giàu ý chí tự học, tự rèn đã tham gia cách mạng và
đã trưởng thành cùng cách mạng trở thành những nhà chính trị, quân sự, kinh tế,ngoại giao, văn hoá, khoa học tên tuổi đóng góp xứng đáng cho nước nhà Tiêubiểu như Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, các đồng chí Trần Hữu Dực, Trần Quỳnh,Đoàn Khuê, Đặng Thí, Trần Hoàn, Nguyễn Hữu Khiếu, Lê Chưởng và nhiềuđồng chí khác
Trang 6Nhìn một cách xuyên suốt cả một quá trình lịch sử cho đến năm 1945, trênđất Quảng Trị đã từng có hai dòng giáo dục: giáo dục dân gian và giáo dục chínhquy Dòng giáo dục dân gian là dòng giáo dục mà các thế hệ người Quảng Trị đãtruyền lại cho nhau những tri thức, những kinh nghiệm trong lao động, đánh giặc
và tổ chức cuộc sống Dòng giáo dục chính quy quy do Nhà nước phong kiến vàthực dân Pháp tổ chức, tuy có những tăng tiến nhất định theo thời gian nhưng về
cơ bản từ hệ thống tổ chức đến quy mô trường lớp, số lượng người học, cơ sở vậtchất kỹ thuật đều phát triển chậm, nhỏ bé và không có gì đặc sắc nổi trội so vớicác địa phương khác Điều quan trọng và có ý nghĩa nhất là ý thức, thái độ và kếtquả trong sự học của con người Quảng Trị trong hoàn cảnh thực tế khó khăn đó
Rõ ràng là con người Quảng Trị phải vừa học một phần trong trường học vừaphải học nhiều ở trường đời, học một phần với thầy còn lại phải tự học, tự hoànthiện bản thân Khó khăn càng nhiều thì sự khổ học càng lớn, sự khuyến khích,
hỗ trợ từ gia đình dòng họ, cộng đồng càng cao Đã có hai sự thật rất đáng trântrọng:
Một là: Truyền thống hiếu học Do những thiệt thòi riêng mà trừ danh nhân
Bùi Dục Tài, còn lại người Quảng Trị hầu hết đỗ đạt vào thời triều Nguyễn Theothống kê từ các kỳ thi, Quảng Trị đã có 166 vị đỗ cử nhân, 10 vị đỗ phó bảng và
17 vị đỗ tiến sĩ (xem bảng phụ lục đính kèm) Trong một thời gian không dài lạivới một số dân ít ỏi, đó là một tỉ lệ không thấp so với các địa phương khác.Nhưng nếu cộng chung một quá trình dài thì số lượng đó nhỏ hơn nhiều so vớicác tỉnh có điều kiện phát triển giáo dục sớm, nhất là các tỉnh ngoài Bắc Vì vậy
sẽ là không hợp lý nếu nói Quảng Trị là tỉnh có truyền thống khoa bảng Nhưngđiều vô cùng quý báu và đáng trân trọng chính là con đường vượt qua nhọc nhằn,khó khăn với lòng khát vọng để khổ học để thành tài của các danh nhân này.Trong số đó, tấm gương của Bùi Dục Tài mãi mãi là tấm gương sáng để mọi thế
hệ cùng soi Sinh vào năm Đinh Dậu (1477) tại một vùng quê nghèo (Hải Tân
-Hải Lăng), trong buổi đầu của xứ Ô - Lý mới trở về Đại Việt, nơi "đất đai hẻo
lánh, phong tục chất phác, nhân vật thưa thớt, không thể so với châu Hoan, châu ái" (*) Nhưng với ý chí khổ học sau hơn 10 năm đèn sách, ông đã "sớm nêu sĩ vọng, đột phá khai khoa" (*) xuất sắc vượt qua kỳ thi Hương (1501) rồi kỳ thi
Hội, thi Đình (1502) để vinh hạnh nhận bằng Đệ nhị giáp tiến sĩ, được "sắc tứ
vinh quy", được khắc tên vào bia ở Văn Miếu và được phong hàm thất phẩm.
"Do có công ứng nghĩa, lại tài cao được thăng tả thị lang Bộ lại"(*) Trước khi
mất ông làm chức tham tướng, sau khi mất được vua Lê Chiêu Tông truy tặng
chức Thượng thư Bộ lễ Học giả Dương Văn An ca ngợi ông: "Bùi Dục Tài về
chính trị, văn chương xứng đáng làm bậc anh tài trong thiên hạ chứ đâu phải là bậc anh tài của riêng châu Ô" Nhà bác học Lê Quý Đôn khen ông "văn mạch một phương dằng dặc không dứt" Còn nhân dân thì chôn cất, thờ cúng ông trang
trọng trong chùa lớn của làng với niềm kính yêu sâu sắc Từ người đột phá khaikhoa là Bùi Dục Tài năm (1502) đến người đỗ phó bảng trong kỳ thi Hội cuốicùng (1919)là Lê Nguyên Lượng (quê ở Do Linh), các vị đại khoa Quảng Trịkhông chỉ đạt đến danh giá khoa bảng mà còn là tấm gương đáng kính, đángphục vì chí tiến thủ, đức kiên nhẫn và nghị lực phi thường Lòng hiếu học, tinhthần khổ học đó là kết tinh
-(1),(2): ¤ Ch©u CËn Lôc - D¬ng V¨n An
Trang 7(*) Trích từ "Ô Châu Cận Lục" - Dương Văn An
một cách cô đúc và sinh động khát vọng vươn lên và đức tính cần mẫn chịuthương chịu khó của người dân Quảng Trị vậy
Hai là: Truyền thống khuyến học Cùng với việc thường xuyên học hỏi,
truyền cho nhau những hiểu biết, kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, ngườidân Quảng Trị cũng sớm thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học có hệthống, quy cũ ở trường, lớp chính quy Việc số đông phải thất học càng làm chokhao khát học hành, tôn vinh sự học trong nhân dân Quảng Trị có một màu sắcriêng Điều này đã được phản ánh rất rõ qua nội dung các hương ước, khoán ướcđược xây dựng sớm ở Quảng Trị Ngay từ tháng 6 năm Giáp Ngọ (1774) hương
ước làng Phú Kinh (Hải Hoà, Hải Lăng) đã ghi rõ: "Ai ai cũng phải học, học chữ,
học nghề, học lễ nghĩa" Như vậy là cách đây gần 300 năm, người dân Phú Kinh
đã có ý thức rằng không phải một số người mà "ai ai" cũng phải học và không chỉhọc để có kiến thức mà học để còn làm việc có hiệu quả hơn và làm người tốthơn Ngày 25-6-1856, bản khoán ước của làng Cu Hoan (Hải Thiện, Hải Lăng)
quy định cụ thể việc tạo điều kiện cho sự học: "Trích 9 mẫu hạ điền, 5 sào thu
điền cấp cho việc học giao cho lý dịch 3 mẫu, giá 48 quan để lo tế xuân thu nhị
kỳ, còn 6 mẫu với giá 100 quan chuẩn cấp cho việc mời thầy dạy, 5 sào còn lại chuẩn cấp cho phu trường" Nhiều làng khác ngoài nội dung trên đã quy ước rất
cụ thể về các điều khoản để khuyến khích ngươì dạy, người học Chẳng hạn:
"Học trò nghèo chăm học được làng trợ cấp, đi thi được cấp tiền, gạo làm lệ phí
nhằm giúp con em chú tâm vào đèn sách và ứng thi thành đạt" Hay: "Những ai khai khoa tiến sĩ văn-võ, bản xã làm một lễ tạ tam sinh (lợn, trâu, dê) lại được mừng tiền 10 quan, ngoài ra gia thưởng một mẫu ruộng canh tác suốt đời Ai đỗ
cử nhân văn - võ, thì bản xã mổ trâu lễ tạ, được thưởng 8 quan, gia thưởng 5 sào ruộng canh tác suốt đời Những ai đỗ tú tài, bản xã làm lễ tạ một bò, mừng tiền 5 quan, gia thưởng 3 sào ruộng "(1) Thành đạt của các vị đại khoa, ngoài niềmsay mê và ý chí của chính họ còn có biết bao công lao tần tảo của những người
vợ, một nắng hai sương của các bậc cha mẹ, sự hỗ trợ, khuyến khích của dòng
họ, xóm làng Những khuyến khích, hỗ trợ học hành này đã góp phần trực tiếpcho họ thành đạt và khi họ đã thành đạt thì đó là niềm vui, niềm kiêu hãnh to lớncủa gia đình, dòng họ, làng xóm Khi học, khi thi được cả cộng đồng khích lệ,giúp đỡ, khi thành đạt thì được cả làng xã hân hoan đón rước, khi mất thì đượclàng xóm chăm lo hậu sự, thờ cúng thành kính
Tóm lại, qua một quá trình dài dưới chế độ phong kiến và thực dân Pháp,nền giáo dục chính quy trên đất Quảng Trị là nhỏ bé và cách xa với yêu cầu củacuộc sống Những tài sản to lớn mà lịch sử đã để lại đó là: truyền thống hiếu học
và khuyến học của nhân dân ta Đây là một nội lực cho sự phát triển nền giáo dụctrong chính thể mới và thời đại mới
*
* *
(1) Xem Tạp chí Cửa Việt (số 15/92
Trang 8Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, cuộc Cách mạng tháng 8-1945 đãthành công rực rỡ, đưa dân tộc ta bước sang một giai đoạn phát triển mới vềchất Nền giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục Quảng Trị nói riêng dù phảitrải qua thách thức to lớn của hai cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ đã chứngminh được sức sống của mình bằng sự phát triển liên tục.
55 năm (1945-2000), giáo dục Quảng Trị đã trãi qua 4 thời kỳ khác nhau:
- Giai đoạn 1 (1945-1954): Từ ngày 22 đến ngày 25-8-1945, cuộc khởinghĩa cướp chính quyền đã được tổ chức thành công ở Quảng Trị - chính quyềncách mạng đã được thành lập Từ đây, người dân Quảng Trị cùng với cả nước làngười chủ của một đất nước độc lập Trong buổi đầu trứng nước đó, thực dânPháp lại quay lại xâm lược nước ta một lần nữa Kháng chiến, kiến quốc là yêucầu tổng quát của lịch sử lúc này Nền giáo dục mới chủ yếu phải xây dựng vì về
cơ bản chúng ta không thể kế thừa hệ thống giáo dục thực dân Pháp tổ chức trướcđây Trong chín năm kháng chiến, một phần vùng đồng bằng và đô thị lại bị địchchiếm, việc bắn phá, càn quét lại diễn ra thường xuyên Dù vậy, ngày từ nhữngngày đầu, cả hai hệ thống học là Bình dân học vụ và hệ thống các trường tiểu học
đã được chú trọng phát triển Một phong trào quần chúng rộng lớn, sôi nổi "diệt
giặc dốt" đã được dấy lên trên toàn tỉnh Vượt qua muôn ngàn khó khăn vì thiếu
thầy, thiếu sách, thiếu mọi phương tiện, 17 trường tiểu học của nền giáo dục mới
đã bước vào năm học đầu tiên Phát triển theo bước phát triển của công cuộckháng chiến, lại được tiếp sức bởi các đoàn cán bộ, giáo viên chi viện Liên khu 4,sau những năm 50, các trường và lớp bổ túc văn hoá được mở rộng, một sốtrường và lớp "nhô" cấp 2 tại trường tiểu học được phát triển Ngoài ra, một sốthanh niên được tỉnh chọn gửi hoặc tự túc ra vùng tự do Nghệ Tĩnh theo học cấp
2, cấp 3 Tất cả những nỗ lực to lớn này đã góp phần đáng kể trong việc nâng caotinh thần ái quốc, bồi dưỡng cán bộ cho công cuộc kháng chiến Trong công trình
"Việt Nam chống nạn thất học" của Bộ giáo dục xuất bản đã đánh giá cao những
nỗ lực phát triển của giáo dục Quảng Trị trong thơì gian này vì những cố gắngđó
- Giai đoạn 2 (1954-1975): Phát triển giáo dục trong thời kỳ kháng chiếnchống Mỹ
Sau hiệp nghị Giơ-ne-vơ 1954, nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền.Lưỡi dao chia cắt đó cắt đúng vào mảnh đất Quảng Trị Huyện Vĩnh Linh thuộc
miền Bắc XHCN, phần còn lại thuộc chính quyền Mỹ, Nguỵ Quảng Trị "như
hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ, hai khu vực với hai chế độ khác nhau, trong cùng một lúc phải đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam và cách mạng XHCN ở miền Bắc" (1)
(1) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị (trang 10, tập II)
-Quảng Trị trở thành nơi đối đầu khốc liệt nhất 20 năm của cuộc chiến,nhiều tỉnh thành bị tàn phá nhưng không có tỉnh thành nào lại bị tàn phá nặng nềnhư Quảng Trị Trong lịch sử, Quảng Trị đã từng chịu thách thức bởi chiến tranhnhưng đây là những năm tháng nghiệt ngã nhất Cả phía bắc lẫn phía nam, từ
(1): Xem T¹p chÝ Cöa ViÖt (sè 15/1992)
Trang 9miền núi đến miền biển, cả đô thị cũng như đồng bằng, tất cả đều bị bom đạn,
chất độc hoá học cày xới Toàn tỉnh là một cảnh hoang tàn đổ nát (Bình quân
mỗi người dân phải chịu 7 tấn bom, sau chiến tranh chỉ còn lại 3 làng tương đối nguyên vẹn, bình quân 5 người dân có 1 người chết hoặc thương tật )
Khu vực Vĩnh Linh - một đặc khu, về hành chính ngang cấp tỉnh - đã tận lựcphát triển giáo dục nhưng với ba giai đoạn khác nhau:
Từ 1954-1965 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ các ngành học và đã có nhữngthành công xuất sắc
Từ 1965-1972, khi đế quốc Mỹ trút hàng vạn tấn bom xuống đây, Vĩnh Linh đã
tổ chức cho toàn bộ học sinh sơ tán an toàn ra 7 tỉnh miền Bắc để tiếp tục họctập Trường PTTH Vĩnh Linh A được công nhận anh hùng có nguyên lo từ việcvượt qua những khó khăn to lớn này
Từ 1973-1976: Tổ chức lại và tiếp tục phát triển giáo dục trên một vùng đấthoang tàn vì chiến tranh
Trong suốt thời gian này, Vĩnh Linh vừa ngoan cường tổ chức tốt nền giáodục của mình vừa tận lực chi viện sức người, sức của cho giáo dục cách mạng ởcác huyện phía nam
ở phía nam, từ 1954 -1972 là thời kỳ các trường học được điều hành bởi chế
độ Mỹ - Nguỵ Lúc phát triển cao nhất có gần 1.000 giáo viên và gần 20.000 họcsinh các cấp, trường lớn nhất là trường trung học Nguyễn Hoàng ở thị xã QuảngTrị Mặc dù nhà trường Mỹ - Nguỵ đã xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ miền Bắc, kêugọi chống cộng sản nhưng những thầy giáo và học sinh yêu nước vẫn hướng vềcách mạng và không ít người đã đi theo cách mạng, theo bộ đội giải phóng ởchiến khu và một số vùng được giải phóng, các trường bổ túc văn hoá được tổchức, phong trào xoá mù chữ được phát động, một số xã đã có trường tiểu học, cábiệt vài xã có trường PTCS Từ 1958, bắt đầu có các đoàn giáo viên từ miền Bắcchi viện cho giáo dục vùng giải phóng và thật cao cả khi có hàng chục người thầygiáo - chiến sĩ đã anh dũng hy sinh cho sự phát triển giáo dục tại vùng đất ác liệtnày Ngày 1/5/1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng, hơn 3/4 đất đai và dân sốthuộc quyển quản lý của chính quyền cách mạng Ty giáo dục Quảng Trị ra đời.Phát huy sức mạnh nội lực, phối hợp với sự chi viện to lớn của hơn 1.500 cán bộgiáo viên của 15 tỉnh miền Bắc, tất cả các ngành học đều được xây dựng vànhanh chóng phát triển Trường PTTH duy nhất của vùng giải phóng miền Nam,trường PTTH Đông Hà khai giảng năm học đầu tiên vào 10/1973 Mặc dù khônggian nằm trong tầm pháo của đối phương nhưng từ 1972 đến đầu 1976, ngànhhọc Mầm non các cấp học phổ thông, hệ thống học Bổ túc cho người lớn vàtrường Sư phạm đều đã được xây dựng và tổ chức hoạt động khá nền nếp Ngoàinhững nỗ lực tối đa tại chỗ, sự chỉ đạo của Bộ, kinh nghiệm của giáo dục miềnBắc và sự giúp đỡ chí tình của các tỉnh hậu phương có vai trò to lớn cho sự pháttriển giáo dục của vùng đất Quảng Trị
- Giai đoạn 3 (1976-1989): Phát triển giáo dục trong tỉnh Bình Trị Thiênthống nhất
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi - Tổ quốc thốngnhất, cả nước bước vào một thời kỳ mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Trang 10Việt Nam Tháng 7-1976, thực hiện chủ trương hợp tỉnh, bốn Ty giáo dục: QuảngBình, Vĩnh Linh, Quảng Trị, Thừa Thiên được hợp nhất thành Ty giáo dục BìnhTrị Thiên Từ cơ sở đang có ba loại hệ thống giáo dục: hệ thống giáo dục 10 năm(Quảng Bình, Vĩnh Linh), hệ giáo dục 12 năm của vùng giải phóng (Quảng Trị)
và hệ 12 năm của chính quyền cũ Việc hợp nhất hệ thống giáo dục đã được thựchiện một cách tốt đẹp trong một chương trình thống nhất và hợp lý Thực hiệnnghị quyết của tỉnh uỷ Bình Trị Thiên ngày 5/3/1977, tại Quảng Trị, từ 8 huyện,thị được tổ chức lại thành 4 huyện có quy mô lớn hơn: Bến Hải, Triệu Hải,Hướng Hoá và thị xã Đông Hà Mặc dù xa trung tâm của tỉnh (Huế) lại gặp rấtnhiều khó khăn về cơ sở vật chất kỹ thuật và đời sống (do bị tàn phá nặng nề củachiến tranh chưa có thời gian và điều kiện để khắc phục) nhưng giáo dục trên địabàn Quảng Trị vẫn được phát triển mạnh Mạng lưới trường lớp, quy mô các
ngành học đều tăng rõ rệt từng năm, các cuộc vận động lớn như "tăng cường
giáo dục đạo đức cách mạng", "gắn chặt hơn nữa nhà trường với cuộc sống",
"học đi đôi với hành" được dấy lên sôi nổi và do đó chất lượng đào tạo đã có
những tiến bộ nổi trội Các điển hình tiên tiến của các đơn vị giáo dục tại QuảngTrị không chỉ là điển hình của Bình Trị Thiên mà còn có ý nghĩa đối với cả nước:Trường PTCS Vĩnh Thuỷ với sự kiện ba học sinh cứu cả đoàn tàu trở thành lá cờđầu về giáo dục đaọ đức cách mạng cho học sinh Phong trào mẫu giáo xã HảiTân trở thành ngọn cờ đầu mẫu giáo nông thôn cả nước khi huy động được 100%
số cháu trong độ tuổi Huyện Triệu Hải trở thành điểm sáng về bồi dưỡng họcsinh giỏi khi có học sinh đoạt giải nhất văn và toán toàn quốc, trường trung họcCồn Tiên trở thành lá cờ đầu trường học trồng cây khi trồng được nửa triệu cây.Đặc biệt, với việc cống hiến một kinh nghiệm rất lớn về việc kết hợp giữa trườnghọc với một cơ sở sản xuất lớn XHCN trong một cơ cấu thống nhất, trường trunghọc vừa học vừa làm Tân Lâm được nhận danh hiệu trường anh hùng Trong 13năm hợp tỉnh, giáo dục tại khu vực Quảng Trị không những phát triển mà đãcống hiến cho tỉnh Bình Trị Thiên hợp nhất và cả nước một số kinh nghiệm quýbáu
- Giai đoạn 4 (1989-2000): Phát triển giáo dục khi Quảng Trị tái lập
Thực hiện Nghị quyết 86/NQ-BCT của Bộ Chính trị ngày 14-4-1989 vàNghị quyết của kỳ họp thứ V Quốc hội khoá VIII, tỉnh Quảng Trị được tái lậpngày 1-7-1989 Một không khí phấn chấn trào dâng từ tỉnh đến cơ sở, nguyệnvọng muốn đóng góp để xây dựng và phát triển Quảng Trị là nguyện vọng phổbiến trong toàn xã hội cũng như cán bộ và giáo viên thuộc ngành Theo đề nghịcủa tỉnh, Chính phủ đã đồng ý cho lấy lại 8 huyện, thị xã như truớc đầy và sau đólập thêm huyện thứ chín là huyện Đakrông Quảng Trị bắt đấu sự đổi mới và pháttriển từ một điểm xuất phát hết sức thấp Ngành giáo dục đã có những bước pháttriển của thời kỳ trước đó nhưng đó là cơ sở giáo dục của bốn huyện riêng lẻthuộc vùng xa của Bình Trị Thiên, giờ đây phải tổ chức lại trong cơ cấu của mộttỉnh độc lập Khó khăn lớn nhất là cơ sở vật chất kỹ thuật vừa thiếu vừa lạc hậu
và hầu hết ở dạng tạm bợ trong khi nguồn thu của tỉnh rất ít ỏi (cả năm 1990 chưavượt quá 25 tỉ/năm) Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh xem việc phát triển giáo dụcvừa là một hướng rất cơ bản vừa là một yêu cầu cấp bách và được ưu tiên đầu tư
theo hướng vừa tận lực phát triển "nền" vừa sớm tạo ra cái "mũi nhọn", vừa chú trọng toàn diện các yếu tố vừa tập trung đúng mức cho các giải pháp "đột phá".
