1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Luận văn tự chủ tài chính

136 362 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn có chuẩn chất lượng, các trường phải có chuẩn đầu tư và giải pháp then chốt trong điều kiện ngân sách nhà nước NSNN eo hẹp như hiện nay là các trường phải tự chủ tài chính, các trườ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

………

ĐẶNG THỊ HOA

TỰ CHỦ VỀ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – Năm 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

………

ĐẶNG THỊ HOA

TỰ CHỦ VỀ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ

CHẤM LUẬN VĂN

Hà Nội – Năm 2014

Trang 3

Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh

người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp Nhờ có sự hướng dẫn của Thầy mà tôi đã hoàn thành được luận văn đúng kế hoạch và tích lũy được nhiều kiến thức quý báu giúp ích cho công tác chuyên môn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Khoa Sau Đại học, Phòng Đào tạo và các quý Thầy, Cô trong Khoa Kinh tế chính trị - Trường Đại học Kinh tế, Ban Giám hiệu, Phòng Kế hoạch tài chính, các Thầy, Cô và các đơn vị trong Trường ĐHTM đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian học tập cũng như thực hiện Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên chia

sẻ, giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng xin được chúc quý Thầy Cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống/

Hà Nội, Tháng 12 năm 2014

Tác giả

Đặng Thị Hoa

Trang 4

CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh Các số liệu tham khảo, kết quả nêu trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình nghiên cứu, thời gian, địa điểm công bố Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Đặng Thị Hoa

Trang 5

- Nêu lên một số khái niệm liên quan đến trường đại học công lập, tài chính

và tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập;

- Nêu lên thực trạng tự chủ tại các trường đại học công lập thuộc Bộ Giáo dục hiện nay và thực trạng tình hình tự chủ tài chính tại Đại học Thương mại (ĐHTM);

- Một số kiến nghị và giải pháp chung cho các trường đại học công lập trong giai đoạn tiếp theo;

- Kiến nghị và giải pháp cụ thể đối với Trường ĐHTM về công tác quản lý

tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

CAM KẾT ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ iii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Về tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐHCL Ở VIỆT NAM 6

1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6

1.2 Một số khái niệm chung 11

1.2.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công 11

1.2.2 Khái niệm về Trường đại học công lập 12

1.2.3 Cơ chế tự chủ tài chính và tự chủ tài chính 13

1.2.4 Tài chính trong các trường ĐHCL 15

1.2.5 Tổ chức quản lý tài chính trong các trường ĐHCL 16

1.3 Tự chủ tài chính trong các trường đại học công lập 17

1.3.1 Cơ cấu tổ chức của trường đại học công lập 17

1.3.2 Tính tất yếu khách quan của tự chủ tài chính 19

1.3.3 Yêu cầu và điều kiện tự chủ tài chính 20

1.3.4 Vai trò của tự chủ tài chính tại ĐHCL 21

1.3.5 Mục tiêu của tự chủ tài chính tại ĐHCL 22

Trang 7

1.3.6 Những nhân tố chi phối đến tự chủ tài chính 22

1.3.7 Các nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ tài chính trong các ĐHCL. 24

1.3.8 Nội dung tự chủ tài chính trong trường ĐHCL 25

1.4 Kinh nghiệm tự chủ tài chính đại học 30

1.4.1 Tự chủ tài chính tại các đại học công lập của một số quốc gia 30

1.4.2 Kinh nghiệm của của một số trường ĐHCL 32

1.4.3 Một số đánh giá và bài học kinh nghiệm 41

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 Phương pháp luận: 45

2.2 Mô tả các phương pháp nghiên cứu được sử dụng 45

Chương 3: THỰC TRẠNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐHTM 48

3.1 Thực trạng tự chủ tài chính tại trường ĐHTM 48

3.1.1 Tự chủ về xây dựng các văn bản quản lý 48

3.1.2 Tự chủ về các khoản thu, mức thu 49

3.1.3 Tự chủ về nội dung chi và định mức chi 58

3.1.4 Tự chủ quản lý và sử dụng tài sản 67

3.1.5 Tự chủ quản lý cân đối thu chi 68

3.1.6 Tự chủ công cụ thực hiện quản lý tài chính 68

3.1.7 Tự chủ trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện 73

3.2 Đánh giá chung về tự TCTC tại ĐHTM 74

3.2.1 Ưu điểm và nguyên nhân 74

3.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 76

3.2.3 Một số vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết 78

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI ĐHTM TRONG THỜI GIAN 2015-2020 80

4.1 Mục tiêu TCTC 80

4.2 Phương hướng thực hiện TCTC 82

Trang 8

4.3 Giải pháp thực hiện tự chủ tài chính 83

4.4 Một số kiến nghị 90

4.4.1 Kiến nghị với Chính Phủ 90

4.4.2 Với Bộ GD&ĐT 92

4.4.3 Với Bộ Tài chính 93

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức thu học phí đối với hệ đào tạo chính quy tập trung Trang 34

Bảng 3.1 Tổng hợp nguồn kinh phí, cơ cấu nguồn kinh phí ngân

sách nhà nước cấp giai đoạn 2011-2013

Trang 51

Bảng 3.2 Tổng hợp thu, cơ cấu thu từ hoạt động sự nghiệp giai

đoạn 2011-2013

Trang 52

Bảng 3.6 Tổng hợp nguồn tài chính, cơ cấu nguồn tài chính giai

Bảng 3.9 Cân đối khoản thu chi thường xuyên từ nguồn thu sự

nghiệp giai đoạn 2011-2013

Trang 61

Trang 11

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Mô hình tổ chức các trường Đại học công lập Việt Nam Trang 17

Sơ đồ 1.2 Mô hình hoạt động tài chính của các trường Đại học

công lập Việt Nam

Trang 18

Biểu đồ 3.1 So sánh nguồn kinh phí, cơ cấu nguồn kinh phí ngân

sách nhà nước cấp giai đoạn 2011-2013

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Về tính cấp thiết của đề tài

Tự chủ, tự chịu trách nhiệm là xu thế tất yếu khách quan trong các hoạt động kinh tế xã hội nói chung và trong giáo dục đào tạo nói riêng, đặc biệt đối với giáo dục đại học (GDĐH) Tự chủ là điều kiện cần thiết để các trường thực hiện việc cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo

Thực hiện chủ trương, chính sách đổi mới nền giáo dục của Đảng và Nhà nước, coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Trong nhiều thập kỷ qua, lĩnh vực giáo dục - đào tạo luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Sau gần 30 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam, trong đó GDĐH đã đạt được những thành tích đáng kể Giáo dục đại học cùng với hệ thống giáo dục cả nước góp phần vào việc nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người dân; thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động; nâng cao chất lượng con người, nâng cao tính cạnh tranh về chất lượng lao động có trình

độ của Việt Nam với khu vực và thế giới Việt Nam với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp, động lực chính sẽ là nguồn nhân lực có chất lượng cao, là đội ngũ trí thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững Bởi vậy đầu

tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, theo đó các trường công lập giữ vững vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân

Các trường đại học công lập (ĐHCL) đã và đang đóng vai trò chủ đạo trong

hệ thống các trường Đại học ở Việt Nam Tuy nhiên, trước những đòi hỏi ngày càng cao của sự phát triển kinh tế - xã hội, các trường ĐHCL cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức Để trở thành nòng cốt, đóng vai trò chủ đạo các trường công lập phải tạo ra được thương hiệu mạnh và uy tín trong xã hội, muốn vậy trường phải có đội ngũ giảng viên có trình độ cao (vừa hồng vừa chuyên), cơ sở vật chất hiện đại đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập…các trường ĐHCL sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào khi ngân sách nhà nước (NSNN) cấp chỉ đảm bảo dưới 50% Mặc dù năm trong số các nước đầu tư lớn cho giáo dục (chiếm 20% ngân sách quốc gia), nhưng chất lượng giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng của Việt Nam vẫn rất

Trang 13

thấp so với các nước trong khu vực Một phần của vấn đề nằm ở sự đánh đồng, chia đều ngân sách giáo dục và chi tiêu không đúng tinh thần, mục tiêu gây lãng phí Khả năng tài chính eo hẹp thì không thể đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, không có kinh phí cho đào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, thu hút nhân tài…như vậy, có thể thấy khó khăn về tài chính làm cho các trường ĐHCL khó triển khai các giải pháp duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo

Muốn có chuẩn chất lượng, các trường phải có chuẩn đầu tư và giải pháp then chốt trong điều kiện ngân sách nhà nước (NSNN) eo hẹp như hiện nay là các trường phải tự chủ tài chính, các trường phải tự đảm bảo cân đối thu chi tài chính trong hoạt động đào tạo, với các lý do và sự cần thiết sau:

Thứ nhất: TCTC trên cơ sở tự cân đối thu chi tài chính của các trường

ĐHCL góp phần giảm bớt gánh nặng cho NSNN;

Thứ hai: TCTC buộc các trường ĐHCL phải tìm cách khai thác triệt để các

nguồn lực tài chính trong xã hội, trở nên chủ động trong việc tạo ra các nguồn thu

ổn định đảm bảo tài chính cho việc chuẩn hóa và nâng cao chất lượng đào tạo;

Thứ ba: TCTC với việc cải cách chế độ học phí theo chế độ hạch toán kinh tế

sẽ góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người học Việc đóng học phí được coi là đầu tư của cá nhân cho chính tương lai của họ;

Thứ tư: Trên cơ sở tự cân đối thu chi tài chính, để tạo được uy tín, thương

hiệu nhằm thu hút người học, các trường phải nâng cấp chất lượng cung cấp dịch vụ đào tạo, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường thúc đẩy sự phát triển;

Thứ năm: TCTC cho phép các trường ĐHCL tự quyết định mức thu học phí,

tạo ra được sự công bằng giữa các trường ĐHCL và trường đại học ngoài công lập Thực tế hiện nay, mức thu học phí ở các trường đại học ngoài công lập cao hơn nhiều so với mức thu tại các trường ĐHCL (trong khi mức hỗ trợ từ NSNN cho các trường ĐHCL là rất thấp)

Trước thực tế đó, việc trao quyền TCTC gắn với tự cân đối thu chi tài chính cho các trường là chìa khóa để nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay, tự chủ tài chính không chỉ là giải pháp tình huống trong giai đoạn hiện nay mà là giải pháp mang tính chiến lược đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các trường ĐHCL

Trang 14

Chính phủ cũng đã cải cách cơ chế tài chính bằng việc ban hành các văn bản như: Nghị định 10/2002/NĐ-CP, ngày 16/1/2002 về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị

sự nghiệp có thu (sau đây gọi là Nghị định 10), Nghị định 43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 về quy đinh quyền tự chủ, tự chịu tránh nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi là Nghị định 43) Nghị định 43 ra đời đã mở rộng quyền tự chủ hơn cho các đơn vị sự nghiệp công, song vẫn còn nhiều bất cập Thực tiễn cho thấy, tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục ĐHCL vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục và hoàn thiện Những hạn chế có nguyên nhân bắt nguồn từ hai phía đó là hạn chế bắt nguồn

từ cơ chế chính sách của nhà nước, tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt, công bằng chưa cao… và hạn chế bắt nguồn từ bản thân các đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, các trường chưa thực sự tự chủ về tạo nguồn tài chính, tự cân đối thu chi và chưa có trách nhiệm giải trình cao Do vậy mặc dù đã có

cơ chế chính sách, nhưng việc khơi thông khai thác các nguồn lực và sử dụng một cách hiệu quả ở các đơn vị sự nghiệp giáo dục, đào tạo còn nhiều bất cập

Để ĐHCL vượt qua được những thách thức, Nhà nước cần phải hoàn thiện chính sách theo hướng giao quyền tự chủ hoàn toàn ở mức độ cao, khung học phí cần linh hoạt hơn; các trường phải tự tạo nguồn thu hợp pháp, tự cân đối thu chi, quyết định mức lương phù hợp với chất lượng lao động, chịu trách nhiệm về sản phẩm khoa học và sản phẩm đào tạo của mình và có trách nhiệm giải trình; người học phải trả tiền tương xứng với chất lượng đào tạo được cung cấp; người sử dụng lao động được đào tạo (người hưởng lợi từ kết quả đào tạo) có nghĩa vụ đóng góp với nhà nước

Xuất phát từ những phân tích trên Tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Tự chủ

về tài chính tại trường Đại học Thương mại” mong muốn đóng góp thiết thực cho

việc TCTC của trường Đại học Thương mại (ĐHTM) ngày một tốt hơn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá thực trạng tự chủ tài chính của các trường đại học công lập Việt Nam nói chung và ĐHTM nói riêng

Trang 15

Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề TCTC đối với trường đại học Thương mại trong thời gian tới Từ mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận chung về TCTC đối với các đơn vị sự nghiệp

có thu thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo

+ Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về xây dựng cơ chế quản lý tài chính theo hướng tự chủ trong GDĐH

+ Phân tích, đánh giá thực trạng TCTC đối với các trường Đại học công lập thuộc Bộ GD&ĐT theo quy định tại nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25/4/2006

+ Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện TCTC theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí NSNN cấp, nguồn thu tại cơ sở… đối với các trường Đại học thuộc Bộ GD&ĐT, cụ thể giải pháp đối với ĐHTM

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về công cụ quản lý tài chính (chính sách, văn bản hướng dẫn) đối với các trường đại học công lập hiện nay và thực trạng vấn đề tự chủ tài chính tại trường đại học Thương mại trong thời gian qua, nghiên cứu cần trả lời

được câu hỏi sau:

+ Thực trạng tự chủ về tài chính trong các ĐHCL thuộc Bộ Giáo dục và đào tạo nói chung và đại học Thương mại nói riêng, giai đoạn từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 và Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 và trong giai đoạn hiện nay như thế nào?

+ Nhà nước cần đổi mới cơ chế TCTC như thế nào để thúc đẩy TCTC đối với các ĐHCL, giảm sự lệ thuộc của các trường vào NSNN, giúp các trường tạo nguồn thu, nâng cao hiệu quả sử dụng và trách nhiệm giải trình?

+ Để thực hiện tốt TCTC các đại học công lập nói chung, ĐHTM nói riêng cần điều kiện gì?

