Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập – Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh” làm nội dung nghiên cứu n
Trang 2NGUYỄN SỸ NHÀN
TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ
SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
(Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh)
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60340201
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013
Trang 3Trang bìa phụ Trang Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng biểu
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 4
1.1 Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị giáo dục đại học 4
1.1.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 4
1.1.1.1 Khái niệm 4
1.1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập 4
1.1.2 Đặc điểm của giáo dục đại học và xu hướng giáo dục đại học hiện nay 6
1.1.2.1 Đặc điểm của giáo dục đại học 6
1.1.2.2 Xu hướng thị trường hóa Giáo dục đại học 7
1.2 Tự chủ tài chính của các trường đại học Việt Nam 7
1.2.1 Khái niệm về cơ chế tự chủ tài chính 7
1.2.2 Xu thế tất yếu thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nói chung và tự chủ tài chính nói riêng tại các trường đại học Việt Nam 8
1.2.3 Cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học 9
1.2.3.1 Quyền tự chủ của các trường đại học 9
1.2.3.2 Nội dung tự chủ tài chính tại các trường đại học 10
1.2.4 Các điều kiện thực hiện tự chủ tài chính tại các trường đại học 13
1.2.4.1 Chủ trương, chính sách của Nhà nước trong giáo dục đại học 13
1.2.4.2 Sự phát triển của thị trường lao động 14
1.2.4.3 Năng lực của các trường đại học 14
Trang 41.2.5.1 Lợi ích của tự chủ tài chính 15
1.2.5.2 Những khó khăn và thách thức 16
1.3 Kinh nghiệm về cải cách giáo dục và tự chủ tài chính của các trường đại học trong và ngoài nước 17
1.3.1 Kinh nghiệm từ quá trình cải cách giáo dục đại học của Hàn Quốc 17
1.3.2 Kinh nghiệm từ hoạt động vô vị lợi trong giáo dục ở Mỹ 19
1.3.3 Kinh nghiệm về thực hiện tự chủ tài chính tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 20
1.3.4 Kinh nghiệm liên kết quốc tế và tự chủ tài chính của Khoa Quốc Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội 22
Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP (Nghiên cứu tình huống tại Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh) 26
2.1 Cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập 26
2.1.1 Nội dung 26
2.1.2 Đặc điểm 26
2.2 Thực trạng nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động tại Thành phố Hồ Chí Minh 28
2.3 Khái quát về Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh 29
2.3.1 Giới thiệu chung 29
2.3.2 Năng lực của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh 31
2.4 Tình hình thực hiện tự chủ tài chính tại Trường Đại học Kinh tế TP.HCM 33
2.4.1 Tình hình thực hiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính và thực trạng tự chủ tài chính tại Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh 34
2.4.1.1 Tình hình huy động nguồn lực tài chính 34
2.4.1.2 Tình hình sử dụng nguồn lực tài chính 43
Trang 52.4.2 Đánh giá tình hình thực hiện tự chủ tài chính của trường Đại học Kinh tế
TP.Hồ Chí Minh 48
2.4.2.1 Những thành tựu 48
2.4.2.2 Hạn chế và nguyên nhân 49
2.4.2.2.1 Hạn chế 49
2.4.2.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 51
Kết luận chương 2 52
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC (TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH) 53
3.1 Xu hướng phát triển mô hình đa dạng hóa cơ chế tài chính tại các đơn vị giáo dục đại học Việt Nam 53
3.1.1 Phát triển mô hình đa dạng hóa giáo dục đại học Việt Nam 53
3.1.2 Mô hình đa dạng hóa nguồn tài chính cho các trường đại học ở Việt Nam 54
3.2 Các giải pháp cho cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị giáo dục đại học Việt Nam 55
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học 55
3.2.2 Thay đổi cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính tại các trường đại học 56
3.2.3 Đa dạng hóa nguồn lực tài chính thông qua quốc tế hóa tại các trường đại học 56
3.3 Một số kiến nghị cho việc thực hiện tự chủ tài chính tại trường đại học Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh 57
Kết luận chương 3 60
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu trình độ của giảng viên Trường Đại học Kinh tế TP.HCM 31 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn thu tài chính của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM 34 Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn kinh phí do NSNN cấp cho Trường Đại học Kinh tế
TP.HCM giai đoạn 2003-2012 37 Biểu đồ 2.4: Sự thay đổi cơ cấu nguồn kinh phí do NSNN cấp cho Trường Đại học
Kinh tế TP.HCM giai đoạn 2003-2012 38 Biểu đồ 2.5: Cơ cấu nguồn thu sự nghiệp và thu khác của Trường Đại học Kinh tế
TPHCM 39 Biểu đồ 2.6: Cơ cấu chi thường xuyên của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM 44 Biểu đồ 2.7: Tình hình thực hiện kinh phí cho Nghiên cứu Khoa học do NSNN cấp
của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM 46 Bảng 2.1: Tình hình trích lập các quỹ và trả TNTT cho người lao động của Trường
Đại học Kinh tế TP.HCM 2006-2012 47
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thu thập được và kêt quả nghiên cứu trình bày trong đề tài này là trung thực Các tài liệu trích dẫn có nguồn trích dẫn rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của đề tài nghiên cứu này