Vì vậy, tất cả các ngành học đều được phát triển, giáo dục tại tất cả các địa bàn
Trang 11đều được quan tâm Trong đó việc phát huy sức mạnh tổng hợp, sử dụng sứcmạnh toàn tỉnh phối hợp và chi viện tối đa để xoá mù chữ và phổ cập tiểu họcđược tập trung thực hiện Giáo viên ở vùng sâu vùng xa đã có những đóng góprất đáng trân trọng Cô giáo Trần Thị Nở đã dũng cảm bắt rắn độc cứu trẻ em ởKhe Sanh là một tấm gương xúc động cả nước và được công nhận là chiến sĩ thiđua toàn quốc Đặc biệt, thầy giáo Hà Công Văn, hơn 20 năm bám bản, tận tuỵ
và đầy sáng tạo trong công tác nhất là sáng kiến độc đáo "Nội trú dân nuôi" đã
trở thành anh hùng lao động Các huyện, xã đồng bằng tổ chức kết nghĩa, tự cửthầy giáo cùng sách, tài liệu trực tiếp giúp các xã vùng núi khó khăn Vì vậy, năm
1998, Quảng Trị đã là tỉnh thứ 18 của cả nước (thứ 3 của miền Nam) được côngnhận hoàn thành xoá mù chữ - phổ cập tiểu học và đến nay, 2/3 huyện, thị xã,phường đạt chuẩn phổ cập PTCS Nhằm phát huy tối đa sức mạnh nội lực, phongtrào xã hội hoá giáo dục thành công nhất là hình thức Đại hội giáo dục xã -huyện được bắt đầu từ năm 1990-1991 Đồng chí Bí thư tỉnh uỷ Nguyễn ĐứcHoan đã trực tiếp chỉ đạo đại hội điểm xã Triệu Đông để từ đó "nhân" rộng ratoàn tỉnh Giáo dục Quảng Trị tạo được một cách làm mới: cộng đồng được biết,được bàn và tham gia giải quyết một số vấn đề giáo dục của địa phương bằng khảnăng của chính mình Trong hoàn cảnh nghèo khó và còn nhiều thiếu thốn, đây làmột giải pháp rất có ý nghĩa để vừa ổn định vừa phát triển giáo dục Nhiều biệnpháp để tranh thủ "ngoại lực" được chú trọng tổ chức, từ cách chương trình của
Bộ, sự giúp đỡ của các tỉnh, các ngành và những giúp đỡ thiết thực của các tổchức quốc tế đã hỗ trợ nhiều cho sự phát triển của ngành Riêng việc chỉ có 5trường hai tầng do UNICEF đầu tư đã xuống cấp nghiêm trọng năm 1990 mà nay
đã có 180 trường hai, ba tầng kiên cố, khang trang đã là một minh chứng rõ ràng.Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng VII và tiếp đó là Nghị quyết BCHTW
về Giáo dục - đào tạo, phong trào "xã hội hoá giáo dục" cũng như phong trào thiđua "Hai tốt", "kỷ cương - tình thương - trách nhiệm" trong nhà trường càngđược đẩy mạnh, giáo dục Quảng Trị đã phát triển một cách toàn diện Trên một
"nền" chung được tăng khá nhanh hàng năm, các điển hình "mũi nhọn" cũngđược hình thành một cách thuyết phục Vượt qua khó khăn, Quảng Trị đã là tỉnh
đi tiên phong trong việc đưa tin học vào nhà trường từ 1989-1990 và sớm ứngdụng công nghệ thông tin trong một số hoạt động tác nghiệp của ngành Bộ đánhgiá cao và một số tỉnh đã đến trao đổi, học tập việc làm này Việc phát hiện, bồidưỡng học sinh giỏi cũng được chú trọng ngày từ khi tỉnh lập lại Việc một tỉnh
xa nhiều khó khăn như Quảng Trị đã có học sinh đoạt giải nhất quốc gia về tinhọc, về môn sinh vật (cấp PTTH), thủ khoa một số trường đại học và các giảikhác được bắt đầu từ đây Các điển hình của các ngành học, các trường trọngđiểm chất lượng cao đã phát huy tác dụng rõ rệt thúc đẩy sự phát triển chung.Sau hơn 10 năm lập lại tỉnh, từ một điểm xuất phát thấp và đầy khó khăn,giáo dục Quảng Trị đã được tỉnh đánh giá và nhân dân công nhận là một minhchứng cho thành công của sự nghiệp đổi mới và phát triển chung Rõ ràng là
bằng sự nỗ lực tối đa từ "nội lực" cùng với những hỗ trợ của "ngoại lực", các điều
kiện đã được chăm lo một cách hợp lý, kế hoạch phát triển đã được xác lập mộtcách khoa học và hiệu quả thực tế đưa lại là: mạng lưới giáo dục đã được hìnhthành sâu rộng, loại hình được đa dạng hoá, quy mô các ngành học, cấp học tăngnhanh, các điển hình và "mũi nhọn" có sức thuyết phục, chất lượng chung ngàycàng tiến bộ
Trang 12Cho đến hôm nay, giáo dục Quảng Trị còn phải phấn đấu quyết liệt để giảiquyết những tồn tại và non yếu của mình Đó là một cơ cấu phải hợp lý hơn khingành mầm non và dạy nghề đang có khó khăn đó là yêu cầu bình đẳng về giáodục khi các vùng sâu vùng xa đang có khoảng cách xa so với vùng thuận lợi Đócũng là những điều kiện thiết yếu về trình độ đội ngũ, về cơ sở vật chất kỹ thuật Nhất là để có chất lượng cao về nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá
và hiện đại hoá Nhưng hơn bất kỳ lĩnh vực nào, giáo dục là cả một quá trình.Những gì đã đạt được là một thành công to lớn, một sự phát triển vượt bậc Khinền kinh tế Quảng Trị vẫn còn trong diện tỉnh khó khăn của cả nước nhưng vềgiáo dục đào tạo được Bộ xếp trong "tốp 10" là một xác nhận về sự phấn đấu tolớn của Đảng bộ, nhân dân và toàn ngành giáo dục cho sự nghiệp này
"Tổ chức bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ, mở Đại học và Trung
học, cải cách học theo tinh t hần mới, bài trừ cách dạy học nhồi sọ" (1) Hồ ChíMinh, vị lãnh tụ cách mạng đầu tiên đã nhận thức đúng vai trò, vị trí của giáo dụcđối với sự phát triển của đất nước, vì vậy ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội
đồng Chính phủ, ngày 03 tháng 9 năm 1945 Người đã đưa ra đề nghị: "Nạn dốt
là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta" Hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ Nhưng chỉ cần 3 tháng là đủ để
học đọc, học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ "Một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ" (2) Đề nghị đó của HồChủ Tịch trở thành Quyết định của Hội đồng Chính phủ và 3 Sắc lệnh quan trọngđược ban hành Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ (8/9/1945); sắclệnh số 19/SL hạn định trong 6 tháng các làng xã, thôn bản phải tổ chức học chữQuốc ngữ, sắc lệnh 20/SL:
Trang 13
-(1) Kháng chiến kiến quốc, Chỉ thị của BCHTW Đảng NXB Sự thật Hà Nội trang19,20
(2) Hồ Chủ tịch bàn về Giáo dục NXB Giáo dục
Xây dựng nền giáo dục cách mạng: Vì dân, do dân và được xây dựng trên
nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng được tổ chức khắp toàn quốc "Trong khi chờ đợi lập được nền Tiểu học cưỡng bức, việc học chữ Quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người Hạn trong 1 năm tất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ " Những chủ
trương táo bạo, quyết liệt, đúng đắn và sáng tạo trong những ngày đầu của Chínhphủ đã nhanh chóng được thực hiện rộng khắp trong cả nước
Quảng Trị, giành được chính quyền từ ngày 23 tháng 8 năm 1945 Ủy bannhân dân cách mạng lâm thời tỉnh ra đời do ông Trần Hữu Dực làm Chủ tịch, ôngĐặng Thí và ông Ngô Hữu Khiết làm Phó Chủ tịch đã kịp thời cử ông VươngKiêm Toàn, Nguyễn Lê Thiệu (Hội viên hội truyền bá quốc ngữ) phụ trách công
tác giáo dục, phụ trách "Chiến dịch chống nạn mù chữ" và triển khai 3 Sắc lệnh
của Chính phủ
Để thực thi Sắc lệnh của Chính phủ, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thờitỉnh quyết định giữ nguyên tổ chức thanh tra tiểu học vụ do ông Tôn Thất DươngThanh làm Trưởng ty Thanh tra tiểu học vụ Một thực tế là khi ta cướp chínhquyền, trên 95% nhân dân mù chữ Dân tộc Pa Kô, Vân Kiều, số người biết chữđếm trên đầu ngón tay Cán bộ kháng chiến phải huy động tìm nguồn ở các thôn
xã, làng bản, tập hợp hết mọi người biết chữ dể dạy cho người chưa biết chữ.Phong trào học chữ Quốc ngữ được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, chữ đượcviết khắp nơi ở đình làng, ngõ chợ, bến sông, chữ viết trên vách nhà, công cụ laođộng Các lớp học bình dân học vụ được tổ chức linh hoạt theo cụm gia đình ởcác thôn bản Trình độ người dạy cao hơn người học không được bao nhiêunhưng với nhiệt tình cách mạng vừa dạy vừa học, học lớp trên xuống dạy lớpdưới theo tinh thần người biết một chữ dạy người chưa biết chữ Đội tuyên truyềnvận động của Ty tuyên truyền Quảng Trị có sáng kiến đặt ra những câu hò, vè,những câu văn vần về chữ cái cho người học dễ nhớ như:
O tròn như quả trứng gà
Ô thời đội nón, Ơ là có râu
Những biện phápừaa có tính chất tuyên truyền cổ động, vừa có tình chất bắt
buộc học chữ Quốc ngữ được thực hiện Nhiều "Chiến sĩ diệt dốt" (1) có sángkiến lập cổng chào qua làng, làm cổng chợ, dựng cổng bến đò viết sẵn chữ liênquan bắt buộc mọi người phải đọc được mới cho qua Phong trào học chữ trởthành phong trào cách mạng, tạo ra một không khí rộn ràng, tươi sáng làm át đinhững khó khăn, thiếu thốn trong đời sống của người dân, tạo ra niền tin vào chế
độ mới, giữ vững chính quyền cách mạng, tổ chức diệt dốt thành công Chưa đầy
1 năm, Quảng Trị đã có trên một vạn người đọc thông viết thạo, làm được 4 phép
tính cộng , trừ, nhân , chia Lực lượng trẻ ở các lớp "ấu trỉ viên" (2) Sáng kiếncủa ông Trương Quang Phiên Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh được
áp dụng khắp cả tỉnh Những ấu trỉ viên hàng tháng tổ chức lửa trại, diễn kịch, ca
Trang 14hát, nhảy múa đã tập hợp được nhân dân hướng về cách mạng, ra sức tăng giasản xuất phục vụ kiên quốc.