Trang 16

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế

- Phương pháp thu thập tài liệu

- Phương pháp nghiên cứu, xử lý thông tin

(các phương pháp nghiên cứu được trình bày cụ thể tại chương 2)

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề tự chủ về tài chính tại các trường đại học công lập thuộc Bộ Giáo dục

và Đào tạo, cụ thể vấn đề TCTC tại ĐHTM từ khi có Nghị định 43 của Chính phủ đến năm 2013

- Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề TCTC tại các trường

ĐHCL thuộc Bộ GD&ĐT và ĐHTM, những nội dung tự chủ trong quản lý nguồn thu, quản lý nguồn chi, quản lý và sử dụng các quỹ của đơn vị, quản lý tài sản, quản

lý cân đối thu chi, kiểm tra kiểm soát tài chính của các trường thuộc Bộ GD&ĐT nói chung và trường ĐHTM nói riêng

Về thời gian: từ sau Nghị định 10 (2002) đến nay, đặc biệt từ 2011 đến 2013

và đề xuất giải pháp đến năm 2015- 2020 tầm nhìn 2030

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề cơ bản về tự chủ tài chính trong các đại học công lập Việt nam

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng tự chủ tài chính tại trường ĐHTM Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện TCTC tại ĐHTM trong thời gian 2015-2020

Vì thời gian và nguồn tài liệu, số liệu có hạn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những góp ý xây dựng từ các Thầy, Cô giáo, các bạn học viên, sinh viên và các đọc giả quan tâm, để giúp luận văn được hoàn thiện hơn trong giai đoạn tiếp theo

Trang 17

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ

CƠ BẢN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG CÁC ĐHCL Ở VIỆT NAM

1.1 Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến vấn đề TCTC đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đã

có một số công trình nghiên cứu, thể hiện tầm quan trọng của vấn đề và sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế TCTC đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục

và đào tạo nói chung và đối với các trường Đại học nói riêng Có thể kể đến một số

Hội thảo khoa học, một số đề tài nghiên cứu khoa học (NCKH) về lĩnh vực này là:

- Hội thảo khoa học “Vấn đề tự chủ-tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học

và cao đẳng Việt nam” do trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh thay mặt ban liên lạc các trường Đại học và Cao đẳng Việt nam (VUN) tổ chức tại Đại học Tây Nguyên ngày 24/10/2009 Phần lớn các ý kiến tham luận đều đề cập những hạn chế, bất cập trong cơ chế quản lý các trường ĐHCL hiện nay

Tiến sỹ Nguyễn Danh Nguyên – Đại học Bách khoa Hà Nội trong phần tham luận đã nhận xét: Hệ thống giáo dục Đại học hiện nay đã có những thay đổi so với trước nhưng việc quản lý hệ thống vẫn chưa có nhiều thay đổi Ngoại trừ một số trường như: Đại học Quốc gia và một số Đại học vùng, tất cả các trường ĐHCL vẫn được quản lý theo cơ chế quản lý của thời kỳ bao cấp, nghĩa là chịu sự xét duyệt chỉ tiêu tuyển sinh, chương trình đào tạo (chương trình khung), ngân sách tài chính, cho đến thù lao giảng viên, bổ nhiệm chức danh Trong khi đó, đối với các trường Đại học tư thục/dân lập, quốc tế hay liên kết quốc tế, việc kiểm soát khá thông thoáng Chính sự khác biệt trong quản lý này đã tạo ra sự thiếu nhất quán trong toàn hệ thống, tạo ra sự cạnh tranh thiếu bình đẳng giữa các trường Đại học Bài tham luận cũng xác định những ảnh hưởng không mong muốn đến sự phát triển của các ĐHCL và đề xuất một số giải pháp liên quan tự chủ cho các ĐHCL Việt nam

Tiến sỹ Võ Xuân Đàn - Đại học Ngoại ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí Minh cho rằng: tự chủ, tự chịu trách nhiệm chính là bước đột phá của cải cách giáo dục Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam Ông khẳng định: “Có tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Trang 18

được những vấn đề chuyên biệt cao của Đại học thì tính khả thi của đề án đổi mới, cải cách giáo dục Đại học từ nay đến năm 2020 mới thực hiện hiệu quả” (Tr16)

PGS-TS Phạm Xuân Hậu - Viện trưởng Viện nghiên cứu giáo dục – Đại học

Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh nhận định: tự chủ - tự chịu trách nhiệm là nội dung quan trọng trong quá trình cải cách giáo dục Đại học nhằm đáp ứng nhu cầu

xã hội và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, cần phải có điều kiện cần thiết và lộ trình phù hợp cho việc thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm Để được tự chủ, trường phải

có được thương hiệu, khẳng định đẳng cấp về quy mô và chất lượng trong lĩnh vực đào tạo chính, cùng các nghiên cứu khoa học được áp dụng vào thực tiễn, có niềm tin với xã hội

PGS-TS Phùng Xuân Nhạ - Hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đánh giá: Với thực tiễn còn nhiều bất cập của giáo dục Đại học hiện nay, không thể giao một lúc quyền tự chủ hoàn toàn và cho tất cả các trường Đại học, Cao đẳng Mặt khác, khi được giao quyền tự chủ, chưa chắc một số trường

đủ sức nhận Hoặc, một số trường sau khi nhận có thể lạm dụng quyền tự chủ để tùy tiện mở rộng quy mô đào tạo mà không cần quan tâm đến chất lượng

- Hội thảo khoa học “Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực GD&ĐT và Khoa học công nghệ” diễn

ra ngày 09/11/2013, tham gia Hội thảo có nhiều chuyên gia đến từ Học viện Tài chính, Bộ Khoa học công nghệ, Bộ Thông tin và đại diện một số trường Đại học, Cao đẳng Tại Hội thảo các nhà khoa học đã đóng góp nhiều bài viết bàn về vấn đề TCTC trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ

Tại hội thảo Ông Nguyễn Việt Hồng - Vụ trưởng Vụ Hành chính sự nghiệp

- Bộ tài chính đã nêu bật những kết quả, cũng như những nguyên nhân tồn tại trong tiến trình đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ sự nghiệp giáo dục và đào tạo Cho đến nay số các đơn vị giáo dục và đào tạo tự đảm bảo kinh phí còn rất thấp, chủ yếu vẫn là các đơn vị sự nghiệp do nhà nước đảm bảo một phần hoặc toàn bộ kinh phí Nguyên nhân các đơn vị giáo dục và đào tạo tự đảm bảo kinh phí còn rất thấp trong thời gian qua cơ bản do Hệ thống cơ chế chính sách

Trang 19

về quản lý phương thức hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp giáo dục và đào tạo chưa được đổi mới đồng bộ; Chưa tạo ra cơ chế hạch toán đầy đủ chi phí và cơ chế giá dịch vụ để khuyến khích các đơn vị sử dụng kinh phí gắn với hiệu quả công việc

- Hội thảo khoa học “Tháo gỡ vướng mắc trong công tác quản lý tài chính tại các đơn vị Giáo dục và Đào tạo” do trung tâm Khoa học và Bồi dưỡng cán bộ tổ chức ngày 14 và 15/11/2013

Tại hội thảo TS Nguyễn Trường Giang - Vụ Hành chính sự nghiệp - Bộ Tài chính đã nêu một số hạn chế và giải pháp về thực trạng cơ chế tài chính trong giáo dục đại học như: việc duy trì học phí thấp, không đủ bù đắp chi thường xuyên, đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cơ sở giáo dục ĐHCL phải

xé rào, ban hành nhiều khoản thu ngoài quy định, dẫn đến thiếu công khai, minh bạch trong việc sử dụng nguồn thu; Phân bổ NSNN chưa gắn với nhu cầu đào tạo,

cơ cấu ngành nghề Và đưa ra một số giải pháp đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học như sau; Từng bước tính đủ học phí, đối với giáo dục đại học, việc tính đủ học phí là cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế về giáo dục đại học, học đại học để có nghề, tạo thu nhập kiếm sống nuôi sống bản thân và gia đình nên người học phải đóng đủ học phí Việc tính đủ học phí đối với giáo dục đại học là phù hợp với kết luận của Bộ chính trị tại Thông báo số 37-TB/TW ngày 26 tháng 5 năm 2011 của Bộ Chính trị về đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công”