Học viên
Nguyễn Sỹ Nhàn
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Một trong những vấn đề của quá trình cải cách tài chính công là thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước và cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương chính sách như: Luật ngân sách nhà nước 1996, Luật giáo dục 1998, Nghị định 43/2006/NĐ-CP về cơ chế tự chủ tài chính Mục đích của chế độ tự chủ là thực sự phải trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị trong công tác tổ chức, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng để cung cấp hàng hoá và dịch vụ công có chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm giải quyết thu nhập cho người lao động Bên cạnh đó, việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm sẽ tác động đến việc xã hội hoá trong cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng cho sự phát triển của xã hội, xoá bỏ bao cấp từ ngân sách nhà nước
Tuy nhiên trong tiến trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, các trường đại học không khỏi gặp những khó khăn và nhiều rào cản, quyền tự chủ chưa mang lại hiệu quả mong muốn Cụ thể là các trường đại học chưa thật sự chủ động trong mọi hoạt động của mình, quyền tự chủ ở mức độ nửa vời, chưa phát huy được hiệu quả của cơ chế tự chủ mà trái lại còn tạo ra một số khó khăn cho sự phát triển nhà trường Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài: "Tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập – Nghiên cứu trường hợp tại Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh” làm nội dung nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính hiện nay ở các trường đại học công lập mà cụ thể là trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm thực hiện tốt quyền tự chủ và nâng cao hiệu quả của cơ chế tự chủ, từ đó ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 102 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tác động của cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học công lập
và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong điều kiện kinh tế thị trường
Phân tích tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở so sánh với thời kỳ chưa thực hiện tự chủ
Khái quát những kết quả đạt được cũng như những tồn tại mà cơ chế tự chủ tài chính mang lại Đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cường tự chủ tài chính và hiệu quả thực hiện cơ chế tự chủ tài chính
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Dữ liệu nghiên cứu: các văn bản pháp luật, báo cáo tài chính giai đoạn 2003-2012 của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Đối tượng nghiên cứu: cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập, trong
đó đi sâu vào thực tiễn tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả: dựa vào các quy định của pháp luật liên quan đến cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp và sử dụng các số liệu báo cáo tài chính để mô tả tình hình thực hiện và đánh giá quá trình thực hiện quyền tự chủ tài chính tại trường đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Phương pháp phân tích quy nạp để phân tích thực trạng quản lý tài chính
So sánh, tổng kết những thành tựu đạt được và những tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp
5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Nội dung luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 11Chương 2: Thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
(Nghiên cứu tình huống tại trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh)
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính tại
trường đại học (Nghiên cứu trường hợp trường Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
1.1 Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập và đơn vị giáo dục đại học
1.1.1 Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập
1.1.1.1 Khái niệm
Khái niệm “hoạt động sự nghiệp” ngụ ý rằng các hoạt động nhằm vào mục tiêu duy trì, ổn định và phát triển một lĩnh vực hay một ngành kinh tế nào đó, như các lĩnh vực: Kiến thiết thị chính, Địa chính, Giao thông… hay ngành kinh tế như: Nông nghiệp, Công nghiệp, Giáo dục, Y tế… Và hầu như không nhằm vào mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận như các hoạt động kinh tế
Đơn vị sự nghiệp công được xác định bởi các tiêu thức cơ bản:
- Là đơn vị công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập
- Được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên để thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao
- Được nhà nước cho phép thu một số loại phí, lệ phí, được tiến hành hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp chi phí hoạt động, tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức
- Có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng
1.1.1.2 Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập
Xét về nhiều khía cạnh khác nhau chúng ta có nhiều phương thức để phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập
Phân loại theo ngành kinh tế
Dựa vào tính chất hoạt động kinh tế mà các đơn vị sự nghiệp phục vụ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng ngành kinh tế, đơn vị sự nghiệp bao gồm các loại:
- Đơn vị sự nghiệp kinh tế (Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản, Giao thông …)
- Đơn vị sự nghiệp Giáo dục
- Đơn vị sự nghiệp Y tế
Trang 13- Đơn vị sự nghiệp Thông tin – Truyền thông