Tháng 9 năm 1945 nhân dịp khai giảng năm học đầu tiên của nước Việt Namdân chủ cộng hòa, Hồ Chủ Tịch đã gửi thư cho học sinh cả nước Trong thưNgười đã chỉ rõ sự khác biệt giữa nền giáo dục mới và giáo dục nô lệ của thực
dân Pháp "Ngày nay các cháu được cái may mắn hơn cha anh là được hưởng
một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục sẽ đào tạo các cháu nên những người công dân có ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các cháu" (3)
Thư của Chủ tịch Nước đến với thế hệ trẻ bằng những lời khuyên ân cần thiếttha, tin tưởng Đồng thời giao phó trọng trách lớn lao cho thế hệ trẻ đối với tương
lai đất nước: "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không , dân tộc Việt
Nam có được vẻ vang sánh vai các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu" (1)
Thư của Hồ Chủ Tịch đã làm thức tỉnh hàng triệu trái tim yêu nước của thế
hệ trẻ và giáo giới, thức tỉnh hàng triệu trái tim yêu nước của nhân dân ta, mãimãi đi vào lịch sử dân tộc, khẳng định niềm tin các thế hệ cha anh đối với nòigiống con cháu Lạc Hồng
Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh đã được sự chỉ đạo của Liên khu
ủy khu Bốn (IV) hình thành Ty Bình dân học vụ do ông Lê Đình Hiên làmTrưởng ty Ngày khai trường đầu tiên ở Quảng Trị được tổ chức sôi nổi khắp cáctrường tiểu học, các lớp "ấu trỉ viên" Hình thức tổ chức trang trọng, chào cờ,hát Quốc ca, đọc thư Hồ Chủ Tịch Sau lễ khai giảng là tổ chức rước đuốc, cổđộng đi qua các đường làng ngõ xóm Trong dòng người cổ động có đầy đủngười già, người trẻ, thanh niên, phụ nữ hát vang "Bài ca hùng binh", "Chiến sĩViệt Nam" vang dậy mọi miền, thức tỉnh mọi tầng lớp nhân dân hăng hái thamgia kháng chiến kiến quốc
Năm học đầu tiên ở Quảng Trị tập trung chỉ đạo theo quan điểm của Bộ là
thực hiện nền giáo dục "Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài
Trang 15Hai ngành học Tiểu học vụ và Bình dân học vụ cùng tồn tại và phát triểnsong song Cái khó khăn lớn nhất của năm học này là sách giáo khoa bằng TiếngViệt Những bộ môn thuộc khoa học xã hội được khắc phục bằng các bài báo
"Nhân dân", báo "Tia sáng" (1) giáo viên tự biên tập về Lịch sử , Địa lý Những
bộ môn khoa học tự nhiên giáo viên phải dịch từ sách giáo khoa của Pháp TyGiáo dục cử 2 cán bộ ra Liên khu IV chép chương trình, giáo viên dựa vàochương trình mà biên soạn và dạy Trường tiểu học ở Quảng Trị lúc này không
có nhiều, qui mô nhỏ và không hoàn chỉnh Số lượng học sinh tiểu học chưa đến
1000 em (kể cả các lớp hương học ở các thôn bản)
Tại hội nghị cán bộ toàn tỉnh tháng 3 năm 1946 họp ở trụ sở tự vệ thị xãQuảng Trị, đồng chí Trần Tống ủy viên Thường vụ xứ ủy Trung Bộ đã về dự vàđánh giá như sau:
"Những cuộc vận động thực hiện 3 nhiệm vụ trọng tâm là diệt giặc đói, diệt
giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm" bước đầu đã đem lại cho Quảng Trị một sắc thái
mới tốt đẹp Qua các cuộc vận động lớn đó, Đảng bộ Quảng Trị đã huy độngđược lực lượng toàn dân tham gia xây dựng, củng cố chính quyền, tạo nên nềnmóng của chế độ mới, phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân, tổ chứcđược phong trào quần chúng rộng rãi với khí thế cách mạng sôi nổi chưa từngcó" (2)
Năm học đầu tiên có sự kiện lịch sử trọng đại là Tổng tuyển cử của Chínhphủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Quảng Trị lúc đó có 28 vạn dânvới gần 15 vạn cử tri đã hăng hái đi bầu cử Mặt trận Việt Minh đã giới thiệu cácông Lê Thế Hiếu, Đặng Thí, Trần Mạnh Quỳ
-(1) Tờ báo của Đảng bộ huyện Hải Lăng
(2) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị, tập I NXB Chính trị quốc gia 1996 - trang 242Những đại biểu đầu tiên của Quốc hội khóa I ở Quảng Trị có số phiếu cao
Sự kiện quan trọng này như luồng gió mới thổi vào không khí học tập sôi nổicủa giáo viên và học sinh trong tỉnh
Ty Bình dân học vụ và Ty Tiểu học vụ Quảng Trị đã tiến hành một đợttruyên truyền giác ngộ lực lượng giáo giới về Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghòa, thức tỉnh thế hệ trẻ về mục đích học tập về tương lai đất nước
Mặt dù tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động ảnh hưởng trựctiếp tới phong trào cách mạng ở địa phương nhưng cuộc bầu cử Hội đồng nhândân tỉnh vẫn được tiến hành Ông Nguyễn Xuân Luyện được bầu làm Chủ tịch
Ủy ban hành chính tỉnh Bộ máy Hội đồng nhân dân các cấp được kiện tòan Địagiới các xã trong tỉnh được mở rộng, toàn tỉnh có 66 xã (1) chính quyền các cấp
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Giáo dục phát triển Năm học đầu tiên có 17trường tiểu học và gần 40 lớp hương học (2), số lượng khoảng trên 2500 em Hệthống Bình dân học vụ được mở rộng trong các cơ quan, đoàn thể cấp tỉnh, cấp
xã, thôn, trong nhân dân
Trang 16Sở Bình dân học vụ Trung bộ tổ chức lớp tập huấn tại Huế mang tên Phan Thanh
có đồng chí Nguyễn Duy Trinh phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Kháng chiếnTrung bộ; đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Việt Minh đến dự; đồng chí
Võ Nguyên Giáp, Phó trưởng ban trong Hội đồng trị sự truyền bá chữ quốc ngữnói chuyện Quảng Trị có trên 10 người dự lớp này Mặt khác tăng cường tổ chứccác lớp bồi dưỡng
Trang 17-(1) Hải Lăng 16 xã; Triệu Phong 14 xã; Cam Lộ 10 xã; Do Linh 7 xã; Vĩnh Linh
15 xã; Hướng Hóa 4 xã Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị
(2) lớp học ở các thôn, xóm
tại chỗ để tăng nhanh về số lượng cán bộ bình dân học vụ
Từ những lớp học bồi dưỡng do Nha Bình dân học vụ tổ chức đã đào tạonhững hạt giống tốt cho phong trào bình dân học vụ của tỉnh Quảng Trị Để phátđộng phong trào, Ty Bình dân học vụ đã tổ chức biên chế các trưởng ban bìnhdân học vụ ở các địa phương Ông Nguyễn Hữu Ích làm trưởng ban bình dânhọc vụ ở Triệu Phong; ông Phan Quang Diêu (Phan Quang) trưởng ban bình dânhọc vụ ở huyện Hải Lăng; ông Hoàng Đức Thạc làm trưởng ban bình dân học vụ
ở Cam Lộ; ông Nguyễn Thiệu làm trưởng ban ban bình dân học vụ ở Vĩnh Linh Lúc bấy giờ ở mỗi xã, mỗi thôn đều có trưởng ban ban bình dân học vụ
Công việc đầu tiên của các ban bình dân học vụ là tổ chức tuyên truyền Thời
kỳ đầu cách mạng không có sự tách bạch nhiệm vụ trong tuyên truyền Người ta
có thể tuyên truyền đường lối Việt Minh, chính sách của Chính phủ ngay trên lớpbình dân học vụ Nội dung tuyên truyền tập trung vào chống giặc đói, giặc dốt,giặc ngoại xâm Công tác tuyên truyền cho bình dân học vụ được đẩy mạnh thànhcao trào, đi đâu, làm gì cũng xoay quanh việc học bình dân học vụ Chuẩn mựcbiết chữ được đề cao:
Lấy chồng biết chữ là tiên
Lấy chống mù chữ là duyên nợ nần
Tháng 2/1946 Bộ Giáo dục quốc gia mở Hội nghị cán bộ giáo dục toàn quốc
ở trường Ba Công Thụy Khê (Hà Nội) đoàn cán bộ Giáo dục Quảng Trị do ôngTôn Thất Dương Thanh, ông Nguyễn Linh (đại diện cho cơ sở) và ông Tôn ThấtVăn ra dự Tại hội nghị này Bộ Gíáo dục đánh giá cao thành quả đạt được củaphong trào bình dân học vụ, phong trào giáo dục của Quảng Trị
Đoàn trở về tổ chức hội nghị ở trụ sở tự vệ thị xã Quảng Trị với hơn 50 ngườitiêu biểu cho phong trào Không có phần thưởng chỉ có lời khen nhưng các cán
bộ và giáo viên vô cùng phấn khởi và do đó phong trào được nuôi dưỡng, pháttriển Số liệu lưu trữ lúc đó là 753 lớp bình dân học vụ, 327 giáo viên và 13.595học viên Con số này cũng có nghĩa là gần hết số người trong tuổi cử tri ởQuảng Trị đã biết chữ Phong trào bình dân học vụ ở Quảng Trị phát triển cho tới
khi mặt trận vỡ Trong thành công to lớn đó có sự đóng góp quan trọng của "cán
bộ bình dân học vụ" Khi mặt trận vỡ, lúc đầu cán bộ bình dân học vụ được điều
sang làm ở "Ban tăng di sản" (lo việc tăng gia sản xuất và tổ chức di tản dân ra
khỏi vùng địch chiếm đóng), chuẩn bị lực lượng tổ chức bước vào kháng chiến,sau khi ổn định được nơi ăn chốn ở lại tiếp tục mở lớp bình dân học vụ Mọi
người bền bĩ, kiên quyết làm theo tinh thần của Hồ Chủ Tịch là "Ra sức chống
giặc dốt cho dân tộc Việt Nam trở thành dân tộc thông thái" (1)
Trang 18Từ 1947 đến 1952 Ty Bình dân học vụ của tỉnh bổ sung lực lượng, rút cáccán bộ ở các huyện, điều một số giáo viên tâm huyết tự tổ chức biên soạn, in ấnsách học vần, sách học tính gửi về các lớp bình dân để giáo viên giảng dạy Năm
1950 Ty Bình dân học vụ tập hợp các bài vở soạn được thành cuốn sách "Dự bị
bình dân" dùng cho người học Cuốn sách được in bằng tipơ do Nhà in báo chiến
khu Thừa Thiên xuất bản
-(1) Bác Hồ nĩi với cán bộ, nhân dân Hải Phịng sau khi đi thăm Pháp trở về(10/1946)
Năm học 1946 - 1947 gặp muơn vàn khĩ khăn trở ngại, nhất là sau Tạm ước
14 tháng 9 năm 1946 Hồ Chủ Tịch ký với Chỉnh phủ Pháp nhằm cố gắng đẩy lùichiến tranh Thực dân Pháp bội ước, đế quợc Mĩ liên kết với quân Tưởng ào ạttấn cơng nhằm bĩp chết chính quyền non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộnghịa Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi tồn dân:
"Thà hy sinh tất cả chứ khơng chịu mất nước, nhất định khơng chịu làm nơ
lệ" (1)
"Bất kỳ đàn ơng, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, khơng chia tơn giáo, đảng
phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai cĩ súng dùng súng Ai cĩ gươm dùng gươm, khơng cĩ gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước" Người khẳng định: "Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lịng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta" (2)
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh ủy viên trung ương Đảng, Bí thư xứ ủy Trung
Bộ Đồng chí Hồng Quốc Việt Bí thư liên khu Bốn đã trực tiếp chỉ đạo các hộinghị cán bộ tỉnh Quảng Trị, vạch ra sách lược cụ thể thực hiện lời kêu gọi củaChủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện trường kỳ kháng chiến thắng lợi Ủy ban Khángchiến tỉnh Quảng Trị gồm các đồng chí Đặng Thí, Nguyễn Xuân Luyện, NguyễnHữu Khiếu Hùng Việt, Trần Sâm, Trương Quang Phiên (phụ trách giáo dục) đãvạch định các chủ trương ngăn chặn quân Pháp đánh từ Lào qua đường 9 nhằmgiải vây cho Thừa Thiên - Huế (lúc này Ủy ban Kháng chiến hành chính Trung
Bộ của ta đang đĩng ở Huế)
-(1) Hồ Chí Minh tồn tập NXB chính trị quốc gia Hà Nội 1995 Trang 486
(2) Hồ Chí Minh tồn tập NXB chính trị quốc gia Hà Nội 1995 Trang 486
Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị cùng với cả nước nhất tề đứng lên khángchiến Cơ quan tỉnh ủy chuyên lên chiến khu Ba Lịng Ủy ban quân sự địaphương tăng cường lực lượng cho sư địan 95 (trước gọi là Thiện Thuật) Quân
và dân ta trong đĩ cĩ đơng đảo học sinh và giáo viên ngày đêm đào hào, phá
Trang 19đường, đánh sập cầu, đắp chướng ngại vật trên đường cái ngăn chặn bước tiếncủa địch, thực hiện "vườn không nhà trống" , "tiêu thổ kháng chiến", thực hiệnđưa dân tản cư lên rừng núi, những miền hiểm trở để bảo toàn lực lượng chuẩn bịcho cuộc kháng chiến lâu dài Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, phát động được lòngyêu nước
của nhân dân, chúng ta đã làm hạn chế đáng kể kế hoạch "đánh nhanh thắng
nhanh của thực dân Pháp"
Ngày 10 tháng 01 năm 1947 địch vượt sông Sê pôn từ Lào đánh Khe Sanh,đường 9 Ngày 21 tháng 01 năm 1947 chúng đánh xuống Cùa, Mai Lĩnh, ĐầuMầu; ngày 16/2 chúng đánh chiếm Đông Hà; ngày 19/2 đánh chiến thị xã QuảngTrị, Hải Lăng; ngày 27/3 đánh chiếm Do Linh; ngày 30/3 đánh chiếm Vĩnh Linh.Đến đâu chúng cũng đốt phá nhà cửa, trường học, bắn giết đồng bào ta trong đó
có nhiều học sinh và giáo viên Tội ác của giặc Pháp chồng chất như núi Quan
và dân ta đã anh dũng chống trả quyết liệt làm cho kẻ địch thiệt hại nặng nề, làmchậm bước hành quân của địch Gần 1 vạn quân với xe cơ giới, máy bay, súngđạn hiện đại, chúng phải mất 3 tháng mới chiếm được một số điểm ở Quảng Trị
là bước thất bại đầu tiên của thực dân Pháp
Tháng 11 năm 1947, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ II khaimạc tại Khe Su Triệu Nguyên đã đánh giá cao kết quả đạt được trên 3 mặt trậnchính trị, quân sự và cải thiện đời sống nhân dân Về văn hóa giáo dục, nhân dânQuảng Trị vừa kháng chiến vừa chăm lo chú trọng xây dựng đời sống mới.Phong trào bình dân học vụ vẫn được duy trì, kể cả các lớp sát nách địch (1).Tỉnh ủy cũng lưu ý việc thành lập Ty Tiểu học vụ Quảng Trị Ông Trương QuangPhiên đã có công lớn trong việc tìm kiếm giáo viên có Bằng Thành chung (2) đểđảm đương trách nhiệm xây dựng Ty Tiểu học vụ Trung tuần tháng 11/1947 haichiến sĩ tự vệ đưa đường thầy Trần Duy Mân một giáo chức đang dạy ở làngĐiếu Ngao, Đông Hà lên chiến khu Ba Lòng nhận chức Trưởng ty Tiểu học vụQuảng Trị theo quyết định của Ủy ban kháng chiến hành chính Quảng Trị Bến
đò Đá nổi (Ba Lòng) lúc đó có 4 ngôi nhà tranh vách nứa do Ủy ban kkángchiến thuê dân địa phương dựng lên cho các Ty Tiểu học vụ, Ty Cứu tế xã hội,
Ty Lâm nghiệp và Ty Thú y làm việc Văn phòng Ty ngày đầu tiên có 4 người,ngoài thầy Mân có thầy Nguyễn Hữu Nguyên được phân công làm Chánh vănphòng, thầy Trần Khả giữ chức Trưởng phòng chuyên môn và thầy Nguyễn HữuBành giữ chức Trưởng phòng nhân sự kế tóan Lương Trưởng Ty được ghi rõ40,5 kg gạo/tháng; lương Phó trưởng Ty được 39,5 kg gạo/tháng; lương giáo viên
có Bằng Thành Chung là 38,5kg gạo/tháng, có bằng Tiểu học 36 kg güạo/tháng,không có bằng được 35 kg gạo/tháng Mỗi tháng được nhận 13,5kg, số gạo cònlại ghi vào sổ lương chờ khi có điều kiện thanh toán Mỗi giáo viên được cấp 2xếp giấy (1 để soạn bài, 1 để làm sổ); Hiệu trưởng được cấp thêm 1 xếp để viếtbáo cáo, 2 hộp phấn và 5 ngòi bút lá tre Hành trang ban đầu của một thầy giáokháng chiến đơn giản nhưng với tấm lòng cách mạng yêu nước sâu sắc nhiềuthầy giáo đã quên mình vì sự nghiệp giáo dục
Trang 20
-(1) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị Sách đã dẫn
(2) Trình độ ngang lớp 9 ngày nay
Vốn có học vấn và với tấm lòng yêu nước nồng nàn, giáo viên đã hăng hái
đi về các vùng khó khăn trong thế trận cài răng lược, bên địch - bên ta, tổ chứclớp học, xây dựng trường sở Vì vậy ở vùng chiến khu, vùng tự do, vùng giápranh, các lớp học được tổ chức trở lại Sau Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