- Hội thảo khoa học “Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở giáo dục đại học công lập” do Bộ Tài chính tổ chức năm 2011

Tại Hội thảo có nhiều tham luận của các chuyên gia, các nhà khoa học về vấn đề làm thế nào để đổi mới cơ chế tài chính đối với các trường ĐHCL Có nhiều biện pháp được đưa ra như: trước mắt cần phải hoàn thiện Luật Giáo dục đại học, hoặc việc đổi mới quản lý tài chính ở các trường đại học phải gắn với nâng cao chất lượng đào tạo, thực hiện mục tiêu công bằng

Trang 20

- Luận án Tiến sỹ của tác giả Trần Đức Cân (2012) : “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt nam” Luận án đã làm rõ thêm về bản chất TCTC, phân tích các nhân tố ảnh hưởng, đưa ra 6 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế TCTC Phân tích thực trạng, những thuận lợi, khó khăn của

cơ chế TCTC hiện nay từ góc độ các trường ĐHCL Đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt, tính công bằng, tính ràng buộc, tính đồng thuận của các trường đối với Nghị định 43 Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện cơ chế TCTC

- Bài báo khoa học của tiến sỹ Phạm Thị Thu Thủy (2012), “Tăng cường quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng nhằm thực hiện hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Hội nhập: Cơ hội và thách thức”, NXB Thống kê Bài báo đánh giá thực trạng tự chủ hiện nay của các trường ĐHCL và chỉ ra những hạn chế của các trường trong quá trình hội nhập quốc tế do thiếu quyền tự chủ đầy đủ, bài báo cũng gợi ý các giải pháp tăng cường quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm của các trường ĐHCL, giúp các trường có điều kiện tốt hơn khi hội nhập quốc tế về giáo dục và đào tạo

- Bài báo khoa học của GS.TS Đinh Văn Sơn (2013), “Tự chủ tài chính-giải pháp chiến lược về chất lượng đào tạo của các trường đại học ở Việt nam trong điều kiện hội nhập”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Hội nhập: Thành tựu và những vấn đề đặt ra”, NXB Thống kê Bài báo phân tích, luận giải về một số giải pháp có tính quyết định đến chất lượng đào tạo và vai trò của nguồn lực tài chính đối với việc tạo lập các yếu tố nền tảng của quá trình đào tạo, tác giả cũng đề cập đến một số vấn đề về TCTC trong các trường ĐHCL, như là giải pháp then chốt cho bài toán chất lượng đào tạo của giáo dục đại học Việt Nam

- Bài báo khoa học của GS.TS Hoàng Văn Châu (2011), “Một số vấn đề về thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại trường đại học Ngoại thương”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Đổi mới cơ chế tài chính đối với cơ sở GDĐH công lập”, Bộ Tài chính và Bộ GD&ĐT phối hợp tổ chức Bài báo nêu thực trạng TCTC tại Đại học Ngoại thương và các vấn đề thực tế đặt ra trong quá trình thực hiện TCTC, đồng

Trang 21

thời nêu các giải pháp cần thiết nhằm giải quyết tốt vấn đề TCTC tại đại học Ngoại Thương trong thời gian tới

- Bài báo khoa học của Nguyễn Thị Yến Nam (2011), “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (số 31-2011) Bài báo đề cập đến thực trạng về tình hình tài chính và công tác quản lý tài chính của trường đại học Sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh đối với các hoạt động chi thường xuyên được giao tự chủ trong chu kỳ kinh phí ổn định ba năm gần đây (2008-2011) từ đó đề ra những giải pháp cho việc cải tiến công tác quản lý tài chính cũng như góp phần đổi mới công tác quản lý của trường trong thời gian tới

- Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009-2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2009 Mục tiêu của đề án là xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục, nhằm huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục và đào tạo Xây dựng hệ thống các chính sách để tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục chất lượng cao

- Dự án của ĐHTM năm 2012 về “Giải pháp tổ chức công tác quản lý tài chính trong trường ĐHTM” Dự án được xây dựng trên cơ sở dự thảo của Chính phủ về đề án tự chủ tài chính cho các trường ĐHCL, nhằm phục vụ cho việc hoàn thiện quy trình quản lý tài chính tại trường ĐHTM Mục tiêu của dự án, hướng tới xây dựng cơ chế tài chính áp dụng cho ĐHTM khi trường được tự chủ tài chính hoàn toàn

Đề tài khoa học cấp Bộ của TS Đỗ Minh Thành (2007), “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý tài chính trong điều kiện TCTC tại các trường ĐHCL hiện nay” Đề tài đã hệ thống hoá, phân tích làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận chung về tổ chức quản lý tài chính và tổ chức công tác kế toán trong điều kiện thực hiện TCTC ở các đơn vị sự nghiệp có thu và tại các trường ĐHCL Trên cơ sở nghiên cứu thực tế tổ chức quản lý tài chính và tổ

Trang 22

chức công tác kế toán tại các trường ĐHCL trên địa bàn Thành phố Hà Nội đánh giá

thực trạng, chỉ rõ những ưu điểm, những hạn chế, đề xuất các giải pháp hoàn thiện

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu nêu trên, có thể khái quát các vấn đề

mà các công trình nghiên cứu đã đề cập như sau:

(1) Nêu lên xu thế và các ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa đến phát triển GDĐH

(2) Kinh nghiệm của một số nước và một số mô hình tự chủ tài chính đại học của các nước có nền GDĐH phát triển, kinh nghiệm của một số trường đại học Việt nam

(3) Đưa ra một số khái niệm, bản chất của tự chủ và tự chủ tài chính, lý luận

về tự chủ, đánh giá sơ bộ thực trạng tự chủ nói chung và tự chủ tài chính nói riêng; đánh giá những tác động của chính sách đối với vấn đề tự chủ của các đại học ở Việt nam hiện nay

(4) Nêu những vướng mắc liên quan đến việc thực thi quyền tự chủ (5) Nêu một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập

Hầu hết các công trình nghiên cứu và các bài viết đều đánh giá thực trạng chung của vấn đề tự chủ nói chung và TCTC nói riêng trên toàn hệ thống, một vài bài báo đánh giá thực trạng của một đơn vị cụ thể như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Ngoại thương…, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu hay bài báo khoa học nào nghiên cứu về thực trạng TCTC tại Đại học Thương mại Vì vậy, trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ nghiên cứu cụ thể về vấn đề tự chủ tài chính tại trường ĐHTM theo Nghị định 43,

từ thực trạng của hệ thống, thực trạng của trường ĐHTM đề xuất một số giải pháp phù hợp với trường trong thời gian tới

1.2 Một số khái niệm chung

1.2.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công

Là các đơn vị được Nhà nước thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp (như viện nghiên cứu, các loại trường học, bệnh viện, cơ sở NCKH…) những hoạt

Trang 23

động này nhằm phục vụ là chủ yếu, không vì mục tiêu lợi nhuận Thực tế trong xã hội có nhiều đơn vị sự nghiệp công Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo những tiêu chí khác nhau