- Đơn vị sự nghiệp Khoa học và Công nghệ
Phân loại theo cấp quản lý hành chính nhà nước
Dựa trên hệ thống tổ chức quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan, các đơn vị
sự nghiệp bao gồm:
- Đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương: là những đơn vị do các cơ quan Trung ương quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ được Trung ương giao hàng năm và được đảm bảo kinh phí hoạt động từ ngân sách Trung ương
- Đơn vị sự nghiệp thuộc Chính quyền địa phương: là những đơn vị do Chính quyền địa phương quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ được giao hàng năm và được tài trợ kinh phí từ ngân sách Địa phương
Phân loại theo cấp dự toán chi ngân sách
- Đơn vị dự toán cấp 1: là các đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hàng năm do Thủ tướng Chính phủ (đối với Ngân sách Trung ương) hoặc Chủ tịch UBND (đối với Ngân sách Địa phương) giao Đơn vị dự toán cấp 1 thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc tổ chức, thực hiện chi tiêu, quyết toán ngân sách của nội bộ đơn vị và của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc
- Đơn vị dự toán cấp 2: là đơn vị được đơn vị dự toán cấp 1 giao dự toán và phân bổ
dự toán đơn vị mình và các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chi,
kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và các đơn vị trực thuộc
- Đơn vị dự toán cấp 3: là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách theo dự toán được đơn
vị dự toán cấp 1 hoặc cấp 2 phân bổ, có nhiệm vụ tổ chức chi tiêu, kế toán và quyết toán ngân sách phú hợp với nhiệm vụ được giao và quy định tài chính hiện hành
Phân loại theo mức độ thu sự nghiệp của đơn vị (hay mức độ tài trợ của Ngân sách Nhà nước):
Trang 14Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp được phân loại để thực hiện quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính như sau:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên Đây là những đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ với cơ chế giá có tính đến yếu tố thị trường nhưng không vượt quá khung mức quy định của nhà nước
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động Đây là những đơn vị cung cấp hàng hóa dịch vụ theo quyết định của nhà nước nhưng không thu tiền của công chúng hoặc thu với mức giá không đáng kể
1.1.2 Đặc điểm của giáo dục đại học và xu hướng giáo dục đại học hiện nay 1.1.2.1 Đặc điểm của giáo dục đại học
Giáo dục cũng có những điểm chung giống như tất cả các dịch vụ tiêu dùng cá nhân khác là sản phẩm vô hình, có thể tiêu dùng ngay nhưng lại có thêm một số đặc điểm
mà các dịch vụ khác không có Nó có thể “tồn kho” vào tri thức cá nhân, trở thành vốn tri thức Nó lại có thuộc tính xã hội mà các hàng hoá và dịch vụ (gọi chung là sản phẩm) cá nhân khác không có, và được xếp vào loại hàng hoá có tính chất công Giáo dục cơ bản nhằm đào tạo những người công dân có ích với chính mình, có trách nhiệm với gia đình, xã hội và quốc gia Một người vô học thiếu hiểu biết về trách nhiệm cá nhân và xã hội sinh ra trộm cắp, giết người cướp của, v.v sẽ làm giảm chất lượng cuộc sống của mọi người Sản phẩm giáo dục như vậy không chỉ mang lợi ích cho cá nhân mà cho cả xã hội, tức là lợi ích xã hội do giáo dục tạo ra luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân
Giáo dục phổ thông cho đến lớp 12 là đòi hỏi tối thiểu, cần cưỡng bách Đã là cưỡng bách thì nhà nước phải tài trợ vì người dân không còn quyền tự do chọn lựa Về giáo dục đại học, dù ít ai quan niệm đây là giáo dục cơ bản, nhưng về thực chất gần như
Trang 15không có nước nào dựa chủ yếu vào tư nhân để cung cấp dịch vụ giáo dục đại học Đó
là vì giáo dục đại học được coi là cần thiết nhằm xây dựng một xã hội phát triển mà trong đó mọi người đều được thừa hưởng Tuy vậy, giáo dục đại học chủ yếu có giá trị làm tăng thu nhập của người học trong tương lai, và do đó xã hội thay vì phải bảo đảm chi phí thì có thể huy động sự đóng góp của người học
Từ trước những năm 70, gần như cả thế giới đều xem Giáo dục đại học là một loại
“dịch vụ công” Tuy nhiên , trong vài thập niên qua, với những ảnh hưởng của cơ chế thị trường thì Giáo dục đại học là “công” hay “tư” vẫn còn được tranh luận
Thực chất, trong Giáo dục đại học ngày nay, vấn đề quan trọng không còn là “công” hay “tư” mà, với cơ sở Giáo dục đại học là không vì lợi nhuận hay có lợi nhuận và với người học là việc chia sẻ chi phí
1.1.2.2 Xu hướng thị trường hóa Giáo dục đại học
- Khi nền Giáo dục đại học chuyển sang nền Giáo dục số đông, điều này tạo nên một
áp lực lớn cho NSNN Đầu tư từ NSNN tính trên đầu sinhv iên có xu thế giảm liên tục Vì vậy, một mặt xã hội yêu cầu các trường đại học phải được vận hành hiệu quả hơn, mặt khác các trường đại học tăng thu từ các nguồn thu khác ngoài NSNN như học phí và mở rộng hoạt động kinh doanh
- Ảnh hưởng của xu thế kinh tế thị trường, trong khi việc quản lý tập trung trở nên kém hiệu quả, cần phảo chuyển việc cung cấp các dịch vụ xã hội từ chính phủ sang thị trường
- Xu thế toàn cầu hóa tạo nên sức ép về thương mại hóa Giáo dục đại học đối với các nước đang phát triển
1.2 Tự chủ tài chính của các trường đại học Việt Nam
1.2.1 Khái niệm về cơ chế tự chủ tài chính
- Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động, qua đó làm tăng chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ của đơn vị