II (11/1947) phong trào bình dân học vụ ở Quảng Trị được khôi phục nhanhchóng và phát triển mạnh mẽ Các cấp ủy Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở đãtập trung sức cho công tác bình dân học vụ, xem đó là một mặt trận quan trọng
Khẩu hiệu thi đua "Tiền tuyến diệt xâm lăng - Hậu phương diệt giặc dốt" "Đi học
bình dân học vụ là yêu nước, dạy bình dân học vụ là yêu nước, diệt giặc dốt là yêu nước, chống nạn thất học cũng là chống giặc ngoại xâm " Khẩu hiệu về
bình dân học vụ, chữ cái, vần, dấu thanh được viết mọi nơi, mọi chỗ, có thể nói
tỉnh Quảng Trị là "tỉnh chữ, huyện chữ, làng chữ và nhà chữ" , ngủ dậy mở mắt
ra là thấy chữ Mặt trận Việt Minh là người chỉ đạo trực tiếp, cùng với các HộiPhụ nữ, Thanh niên ra sức tổ chức bình dân học vụ theo lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh Ty Tuyên truyền của tỉnh đã có nhiều hoạt động cho bình dân học
vụ Từ đầu năm 1948 khi lực lượng của địch tỏ ra không đủ sức kiểm sóat đượcđịa bàn rộng lớn của ta quân du kích và bộ đội địa phương chặn đánh giặc đi cànquét làm cho chúng hao binh tổn tướng thì bình dân học vụ có cơ hội và điềukiện phát triển
Ngay từ khi địch đang đánh chiếm Đông Hà, Do Linh,Vĩnh Linh, huyện ủyHướng Hóa đã chỉ đạo: Khi địch đang đánh chiếm đồng bằng, tranh thủ đẩymạnh các hoạt động, chú trọng phát triển bình dân học vụ cho người Vân Kiều,
Pa Kô (1) Quyết liệt và quả cảm là tinh thần của người làm công tác giáo dục,bình dân học vụ Trường lớp bình dân học vụ không những không bị tan rã màcòn tiếp tục được mở khắp nơi
-(1) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị - Sách đã dẫn Trang 218
Linh hoạt trong cách tổ chức và sáng tạo trong việc dạy chữ là cách làm có hiệuquả của các tổ chức giáo dục lúc bấy giờ Ngành Giáo dục Quảng Trị đã huyđộng một lực lượng đông đảo cho việc mở lớp bình dân học vụ Năm học 1947 -
1948, Quảng Trị có trên 2000 lớp học Lớp học ở các đình chùa, miếu mạo,thường có mươi mười lăm người học Lớp theo tổ trực chiến, theo chòi gác địch
đi càn, lớp học liên gia hoặc mỗi gia đình là một lớp học Xã Phong Hanh huyệnTriệu Phong là một xã đồng bào Thiên chúa giáo, trong xã có 5 vị trí chốt giữ củađịch nhưng vẫn có 62 lớp với 487 người học (1)
Người dạy bình dân học vụ là những người lao động có vốn hiểu biết nhấtđịnh, nhiều khi chỉ cách một lớp nhưng vô cùng tâm huyết và tận tụy Chủ tịch
Hồ Chí Minh phong tặng cho các nhà giáo danh hiệu "Anh hùng vô danh" Khi
địch đi càn, người dạy bình dân học vụ là chiến sĩ quả cảm giết giặc, khi địch rút,người chiến sĩ là người thầy Các lớp bình dân học vụ được lồng ghép rất linh
Trang 21hoạt, vừa dạy chữ, vừa tuyên truyền kháng chiến và cũng là nơi sinh họat văn hóa
văn nghệ thực hiện đời sống mới "ăn đũa hai đầu" vệ sinh thường thức Cán bộ
bình dân học vụ nhiệt tình, chịu thương chịu khó nhất Ở huyện Hải Lăng có mộtchị giáo viên bình dân học vụ cha bị giặc Pháp bắn chết, chôn cất cha xong là đếnthẳng lớp bình dân học vụ vì biết rằng ở đó mọi người đang chờ chị (2) Giáoviên Nguyễn Quang Trung ở xã Vĩnh Thái, hai chân bị liệt đi bằng tay vẫn kiêntrì đến lớp, một mình xóa nạn mù chữ cho hàng trăm người và đã được đi dự Hộinghị thi đua toàn quốc, được nhận Huy hiệu Chiến sĩ diệt dốt Lớp học bình dânhọc vụ đã trở thành tổ ấm an ủi, chia xẻ về tình làng nghĩa xóm
(1) Việt Nam chống nạn thất học NXB Giáo dục Trang 90
Trong điều kiện thiếu thốn sách vần quốc ngữ, giáo viên bình dân học vụphải chép tay, in đất, in thạch, in đá Năm 1947 Bộ Giáo dục in 2,5 triệu bản sáchhọc vần nhưng trong điều kiện chiến tranh ác liệt đoàn quân chi viện Khu ủy khuBốn chỉ mang vào được cho Quảng Trị 400 bản, vì vậy việc nhân bản bằng chéptay là chủ yếu
Biết Ty Bình dân học vụ Quảng Trị quá thiếu thốn về đá in, Ty Bình dânhọc vụ Nghệ An tặng 10 viên đá Để đến được chiến khu Ba Lòng - nơi Ty Bìnhdân học vụ Quảng Trị đóng trụ sở Ty Nghệ An phải cử 5 người gánh, vượt quaTrường sơn hiểm trở, đi suốt cả tháng ròng mới đến được (1) Nghĩa tình khángchiến đó ngành Giáo dục Quảng Trị mãi mãi tạc dạ ghi ân
Kết thúc năm học 1948 - 1949 Quảng Trị đã tổ chức đượüc trên 2000 lớphọc, huy động gần 2 vạn người Trong công tác bình dân học vụ phải kể đến mộtlực lượng quan trọng nữa là bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực, họ vừa là đốitượng của bình dân học vụ vừa là cán bộ bình dân học vụ năng nỗ nhất Vùng núiHướng Hóa, vùng núi Do Linh, Vĩnh Linh nhờ lực lượng này mà cơ bản đã thựchiện có hiệu quả công tác diệt giặc dốt
Ty Bình dân học vụ đã triển khai chương trình tập huấn cho cán bộ bình dânhọc vụ Lúc này thầy Lê Duy Hoàn là Trưởng trại bồi dưỡng giáo viên bình dânhọc vụ Quảng Trị đã tiến hành lớp bồi dưỡng ở Khe Su cho gần 70 giáo viên bìnhdân học vụ; mở lớp bổ túc văn hóa tập trung, lồng ghép bồi dưỡng lý luận cáchmạng cho các đồng chí cán bộ chủ chốt của Đảng như đồng chí Lê Hành, Bí thưhuyện ủy huyện Hướng Hóa; Lê Văn Tài, xã đội trưởng Cam Giang; Lê ThịMiên, Bí thư phụ nữ; Hoàng Giáo, Chủ tịch liên việt huyện; Trần Thị Thí, tỉnh
ủy viên
-(1) Việt Nam chống nạn thất học - NXB Giáo dục Trang 69
Chương trình bình dân học vụ khá đa dạng và năng động Học viên vừa học chữvừa được nghe chính sách của Đảng và Nhà nước về kháng chiến kiến quốc
Trang 22Bình dân học vụ mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình giải quyết mặt dân trígiác ngộ cách mạng, hăng hái thi đua diệt giặc cứu nước.
Tháng 4/1949 đoàn văn công Khu Bốn vào phục vụ đồng bào Quảng Trị Cácnghệ sĩ Châu Loan, Văn Ký, Trần Hòan đã có dịp biểu diễn những bài hát cáchmạng cho lớp bồi dưỡng cán bộ bình dân học vụ và lớp lý luận chính trị của tỉnh
ủy Núi rừng chiến khu Ba Lòng, Mai Đàn, Mai Lộc, Bảng Sơn tưng bừng khíthế cách mạng, thúc dục mọi người đi học bình dân học vụ Từ chiến khu các cán
bộ bình dân học vụ hạ quyết tâm đẩy mạnh phong trào bình dân học vụ ở vùngbiển Quảng Trị Thầy giáo Nguyễn Hữu Xuân (người Hoàng Trung, Hoàng Hóa,Thanh Hóa) chi viện cho bình dân học vụ Quảng Trị có làn bài thơ dài về chiếndịch này, trong đó có đoạn :
Đẩy phong trào theo đoàn chi viện
Quyết sao cho vùng biển tiến lên
Phát động Mỹ Thủy một đêm
Bình dân mở lớp, đuốc đèn giăng ngang
Chiến dịch bình dân học vụ cho vùng biển được tổ chức qui mô, không quảnhiểm nguy nơi đồn bốt của địch Đoàn quân bình dân học vụ như những ngọn lửathắp sáng từ Hải Bình, Hải Trình, Hải Châu (Hải Lăng) chạy ra Phong Trạch,Phong Thạnh (Triệu Phong) sang Do Việt, Do Hải, Trung Giang (Do Linh), đếnVĩnh Tùng, Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh)
Sau thất bại ở chiến trường Việt Bắc thu đông năm 1947 giặc Pháp mở rộngcàn quét, chiến trường Bình - Trị - Thiên trở thành chiến trường ác liệt Địchđánh chiến khu Hòa Linh nơi Bộ chỉ huy phân khu của ta, đánh vào Thủy BaThượng (Vĩnh Linh), Cẩm Phổ (Do Linh), Cùa (Cam Lộ), Khe Mương (HảiLăng), khu căn cứ của huyện ủy Hải Lăng và đánh chiếm chợ Cạn (Triệu Phong).Những cuộc càn quét vây ráp của địch đã gây cho đồng bào ta những tổn thươngnặng nề Điển hình là trong 3 ngày của tháng 3 năm 1949 chúng đã giết hại hơn
1300 người dân vùng Triệu Hải Chiến tranh tàn khốc, đói kém, bệnh tật là nhữngcản trở lớn cho việc học tập của bình dân học vụ
Từ tháng 3 năm 1949, sau Đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Trị lần thứ 3phong trào bình dân học vụ phát triển trở lại Ông Lê Đình Hiên trưởng Ty Bìnhdân học vụ tỉnh được điều động ra Bộ Giáo dục, ông Nguyễn Linh giữ chứcTrưởng ty Bình dân học vụ, tiến hành tổ chức tập huấn củng cố lực lượng cán bộbình dân học vụ thực hiện những cải cách của hệ thống giáo dục bình dân học vụvới những qui định theo quỹ thời gian:
- Sơ cấp bình dân: thời gian 4 tháng cho người chưa biết chữ
- Dự bị bình dân: thời gian 4 tháng dạy đến trình độ lớp ba cũ
- Bổ túc bình dân: thời gian 8 tháng dạy đến trình độ lớp 5
- Trung cấp bình dân: thời gian 8 tháng dạy đến trình độ lớp 8 phổ thông.Bình dân học vụ đi vào ổn định và có điều kiện nâng cao chất lượng theochuẩn mực của Nha Bình dân học vụ
Trang 23Năm 1951, giáo dục phát triển mạnh, đội ngũ cán bộ, thầy giáo các cấpthiếu trầm trọng Năng lực sư phạm mà trước hết lý luận về một nền giáo dụccách mạng của cán bộ còn non nớt, nên cần phải gấp rút được đào tạo theo một
hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Trung ương Đảng, Chính phủthành lập khu học xá trung ương đặt ở Nam Ninh, Quế Lâm của nước Cộng hòanhân dân trung Hoa Quảng Trị đã có nhiều thầy giáo được đào tạo và trưởngthành từ mái trường cách mạng này
Tại đây, nhiều tài liệu giáo dục của Liên Xô, Trung Quốc được dịch ra TiếngViệt; nhiều tài liệu lý luận Mác - Lênin được xây dựng thành hệ thống quan điểmgiáo dục xã hội chủ nghĩa được trang bị có cơ sở Đây chính là sự đảm bảohướng đi cho giáo dục tương lai
Tháng 7 năm 1951, Bộ Gíao dục tổ chức Đại hội giáo dục toàn quốc ở ViệtBắc Tại hội nghị này, Công đoàn giáo dục Việt Nam chính thức được thành lập.Công đoàn giáo dục Việt Nam là thành viên của Tổng Liên đoàn lao động ViệtNam, thống nhất lực lượng giáo giới hoạt động vì mục đích là xóa bỏ giáo dục nô
lệ, xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ, làm cho giáo giới có điều kiện pháttriển năng lực, trí tuệ phụng sự cách mạng Ông Nguyễn Dương Khư là Chủ tịchCông đoàn giáo dục của Quảng Trị đã kịp thời tổ chức cho đoàn viên tích cực
tham gia vào cuộc vận động "rèn cán chỉnh cơ", tham gia thực hiện giảm tô,
giảm tức Công đoàn là tổ ấm bồi dưỡng cho đoàn viên về tư tưởng cũng như tìnhcảm cách mạng Công đoàn đã xây dựng được nhiều tập thể tiên tiến, nhiều cánhân trở thành chiến sĩ thi đua đầu tiên của Ngành Thầy giáo Lý Văn Biên (ởHải Lăng) là chiến sĩ thi đua đầu tiên của Ngành có vinh dự đi dự Đại hội liênhoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lấn thứ nhất (tháng 7 năm 1951)
Hệ thống trường tiểu học Quảng Trị trước 1952 bao gồm tất cả các lớp họcthôn xóm như lớp của Giáo Nghê (Vĩnh Thái), Giáo Đáp (Liêm Công), Trợ Dung(Vĩnh Thủy), Giáo Phán, Giáo Ích (Do Linh), Giáo Tư, Trợ Túc, Trợ Thiên, TrợĐính, Giáo Đỉnh (Triệu Phong) Những lớp này được gọi là "Hương học" hay làtrường tư Học sinh là con em lao động khá giả tự đóng góp tiền nuôi thầy Lớphọc có thể đặt ở nhà thầy cũng có thể ở một gia đình rộng rãi Bàn ghế hết sứcthô sơ, nhiều em đi học mang theo thúng để đặt úp kê viết Chương trình là củathầy, chủ yếu là dạy vần, tập viết, học thuộc lòng, làm 4 phép tính số học
Hệ thống trường lớp đầu tiên phần đông không hoàn chỉnh cấp Có trường 3thầy, trường đông là 5 - 7 thầy Các trường ở Vĩnh Hòang, Vĩnh Liêm, Vĩnh Hồ(Vĩnh Linh); Triệu Cơ, Hữu Vân, Linh Yên, Dương Lộc (Triệu Phong); CamLộc, Cam Mĩ, Cam Thủy, Cam Thanh (Cam Lộ); Hải Trung, Hải Phong, LongHưng, Diên Sanh, Mỹ Chánh (Hải Lăng) , những trường này có Hiệu trưởng, cóĐốc học kiểm sóat, sau này gọi là kiểm soát viên tiểu học vụ Hệ thống thứ ba làtrường vùng địch tạm chiếm và vùng địch chiếm - Ba hệ thống này khá độc lậptrong hoạt động, tuy nhiên có sự bổ sung rất quan trọng khi chiến sự thay đổi.Vùng giải phóng phát triển, vùng địch chiếm thu hẹp con em có trình độ từ cácloại hình đó bổ sung cho nhau, tạo ra mặt bằng học vấn trong thế hệ trẻ củaQuảng Trị
Trong điều kiện kháng chiến gay go và ác liệt, giáo dục Quảng Trị vẫn giữvững và tiếp tục phát triển hệ thống trường Tiểu học, phát triển trường cấp II: Hệ
Trang 24thống trường tiểu học của Quảng Trị từ năm học 1948-1949 phát triển mạnh.Tính cả 5 trường vùng địch chiếm, Quảng Trị có 23 trường (5 trường toàn cấp),nằm chung trong khu giáo dục khu Bốn, số lượng học sinh tăng 7 lần so với ngàyđầu cách mạng Điểm nổi bật là dù ở xa Trung ương nhưng những chuyển đổi vềnền giáo dục cách mạng vẫn được thực thi thông suốt Năm học 1948-1949 cótrên 120 học sinh toàn tỉnh thi tốt nghiệp Tiểu học, đạt tỷ lệ tốt nghiệp 72% MônGiáo dục chính trị đạo đức được đưa vào nhà trường Học sinh Tiểu học đượcđưa vào hoạt động đoàn thể nhi đồng cứu quốc Trường học phát động "Kếhoạch nhỏ", công tác Trần Quốc Toản, vệ sinh đường làng, ngõ xóm, đốt đuốc
cổ động được các em nhỏ hưởng ứng sôi nổi Điển hình có em học sinh Trần Đức
Đá học trường Tiểu học Vạn Côn Vĩnh Hồ (Vĩnh Linh) học giỏi, chăm làm, đượcMặt trận Việt Minh tín nhiệm giao nhiệm vụ làm liên lạc cho bộ đội địa phương,lập được nhiều thành tích xuất sắc, được Chính phủ tặng Huân chương Chiếncông hạng Ba tại Đại hội chiến sĩ thi đua Dân quân Du kích Quân khu Bốn tổchức ở Thanh Chương (Nghệ An) năm 1952 Gương sáng này đã được viết thànhbài thơ in ở cuốn sách giáo khoa lớp 2 năm 1952 trong đó có đoạn:
Được nêu gương toàn xã
Một sự kiện nổi bật ở thời kỳ này là Cải cách giáo dục lần thứ nhất (1950)với hệ thống giáo dục 9 năm với một chương trình giảng dạy mới Tính chất nền
giáo dục mới là của dân, do dân và vì dân được xây dựng trên nguyên tắc dân
tộc, khoa học và đại chúng Mục tiêu đào tạo của nhà trường là giáo dục, "bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người công dân lao động tương lai trung thành với chế
độ dân chủ nhân dân, có đủ phẩm chất và năng lực phục vụ kháng chiến, phục
vụ nhân dân" (1)
Đây là tuyên ngôn về một nền giáo dục mới của nước Việt Nam dân chủ cộnghòa - là kết tinh những quan điểm của Đảng cộng sản và tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong thư gửi cho giáo dục nhân ngày khai trường đầu tiên Phương
châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn Từ đây hệ
thống giáo dục 9 năm được chia thành 3 cấp:
(1) 35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông NXBGD 1980 - trang 45
- Cấp I: 4 năm thay thế bậc học cũ (không kể năm vỡ lòng)
- Cấp II: 3 năm thay thế cho bậc học phổ thông cũ 4 năm
- Cấp III: 2 năm thay thế cho bậc học chuyên khoa cũ
Thêm bậc dự bị Đại học 2 năm
Trang 25Song song với hệ thống giáo dục phổ thông 9 năm là hệ thống giáo dục bìnhdân học vụ và hệ thống giáo dục chuyên nghiệp khởi đầu cho nền giáo dục mớicách mạng.