1.2.2 Khái niệm về Trường đại học công lập

Trường đại học công lập là một đơn vị sự nghiệp công được thành lập theo quyết định của Nhà nước, được Nhà nước cấp kinh phí để đầu tư cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực, tổ chức nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác theo quy định tại Điều lệ trường đại học ban hành theo quyết định 58/2010/QĐ-TTG ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ:

- Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo về Tổ quốc;

- Tiến hành nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học và công nghệ theo quy định;

- Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và đội ngũ cán bộ giảng viên của trường;

- Quản lý giảng viên, cán bộ nhân viên, xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu tuổi

và giới;

- Quản lý sử dụng tài sản, trang thiết bị và tài chính theo quy định;

- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định

Hoạt động của các trường đại học là cung cấp các dịch vụ công đáp ứng yêu cầu đào tạo trang bị các kiến thức theo các chuyên ngành thuộc các lĩnh vực khác nhau cho người học không vì mục tiêu lợi nhuận

Tổ chức hoạt động đào tạo của các trường đại học được thực hiện theo nhiều chương trình, chuyên ngành và cấp bậc khác nhau (cao đẳng, đại học, sau đại học)

Trang 24

Điều đó đòi hỏi tổ chức quản lý phải theo từng chuyên ngành, cấp đào tạo, đặc biệt trong điều kiện thực hiện tự chủ tài chính cần xác định được chi phí và các khoản thu của từng chuyên ngành và cấp đào tạo

Thời gian tổ chức hoạt động của các trường đại học được thực hiện thống nhất chung giữa các trường và không phù hợp với thời gian thực hiện cấp phát và thanh quyết toán các nguồn kinh phí (năm tài chính )

Trong các trường đại học ngoài hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học theo nhiệm vụ được Nhà nước giao còn tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh các dịch vụ sự nghiệp ngoài nhiệm vụ chính của Nhà nước

1.2.3 Cơ chế tự chủ tài chính và tự chủ tài chính

Cơ chế TCTC là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị

Cơ chế tự chủ tài chính trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hiện nay được thực hiện theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 và Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006

- Tự chủ tài chính

Được hiểu là vấn đề tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công trong việc tạo ra

và sử dụng nguồn tài chính có được trong quá trình hoạt động, tự chủ tài chính là tự chủ trong việc phân bổ nguồn tài chính cho mọi hoạt động của đơn vị

Thực hiện việc đổi mới quản lý tài chính công, Chính phủ bắt đầu giao quyền TCTC cho các đơn vị sự nghiệp trong đó có ĐHCL bằng việc ban hành Nghị định

Trang 25

10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 Nghị định 10 đã quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp có thu và trách nhiệm của cơ quan quản lý các cấp Tuy nhiên quá trình thực hiện, Nghị định 10 bộc lộ nhiều hạn chế Ngày 25/4/2006 Chính phủ ban hành Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Hiện nay cơ chế TCTC trường ĐHCL thực hiện theo Nghị định 43

Nghị định 43 so với Nghị định 10 có mở rộng hơn về mục tiêu, nội dung, quy định chi tiết hơn và có một số điểm mới như sau:

(1) Phạm vi vay vốn để hoạt động dịch vụ của các trường được nới rộng (được huy động vốn của công chức, viên chức trong đơn vị);

(2) Nguồn thu sự nghiệp được bổ sung thêm lãi được chia từ hoạt động liên doanh, liên kết và lãi tiền gửi ngân hàng Về các khoản thu, mức thu trong các hoạt động dịch vụ theo hợp đồng, hoạt động liên doanh liên kết, trường được quyết định khoản thu, mức thu sao cho thu đủ bù đắp chi và có tích lũy;

(3) Sử dụng nguồn vốn được chia thành 2 loại rõ rệt (chi thường xuyên và chi không thường xuyên) Thủ trưởng đơn vị được quyền quyết định phương thức khoán chi phí cho từng đơn vị, bộ phận trực thuộc;

(4) Việc chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ, sau khi trang trải toàn bộ chi phí hoạt động và làm nghĩa vụ với nhà nước được quy định cụ thể, chi tiết hơn;

(5) Việc lập và chấp hành dự toán được chia thành 2 thời điểm:

Một là: Năm đầu thời kỳ ổn định, dự toán được lập dựa vào chức năng nhiệm

vụ được giao, kết quả thu chi của năm trước liền kề-lập dự toán chi không thường xuyên;

Hai là: Hai năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định, dự toán được lập dựa trên

mức ngân sách cấp cho năm trước liền kề, nhiệm vụ tăng hoặc giảm của năm kế hoạch-lập dự toán chi không thường xuyên

(6) Thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong việc thực hiện quyền tự chủ, xây dựng phương án tự chủ báo cáo cơ quan cấp trên

Trang 26

Nghị định 43 ra đời làm thay đổi đáng kể phương thức quản lý của các trường ĐHCL, tuy nhiên do còn có độ lệch trong việc ban hành văn bản pháp quy của nhà nước nên việc tự chủ tài chính nói riêng và tự chủ đại học nói chung còn nhiều vướng mắc Nghị định 43 được chính phủ ban hành năm 2006, nhưng từ khi

ra đời đến nay mới chỉ có Bộ Tài chính ban hành Thông tư 71/2006 và đến tận 2009

Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ban hành Thông tư 07/2009 hướng dẫn thực hiện Nghị định 43 Sự chậm trễ của các Bộ, Ngành liên quan trong việc ban hành các thông tư, văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 43 của Chính phủ làm cho tính hiệu lực bị xem nhẹ Không những thế một số văn bản pháp quy ban hành sau đó lại làm cản trở vấn đề thực hiện tự chủ Nghị định 43 cho phép các trường tự chủ thu chi nguồn kinh phí thường xuyên nhưng việc thu học phí của các trường lại vướng khung học phí do Nhà nước quy định tại Nghị định 49/2010 của chính phủ Việc chi trả lương, phụ cấp, tiền làm thêm giờ…vướng Thông tư 50/2008/TTLT-BGD-BNV-BTC Nghị định 43 giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về bộ máy, biên chế…nhưng Nhà nước lại đánh giá và kiểm định chất lượng các trường trong đó có tiêu chí số lượng sinh viên/1 giảng viên Như vậy việc ban hành văn bản pháp quy thiếu đồng

bộ, nhất quán đang làm khó cho các trường trong quá trình thực hiện tự chủ

1.2.4 Tài chính trong các trường ĐHCL

Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể xã hội

Tài chính trong các trường đại học là phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của các quỹ tiền tệ trong các trường đại học Xét về hình thức nó phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong quá trình sử dụng các quỹ bằng tiền Xét về bản chất, nó là những mối quan hệ tài chính biểu hiện dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ bằng tiền nhằm phục

vụ cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Các quan hệ tài chính trong các trường ĐHCL như sau:

- Quan hệ tài chính giữa các trường với NSNN

Trang 27

Ngân sách nhà nước cấp kinh phí bao gồm: Chi hoạt động thường xuyên và chi hoạt động không thường xuyên Các trường phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như nộp thuế theo quy định của nhà nước

- Quan hệ tài chính giữa các trường với xã hội

Quan hệ tài chính giữa các trường với xã hội, mà cụ thể là người học được thể hiện qua các khoản thu sau: Học phí, lệ phí tuyển sinh để góp phần đảm bảo cho hoạt động giáo dục Nhà nước quy định khung học phí, cơ chế thu và sử dụng học phí đối với các trường ĐHCL Người học thuộc diện chính sách xã hội và người nghèo được nhà nước hỗ trợ thông qua các chính sách xã hội, sinh hoạt phí, cho vay…