Trang 16- Cơ chế quản lý tài chính có thể khái quát đó là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước
1.2.2 Xu thế tất yếu thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nói chung và tự chủ tài chính nói riêng tại các trường đại học Việt Nam
Trên thế giới, sự gia tăng quyền tự chủ cho các trường đại học ở khắp nơi đã trở thành một xu thế lớn và mang tính xuyên suốt trong quá trình cải cách giáo dục đại học
Ở Việt Nam hiện nay, với chủ trương cải cách hành chính, Chính phủ đã phân biệt rõ
cơ chế quản lý giữa các cơ quan hành chính với đơn vị sự nghiệp Việc phân định này nhằm xã hội hóa việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội về mọi mặt để phát triển các hoạt động sự nghiệp: từ nguồn tài chính đến hoạt động quản lý nhân sự, từ kế hoạch chiến lược của đơn vị đến tổ chức hoạt động hiệu quả… từng bước giảm dần sự bao cấp của Nhà nước
Trong chiến lược cải cách giáo dục đại học Việt Nam, Nhà nước sử dụng nhiều nhóm giải pháp lớn như: Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục; phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục; đổi mới quản lý giáo dục; tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới trường, lớp, cơ sở giáo dục; Tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục , trong đó giải pháp đổi mới quản lý giáo dục và tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho giáo dục là những giải pháp quan trọng thúc đẩy phát triển giáo dục
Để thực hiện mục đích trên đây, Chính phủ, các Bộ, ngành chức năng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị giáo dục đại học Quyền tự chủ đối với các tổ chức này được thể hiện chủ yếu trên ba nội dung lớn là: tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tự chủ về tổ chức biên chế và tự chủ về tài chính
Như vậy, chúng ta có thể thấy cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm nói chung và tự chủ tài chính nói riêng là một xu hướng tất yếu trong quá trình cải cách giáo dục đại học
Trang 17Thương hiệu và uy tín của một trường đại học hình thành từ các yếu tố: thứ nhất là đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao; thứ hai là phương pháp đào tạo, cơ sở vật chất hiện đại, chương trình đào tạo tiên tiến; thứ ba là chất lượng sinh viên tốt
nghiệp có trình độ và năng lực phù hợp với ngành nghề đào tạo Các vấn đề này được giải quyết khi các trường đại học có một nguồn tài chính dồi dào Vì vậy, cơ chế tự chủ tài chính phải được thực hiện linh hoạt, phù hợp để có thể phát huy tối đa nguồn lực tham gia vào quá trình đổi mới, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đại học theo hướng hiện đại hóa
1.2.3 Cơ chế tự chủ tài chính của các trường đại học
1.2.3.1 Quyền tự chủ của các trường đại học
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, các trường đại học gần như không có quyền tự chủ, mọi nhu cầu và hoạt động của nhà trường đều được thực hiện theo kế hoạch có sẵn từ cấp trên giao xuống Ví dụ như nội dung, chương trình đào tạo, chỉ tiêu tuyển sinh, mức học phí, học bổng, v.v….Tuy nhiên, trong điều kiện kinh
tế thị trường như hiện nay thì việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học là một xu thế tất yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển
Quyền tự chủ của các trường đại học bao gồm những khía cạnh như sau:
- Tự chủ về tổ chức và biên chế: các trường đại học được quyền sắp xếp bộ máy, được quyền tuyển dụng hoặc sa thải cán bộ, nhân viên của trường
- Tự chủ về hoạt động chuyên môn của trường: các trường đại học được quyền quyết định tổ chức hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học để thực hiện chức năng của trường Các trường được xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển theo hướng hiện đại, tiên tiến, có khả năng cạnh tranh lành mạnh trong và ngoài nước
- Tự chủ về tài chính: các trường đại học được quyền quyết định hoạt động tài chính của trường
Trang 181.2.3.2 Nội dung tự chủ tài chính tại các trường đại học
Tự chủ tài chính liên quan đến tự chủ trong quản lý hoạt động thu, chi, quản lý và phân phối kết quả hoạt động tài chính, quản lý các quỹ, quản lý tài sản,… Trong đó, việc quản lý nguồn thu và quản lý chi tiêu tài chính là quan trọng nhất
Quản lý nguồn thu
Nguồn thu của nhà trường là các kinh phí mà nhà trường nhận được không phải hoàn trả dùng để triển khai các hoạt động giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học và một số hoạt động khác của trường Nguồn thu của các trường đại học bao gồm những khoản sau:
- Nguồn thu do Ngân sách Nhà nước cấp bao gồm kinh phí cấp phát cho giáo dục đào tạo từ Ngân sách trung ương và địa phương, kinh phí cấp phát cho nghiên cứu khoa học từ bộ ngành chủ quản và các loại kinh phí khác như công phí, kinh phí y tế v.v… Nguồn thu từ NSNN phải được quản lý và sắp xếp sử dụng theo chi tiêu dự toán và quy định của nhà nước
- Nguồn thu bổ trợ từ cấp trên là nguồn thu bổ trợ từ bộ ngành chủ quản và đơn vị cấp trên
- Nguồn thu sự nghiệp là nguồn thu nhận được để triển khai các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động phụ trợ khác Trong đó nguồn thu hoạt động giảng dạy chiếm tỷ trọng lớn nhất
- Nguồn thu từ kinh doanh là nguồn thu nhận được do các trường triển khai hoạt động kinh doanh không phải hạch toán độc lập
- Nguồn thu từ các đơn vị trực thuộc hạch toán độc lập nộp lên theo quy định
- Nguồn thu khác là các khoản thu ngoài phạm vi quy định nói trên như thu do đầu tư, quyên tặng, lãi suất v.v…