Nội dung cải cách giáo dục lần I thực hiện từ Liên khu Bốn trở ra Tỉnh ta làtỉnh cuối cùng lại có hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng sau Đại hội Đảng toànquốc lần thứ II ngày 11/2/1952 tại xã Vinh Quang, Tuyên Quang, Đảng ta quyếtđịnh ra công khai hoạt động, đổi tên Đảng cộng sản Đông Dương thành Đảng laođộng Việt Nam "Phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xãhội" (1) Đây là cơ hội cho giáo dục cả nước và Giáo dục Quảng Trị có nhiềuthuận lợi nhất để phát triển Năm 1952 là năm triển khai hệ thống giáo dục mới ởQuảng Trị, các lớp học trước khi vào lớp 1 đều được gọi là lớp vỡ lòng Ty Tiểuhọc vụ đã cử người ra Liên khu Bốn nhận chương trình và dự lớp tập huấn, bồidưỡng đào tạo cán bộ, giáo viên dạy vỡ lòng Bồi dưỡng giáo viên dạy vỡ lòng cóquỹ thời gian ngắn, cho nên chỉ trong vòng 6 tháng đội ngũ giáo viên vỡ lòngđược hình thành tới tận làng xã Các lớp vỡ lòng được mở rộng Đội ngũ giáoviên vỡ lòng nhiệt tình, tận tụy và giỏi nghề nghiệp nhưng cũng rất nghiêm khắcvới học trò trong việc rèn chữ viết, thế hệ học sinh mà sau này nhiều người trởthành thầy giáo có kiểu chữ viết rất đẹp Hệ thống lớp vỡ lòng là bước quá độ để
đi đến sự cần thiết xây dựng ngành học mẫu giáo, là cách tốt nhất có tính bổ sungchất lượng cho cấp I
Đòan giáo viên chi viện cho giáo dục Quảng Trị được chia nhỏ theo nhóm códân quân tự vệ ở 3 tĩnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị dẫn đường Từ ĐứcThọ đoàn đi ngược hướng Tân Ấp qua đường Goòng vượt đèo Ngang Tại đâylực lượng dân quân Quảng Bình ra đón về Minh Cầm Đoàn đi qua Vạn Tượng ,Vĩnh Khê băng rừng vượt Thủy Ba , nơi cọp dữ để đến bắc Đường 9 lên chiếnkhu Ba Lòng Trên vai mỗi thành viên là hai thùng sách giáo khoa, ruột tượnggạo và muối, thuốc sốt rét Trước khi lên đường ai cũng thủ sắn 2 cuốn sách
"Kháng chiến nhất định thắng lợi", "Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt
Nam" của đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng lúc bấy giờ Đây là tài
liệu được bồi dưỡng quan trọng nhất trước khi bước vào vùng Bình Trị Thiênkhói lửa Hai cuốn sách in litô, giấy đen khổ nhỏ được giáo viên cất giữ như làmột kỷ vật quý hiếm
Hai cơ quan Ty Bình dân học vụ và Ty Tiểu học vụ vẫn tồn tại song song ởhai địa điểm khác nhau Ty Bình dân học vụ đóng ở Ba Lòng; Ty Tiểu học vụ
đóng ở Đá Nổi Trước và sau cuộc "Rèn cán - Chỉnh cơ" năm 1952 liên Khu ủy
Khu Bốn tiếp tục cử thêm hai đoàn giáo viên cấp I và cấp II chi viện cho giáo dụcQuảng Trị Cuối tháng 12 năm 1952 theo đề nghị của Ủy ban kháng chiến hành
Trang 26chính tỉnh và được Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên chấp nhận Ty Bình dân học vụ
và Ty Tiểu học vụ được sáp nhập gọi là Ty Giáo dục Quảng Trị Cơ quan Vănphòng Ty lúc đó là: Lãnh đạo Ty gồm các ông Trần Duy Mân giữ chức vụTrưởng Ty; Phó trưởng Ty gồm các ông Nguyễn Dương Khư, Nguyễn Linh TyGiáo dục Quảng Trị có 4 phòng chức năng là:
- Thanh tra giáo dục gồm có các thầy Nguyễn Ấm (người Hà Tĩnh), thầy NguyễnHữu Sắt (Triệu phong), thầy Nguyễn Văn Thanh (Cam Lộ) và thầy Trịnh Mạnh(người Thanh Hóa)
- Phòng chuyên môn gồm các thầy Nguyễn Văn Tu (Trưởng phòng), thầy HoàngĐức Thạc (Quảng Trị), Nguyễn Văn Bật, thầy Lê Hữu Bài (người Thanh Hóa),thầy Lê Hân (Quảng Trị), thầy Nguyễn Văn Hiệu (Hà Tĩnh) và thầy Nguyễn HữuUẩn (Thanh Hóa)
- Phòng Bình dân học vụ gồm các thầy Lê Công Tánh , thầy Lê Niệm và Hồ VănLộc (Triệu Phong)
- Phòng Hành chính quản trị do ông Nguyễn Hữu Bành làm trưởng phòng
Củng cố, kiện toàn bộ máy Ty Giáo dục Quảng Trị bước khởi đầu quyết địnhthực thi các chủ trương của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục Việt Nam trongcông cuộc kháng chiến kiến quốc của thời kỳ tiếp theo
_
CHƯƠNG II :
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TRƯỜNG CẤP II
XÂY DỰNG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG MỚI
Cuối tháng 10/1950, ở Bình Trị thiên nói chung, ở Quảng Trị nói riêng bị lụt
lớn chưa từng có nên lương thực, thực phẩm phục vụ bộ đội và nhân dân thiếunghiêm trọng Lợi dụng khó khăn của quân và dân ta, giặc Pháp lại tăng cườngcàn quét, đánh phá, khủng bố, bắt lính, lập hội Tề Chúng mở những đợt tấn côngcàn quét vào các vùng du kích Vĩnh Hoàng (Vĩnh Linh), Hải Trung, Hải Phong(Hải Lăng), Cam An (Cam Lộ); Triệu Cơ, Triệu Bình (Triệu Phong) Chúng đóngthêm vị trí và tháp canh dọc quốc lộ I, quanh thị xã tỉnh lỵ và các thị trấn Để đốiphó với âm mưu thủ đoạn của địch, ngày 10 tháng 02 năm 1951, Tỉnh ủy ra chỉthị về kế hoạch tác chiến mùa xuân và sau đó ra các chỉ thị đẩy mạnh sản xuất, kếhoạch tác chiến đợt ba từ tháng 10 đến hết tháng 12 năm 1952 Quân dân ta đánhthắng nhiều trận Ba Dốc, Nam - Tây đường 74 đã làm nức lòng nhân dân trongtỉnh Địch rút bỏ một số vị trí, lô cốt ở Triệu Phong, Do Linh, Vĩnh Linh, Cam
Lộ, Hải Lăng để đem quân tăng cường phòng thủ hai thị xã Quảng Trị, Đông Hà.Mùa thu năm 1953, địch mở trận càn với qui mô lớn vào các căn cứ du kích của 4huyện Triệu Hải (Quảng Trị) Phong - Quảng (Thừa Thiên) nhưng đã vấp phải sự
Trang 27kháng cự quyết liệt của quân và dân ta, tuy nhiên địch cũng gây cho ta nhiều thiệthại về người và của Đông xuân năm 1953 - 1954, địch lại mở các trận càn vàovùng Triệu Hải, Do Linh, Cam Lộ, Vĩnh Linh hòng làm tan rã các vùng căn cứ
du kích của ta nhưng đã bị ta đánh thiệt hại nặng nề, cùng với quân dân cả nướcgiành thắng lợi mới trong Đông xuân 1953 - 1954
Trước bối cảnh ác liệt của chiến tranh Giáo dục Quảng Trị phục vụ khángchiến, chuẩn bị nguồn lực cho Cách mạng trên quê hương, đất nước
Vượt qua khó khăn thiếu thốn do lũ lụt lớn cuối năm 1950 và sự càn quét tànphá ác liệt của địch, các vùng căn cứ du kích giữ vững, mọi hoạt động vẫn đượcduy trì và phát triển Về giáo dục, tiếp tục thực hiện Cải cách giáo dục lần thứ
nhất với mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông là: "Giáo dục bồi dưỡng thế
hệ trẻ thành những người công dân lao đọng tương lai" , trung thành với chế
độ dân chủ nhân dân, có đủ phẩm chất năng lực phục vụ kháng chiến, phục vụnhân dân, kiến quốc
Ở các vùng tự do, căn cứ du kích như Triệu Nguyên (chiến khu Ba Lòng),Cam Lộ, Vĩnh Linh, Triệu Phong, Do Linh, Hải Lăng đều có trường Tiểu học.Cam Lộ có cấp 1 Lê Thế Hiếu: 10 lớp tại Cùa; cấp I Vĩnh Liêm (Vĩnh Linh)Triệu Phong có cấp 1 Triệu Tân (lúc đó là xã Phong Tân) anh Nguyễn HữuÍch làm Hiệu trưởng
Do Linh có cấp I Linh Quang, anh Hoàng văn Thùy làm Hiệu trưởng (thời kỳ
1953 đây là vùng địch hậu)
Các trường tiểu học có học sinh chừng 100 em đến 200 em Trường lớpthường đặt ở nhà dân, đình, chùa Khi giặc đến thì thầy trò sơ tán Tuy vậy, cáctrường vẫn cố gắng thực hiện chương trình của Bộ Giáo dục Cuối năm học, các
kỳ thi tiểu học diễn ra nghiêm túc tại chiến khu Ba Lòng, Cùa, Triệu Sơn, VĩnhHoàng Học sinh tốt nghiệp cấp I, học cấp II vào những năm 1951, 1952, 1953 tại
xã hoặc lên chiến khu , nhiều nhất là tại trường Lê Thế Hiếu (Cùa)
Hình thành và phát triển trường cấp II:
Từ giữa năm 1950, tỉnh có chủ trương thành lập cấp II Lê Thế Hiếu đáp ứngnhu cầu học tập của con em Lúc đầu trường có 2 lớp 5 và 1 lớp 6 Học vào lớp 5
là các em đã hoàn thành chương trình tiểu học ở các trường tiểu học thuộc huyệnTriệu Phong, Do Linh và Hải Lăng, Số đông học sinh huyện Cam Lộ vào vùngCùa Riêng học sinh lớp 6 là số con em Quảng Trị được tỉnh gửi ra trường Trunghọc Hương Khê (Hà Tĩnh) học từ năm học 1949, nay tỉnh điều động trở về Nămhọc 1951 - 1952 trường có đầy đủ 3 lớp: 5, 6 và 7 Lúc đầu trường đặt tại đìnhlàng Mai Xá và vài điểm ở thôn Mai Lộc, sau khi giặc đánh phá các lớp học bịcháy, thầy trò vào rừng Xon đẵn gỗ, cắt tranh về dựng lại trường học Bàn ghế,bảng đen đều do thầy trò vận động giúp đỡ của nhân dân vùng Cùa Những lúchọc ban đêm, để tranh sự đánh phá của máy bay địch học sinh tự chế đèn dầu hỏakhông có khói bằng lọ mực hoặc lọ Pê nê xê lin, phía trên dùng một đoạn ốngthủy tinh che ngọn đèn, xung quanh bịt kín, chỉ chừa một lỗ đủ sáng để học và
Trang 28viết Vở của học sinh được gói gọn trong mo cau phòng khi bị ném bom cất dấu
dễ dàng, không hư hỏng
Thầy giáo, cô giáo và học sinh ở trọ trong nhà dân thuộc các làng Mai Đàn,Mai Lộc, Cồn Mới, Trung Chỉ, Đốc Kỉnh, Lộc An Mặc dù bị địch toòng xuyêncàn quét đánh phá phải di chuyển đi nhiều nơi nhưng thầy trò trường Lê ThếHiếu vẫn bám trường, bám lớp và đặc biệt là được sự đùm bọc của nhân dântrong vùng Sự hỗ trợ về tinh thần, tình cảm vật chất của nhân dân là động lựcthôi thúc thầy dạy hết mình, trò học đến nơi đến chốn Đây là trường cấp II đầutiên của Quảng Trị mang tên vị Chủ tịch tỉnh đã hy sinh vô cùng anh dũng trongnhững ngày đầu kháng chiến chống Pháp Nagỳ nay, trên mảnh đất Cam Chính(Cùa) có trường Tiểu học và trường THPT cấp II - III tiếp tục mang tên Lê ThếHiếu đã và đang phát huy truyền thống của cha anh những thế hệ đi trước đã gâydựng dựng lên ngôi trường này Ngành chuẩn bị đội ngũ giáo viên cấp II chonăm 1951 và những năm sau Ty Giáo dục đã chọn giáo viên có Bằng ThànhChung gửi đi đào tạo giáo viên cấp II Thời gian đầu, lớp đặt tại trường NguyễnChí Diễu (huyện Phong Điền) Thầy giáo giảng dạy là những thầy dạy giỏi nhưông Nguyễn Kỳ dạy toán (sau này ông Nguyễn Kỳ làm Trưởng Ty Giáo dụcBình Trị Thiên cũ nay là Thứ trưởng Bộ GD & ĐT) ông Lương dạy văn Giữachừng giặc càn, lớp đào tạo phải di chuyển vào phía Nam tỉnh Thừa Thiên(huyện Phú Lộc) Di chuyển gian khổ các giáo viên dự lớp vẫn bám trường, bámlớp Sau khi hòan thành khóa đào tạo, các giáo viên trở về tỉnh nhà mở các lớpcấp 2 ở nhiều xã trong năm học 1951 - 1952, đó là các thầy giáo Nguyễn Thanh,Nguyễn Công Lân, Nguyễn Kham, Nguyễn Hữu Sắt Thực hiện chỉ thị của Bộcác Ty Giáo dục Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh tiếp tục bổ sung lực lượng giáoviên giỏi, giác ngộ cách mạng, tâm huyết với nghề nghiệp chi viện cho giáo dụcQuảng Trị Trường cấp II Lê Thế Hiếu lúc mới thành lập 1950 đã phấn khởi đóncác thầy giáo Phan Cự Nhân, Phạm Viết Trình, Đống Phan Để, Hồ Đình Lư,Nguyễn Bá Tân, Ngô Oanh, Ngô Đức Thụ, Đỗ Xuân Trạch vào dạy các môn tựnhiên, xã hội