- Quan hệ tài chính giữa nhà trường với nước ngoài

Quan hệ tài chính giữa nhà trường với nước ngoài gồm các quan hệ tài chính với các trường, tổ chức nước ngoài về hoạt động như liên kết đào tạo, NCKH và hợp tác quốc tế nhằm phát triển các nguồn lực tài chính, tìm kiếm các nguồn tài trợ

- Quan hệ tài chính trong nội bộ nhà trường

Quan hệ tài chính trong nội bộ nhà trường gồm các quan hệ tài chính giữa các đơn vị trong trường và giữa các công chức, viên chức trường thông qua quan hệ tạm ứng, thanh toán, phân phối thu nhập, thù lao giảng dạy, NCKH, tiền lương, thưởng, thu nhập tăng thêm…

1.2.5 Tổ chức quản lý tài chính trong các trường ĐHCL

Quản lý tài chính là quản lý các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế tài chính một cách phù hợp với điều kiện đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước Quản

lý tài chính là việc sử dụng các công cụ quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị

Tổ chức quản lý tài chính trong các trường ĐHCL là tổ chức quản lý công tác thu, chi của các quỹ tài chính trong nhà trường, quản lý thu chi của các chương trình, dự án đào tạo, quản lý thực hiện dự toán ngân sách của nhà trường

Quản lý tài chính đòi hỏi các chủ thể quản lý phải lựa chọn, đưa ra các quyết

Trang 28

định tài chính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động quản lý tài chính của đơn vị mình Mục tiêu tài chính có thể thay đổi theo từng thời kỳ và chính sách chiến lược của từng đơn vị Tuy nhiên khác với doanh nghiệp, mục tiêu quản lý tài chính trong các trường ĐHCL không vì mục đích lợi nhuận mà phục vụ cho cộng đồng là chủ yếu nên quản lý tài chính tại các trường ĐHCL là quản lý và sử dụng có hiệu quả, đúng định hướng các nguồn kinh phí NSNN cấp và

các nguồn thu khác theo đúng quy định của pháp luật

1.3 Tự chủ tài chính trong các trường đại học công lập

1.3.1 Cơ cấu tổ chức của trường đại học công lập

PHÓ HIỆU TRƯỞNG PHÓ HIỆU TRƯỞNG PHÓ HIỆU TRƯỞNG

HIỆU TRƯỞNG

Trang 29

Theo cơ cấu tổ chức các trường Đại học được quy định trong luật Giáo dục, Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý tất cả các hoạt động của nhà trường,

do Bộ GD&ĐT có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và thủ tục bổ nhiệm, công nhận Hiệu trưởng được thực hiện theo quy định của nhà nước Các phó Hiệu trưởng là thành viên trong Ban giám hiệu và là người giúp việc cho Hiệu trưởng, cũng do Bộ chủ quản có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận

Hội đồng Khoa học và đào tạo đóng vai trò là hội đồng tư vấn trong nhà trường do Hiệu trưởng thành lập để tư vấn cho Hiệu trưởng các hoạt động đào tạo

và NCKH theo quy định

Các phòng chức năng là các đơn vị trực thuộc trường, thực hiện nhiệm vụ phục vụ đào tạo, triển khai thực hiện các kế hoạch và đóng vai trò tham mưu cho Hiệu trưởng trong việc hoạch định, chiến lược phát triển cũng như thực hiện các nghiệp vụ trong lĩnh vực chuyên môn

Các khoa là cấp quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về đào tạo, NCKH và quản lý người học

Các bộ môn là cấp quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về đào tạo, NCKH

Sơ đồ 1.2 Mô hình hoạt động tài chính của các trường ĐHCL ở Việt Nam Nguồn: Tác giả tổng hợp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP

Trang 30

Hiện nay, các nguồn tài chính nhằm duy trì các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy của các trường ĐHCL bao gồm: nguồn NSNN, học phí và đóng góp xã hội

1.3.2 Tính tất yếu khách quan của tự chủ tài chính

Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của một quốc gia Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, hầu hết các chính phủ đều quan tâm đầu tư cho giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng

Bộ GD&ĐT đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đổi mới, cải cách giáo dục đại học đến năm 2020 như sau:

+ Điều chỉnh cơ cấu trình độ và hệ thống nhà trường, làm cho giáo dục đại học phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và xu hướng phát triển của thế giới;

+ Xây dựng quy trình mềm dẻo và liên thông, đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy ở bậc đại học;

+ Xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục đại học có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn cao, phong cách quản lý và giáo dục tiên tiến hiện đại;

+ Tăng cường hoạt động nghiên cứu và triển khai nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, trực tiếp giải quyết những vấn đề thực tiễn phát triển kinh tế xã hội và tăng nguồn thu nhập cho trường;

+ Đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục đại học nhằm đa dạng hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư;

+ Đổi mới quản lý giáo dục theo hướng tăng cường tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúc đẩy năng lực cạnh tranh của hệ thống đại học trong quá trình hội nhập quốc tế

Hiện nay, một thách thức đối với giáo dục đại học là giải quyết bài toán giữa yêu cầu phát triển quy mô và nâng cao chất lượng, trong khi ngân sách quốc gia không thể cung cấp đủ, các cơ sở giáo dục cần phải tìm kiếm tài chính ngoài ngân sách Điều này sẽ được giải quyết nếu các trường là một chủ thể, có quyền xem xét

Trang 31

lại các ưu tiên, tổ chức lại cơ cấu quản lý, tự đa dạng hóa nguồn thu (bao gồm cả nguồn thu học phí từ người học)

Trong thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở GDĐH công lập ở nước ta đã từng bước được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế xã hội theo hướng ngày càng nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm về tài chính Thực hiện Nghị định số 10/2002/NĐ-CP và nay là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP Các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có các trường ĐHCL được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tạo lập và sử dụng nguồn tài chính để thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực hoạt động của mình Việc giao quyền tự chủ tài chính cho các trường là hết sức cấp bách, sẽ giúp các trường thuận lợi trong việc chủ động chi tiêu trong những trường hợp đột xuất cũng như xoay xở trong những vấn đề thuộc diện trường tự lo được Vì sao phải tự chủ tài chính:

Vì các trường phải đáp ứng các qui luật giá trị và qui luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường;

Phải có sản phẩm đa dạng, có chất lượng phù hợp, nhằm đáp ứng với mọi yêu cầu của thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường;

Vì các trường không còn được bao cấp nguồn lực hoàn toàn;

Phải nâng cao không ngừng chất lượng, hiệu quả và hiệu suất của mình để khẳng định vị trí, thương hiệu;

Chỉ có tự chủ mớ i khai thác đươ ̣c triê ̣t để tiềm năng của những trí tuệ lớn tại các trường đại học để phát triển nhà trường nói riêng, giáo dục ĐH nói chung

1.3.3 Yêu cầu và điều kiện tự chủ tài chính

- Đối với các trường đại học

+ Các trường phái kí cam kết với Bộ chủ quản (Bộ GD&ĐT) về mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học;

+ Thành lập Hội đồng trường đủ thành phần (giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục, sinh viên, đại diện doanh nghiệp…) đảm bảo không nhóm nào có số lượng tạo thành đa số;