Nguồn thu từ NSNN được quản lý dễ dàng trên cơ sở chi tiêu biên chế được cấp có thẩm quyền giao, định mức phân bổ dự toán chi NSNN, các khoản chi hoạt động đặc thù theo chế độ quy định và tình hình thực hiện dự toán năm trước
Đối với nguồn thu sự nghiệp và các nguồn thu khác thì việc quản lý chủ yếu dựa vào
số liệu dự toán năm trước, trên cơ sở đó mà ước tính Vì vậy sau đó phải theo dõi tình
Trang 19hình thực tế và đối chiếu với kế hoạch để kịp thời phát hiện những chênh lệch và điều chỉnh phù hợp
Quản lý chi tiêu (sử dụng kinh phí)
Chi tiêu của nhà trường là các khoản chi phí phát sinh khi triển khai các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác Chi tiêu của trường đại học bao gồm:
* Chi sự nghiệp là chi tiêu phát sinh khi trường triển khai các hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động phụ trợ khác Chi sự nghiệp bao gồm tiền lương cơ bản, tiền lương bổ trợ, lương khác, phúc lợi cho cán bộ nhân viên, phí BHXH, học bổng, phí công vụ, nghiệp vụ, mua sắm sửa chữa thiết bị và những chi phí khác
Dựa vào mục đích sử dụng nguồn kinh phí, chi sự nghiệp gồm những khoản sau:
- Chi tiêu cho hoạt động giảng dạy
- Chi tiêu cho nghiên cứu khoa học
- Chi tiêu phụ trợ nghiệp vụ
- Chi tiêu cho quản lý hành chính
- Chi tiêu cho hậu cần
- Chi tiêu cho hoạt động sinh viên ngoài công tác giảng dạy bao gồm quỹ khen thưởng sinh viên, quỹ cho sinh viên vay, các loại học bổng và phí hoạt động của sinh viên v.v…
- Chi tiêu bảo hiểm, phúc lợi cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên
* Chi tiêu cho kinh doanh là chi tiêu phát sinh để triển khai các hoạt động kinh doanh không hạch toán độc lập
* Chi tiêu cho xây dựng cơ bản
* Chi tiêu bổ trợ đối với các đơn vị trực thuộc
Vấn đề quản lý chi tiêu thực chất là việc quản lý mục đích chi tiêu Mỗi nguồn thu có tính chất khác nhau phục vụ cho một mục đích chi tiêu khác nhau, do đó việc quản lý chi tiêu dựa trên nguồn thu sẽ đạt hiệu quả nhất và có thể kiểm soát chặt chẽ nhất
Trang 20Đối với nguồn thu từ NSNN, thứ nhất việc chi tiêu phải đảm bảo chi đúng và phân bổ đúng đối tượng mà ngân sách dự toán được duyệt Thứ hai, các khoản chi phải phục
vụ cho nhiệm vụ chuyên môn được nhà nước giao của đơn vị Thứ ba, việc đảm bảo
sử dụng ngân sách có hiệu quả
Đối với các nguồn thu khác từ hoạt động của đơn vị, việc quản lý chi tiêu cần phải
quản lý thứ nhất là hình thức chi tiêu thường xuyên hay không thường xuyên, thứ hai
là đòi hỏi quản lý về mặt lượng (tổng chi phí), thứ ba là thời điểm chi tiêu trong năm
Quản lý tốt ba vấn đề này sẽ giúp cho đơn vị chủ động trong việc phân phối nguồn tài chính và đạt hiệu quả cao trong sử dụng nguồn lực
Yêu cầu trong quản lý thu chi tài chính của các trường đại học trong điều kiện thực hiện quyền tự chủ
- Thực hiện thu chi theo pháp luật quy định
Về nguồn thu, các trường quản lý nguồn thu theo đúng pháp luật và các chính sách liên quan do nhà nước quy định Các loại phí phải trong phạm vi và tiêu chuẩn quy định Các loại nguồn thu phải được đưa vào dự toán của nhà trường, thống nhất quản
lý và hạch toán
Về chi tiêu, các trường cần tăng cường quản lý chi tiêu, các loại chi tiêu được liệt kê theo số thực tế phát sinh
- Kết hợp chặt chẽ hai yếu tố thẩm quyền và trách nhiệm
Các đơn vị sử dụng ngân sách được giao các quyền hạn rõ ràng và phân bổ hợp lý để thực hiện cung cấp dịch vụ công một cách hiệu quả Bên cạnh quyền hạn được giao, trách nhiệm cụ thể về hiệu quả sử dụng ngân sách phải đề ra rõ ràng thì ngân sách mới thực sự được quản lý và sử dụng linh hoạt, hiệu quả
- Chuyển dần từ chế độ dự toán sang hạch toán độc lập
Trong quá trình cải cách, từng bước chuyển dần từ cơ chế tập trung bao cấp sang tự chủ một phần và tiến đến tự chủ hoàn toàn, các đơn vị dự toán sẽ chuyển dần sang tự hạch toán một phần và hạch toán độc lập
Trang 21Các trường tự chủ về các khoản thu và mức thu Đối với các khoản thu theo quy định thì nhà trường phải thu đúng theo khuôn khổ cho phép Ngoài ra, căn cứ vào tình hình thực tế của mình, các trường đề ra những khoản thu với mức thu phù hợp nằm trong khuôn khổ cho phép của Nhà nước
Các trường tự hạch toán các khoản chi trong khuôn khổ cho phép Việc chủ động tài chính đối với các khoản chi mang lại hiệu quả trong hoạt động vừa có thể tăng thu cho trường Bước đầu tự chủ, Ngân sách Nhà nước bù đắp cho các khoản vượt chi, sau đó dần tiến đến tự chi mà không phụ thuộc Nhà nước
Các trường được khuyến khích tăng thu tiết kiệm chi nhằm tạo nguồn tài chính, tăng thu nhập cho cán bộ viên chức theo hiệu suất lao động
1.2.4 Các điều kiện thực hiện tự chủ tài chính tại các trường đại học
1.2.4.1 Chủ trương, chính sách của Nhà nước trong giáo dục đại học
Việc quản lý nhà nước đối với các trường đại học trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay hoàn toàn khác với điều kiện nền kinh tế tập trung Sự can thiệp của nhà nước là quản lý vĩ mô và can thiệp gián tiếp
Nhà nước xây dựng định hướng phát triển giáo dục đại học, thông qua xây dựng hệ thống mục tiêu, bước đi và giải pháp định hướng cho các trường đại học
Các trường đại học thực hiện quyền tự chủ không có nghĩa là các trường muốn làm gì cũng được mà Nhà nước phải xây dựng hệ thống luật pháp cho các trường biết mà tuân thủ Các trường được tự chủ về tài chính trong khuôn khổ quy định của pháp luật