Năm học 1951 - 1952 các xã đã mở các lớp (cấp II) Các trường cấp II nhôlên từ trường cấp I là hình thức phát triển đặc biệt của thời chiến tranh Đây làgiải pháp tình thế có hiệu quả nhất trong điều kiện chúng ta vừa tiến hành giảngdạy vừa gửi đi đào tạo, đào tạo tại chỗ lực lượng giáo viên và chờ sự chi viện củagiáo dục khu Bốn do thầy Phạm Đình Ái và thầy Võ Thuần Nho phụ trách.Chuyến đi vào Quảng Trị lần thứ 2 năm 1952 này, thầy Võ Thuần Nho đưa vào 4giáo viên cấp II và 17 giáo viên cấp I phần đông là người Thanh Hoúa, nghệ An.Lực lượng này đã bổ sung cho Ty và phân về các trường học Đó là các trường:Trường cấp I-II Cam thủy (Cam Lộ) do thầy Nguyễn Văn Thanh làm Hiệutrưởng, Trường cấp I-II Triệu An (Triệu Phong) do thầy Nguyễn Thanh làm Hiệutrưởng, Trường cấp I-II Triệu Sơn do thầy Đặng Bá Đệ làm Hiệu trưởng, Trườngcấp I-II Hải Phong (Hải Lăng) do thầy Hoàng Đức Thạc làm Hiệu trưởng.Trường cấp II Chợ Cạn (Triệu Phong) do thầy Nguyễn Kham làm Hiệu trưởng.Trường cấp II Lê Thế Hiếu có các thầy Phan Cự Nhân, Ngô Đức Oanh, Hồ Đình
Lư Thầy Phan Cự Nhân làm Hiệu trưởng Trường cấp II Vĩnh Liêm sau chuyểnlên Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh) do thầy Nguyễn Công Lân làm Hiệu trưởng Ngoài cáctrường công, giái đoạn này ở Quảng Trị bắt đầu có trương tư thục cấp II (chỉ cólớp 5) như trường Vĩnh Liêm (Vĩnh Linh) do ông Trần Cảnh Hải tổ chức
Trang 29Từ tháng 7 năm 1954 hai trường Lê Thế Hiếu và Vĩnh Liêm trước khichuyển ra Vĩnh Linh đặt tại Vĩnh Hiền và Vĩnh Sơn Đầu năm 1955 nhập 2trường thành cấp II Vĩnh Linh do thầy Nguyễn Tỵ làm Hiệu trưởng, thầy Phan
Cự Nhân và thầy Nguyễn Trắc làm Hiệu phó Tháng 9 năm 1957 thầy Nguyễn
Tỵ lên làm ủy viên thư ký Ủy ban khu vực Vĩnh Linh, thầy Nguyễn Văn Tu làmHiệu trưởng Năm 1959 cấp II Vĩnh Linh phát triển thành cấp II-III Năm học1961-1962 tách cấp III ra khỏi II Thời gian này các trường cấp II Vĩnh Linh đãphát triển mạnh theo hướng liên xã như trường cấp II Long - Chấp, trường cấp IIKim-Thạch, trường cấp II Lâm-Thủy, trường cấp II Hiền - Hòa, trường cấp IIQuang - Tân
Tính đến cuối năm 1950 - 1951, các trường Phổ thông trong tỉnh thu hút được6.345 học sinh, con em nhân dân đến học (Kể cả con em vùng tạm chiếm) (*).Với tầm nhìn chiến lược ngoài số con em học ở trường Trung học Hương Khê,tỉnh còn tổ chức cho các em ra Đức Thọ, trường Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh) họctập với số lượng gần hàng trăm em Trại Quảng Sinh tổ chức sản xuất, chăn nuôi
để có thêm điều kiện cho các em học tập Các cô chú vừa tham gia sản xuất vừachăm lo đời sống, quản lý học sinh Nhiều học sinh học tập, rèn luyện tại QuảngSinh sau này đã trưởng thành Trong số đó có nhiều người là lãnh đạo các Sở,ban, ngành, chính quyền Đảng các cấp tỉnh, huyện, thị xã
Từ 1951 đến giữa năm 1954, giáo dục tỉnh ta đã phát triển mạnh, rõ nhất làcấp II Năm học 1951-1952 là năm mở đầu cho sự phát triển các trường cấp 2kháng chiến Đây là sự cố gắng vượt bậc của nhân dân và của ngành Giáo dụcQuảng Trị Bằng các hình thức công lập, tư thục, dân lập
Trong bối cảnh chiến tranh, ở tỉnh nhà từ khi có trường cấp II (năm 1950 trởđi) các rtường đã chú ý xây dựng Hiệu Đòan học sinh Hiệu đoàn học sinh đã thểhiện rõ vai trò, tác dụng của tuổi trẻ trong nhà trường Hiệu Đòan trường do họcsinh đảm nhiệm Trong các hoạt động của Hiệu Đòan, Chi đoàn thanh niên cứuquốc đóng vai trò nòng cốt Nhờ lực lượng tiên phong này, nhà trường cấp II tiến
hành có hiệu quả các cuộc vận động "Cải tạo học tập" trong học sinh thực hiện
phương châm học tập mới do cuộc cải cách giáo dục năm 1950 đề ra Hiệu Đòanhọc sinh một số trường cấp II đã tổ chức nhiều đêm văn nghệ nhân các ngàyQuốc khánh, 1/5 Năm 1951, có chính sách thuế nông nghiệp, học sinh cấp IItham gia công tác tính thuế nông nghiệp cho nhân dân Để góp phần ngăn chặngiao thông của địch, thầy trò trường cấp II Lê Thế Hiếu nhiều đêm phá hoại đoạnđường 9, Đầu Mầu Vừa phá đường, vừa tuyên truyền vận động binh lính gác cầuĐầu Mầu giác ngộ cách mạng về với nhân dân Học sinh còn tham gia rất hàohứng việc vận chuyển lương thực lên chiến khu Ba Lòng, không quản gian khổ,mặc cho pháo giặc bắn phá Bị thế của Hiệu Đoàn học sinh các trường trở thànhlực lượng nòng cốt của cách mạng
Tháng 7 năm 1951, tại Việt Bắc, Ban chấp hành lâm thời công đoàn giáo dụcViệt Nam chính thức được thành lập và đề ra chương trình công tác của Côngđoàn Giáo dục gồm 4 điểm: Thúc đẩy đoàn viên thực hiện tốt chuyên môn; xâydựng tổ chức công đoàn lớn mạnh; đảm bảo thực hiện cải cách giáo dục; nângcao đời sống vật chất và tinh thần cho đoàn viên, đoàn kết lao động trí óc và laođộng chân tay, đấu tranh giải phóng
Trang 30dđn tộc.
Với tinh thần hăng hâi của một tổ chức mới ra đời, được sự phối hợp chỉ đạocủa Liín đoăn lao động tỉnh, tổ chức Công đoăn giâo dục Quảng Trị được hìnhthănh vă phât triển đoăn viín tiến hănh tổ chức công đoăn ở cơ quan giâo dụctỉnh do ông Nguyễn Dương Khư lăm Thư ký Câc trường phổ thông cấp II TriệuSơn, Triệu Cơ, Lí Thế Hiếu cũng thănh lập Công đoăn giâo dục trong giâo viín.Tuy mới thănh lập nhưng Công đoăn giâo dục tỉnh thường xuyín tổ chức câcbuổi bồi dưỡng tình hình thời sự, học tập chính trị nhằm phât huy lòng yíu nghề,tinh thần vượt khó khăn gian khổ, tư tưởng tự lực cânh sinh, gắn bó với nhđn dđn,với học sinh để xđy dựng trường - lớp nhằm không ngừng phât triển sự nghiệpgiâo dục câch mạng
Tổ chức chi bộ Đảng cộng sản (lúc năy lă Đảng lao động Việt Nam) đượcthănh lập tại trường cấp II Lí Thế Hiếu do một huyện ủy viín lăm Bí thư kiímdạy môn chính trị - đó lă thầy giâo Hồ Sỹ Phan Một số ít học sinh trưởng thănhtrong khâng chiến được kết nạp Đảng đê cùng sinh hoạt tại chi bộ
Để đưa chất lượng giảng dạy theo hướng Cải câch giâo dục, giúp đội ngũnắm bắt đường lối nhiệm vụ câch mạng trong thời kỳ mới, Ty Giâo dục đê mởnhững lớp bồi dưỡng chính trị cho giâo viín câc cấp Giữa năm 1953, toăn thểgiâo viín đê dự chỉnh huấn tại chiến khu Ba Lòng Trong câc lớp chỉnh huấn năy,anh chị em giâo viín đê được học tập về đường lối, nhiệm vụ Câch mạng ViệtNam do Đại hội Đảng lần thứ II (1951) vạch ra học tập về đạo đức câch mạngcủa ngừơi cân bộ, đảng viín Qua chỉnh huấn, giâo viín vă cân bộ giâo dục vừađược nđng cao tư tưởng, lập trường giai cấp, vừa có cơ sở lý luận vă phươngphâp đúng để lăm tốt chức năng giâo dục của mình Câc thầy giâo ở câc trường
đê thể hiện sự hiểu biết văo việc soạn giảng vă giâo dục học sinh Thiếu văkhông có sâch giâo khoa câc môn tự nhiín, thầy giâo căn cứ văo chương trình do
Bộ Giâo dục quy định để tìm chọn tăi liệu trong sâch tự nhiín bằng tiếng Phâp
Ty Giâo dục có cử hai giâo viín ra Khu giâo dục Liín khu Bốn chĩp tăi liệunhưng không đủ phđn phât cho đội ngũ giâo viín Câc bộ môn Văn, Chính trị thì
sử dụng Bâo Cứu quốc vă bâo Nhđn Dđn Những chủ trương, đường lối câchmạng của Đảng được câc trường thực hiện chu đâo, có hiệu quả đến việc giâodục học sinh
Dưới sự lênh dạo của Chi bộ, sự phối hợp của Công đoăn giâo dục, sự chủđộng của Hiệu đòan học sinh, thầy trò đoăn kết đùm bọc thương yíu nhau nhưanh em một nhă Thầy trò chia sẻ ngọt bùi, sắn khoai Giặc đến, thầy trò sơ tân,giặc đi, thầy trò trở lại dạy vă học bình thường Có hôm, thầy trò đang dạy văhọc, giặc cho mây bay Han Cât dội bom napan, thầy trò xuống hầm trú ẩn; cóthầy bị thương, học trò băng bó động viín Lớp học bị chây, thầy trò văo rừngchặt cđy, cắt tranh dựng lại Ban ngăy bị phâo bắn phấ, mây bay dội bom thì họcban đím Thiếu phấn, thầy trò dùng đâ trắng, sắn khô Ngoăi giờ học tập, họcsinh trong câc gia đình đê tự nguyện tham gia tăng gia sản xuất cùng gia đìnhnhư trồng sắn, trồng khoai, lăm cỏ lúa Vì vậy, lúc giặc căn, việc tiếp tế lươngthực ở đồng bằng khó khăn, học sinh vẫn yín tđm học hănh vì đê có lương thực
tự lăm tại chỗ Nhờ sự gắn bó tình cảm đó mă học trò an tđm chăm chú học hănh
Trang 31Có nhiều người đã đạt loại khá, giỏi Anh Trương Hữu Thảo, học sinh lớp 7 LêThế Hiếu được Khu giáo dục Khu Bốn tặng khen Cuối năm học 1953 - 1954,riêng trường cấp II Lê Thế Hiếu đã trãi qua 3 kỳ thi tốt nghiệp Khối học sinh lớp
5 các trường cấp II Triệu Cơ, Vĩnh Sơn mới vào năm 1950 - 1951 nay cũng dựthi tốt nghiệp lần đầu
Giữa tháng 3 và 4 năm 1953, Ngành cùng Tỉnh Đoàn thanh niên mở các lớphướng dẫn cải tạo học tập cho học sinh nhằm giúp học sinh xác định rõ nhiệm vụhọc tập là để phục vụ kiến quốc Đại đa số học sinh đã nêu cao tinh thần chịuđựng gian khổ, khắc phục khó khăn thiếu thốn trong ăn ở, sinh hoạt, học tập đểphấn đấu học tốt
Các thế hệ học sinh được đào tạo trong kháng chiến hầu hết đã trưởng thành.Những năm 1952, 1953, 1954 có nhiều học sinh đã vào bộ đội, làm cán bộ ởthôn xã, có người trở thành giáo viên cùng dạy với thầy tại trường đã học Sốđông, tiếp tục học lên và trở thành cán bộ nhân viên phục vụ ở nhiều ngành nhưGiáo dục, Y tế, Văn hóa, Khoa học, Kinh tế; có người là tiến sĩ, giáo sư; có người
là nhà quản lý tài năng phụ trách đầu ngành kinh tế, văn hóa, khoa học trên quêhương và khắp mọi miền đất nước
Về giáo dục vùng tạm chiếm
Từ năm 1951 đến 1954, trong tình thế kìm kẹp của địch, nhân dân bị o épnhiều mặt, đó là chưa kể lúc chúng tổ chức vây ráp hoặc bị ta đánh tiêu diệtnhưng nhân dân vẫn tìm cách cho con em học hành trong các trường Tiểu học,Trung học do địch quản lý tại thị xã Đông Hà, Quảng Trị và một số thị trấn nhưHướng Hóa, Do Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Hồ Xá
Nằm rtên con đường chính của thị xã Quảng Trị cách quốc lộ 1A gần 1km vềphía đông (nay thuộc địa phần phường II) là trường Bồ Đề Trờng dược xâydựnhg vào những năm 1950 do tỉnh hội Phật giáo phát tâm quyên góp với
"Phong trào tiết kiệm gạo Bồ Đề" - Đây là trường dân lập dưới sự bảo trợ của
giáo hội Phật giáo.Trong nhiều năm trường đã thu hút hàng trăm học sinh tiểuhọc, đặc biệt là trẻ em mồ côi được chăm sóc tận tình
Mặc dù ở trong vùng tạm chiếm nhưng một số giáo viên và đông đảo họcsinh luôn luôn hướng về Cách mạng Có giáo viên ban ngày dạy cấp I (trường dođịch quản lý); ban đêm dạy bổ túc văn hóa cho dân Có người có trình độ đã mởlớp tư thục tại làng Nhiều học sinh vùng tạm chiếm sau khi xong tiểu học đãvượt lô cốt địch, băng rừng lên chiến khu học tiếp cấp II
Nhìn chung, giáo dục vùng tạm chiếm nội dung không thóat khỏi việc giáodục của địch, chống phá cách mạng Nhưng vốn có lòng yêu nước và tình cảmcách mạng sâu sắc, nhiều giáo viên và học sinh đã bí mật quyên góp giấy vở, họcphẩm chuyển ra cho học sinh vùng chiến khu học tập Nhiều gioo viên và họcsinh sau này đi theo cách mạng góp sức vào công cuộc kháng chiến kiến quốc.Cuối năm 1953 đến tháng 7 năm 1954 địch cố sức mở các trận càn lớn nhỏliên tục vào các khu căn cứ, khu du kích, vùng tạm chiếm để tiêu diệt thực lựccách mạng, cướp của, bắt lính nhưng tất cả các trận càn của chúng đều bị quân
và dân trong tỉnh anh dũng chống trả quyết liệt Cuộc kháng chiến đang đến
Trang 32gần ngày thắng lợi Ngành Giáo dục có những cuộc chuẩn bị quan trọng cho sựphát triển trong tình hình mới.