Trang 32

+ Lãnh đạo nhà trường phải có tầm nhìn chiến lược, có năng lực quản lý, điều hành;

+ Mọi hoạt động của trường phải công khai minh bạch để người học và xã hội có thể giám sát;

+ Tự chủ tài chính của trường phái gắn với trách nhiệm giải trình và chất lượng dịch vụ cung cấp

- Đối với Nhà nước

+ Có chính sách rõ ràng, cụ thể hóa trong các điều khoản của pháp luật, có chế tài đối với các hành vi của người ra quyết định;

+ Đơn giản hóa các thủ tục hành chính

1.3.4 Vai trò của tự chủ tài chính tại ĐHCL

+ TCTC cho phép các trường chủ động thu hút, khai thác nguồn vốn ngân sách và tạo lập nguồn vốn ngoài ngân sách thông qua đa dạng hoá các hoạt động sự nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN, nhân lực, tài sản để việc thực hiện nhiệm

vụ hiệu quả hơn, mở rộng, phát triển nguồn thu

+ TCTC có tác động tích cực tạo điều kiện cho các trường công lập chủ động hơn trong công tác quản lý tài chính, quan tâm hơn đến hiệu quả sử dụng kinh phí

và thực hành tiết kiệm, thúc đẩy các đơn vị năng động hơn trong các hoạt động theo hướng đa dạng hoá các loại hình đào tạo để tăng nguồn thu, khắc phục được tình trạng sử dụng lãng phí các nguồn lực, đồng thời khuyến khích sử dụng tiết kiệm trong chi tiêu và tôn trọng nhiệm vụ hoạt động nghiệp vụ có chuyên môn của các đơn vị

+ TCTC góp phần tăng cường trách nhiệm của đơn vị đối với nguồn kinh phí, công tác lập dự toán được chú trọng hơn và khả thi hơn, 100% các đơn vị được giao quyền tự chủ đã xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và thực hiện công khai tài chính

+ TCTC bảo đảm đầu tư của nhà nước cho các trường ĐHCL được đúng mục đích hơn, có trọng tâm trọng điểm, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, thể chế hoá việc trả lương tăng thêm một cách thích đáng, hợp pháp từ kết

Trang 33

quả hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ và tiết kiệm chi tiêu, tăng cường công tác quản lý tài chính của các đơn vị từng bước đi vào nề nếp

1.3.5 Mục tiêu của tự chủ tài chính tại ĐHCL

Mục tiêu của tự chủ tài chính nhằm:

+ Cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh cho các trường ĐHCL Muốn xây dựng được thương hiệu, nâng cao được uy tín, tạo được danh tiếng và vị thế trường phải chú trọng đầu tư cho chất lượng đào tạo (xây dựng đội ngũ chuẩn, đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, cải tiến chương trình, nội dung phù hợp, tổ chức tuyển sinh nghiêm túc…)

+ Chủ động nguồn thu bằng cách đa dạng hóa hoạt động đào tạo, đẩy mạnh hợp tác, liên doanh liên kết, nâng cấp các chương trình và hình thức đào tạo, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hộị

+ Loại bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào ngân sách nhà nước, tạo thói quen làm việc năng động

+ Giảm bớt các thủ tục hành chính, các khâu trung gian, tiết kiệm thời gian

và giảm những chi phí vô ích

+ Tăng thu, tiết kiệm chi, giúp các trường ĐHCL nâng cao hiệu quả và tăng thu nhập cho người lao động

1.3.6 Những nhân tố chi phối đến tự chủ tài chính

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề tự chủ tài chính đối với các trường ĐHCL Tuy nhiên có thể xem xét những nhân tố tác động từ bên ngoài đơn vị và nhân tố phát sinh từ bên trong đơn vị

- Nhân tố bên ngoài

Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước đối với lĩnh vực giáo dục đào tạo và sự nhận thức đổi mới cơ chế quản lý của nhà nước trong từng giai đoạn: Trong thời gian qua, Đảng và nhà nước ta luôn coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu Điều đó thể hiện số chi NSNN cho giáo dục đào tạo ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn và các cơ chế quản lý đối với hoạt động giáo dục đào tạo ngày càng được nới lỏng hơn Trong những năm qua Nhà nước đã ban hành nhiều chính

Trang 34

sách nhằm tăng cường hơn nữa quyền tự chủ đối với các trường ĐHCL, đây là một thuận lợi Tuy nhiên việc ban hành các chính sách chưa đồng bộ, không kịp thời lại

là một rào cản đối với tiến trình thực hiện quyền tự chủ đối với các trường ĐHCL

Chính sách kinh tế xã hội: Chính sách kinh tế xã hội ngày càng có xu hướng ủng hộ việc tự chủ tài chính không chỉ đối với các trường ĐHCL mà đối với toàn bộ

hệ thống các đơn vị sự nghiêp Hoạt động tài chính ở các trường ĐHCL không chỉ chịu sự chi phối bởi bản thân hoạt động của con người chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động tài chính, mà còn chịu sự chi phối bởi môi trường kinh tế - xã hội khách quan Nó sẽ được phát triển hay thu hẹp tuỳ thuộc vào quan điểm khuyến khích hoặc hạn chế của chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhà nước

Cơ chế quản lý tài chính: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhất đối với quá trình TCTC của các trường ĐHCL Hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách

về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị có liên quan này có được thông thoáng thì vấn đề TCTC mới sớm đạt kết quả như mong đợi Hiện nay mặc dù đã có chủ trương rõ ràng nhưng chính sách còn chưa nhất quán và chưa theo kịp, các văn bản hướng dẫn chậm nên việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn

- Nhân tố bên trong

Sự nhận thức của đơn vị về TCTC và trình độ của người quản lý trong đơn vị Việc thực hiện TCTC tại các ĐHCL phải được các nhà quản lý đại học xác định là nhiệm vụ không chỉ của các nhà quản lý mà là trách nhiệm và quyền lợi chung của toàn thể công chức viên chức (CCVC) trong toàn trường và việc thực hiện TCTC phải thực sự đem lại lợi ích cho người lao động Một khi CCVC nhận thức được đầy

đủ về vấn đề này thì hiệu quả công việc sẽ đem lại thực sự, bởi vì, lợi ích luôn là động lực của sự làm việc Tuy nhiên trong thực tế không phải các trường ĐHCL đều đã làm tốt điều này, vì vậy việc tự chủ tài chính ở một số trường vẫn được coi là việc của các nhà quản lý đơn vị

Một nhân tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện TCTC tại các trường ĐHCL là Hệ thống kiểm tra, kiểm soát trong đơn vị như: thanh tra nhân dân, thanh tra tài chính, kiểm toán, kiểm soát nội bộ, … Đặc biệt là

Trang 35

hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các thủ tục kiểm soát và các loại kiểm soát khác…làm tốt công tác kiểm soát nội bộ đảm bảo tính minh bạch trong quản lý tài chính, tạo được niềm tin và củng cố tính đoàn kết trong đơn vị thì việc tự chủ tài chính mới thành công

Như vậy, thông qua xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ tài chính trong các các trường ĐHCL giúp cho việc đề ra và thực thi cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị đạt được mục tiêu đã định

1.3.7 Các nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ tài chính trong các ĐHCL

Các trường đại học công lập là những đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện tự chủ, tự đảm bảo một phần chi phí thường xuyên, do đó các nguyên tắc thực hiện quyền TCTC tại các trường ĐHCL như sau:

Phạm vi, mức độ TCTC trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Nghị định 43/2006.NĐ-CP có sự khác nhau, tuỳ theo mức độ tự bảo đảm nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên Tuy có sự khác nhau về phạm vi, mức độ TCTC, song khi các trường ĐHCL được trao quyền TCTC phải bảo đảm các nguyên tắc nhất định

Một là, Hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối với hoạt động sản xuất hàng

hoá, cung cấp dịch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị

Hai là, Thực hiện công khai, dân chủ theo đúng quy định của pháp luật

Ba là, Thực hiện quyền tự chủ phải gắn liền với tự chịu trách nhiệm trước cơ

quan quản lý cấp trên và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Bốn là, Đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền, nghĩa vụ tổ chức, cá nhân theo

quy định của pháp luật

Tóm lại, Thực hiện TCTC trong các ĐHCL là nhằm thực hiện việc quản lý

tốt hơn mọi hoạt động trong đơn vị Việc giao quyền TCTC cho các trường chính là

cơ chế nhà nước giao quyền tự chủ cao hơn trong quản lý lao động và quản lý tài chính cho các đơn vị

Trang 36

1.3.8 Nội dung tự chủ tài chính trong trường ĐHCL

- Tự chủ xây dựng các văn bản quản lý

Thực hiện việc đổi mới quản lý tài chính công, Chính phủ bắt đầu giao quyền

tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp, trong đó có các trường ĐHCL bằng việc ban hành Nghị định 10/2002/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP Các trường trên cơ sở những Nghị định trên cùng với các Thông tư hướng dẫn của các Bộ, Ngành liên quan xây dựng và ban hành các văn bản quản lý tài chính phù hợp với điều kiện thực tế của trường mình

- Tự chủ nguồn thu, mức thu

(1) Nguồn ngân sách nhà nước cấp (nguồn tài chính này các trường không được tự chủ mà chi theo dự toán ngân sách được duyệt), gồm:

Kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ đảm bảo một phần kinh phí hoạt động;

Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ;

Kinh phí thực hiện đào tạo, bồi dưỡng CCVC;

Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;

Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hang (điều tra, quy hoạch, khảo sát…);

Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;

Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

Kinh phí khác (nếu có) (2) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp (đây là nguồn thu các trường được tự chủ sau khi thực hiện nghĩa vụ với nhà nước theo quy định), gồm:

Phần được để lại từ số thu học phí, lệ phí tuyển sinh thuộc ngân sách nhà nước theo quy định;

Trang 37

Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị;

Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có);

Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng (3) Nguồn thu khác:

Thu từ các dự án viện trợ, quà tặng;

Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của công chức viên trong đơn vị;

Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

- Tự chủ nội dung chi, định mức chi

Nội dung chi của các trường ĐHCL gồm: chi hoạt động thường xuyên, chi hoạt động không thường xuyên và chi khác

(1) Chi hoạt động thường xuyên:

Kinh phí chi hoạt động thường xuyên bao gồm NSNN cấp cho hoạt động thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị để lại theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm:

Chi cho con người: Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội

Chi nghiệp vụ chuyên môn: Thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, chi hội nghị, đoàn ra, đoàn vào, chi mua giáo trình, tài liệu, dụng cụ phục vụ thí nghiệm….tùy theo nhu cầu thực tế

Chi mua sắm sửa chữa: Chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa, nâng cấp trường lớp, bàn ghế, trang thiết bị, học cụ…

Chi thường xuyên khác

(2) Chi hoạt động không thường xuyên

Chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ;

Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng CCVC;

Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;

Trang 38

Chi thực hiện các nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, khảo sát, quy hoạch…) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định;

Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định; Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;

Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định, thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;

Chi các khoản khác theo quy định (nếu có)

(3) Chi khác:

Các khoản chi từ dự án tài trợ, viện trợ của các hoạt động hợp tác quốc tế, chi nguồn tài trợ học bổng SV, quà biếu, tặng…

- Tự chủ trong quản lý, sử dụng tài sản

Trường đại học công lập thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn NSNN đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp

Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn lại

- Tự chủ quản lý cân đối thu chi

Trường đại học công lập là đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp và mức độ tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên

Mức tự đảm bảo chi phí thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp có thu được thể hiện qua mức tự bù đắp các chi phí hoạt động thường xuyên bằng các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị theo quy định được để lại và được xác định như sau :

Trang 39

Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp

hoạt động thường xuyên = - x 100 % của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên

Theo tiêu thức này các đơn vị sự nghiệp có thu được chia thành :

+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động

thường xuyên là những đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đủ để trang trải toàn bộ chi

phí hoạt động thường xuyên phát sinh trong quá trình hoạt động của đơn vị, hay nói

cách khác là đơn vị có mức tự đảm bảo chi hoạt đông thường xuyên > 100%

+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động

thường xuyên là những đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự trang trải một phần chi phí

hoạt động thường xuyên, phần còn lại được NSNN cấp (những đơn vị có mức tự

đảm bảo chi hoạt động thường xuyên <100%)

+ Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu,

kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do NSNN bảo đảm toàn

bộ kinh phí hoạt động

Đối với đơn vị tự đảm bảo chi phí hoạt động:

Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt

động sự nghiệp;

Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động: được quyết định tổng mức thu

nhập tăng thêm theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị ;

Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập

Đối với Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa 2 quỹ không quá 3

tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động:

Trích tối thiểu 25% số chênh lệch thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt

động sự nghiệp;

Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động: được quyết định mức thu nhập

tăng thêm cho người lao động nhưng không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức

vụ trong năm do nhà nước quy định;

Trang 40

Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa 2 quỹ không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm

Như vậy, đơn vị được giao quyền tự chủ hoàn toàn được quyền chủ động về chi thu nhập tăng thêm cho người lao động

- Tự chủ công cụ thực hiện quản lý tài chính

+ Hệ thống văn bản pháp luật: Gồm các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý tài chính của các trường ĐHCL Các văn bản pháp luật về các điều kiện, chuẩn mực pháp lý cho các hoạt động tài chính ở các trường Hệ thống các văn bản pháp luật của nhà nước hướng dẫn, tạo điều kiện phát huy quyền TCTC cho các trường ĐHCL

+ Công tác kế hoạch: Công cụ này đóng vai trò quan trọng trong quản lý tài chính, đảm bảo các khoản thu, chi của các trường đúng, đảm bảo Các trường căn

cứ vào quy mô đào tạo, cơ sở vật chất, hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác của năm báo cáo để có cơ sở dự kiến năm kế hoạch Dựa vào số liệu chi cho con người, cho quản lý hành chính và cho hoạt động sự nghiệp, mua sắm, sửa chữa….làm cơ

sở dự kiến năm kế hoạch

+ Quy chế chi tiêu nội bộ: Công cụ này đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý tài chính, nó đảm bảo các khoản thu, chi của trường được thực hiện theo quy định và công khai Thông qua đó thể hiện sự quản lý tập trung, thống nhất Qua đây CCVC và kho bạc nhà nước cũng có thể thực hiện kiểm soát chi của trường

+ Công tác kế toán: Là phần không thể thiếu của quản lý tài chính, để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý Công tác kế toán đòi hỏi phải ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả sử dụng kinh phí của trường kịp thời, tuân thủ mục lục ngân sách

+ Công tác quản lý thu chi tài chính: Quản lý tài chính trong các trường đại học công lập thực chất là quản lý thu chi tài chính, được thực hiện theo một quy

Ngày đăng: 17/04/2018, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w