Nhà nước phải xây dựng hệ thống chính sách như chính sách tài chính, tiền lương, thu nhập, chi tiêu trong quá trình trao quyền tự chủ cho các trường đại học Tuy nhiên chính sách này phải phù hợp với cơ chế thị trường hiện nay, mang tính cạnh tranh và tăng cường sự chủ động của các trường đại học
Bên cạnh việc trao quyền tự chủ, Nhà nước cần thiết phải xây dựng cơ chế tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học Ngoài ra, tăng cường phát huy dân chủ tại các đơn vị để người lao động tham gia quản lý và giám sát
Trang 221.2.4.2 Sự phát triển của thị trường lao động
Thị trường lao động là yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của các trường đại học thông qua nhu cầu nguồn nhân lực về số lượng cũng như chất lượng Giáo dục đại học cũng phát triển thông qua xã hội hoá giáo dục đại học Khi có sự tham gia của xã hội vào hoạt động của các trường đại học thì chất lượng giáo dục sẽ gắn với nhu cầu
xã hội và khai thác được nguồn lực tiềm năng từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội cho sự phát triển của các trường đại học
Chúng ta có thể thấy thị trường lao động tác động đến việc tự chủ của các trường đại học thông qua các vấn đề sau:
- Sản phẩm đào tạo của các trường đại học được sử dụng và thẩm định chất lượng thông qua thị trường lao động
- Sự ủng hộ của xã hội về giáo dục đào tạo Khi giáo dục đào tạo được xã hội quan tâm, các tổ chức, cá nhân sử dụng sản phẩm đào tạo một phần sẽ đóng góp để tái tạo một thế hệ mới có chất lượng cao bằng việc xây dựng các quỹ hỗ trợ công tác đào tạo Nhờ các quỹ này mà các trường đại học có thêm nguồn tài chính để đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, thư viện và một số kinh phí khác Thông qua các quỹ này mà các trường đại học cũng thực hiện tốt quyền tự chủ nói chung và quyền tự chủ tài chính nói riêng
- Thực hiện quan hệ giữa quá trình đào tạo và nhu cầu nguồn nhân lực Chúng ta đã biết sản phẩm đào tạo như một loại hàng hoá đặc biệt cung cấp cho thị trường nguồn nhân lực, chính vậy mà quá trình đào tạo cũng có mối quan hệ thị trường với quá trình
sử dụng sản phẩm đào tạo Chính mối quan hệ này đã hình thành nên chi phí đào tạo
mà người học cũng như người sử dụng lao động phải trả
1.2.4.3 Năng lực của các trường đại học
Năng lực của các trường đại học là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện quyền tự chủ của nhà trường Nó bao gồm nguồn nhân lực, vật lực, môi trường, thông tin v.v… cần thiết để thực hiện tốt công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học
Trang 23- Đội ngũ cán bộ giảng dạy là nhân tố quan trọng đảm bảo hoạt động của trường Có 2 yếu tố đặt ra là số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên Về số lượng đội ngũ giáo viên cơ hữu thì việc tính toán số lượng sinh viên mà một giảng viên cơ hữu đảm nhận
là một chỉ số được quan tâm khi đánh giá chất lượng của một trường đại học Chất lượng đội ngũ giáo viên thể hiện qua tỷ lệ thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư của nhà trường Ngoài ra, chất lượng còn được thể hiện qua hệ thống chương trình, giáo trình, tài liệu được biên soạn ngày càng tiên tiến để phục vụ công tác giảng dạy
- Bên cạnh đội ngũ giáo viên thì không thể thiếu đội ngũ cán bộ quản lý và phục vụ giảng dạy, một trường đại học không thể vận hành nếu thiếu đội ngũ này Về số lượng, đội ngũ này phải gọn nhẹ nhưng về chất lượng họ phải có trình độ quản lý chuyên nghiệp, đặc biệt là quản lý phục vụ chuyên môn cho công tác giảng dạy và quản lý tài chính
- Cơ sở vật chất thể hiện qua hệ thống thư viện, phòng thí nghiệm, thông tin tư liệu cũng ảnh hưởng lớn đến vấn đề thực hiện quyền tự chủ của trường Một trường đại học được đánh giá cao cũng như có vị trí quan trọng trong lĩnh vực giáo dục thì không thể không thể kể đến hệ thống thư viện, đây là kho tàng tri thức phong phú mà sinh viên có thể tự tìm kiếm ngoài những giờ lên lớp Đối với các trường thuộc khối kỹ thuật thì hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại là một đòi hỏi tất yếu để theo kịp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
1.2.5 Tác động của tự chủ tài chính đối với các trường đại học
1.2.5.1 Lợi ích của tự chủ tài chính
- Tự chủ tài chính thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các trường đại học, bên cạnh đó nâng cao chất lượng đào tạo
Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường, vấn đề toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, việc cạnh tranh giữa các trường đại học là không thể tránh khỏi Chính vì vậy
mà cơ chế tập trung sẽ làm cho các trường đại học công lập được bao cấp hoạt động trì trệ, không theo kịp xu thế phát triển và không có khả năng cạnh tranh Khi được trao quyền tự chủ, các trường đại học sẽ chú trọng những hoạt động để khẳng định và
Trang 24nâng cao uy tín của mình Trong hoạt động đào tạo, nhà trường phải đổi mới nội dung chương trình giáo dục theo kịp xu thế phát triển trên thế giới nhằm thu hút nhiều sinh viên Cùng với động lực khuyến khích tạo nguồn thu, các trường đưa ra các hình thức đào tạo phong phú như chính quy, vừa làm vừa học, liên thông đại học, đào tạo từ xa nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của người học Quá trình phát triển của các trường yêu cầu ngày càng tiên tiến, cơ chế tự chủ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các trường tích cực liên kết với các trường đại học ở nước ngoài, tìm kiếm các hợp đồng giáo dục, từ đó sinh viên cũng như giảng viên sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Trên cơ sở đó, chất lượng giáo dục ngày càng cao tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội, góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