Đầu năm 1954, giáo dục Quảng Trị cử một đoàn đại biểu gồm 4 người doông Trần Duy Mân, Trưởng Ty làm Trưởng đoàn cùng 3 thầy giáo là Ngô CôngLân (đại diện giáo viên cấp 2), Lê Quang Hòa (đại diện giáo viên cấp I) vàHoàng Kim Châu (đại diện giáo viên vở lòng) dự Đại hội giáo dục tại chiến khuViệt Bắc
Lịch sử chiến trường Bình Trị Thiên, lịch sử Giáo dục Quảng Trị thời kỳ
1950 - 1954 là lịch sử của những chiến công oanh liệt của quân và dân ta đã gópphần làm nên chiến chắng Điện Biên Phủ buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp Định
Pa ri, kết thúc cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp xâm lược, lập lại hòa bình,thống nhất đất nước Giáo dục Quảng Trị bước vào thời kỳ phát triển mới
"Hoan nghênh hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương" Cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp thắng lợi Nước ta tạm thời chia làm hai miền vàlấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời Quảng Trị là tỉnh duy nhất toànquốc phải tạm bị chia cắt thành 2 vùng Huyện Vĩnh Linh gồm 17 xã đồng bằng
và 6 xã miền núi được hoàn toàn giải phóng, cùng với miền Bắc bước vào thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội Một phần xã Vĩnh Liêm của Vĩnh Linh ở bờ Namsông Bến Hải cùng với các huyện Do Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, thị
xã Quảng Trị, Hướng Hóa trở thành thuộc địa kiểu mới của Đế quốc Mĩ
Quảng Trị trở thành địa đầu giới tuyền của hai miền Nam-Bắc cùng với cảnước làm hai nhiệm vụ chiến lược vừa tiến hành Cách mạng dân tộc dân chủ ởmiền Nam, vừa tiến hành Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Ngày 21tháng 9 năm 1954, tỉnh ủy Quảng Trị mở Hội nghị cán bộ tại chiến khu Ba Lòng
để quán triệt "Tình hình mới , nhiệm vụ mới" Ngày 18 tháng 8 năm 1954 tại
Phước Môn (Hải Lăng) tỉnh tổ chức một cuộc mét tin lớn để kỷ niệm Cách mạngtháng Tám và Quốc khánh 2/9 và tiễn đưa cán bộ, bộ đội - những người con thânyêu của quê hương lên đường tập kết ra Bắc, chuẩn bị cuộc kháng chiến chốngMỹ
Trang 33Trong lúc đó, Đế quốc Mĩ và Ngô Đình Diệm ra sức phá hoại hiệp địnhGiơnevơ, tìm mọi cách đuổi Pháp, thanh toán các phe phái không ăn cánh vớichúng, phá hoại Hiệp thương tổng tuyển cử Chúng coi Quảng Trị là một trongcác trọng điểm bình định, hũy bỏ mọi thành quả cách mạng Trước tình hình đó,dưới sự lãnh đạo của Đảng, khắp nơi nổi lên đấu tranh, một số nơi ở Triệu
Phong, Do Linh, tự trong nhân dân đã có phong trào "Dân canh chống cướp"; ở Hướng Hóa có phong trào "Hội thề: suốt đời đi theo Đảng và Bác Hồ" Phong
trào đấu tranh của quần chúng lên cao, đế quốc Mĩ và bọn tay sai Ngô Đình Diệmcàng ra sức khủng bố
Theo Hiệp định Giơnevơ, Quảng Trị chia 2 vùng do đó tình hình chính trị,kinh tế cũng như tình hình giáo dục của tỉnh có nhiều thay đổi, chia thành haivùng giáo dục
Thời kỳ từ tháng 7 năm 1954 đến 1955, các cơ quan giáo dục Quảng Trịchuyển ra khu vực Vĩnh Linh, các trường tự giải tán Riêng Trường cấp II LêThế Hiếu giữ nguyên tên trường, Hội đồng giáo viên và các khối học sinh 5, 6,
7 Đầu tháng 8 năm 1954 trường chuyển ra ở thôn Duy Viên, Lại Xá (VĩnhThủy, Vĩnh Linh) bên bờ Nam sông Sa Lung Trường cấp II Vĩnh Sơn (thuộcVĩnh Linh trước đây, nay ở phía Nam sông, thuộc quận Trung Lương do địchquản lý) được chuyển ra xã Vĩnh Hiền Đến năm 1956, hai trường cùng sáp nhậpthành trường cấp II Vĩnh Linh đóng tại Hồ Xá và đây là tiền thân của trường cấpIII Vĩnh Linh sau này Nhiều học sinh cấp II các trường khác ở bờ Nam sông BếnHải cũng vượt tuyến ra Vĩnh Linh học tập
Để tiện việc lãnh đạo và chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, ngày
28 tháng 5 năm 1955, Trung ương Đảng ra nghị quyết số 16/NQ.TƯ thành lậpĐảng ủy khu vực Vĩnh Linh Và ngày 16 tháng 6 năm 1955, Thủ tướng Chínhphủ ra nghị định số 551/TTg thành lập đặc khu Vĩnh Linh Dưới sự lãnh đạo vàchỉ đạo của Đảng ủy và ủy ban Hành chính khu vực Vĩnh Linh, được sự giúp đỡcủa các ban ngành, đoàn thể ở trung ương, từ tháng 7 năm 1955 các ban củaĐảng ủy, các Ty chuyên môn, các đoàn thể: Thanh niên, Phụ nữ, Công đoàn củakhu vực lần lượt được thành lập Ty Giáo dục Vĩnh Linh ra đời do ông Lê Trong
Từ làm Trưởng Ty
Vùng Nam vĩ tuyến 17 thuộc ngụy quyền Sài Gòn quản lý Từ đây thế trậnchiến lược thay đổi Ta từ một chính quyền cách mangh hùng hậu vừa đánh tangiặc Pháp xâm lược, kết thúc 9 năm trường kỳ kháng chiến, kết thúc gần 100 đô
hộ của thực dân Pháp buộc phải đi vào hoạt động bí mật Phía địch ra sức tăngcường lực lượng chống phá Hiệp thương tổng tuyển cử năm 1956, chống phácách mạng, ra sức thực hiện lập ấp chiến lược, cô lập Đảng cộng sản, trả thù
những người tham gia kháng chiến Từ đây Quảng Trị trở thành "nơi diễn ra
cuộc đụng đầu lịch sử giữa một bên là chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc với một bên là các thế lực xâm lược, đứng đầu là Đế quốc Mĩ - định thông qua cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam để bẻ gảy một mũi nhọn xung kích của cách mạng thế giới" (1)
Do những đặc điểm của tình hình, giáo dục Quảng Trị từ 1954 đến 1960 làtập trung sức cho việc chuyển con em ra Vĩnh Linh, ra các trường học sinh miềnNam ở miền Bắc Nhận rõ tầm chiến lược của nhiệm vụ
Trang 34-(1) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị tập II - NXB Chính trị quốc gia 1999 - trang 13này, Khu ủy Vĩnh Linh đã tiến hành làm trường, làm nhà ở, giải quyết chế độ chocon em miền Nam, con em Quảng Trị được học hành trong điều kiện thuận lợinhất Trường nội trú học sinh miền Nam ở Hồ Xá Vĩnh Linh lúc đó có trên 700học sinh Những ngày đầu xa quê, xa người thân với bao nỗi bở ngở ban đầunhưng nhờ sự tận tình giúp đỡ của các thầy giáo , cô giáo, anh chị em phục vụhọc sinh miền Nam nhanh chóng hòa nhập, chăm chỉ học hành Thời kỳ này côngtác chính trị tư tưởng Hoạt động đoàn thể, văn nghệ thể thao của trường cấp II
Hồ Xá sôi nổi nhất Những lần phái đoàn quân sự bốn bên đi qua, Đoàn trường tổchức cho học sinh đưa kiến nghị tập thể đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, Hiệpthương tổng tuyển cử thống nhất đất nước đã có ảnh hưởng tốt đối với đồng bàomiền Nam, đồng bào Quảng Trị
Giáo dục miền núi Quảng Trị lúc đó chỉ có 1 trường dân tộc nội trú ở Hướng
Lập (Nam Hướng Hóa) Số lượng trên 100 em do thầy Hồ Ngọc Khai và PhanThu Hoàn phụ trách Học sinh vừa học vừa tăng gia sản xuất, tham gia các côngviệc phục vụ chiến trường Tồn tại trường nội trú giữa lòng địch là một thử tháchlớn lao về lòng quả cảm và ý chí kiên cường trong học tập của con em đồng bàoVân Kiều, PaKô
Tháng 4 năm 1960 tỉnh ủy Quảng Trị mở hội nghị kiểm điểm 1 năm thựchiện nghị quyết Trung ương 15 Tại Hội nghị này đã đặt ra vấn đề là "phải tổchức học tập cho con em vùng giải phóng, vùng ta kiểm sóat" (1) Về lực lượng làtại chỗ nhưng đồng thời xin chi viện của Trung ương, của Vĩnh Linh, hậu phươngtrực tiếp của Quảng Trị Tiểu ban giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn tỉnh ủy do ôngPhan Thu Hoàn phụ trách đi vào họat động
Từ chiến tranh cục bộ địch không thắng nổi tinh thần đồng khởi nỗi dậy củanhân dân ta, kẻ thù chuyển sang chiến tranh đặc biệt vừa tổ chức càn quét bìnhđịnh, vừa tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa Tìnhhình giáo dục gặp vô vàn khó khăn
Tháng 3 năm 1965, Ủy ban mặt trận thống nhất Trung ương chi viện cho giáodục Quảng trị đợt đầu tiên gồm 13 người trong đó có 5 giáo viên cấp III là cácthầy: Ngô Huy Hoàng, Phan Thanh Sơn, Dương Tú Anh, Nguyễn Duy Hùng,Nguyễn Hoài Hải 5 giáo viên được giữ lại tăng cường cho tiểu ban giáo dụcthuộc Ban Tuyên huấn tỉnh ủy 8 giáo viên còn lại là: Nguyễn Xuân An, Triệu
Trang 35Ngọc Linh, Đỗ Anh Sơn, Nguyễn Hải Hà, Bùi Ái nhân, Hồ Ngọc Anh, NguyễnÁnh Hồng, Nguyễn Thanh Phương được bố trí về phụ trách giáo dục các huyện.Sau đó, từ cuối năm 1965 đến đầu năm 1973 Trung ương và Khu ủy VĩnhLinh liên tiếp cử nhiều đoàn cán bộ, giáo viên cấp I, giáo viên cấp II, giáo viêncấp III tăng cường chi viện cho giáo dục Quảng Trị.
Những năm từ 1965 đến 1970 các đoàn của Trung ương và Khu ủy VĩnhLinh thường là có từ 6 đến 15 người Đoàn đông nhất trên 100 người là cuối năm
1972 đầu 1973 Nhiều đồng chí sau này trưởng thành trở thành cán bộ lãnh đạotỉnh, lãnh đạo ngành
Trong những đợt chi viện lịch sử này, nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũnghoặc bị địch bắt Đoàn vào đầu năm 1965 có 6/13 đồng chí hy sinh, đoàn vào đầu
1966 có 4/8 đồng chí hy sinh 3 đoàn của Vĩnh Linh vào năm 1966 số người bị
hy sinh gần một nửa Những tổn thất mất mát này là vô cùng lớn lao Nhân dânQuảng Trị mãi mãi ghi nhớ công ơn sự đóng góp của các liệt sĩ thuộc ngành Giáodục (hơn 2/3 trong tổng số 71 liệt sĩ của Ngành thuộc thời kỳ chi viện cho giáodục Quảng Trị trong những năm chống Mỹ cứu nước)
Công việc trước hết của tiểu ban giáo dục là tiến hành mở các lớp bồi dưỡînggíáo viên Hai lớp đầu tiên đào tạo cấp tốc cho 45 giáo viên nam nữ ở Ba Lòng;các xã Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Vân (Triệu Phong); Hải Lệ, Hải Phú, HảiLâm (Hải Lăng) Năm 1965 được chi viện thêm một số đồng chí cho tiểu bangiáo dục tỉnh, cán bộ huyện miền xuôi, miền núi Hè 1965, tỉnh tổ chức trại hè tại
Ba Lòng có hơn 80 giáo viên của các huyện Do Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa,Triệu Phong và Hải Lăng tham gia trong thời gian 1 tháng Năm 1966, các huyện
mở thêm lớp tập huấn Huyện Do Linh mở 1 lớp có 30 học viên tập trung 1tháng Ở xã mở các lớp thường từ 10 đến 15 ngày cho khoảng 10 đến 15 gíaoviên học tập như Hải Ba, Hải Vĩnh, Hải An, Hải Khê, (Hải Lăng); Triệu Lăng,Triệu Trạch, Triệu Vân (Triệu Phong) Nhờ vậy, số giáo viên đào tạo tại chỗ ởđồng bằng có đến 150 người Huyện Hải Lăng mở 3 lớp đào tạo 421 giáo viên
Phong trào giáo dục phát triển mạnh ở Ba Lòng, Cùa, Do An, Trung Sơn(Do Linh) ; Triệu Ái, Triệu Thượng, Triệu Vân, Triệu Trạch, Triệu Lang (TriệuPhong) ; Hải Lệ, Hải Phú, Hải Lâm, Hải Thượng, Hải Thọ, Hải Phong, HảiDương, Hải Quế, Hải Ba, Hải Vĩnh, Hải An, (Hải Lăng) Một số xã có trườngtiểu học hoàn chỉnh như Do An, Trung Sơn (Do Linh) ; Hải Lệ, Hải Lâm, Hải
Ba (Hải Lăng) Có vùng phối hợp mở thêm một số lớp đầu cấp của Trung học đệnhất như Triệu Vân, Triệu Lăng; Hải An, Hải Khê Các trường lớp đã thu húthàng ngàn học sinh Phong trào bình dân có nơi đã tiến tới thanh toán nạn mùchữ cho toàn dân như thôn Xuân Khê, Nại Cửu Riêng huyện Hải Lăng tổ chứcđược 38 lớp học, trong đó có 18 lớp vở lòng với 256 học sinh, 16 lớp 1, 2 với 241học sinh và 4 lớp 3, 4 với 82 học sinh Đồng thời vận động và tiếp tục mở được
24 lớp bình dân học vụ với 312 học viên
Giáo viên thương yêu, quý trọng nhân cách học sinh nên cha mẹ và họcsinh mong muốn Cách mạng có trường học để được học trường do Cách mạngquản lý Trong đội ngũ giáo viên có nhiều ngươì được bổ sung vào các cấp ủycủa xã, huyện; có người bị địch bắt, tra tấn vẫn giữ trọn khí tiết người giáo viêncách mạng Khi ra tù, trở lại tiếp tục hoạt động cho Ngành Những năm tháng ác
Trang 36liệt trên quê hương Quảng Trị đã có nhiều giáo viên hy sinh khi bên mình cònmang theo vở soạn bài cùng cây súng Nhân dân Quảng Trị, Tổ quốc mãi mãi ghicông các liệt sĩ giáo viên.
Ngày 01 tháng 5 năm 1972 Quảng trị được hoàn toàn giải phóng Tháng6/1972, cuộc họp đầu tiên của tỉnh ủy chủ trương xây dựng vùng giải phóng toàn
diện Công tác Giáo dục được nghị quyết đầu tháng 9 năm 1972 chỉ rõ: "Mở các
lớp vỡ lòng và Tiểu học, bổ túc văn hóa cho cán bộ cơ sở, thanh toán nạn mù chữ cho cán bộ và nhân dân, tự lực cánh sinh đào tạo giáo viên tiểu học tại chỗ"
(1)
-(1) Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị tập II, sách đã dẫn
Năm 1972 Quảng Trị được giải phóng nhưng sau đó địch tái chiếm Thành
Cổ thì một phần của Triệu Phong từ cầu Nhan Biều trở vào và toàn bộ Hải Lăng
và thị xã Quảng Trị nằm ở vùng tạm chiếm của địch Ty Giáo dục Quảng Trị tổchức phát triển giáo dục vùng giải phóng , phát triển các trường Tiểu học, Phổthông cơ sở, thành lập trường Trung học đệ nhất cấp đặt tại dốc Sỏi thị xã Đông
Hà Trường Trung học đệ nhất cấp lúc bấy giờ có một vị trí đặc biệt quan trọngtrong chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, được cả nước quan tâm và bạn bèquốc tế chú ý
Tháng 3 năm 1973 Ty Giáo dục Quảng Trị được thành lập đóng tại trường
Bồ Đề thị xã Đông Hà do ông Lê Trọng Từ làm Trưởng Ty, ông Nguyễn Khamlàm Phó trưởng Ty
Mỹ ngụy mở cuộc hành quân Lam Sơn 712 phản kích lấn chiếm lại đất đai.Tỉnh tổ chức sơ tán và bảo vệ nhân dân, đẩy mạnh sản xuất, tự túc
chăm lo đời sống nhân dân Trong bối cảnh đó, ngành Giáo dục lại gặp nhữngkhó khăn riêng: cán bộ Văn phòng Ty, cán bộ Phòng giáo dục ở các huyện, thịđều thiếu người, thiếu cả kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo Cán bộ giáo dục ở xã vàđội ngũ giáo viên chưa có chương trình, tài liệu giáo khoa, học cụ, học phẩm đềuthiếu thốn Ở bắc Hướng Hóa có 5/6 xã khôi phục được phong trào và có hàngtrăm con em đến các lớp bình dân, tiểu học Ở nam Hướng Hóa, dưới sự chỉ đạotrực tiếp của Mặt trận dân tộc giải phóng và Ủy ban nhân dân cách mạng huyện,ngành Giáo dục tổ chức Đại hội phát động phong trào giáo dục toàn vùng Sauđại hội phong trào bình dân phát triển ở 17/22 xã Trường tiểu học bình dân củahuyện khai giảng cho 22 cán bộ Trường sư phạm đào tạo 47 giáo viên Trườngvăn hóa tập trung của 2 xã Thanh - Thuận có 52 cán bộ thanh niên, tự túc lươngthực đến học Đến tháng 11 năm 1972, toàn vùng nam Hướng Hóa đã mở đượclớp học ở 94/115 thôn bản của 19/22 xã với số học sinh là 2015 người Có nhiều
xã như A Xóc, Húc, có trường tập trung riêng cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên,
du kích học tập Xã Hải Phúc gấp rút dứt điểm thanh toán nạn mù chữ cho toàndân - dẫn đầu huyện Các cơ quan quanh huyện cũng đã mở lớp học văn hóa chocán bộ công nhân viên học tập
Ở vùng đồng bằng, Ủy ban mặt trân dân tộc giải phóng, và Ủy ban nhân dâncách mạng nhiều xã đã chăm lo việc học tập cho cán bộ nhân dân Các Hội
Trang 37Khuyến học, Hội cha mẹ học sinh đã được tổ chức và có tác dụng thiết thực nhưthăm trường lớp, kiểm tra hầm lán Khi máy bay hoặc pháo hạm bắn sập hầm thìHội vận động nhân dân xây dựng lại để các em được tiếp tục học Hội cha mẹhọc sinh thôn 9 xã Do Hải góp 5800 đồng; thôn Nhĩ Thượng góp 2500 đồng (DoMĩ) mua ván, gỗ làm trường, bổ sung bàn ghế Bác Mỹ thôn Thụy Khê xã TrungGiang tuổi cao nhưng cặm cụi tìm kiếm gỗ về xây dựng trường lớp, lo đủ bànghế, bảng đen cho con em học tập Các gia đình không có con đi học cũng sẵnsàng đóng góp công sức xây dựng trường sở Đội ngũ giáo viên đào tạo tại chỗrất nhiệt tình với nghề nghiệp, nhiều tấm gương tiêu biểu như thầy giáo Giangthôn Tân Văn (Do Phong) được quần chúng và thanh niên đồng tình hưởng ứngcùng thầy mở lớp học buổi trưa ngoài đồng trong thời gian mùa màng bận rộn.
Cô giáo Liên (trường Tiểu học Do Hải) thường xuyên cùng các em qua khe, quamương và đưa các em về tận nhà mới yên tâm trở lại nhà mình ở Dạy ngày haibuổi cô giáo vẫn làm tròn nhiệm vụ của đoàn thể giao cho Dân vừa ổn định cuộcsống vừa phát động học văn hóa mà toàn huyện đã có 1860 cán bộ, nhân dântham gia các lớp học Huyện mở lớp huấn luyện cho 22 giáo viên tiểu học trong
kế hoạch đào tạo 100 giáo viên tại chỗ Các trường tiểu học bình dân tập trungcủa huyện cũng chiêu sinh như Do Linh, Cam Lộ, Triệu Phong Ở Cam Lộtrưởng phòng giáo dục Hoàng Văn thông thực hiện chỉ đạo của Ty và Huyện ủyCam Lộ tổ chức đào tạo tại chỗ cho 25 giáo viên Lớp học oọc mở tại thôn BắcBình (Cam Mĩ)
Theo thống kê, toàn vùng mới giải phóng của tỉnh năm 1972 đã đào tạo
651 giáo viên dạy từ lớp 1 đến lớp 5 cho 5878 cán bộ thanh niên, du kích và nhândân Học sinh phổ thông từ lớp 1 đến lớp 4 có 1574 em (chỉ tính ở huyện DoLinh, một số lớp ở Cam Lộ và nam Hướng Hóa) Cam Lộ và Do Linh có 68 lán
và 100 hầm chữ A đủ cho các lớp tiểu học học sáng và chiều Ngày 01/5/1972Quảng Trị được công bố là tỉnh đầu tiên trong toàn miền Nam hoàn toàn giảiphóng, công tác giáo dục phát triển mạnh mẽ Từ ngày Măñt trận dân tộc giảiphóng miền Nam ra đời, tỉnh và huyện đã đặt vấn đề chỉ đạo xây dựng, phát triểngiáo dục và giáo dục cách mạng cũng đã phục vụ đắc lực cho đấu tranh chống
Mỹ ngụy ở địa phương và góp phần tích cực khi Quảng Trị hoàn toàn giải phóng
Về Giáo dục ở vùng Mỹ Ngụy chiếm đóng
Con em nhân dân trong vùng Mỹ ngụy chiếm đóng, cai quản từ tỉnh đếnhuyện xuống xã phải theo học các trường lớp thuộc hệ thống giáo dục nằm trongquỹ đạo chung của chế độ giáo dục miền Nam Chính quyền Sài Gòn tổ chức mởtrường lớp cốt để lừa bịt, mị dân, để khoe khang với thế giới chúng ổn định vàphát triển giáo dục Thực chất, đằng sau đó ẩn chứa ý đồ vô cùng thâm độc đó làcùng với việc ráo riết chuẩn bị mọi mặt: quân sự, chính trị tạo dựng lực lượng trẻtrong học đường để tiêu diệt, đánh phá cách mạng, chia rẽ dân tộc, đoàn kếtlương giáo Vì vậy việc tổ chức quản lý cũng như mở rộng các loại hình trườnglớp mang tính hình thức
Về tổ chức: Ở tỉnh có Ty Tiểu học quản lý điều hành việc học tập của tiểu
học Các trường Trung học đệ nhất cấp, đệ nhị cấp do Nha trung học thuộc BộGiáo dục quốc gia quản lý Từ những năm 70 trở về sau Ty Tiểu học thành Sởhọc chính quản lý các cấp Tiểu học, Trung học
Về hệ thống trường lớp: Sau những năm 1960 trở đi, mỗi xã có 1 trường Tiểu
Trang 38học, huyện có từ 1 - 2 trường Trung học đệ nhất cấp (tương đương cấp II) và toàntỉnh có 1 đến 2 trường Trung học đệ nhị cấp (tương đương cấp III) Ngoài cáctrường công lập còn có các trường tư thục, bán công Một số trường do tôn giáo
mở quản lý như trường tư thục Trung học Thánh Tâm của dòng Thánh Tâm,trường tư thục Bồ Đề Quảng Trị do tỉnh Hội phật giáo lập
Tại thị xã Quảng Trị có 4 trường Trung học với 60 lớp, 92 giáo viên và gần
3100 học sinh, trong đó trường công Trung học Nguyễn Hoàng có đủ đệ nhất cấp
và đệ nhị cấp Năm học 1971-1972 có 43 lớp, 60 giáo viên và 2200 học sinh Cótrường tiểu học cho nữ, có trường cho nam học sinh Có 3 trường tiểu học tư thục(2 trường do Thiên Chúa giáo mở, 1 trường do Phật Giáo mở)
Các huyện: Huyện Hải Lăng, Triệu Phong, Do Linh, Cam lộ, Đông Hà đều
có trường trung học Tiểu học có 128 trường ở Hải Lăng 36 trường; Triệu Phong
52 trường; Cam Lộ 15 trường; Do Linh 22 trường; Hướng Hóa 3 trường Cáctrường học do ngụy quản lý học theo chương trình hệ 12 năm (Tiểu học từ lớp 1đến lớp 5); Trung học đệ nhất cấp (từ lớp 6 đến lớp 9); Trung học đệ nhị cấp (từlớp 10 đến lớp 12) Bên cạnh dạy văn hóa theo chương trình chung, các trườngcòn hướng học sinh tìm hiểu về kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là đối với học sinhtrung học
Ngoài các môn học, học sinh đệ nhất cấp phải chọn học thêm 1 trong 2ngoại ngữ Anh hoặc Pháp; học sinh đệ nhị cấp phải chọn 1 ngoại ngữ chính và 1ngoại ngữ phụ trong 2 ngoại ngữ Anh - Pháp
Trước giải phóng, số lượng giáo viên cả tỉnh có khoảng trên dưới 1000người; học sinh các cấp học chừng 20.000 em Cũng như nhân dân các tỉnh miềnNam tổ quốc, nhân dân Quảng Trị với lòng yêu nước nồng nàn của người ViệtNam đã nhận rõ: Giáo dục Ngụy tuy có phát triển về số lượng và có những cảicách nhất định nhưng không thóat khỏi mục đích nô dịch, thống trị Vì vậy con
em đến trường, đến lớp là để đáp ứng nguyện vọng thiết tha với lớp học nhưngkhông bao giờ quên truyền thống yêu nước của quê hương Quảng Trị Cùng vớiphong trào học sinh, sinh viên, giáo viên toàn miền Nam dũng cảm đấu tranhchống giáo dục nô dịch, ủng hộ hòa bình, dân chủ , đời sống dân sinh, không ítgiáo viên, học sinh Quảng Trị trong các trường do ngụy quyền quản lý đã hoạtđộng, đấu tranh góp vào diện mạo chung của phong trào học sinh , sinh viên toànmiền Nam Khi Quảng Trị giải phóng, nhiều học sinh, giáo viên tiếp tục học, dạytrong các trường do cách mạng quản lý và có những đóng góp trong việc xâydựng giáo dục Quảng Trị mới giải phóng cũng như sau này góp phần vào việcthống nhất giáo dục hai miền Nam - Bắc Nhiều giáo viên, học sinh trưởng thànhhăng hái tham gia công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên quê hương giảiphóng
Từ năm 1973 trở đi, giáo dục Quảng Trị đi vào thời kỳ phát triển toàn diệncác cấp học và ngành học từ Mầm non đến trung học sư phạm trong điều kiện cónhiều thuận lợi
Trang 39CHƯƠNG IV
GIÁO DỤC KHU VỰC VĨNH LINH
Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ, đấtnước tạm thời chia làm hai miền Phần lớn vùng đất thân yêu của Quảng Trị phảitạm thời nằm dưới quyền kiểm sóat của chính quyền Mỹ ngụy Riêng Vĩnh Linhthuộc miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa phải đảm nhận hoàn thành nhiệm vụ giữvững tuyến đầu của Tổ quốc, vừa phải gánh vác trách nhiệm là hậu phương toàndiện và trực tiếp của tiền phương lớn Chính vì vậy trong lịch sử giáo dục khuvực Vĩnh Linh có cả lịch sử giáo dục tỉnh Quảng Trị Trong điều kiện đặc thù đóGiáo dục Vĩnh Linh đã tiếp nhận một số thầy giáo và học sinh các trườngQuảng Trị tấp kết ra Bắc Nhiệm vụ chính trị là xây dựng nền giáo dục xã hội chủnghĩa, tiếp tục xáa nạn mù chữ, xây dựng ngành học Bổ túc văn hóa khoa họccho cán bộ và thanh niên miền Nam tập kết ra Bắc, cho nhân dân Vĩnh Linh đểxây dựng chủ nghĩa xã hội làm hậu thuẩn cho Cách mạng miền Nam Việt Nam
Để xây dựng ngành học Phổ thông phát triển mạnh mẽ về số lượng và có chấtlượng cao, công việc đầu tiên là củng cố và mở rộng trường cấp I Hồ Xá, thu hút100% con em miền Nam vào trường, tổ chức kí túc xã cho học sinh, lo cả nuôi vàdạy Liên hệ với các tỉnh phía Bắc như trường cấp III Phan Đình Phùng, HuỳnhThúc Kháng để gửi học sinh khi chưa có cấp lớp tại Vĩnh Linh
Công tác thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hóa cho cán bộ và nhân dânđược đặt ra cấp thiết hơn trong hòa bình xây dựng Mọi lực lượng có văn hóatrong cơ quan xí nghiệp, nông thôn, cùng với cán bộ ngành Giáo dục đều đượchuy động Các hình thức học: tại chức, nửa tập trung định kỳ và tập trung đềuđược sử dụng Năm 1958, miền xuôi Vĩnh Linh, rồi năm 1960 miền núi VĩnhLinh được Chính phủ công nhận thanh toán xong nạn mù chữ cho tất cả nhữngngười trong độ tuổi đi học Trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, cáclớp bổ túc văn hóa và hình thức hoạt động bổ ích và cần thiết trên trận địa dânquân tự vệ hoặc trong lán, hầm của cơ quan Do liên tục và kiên trì coi trọng côngtác bổ túc văn hóa, đến năm 1960 đại bộ phận cán bộ và thanh niên đã có trình độvăn hóa cấp III
Ngành học Phổ thông phát triển nhanh hơn và vững chắc hơn Trường cấp Ihoàn chỉnh được tổ chức đều khắp các xã miền xuôi từ năm 1956 và ở miền núinăm 1960 kể cả xã Hướng Lập xa xôi Từ năm học 1959 trường cấp II chuyểndần về xã đến năm 1963 tất cả các xã đồng bằng đều có trường cấp II và toànmiền núi có 2 trường tại Bãi Hà và Hướng Lập Trường cấp III Vĩnh Linh đượcxây dựng từ năm 1959, đến nay đã phát triển thành hai trường với qui mô vừa vàlớn và 1 trường phổ thông cấp III vừa học vừa lao động sản xuất đang xây dựng
Từ năm 1962 hàng năm trung bình có từ 150 đến 250 học sinh lớp 10 ra trường
và từ năm 1970 số học sinh cấp III ra trường hàng năm đã lên tới từ 450 đến 500học sinh
Ngành học Mẫu giáo ra đời muộn hơn nhưng cũng phát triển vững chắc Bắtđầu thí điểm từ năm 1961, các lớp mẫu giáo phát triển khắp các xã và năm 1964 -
1965 khu Vĩnh Linh đã huy động ngót 50% số cháu từ 3 đến 5 tuổi ra lớp XãVĩnh Trung vẫn giữ vững lá cờ đầu của mẫu giáo khu vực với tỷ lệ huy động
Trang 40100% và chất lượng tốt Chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ vô cùng ác liệtkhông ngăn cản được giáo dục Vĩnh Linh phát triển Hệ thống trường học VĩnhLinh đạt mức hoàn chỉnh, có 19 trường cấp II, 24 trường cấp I, 1 trường cấp III, 1trường sư phạm cấp I, 1 trường thanh niên dân tộc và 18 trường bổ túc văn hóa ởcác xã đồng bằng Khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời Vĩnh Linh
đã đào tạo bổ sung cho công cuộc giải phóng đất nước, giải phòng quê hương,những chiến sĩ có trình độ văn hóa khoa học, những cán bộ am hiểu về đường lốicủa Đảng trở lại miền Nam thực hiện công cuộc cách mạng chống Mĩ cứu nước,Ngành giáo dục Vĩnh Lịnh lựa chọn một đội ngũ cán bộ, giáo viên vào chiếntrường Quảng Trị để bồi dưỡng tại chỗ cho cán bộ, chiến sĩ ở khu căn cứ, cho cácđơn vị thanh niên xung phong, tổ chức lớp học ở vùng tự do ngoài vòng kiểmsóat của địch, trong cuộc hành quân này, toàn ngành đã có 71 cán bộ, giáo viên
đã hy sinh vì sự nghiệp cao cả được Nhà nước phong tặng liệt sĩ
Năm 1973, tổng số học sinh vở lòng và phổ thông của Vĩnh Linh đã gấp hơn
50 lần số học sinh trước Cách mạng tháng Tám Đặc biệt Vĩnh Linh có gần 10ngàn học sinh cấp II và cấp III - một lực lượng trẻ có văn hóa đông đúc, điều màtrước Cách mạng chưa bao giờ có Về chất lượng, giáo dục Vĩnh Linh là khu vựcđặc biệt được Trung ương dành tối đa mọi nguồn lực với quyết tâm mãnh liệt là
"Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mĩ xâm lược trên mặt trân giáodục - đào tạo" Ngành giáo dục Vĩnh Linh đã được Bộ Giáo dục quan tâm chỉ đạo
cụ thể đầu tư đầy đủ về thư viện, thiết bị dạy học để thực hiện nguyên lý "Học đi
đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn" Bộ cũng đã bổ sung nhiều giáo viên
giỏi, thủ khoa ở các trường Đại học sư phạm cho Vĩnh Linh như thầy giáo LêDuy Minh (liệt sĩ), thầy giáo Đặng Khắc Nhân, cô giáo Nguyễn Thị Mai (người
Hà Nội) thầy Nguyễn Văn Huân.v.v Vì vậy chất lượng đào tạo có thể nói là đạtđỉnh cao Các đội học sinh giỏi Văn, Toán đi thi miền Bắc đạt giải Nhất, Nhì liêntục nhiều năm Có nhiều học sinh trở thành nhà văn như Xuân Đức, Ngô Thảo;
có học sinh trở thành tiến sĩ Toán học như Trần Đức Vân, Nguyễn Xuân Tuyến
Từ năm 1962 đến 1974 học sinh Vĩnh Linh vào các trường Đại học đạt từ 70 đến80%
Khẩu hiệu: "Giống trống Bắc Lý, nổi sóng Hiền Lương, nỗ lực phi thường,
giành cờ Hai tốt" được toàn ngành quán triệt sâu rộng, đã tăng thêm sức mạnh
cho thầy trò Vĩnh Linh Trong tiếng bom gầm đạn rít, tiếng giảng bài của thầy,tiếng trả bài của trò, tiếng hát ca vẫn rộn vang khắp các lũy tre xanh của nôngthôn, đồng bằng, dưới rừng cây của miền núi những trò chơi, những điệu múadưới hào giao thông, bên miệng hầm địa đạo của các lớp mẫu giáo vẫn được tổchức có nền nếp học tập của nhà trường càng gắn liền với đời sống xã hội.Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt như vậy, những thửa ruộng thí nghiệm năngsuất cao của cấp II Vĩnh Hòa, những nương khoai, lạc đất đỏ của cấp III VĩnhLinh, những đám ruộng bèo dâu của cấp I, cấp II Vĩnh Lâm Trường cấp I VĩnhLâm đã có sáng kiến xây dựng Hợp tác xã Măng non Duy Viên, một điển hìnhgắn giáo dục với kinh tế - xã hội ở địa phương, được Trung ương Đoàn đánh giácao và nhân rộng trong các trường học trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa Những
đội văn nghệ "Chim sơn ca", "Sóng biển" của cấp II Vĩnh Tân,Vĩnh Quang;
những ngày hội Văn, Toán của nhiều trường cấp II, cấp III, cùng những hoạtđộng phục vụ chiến đấu như tham gia ngụy trang các trận địa pháo, chuyển vàlau chùi súng đạn, cáng thương binh càng làm cho hoạt động của nhà trường