- Trao quyền tự chủ cho các trường đại học sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động, khuyến khích các trường nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời giảm thiểu các chi phí không hợp lý
Cơ chế tập trung cũ với nhiều thủ tục hành chính phức tạp đã tạo nhiều rào cản, tốn kém thời gian và tiền bạc Khi có được quyền tự chủ đặc biệt là tự chủ về tài chính, các trưởng đại học sẽ chủ động hơn trong tất cả các hoạt động, giảm thiểu các thủ tục phức tạp, tiết kiệm thời gian và tiền bạc, góp phần tăng thu tiết kiệm chi Gắn liền với quyền tự chủ là vấn đề tự chịu trách nhiệm, các trường sẽ hoạt động có hiệu quả hơn, không còn tâm lý ỷ lại, thiếu trách nhiệm trong cơ chế Bộ chủ quản
- Tự chủ tài chính khuyến khích các đơn vị tăng thu tiết kiệm chi, thực hiện tinh giảm biên chế Căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính trong năm để xác định quỹ tiền lương, tiền công, tạo điều kiện tăng thu nhập cho giáo viên và cán bộ viên chức, nâng cao đời sống tinh thần cho họ
1.2.5.2 Những khó khăn và thách thức
- Mục tiêu công bằng trong giáo dục có thể bị ảnh hưởng Đó chính là nguy cơ những người nghèo mất đi cơ hội sử dụng những dịch vụ về giáo dục, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Nếu cơ chế tự chủ không được quản lý tốt, các trường chỉ tập
Trang 25trung vào việc cung ứng dịch vụ giáo dục tốt nhất với mức giá cao cho những người
có khả năng chi trả mà bỏ qua trách nhiệm xã hội Điều này sẽ gây tổn hại đến tiến bộ
xã hội, cơ cấu bình đẳng và thống nhất xã hội
- Xuất hiện sự cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các trường đại học Đơn cử là các trường cạnh tranh nhau về mức học phí để thu hút sinh viên Việc hạ mức học phí luôn đi kèm với chất lượng giáo dục giảm và sinh viên là những người chịu thiệt hại cuối cùng, tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng kém
- Tự chủ tài chính cũng gây khó khăn cho một số trường đại học nhỏ, chưa có bề dày phát triển Những khó khăn cụ thể trong việc thu hút sinh viên, về cơ sở vật chất, về
uy tín chưa được khẳng định Tuy nhiên thách thức này cũng chính là động lực cho những trường này chú trọng hơn nữa về chất lượng đào tạo để họ không bị đào thải trong quá trình cạnh tranh với các trường lớn
- Tự chủ tài chính có thể làm xuất hiện xu thế chạy theo lợi nhuận mà vi phạm những quy định, quy chế trong giáo dục đào tạo Việc các trường tăng nguồn thu bằng cách
mở rộng quy mô đào tạo như tăng lượng sinh viên, tăng giờ giảng và các hình thức đào tạo nhưng lại lơi lỏng trong việc quản lý và kiểm soát chất lượng đào tạo, dẫn đến chất lượng sinh viên đầu ra thấp
1.3 Kinh nghiệm về cải cách giáo dục và tự chủ tài chính của các trường đại học trong và ngoài nước
1.3.1 Kinh nghiệm từ quá trình cải cách giáo dục đại học của Hàn Quốc
Hàn Quốc là nước có những thành tựu to lớn về phát triển khoa học công nghệ, trong
đó không thể kể đến những thành tựu trong giáo dục đại học Có thể điểm qua một số thành tựu mà Hàn Quốc đạt được: Đến năm 2005, Hàn Quốc có khoản 80% dân số trong độ tuổi 18-21 theo học tại trường đại học và cao đẳng Tỉ lệ đầu tư cho giáo dục đại học của Hàn Quốc đạt 2.6% GDP, chỉ đứng sau Hoa Kỳ (2.9%) vào năm 2003 Đặc biệt, từ năm 1999 đến 2012, Chính phủ Hàn Quốc chi 3.4 tỷ đô la cho chương trình quốc gia “Trí tuệ Hàn Quốc thế kỷ 21” nhằm thúc đẩy đào tạo sau đại học và nghiên cứu trong các trường đại học Năng lực nghiên cứu của Hàn Quốc đạt được từ
Trang 26yếu tố nguồn nhân lực, năm 2006, Hàn Quốc có 83.6% giảng viên đạt trình độ tiến sĩ, trong khi năm 1970 chỉ có 18.1% và năm 1983 là 40%
Trước khi đạt được những thành tựu như trên, Hàn Quốc cũng trải qua cơ chế quản lý tập trung trước năm 1995 Các trường đại học bị hạn chế quyền tự chủ, trong đó, Bộ Giáo Dục Hàn Quốc giữ quyền kiểm soát các vấn đề sau:
- Thành lập các trường đại học
- Quy định về thời lượng chương trình, năm học, tiêu chuẩn thi cử, chuẩn đầu ra, kiểm định chất lượng
- Vấn đề bổ nhiệm, khen thưởng hiệu trưởng; đề ra chuẩn chất lượng giáo viên
- Duyệt chỉ tiêu tuyển sinh và quy định hình thức thi tuyển đại học
- Xác định chương trình khung, yêu cầu đăng ký tốt nghiệp để kiểm soát số lượng sinh viên
- Duyệt chi ngân sách, xác định chuẩn cơ sở vật chất, thư viện, v.v…
- Quy định báo cáo của trường về tài chính, nhân sự, sinh viên lên Bộ Giáo Dục Đến năm 1995 thì Hàn Quốc đã chính thức cải cách hoàn toàn cơ chế quản lý xin-cho
để dứt khoát trao quyền tự chủ cho các trường với các nội dung sau:
- Đa dạng hóa và chuyên sâu hóa hệ thống giáo dục đại học
- Đa dạng hóa các tiêu chí cho phép thành lập trường đại học tư thục
- Trao quyền quyết định chỉ tiêu tuyển sinh và tự chủ trong quản lý
- Tạo hệ thống hỗ trợ đặc biệt cho nghiên cứu khoa học
- Gắn chặt giữa chất lượng của các trường đại học với hỗ trợ tài chính từ chính phủ
Để đạt được bước cải cách chính sách này, Hàn Quốc đã từng bước thực hiện như sau:
- Từ 1982, Hiệp hội các trường đại học Hàn Quốc thành lập nhằm thúc đẩy nghiên cứu, hợp tác giữa các trường, đồng thời kiểm định và đánh giá chất lượng
- Năm 1987, Bộ Giáo Dục đề ra kế hoạch Tự chủ hóa các trường đại học với mục tiêu tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường
Trang 27Hai cơ chế trong cải cách giáo dục đại học Hàn Quốc nhằm đảm bảo trách nhiệm của
xã hội của các trường khi được trao toàn quyền tự chủ, khuyến khích sáng tạo tri thức
và phát huy tính đa dạng trong giáo dục đại học
Theo Korea Herald, Hàn Quốc có kế hoạch tăng cường khả năng cạnh tranh quốc tế của mình thông qua tăng cường quyền tự chủ Để thu hút nhiều sinh viên nước ngoài,
Bộ Giáo Dục cho phép các trường đại học linh hoạt hơn trong tuyển sinh các chương trình sau đại học Các tổ chức địa phương có ký túc xá ở nước ngoài để khuyến khích các chương trình liên kết với các tổ chức nước ngoài Thúc đẩy nghiên cứu của sinh viên và các nhà nghiên cứu Quỹ Hàn Quốc – một tổ chức thuộc Chính phủ với vai trò nâng cao hình ảnh của Hàn Quốc trên thế giới và tổ chức các chương trình trao đổi học thuật và văn hóa, đã khởi động dự án được gọi là “Global e-School” (tạm dịch là Trường điện tử toàn cầu) Quỹ Hàn Quốc hỗ trợ chi phí tổng thể phát triển chương trình giảng dạy, quản lý bài giảng và hành chính Dự án này là nhằm mục đích cung cấp một loạt các khóa học Hàn Quốc cho các sinh viên trẻ tại Hàn Quốc và thúc đẩy nghiên cứu Hàn Quốc
Quá trình đổi mới giáo dục Hàn Quốc là một ví dụ điển hình để Việt Nam học tập và rút kinh nghiệm trong quá trình cải cách giáo dục, trong đó việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học là một xu hướng cấp thiết, đặc biệt là tự chủ về tài chính
1.3.2 Kinh nghiệm từ hoạt động vô vị lợi trong giáo dục ở Mỹ
Vai trò của hoạt động vô vị lợi về giáo dục cũng như về văn hoá và các hoạt động dân
sự khác ở Mỹ là chính sách cần học hỏi Nước Mỹ là một trường hợp đặc biệt vì ở đây
có nhiều trường đại học nổi tiếng được gọi là trường tư, nhưng thực chất là trường vô
vị lợi Có thể kể một số đại học lớn như Harvard, MIT, CalTech, Duke, Chicago, Northwestern, New York University, v.v… Những đại học học tư được tổ chức như những công ty vô vị lợi, không có cổ phần viên để được chia lợi nhuận, có Hội đồng Quản trị có nhiệm vụ đề ra phương hướng phát triển trường, bổ nhiệm Viện trưởng Đại học Hội đồng này gồm những người có uy tín trong xã hội hoặc đóng góp tài chính cá nhân rất lớn vào trường Trường tư vô vị lợi có quỹ bảo trợ (trust fund), tiền
Trang 28lãi từ việc đầu tư quỹ này, cộng với tiền đóng góp của bảo trợ viên và học phí dùng làm chi phí cho hoạt động của trường Ở những đại học vô vị lợi rất đắt này, học phí không hơn 50% chi phí hoạt động của trường
Hoạt động vô vị lợi là hoạt động tự nguyên của tư nhân, tự túc về tài chính và tự quản nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc của xã hội nói chung Một tổ chức vô
vị lợi được tổ chức như một doanh nghiệp và đăng ký như một công ty; cái khác là nó không có mục đích làm lợi nhuận cho cổ phần viên, vì nó không có cổ phần viên, tức
là những sở hữu chủ, lợi nhuận dùng để tái đầu tư phát triển hoạt động Một nhóm cá nhân chỉ cần có 3 người là có thể tổ chức được một công ty vô vị lợi Nếu một tổ chức
vô vị lợi có quá trình hoạt động một thời gian theo đúng luật pháp thì có thể được chính quyền cấp danh nghĩa tổ chức vô vị lợi Khi có danh nghĩa, người đóng góp vào quỹ công ty vô vị lợi có thể được trừ thuế lợi tức cá nhân vào phần đóng góp này Rõ ràng như vậy ở Mỹ, nhà nước đã thật sự tài trợ gián tiếp hoạt động vô vị lợi
Để tạo thêm các nguồn cung ứng dịch vụ giáo dục không dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước, nhà nước đòi hỏi phải có chính sách khuyến khích hoạt động vô vị lợi, trong đó có chính sách thuế, chính sách cung cấp đất đai và kể cả việc tài trợ một phần từ ngân sách
1.3.3 Kinh nghiệm về thực hiện tự chủ tài chính tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là trường đại học trọng điểm của cả nước, trên cơ sở nhận thức sâu sắc về quyền hạn và trách nhiệm của nhà trường trong cơ chế tự chủ về quản lý tài chính, nhà trường đã tổ chức phối hợp giữa lãnh đạo trường với các tổ chức Đảng, đoàn thể phổ biến rộng rãi nội dung Nghị định 10/NĐ-CP và Nghị định 43/NĐ-CP và triển khai theo một lộ trình thống nhất
Bước 1: Từng bước triển khai tự chủ tài chính, tự hạch toán ở từng hoạt động sự
nghiệp của trường Các phòng ban chức năng đã xây dựng các quy định về định mức thu - chi một số hoạt động thu sự nghiệp của trường để thí điểm, như: Quy định thu - chi đào tạo ngoài trường; Quy định thu - chi học phí đào tạo Sau đại học; Quy định sử
Trang 29dụng điện thoại; Quy định về khoán mua văn phòng phẩm… và xây dựng quy định về quản lý tài chính cho các đơn vị trực thuộc như: Nhà Xuất bản Đại học Sư phạm, Trung tâm nghiên cứu và sản xuất học liệu, Trường Trung học phổ thông bán công Nguyễn Tất Thành
Bước 2: Tổng kết, sửa đổi, điều chỉnh để xây dựng cơ chế quản lý tài chính thống
nhất trong toàn trường mà nội dung cơ bản là xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ của trường và hướng dẫn các đơn vị trực thuộc xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn
- Vấn đề khai thác nguồn thu: Nhà trường chủ trương tăng cường xã hội hóa giáo dục, góp phần nâng cao dân trí dưới hình thức đa dạng hóa các loại hình đào tạo, mở thêm các mã ngành đào tạo mới, quy mô đào tạo tại chức, từ xa và các hoạt động liên kết ngày càng được mở rộng Các nguồn thu dịch vụ khác cũng được nhà trường triệt để khai thác
- Rà soát và xây dựng các mức chi nội bộ: Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ đã giúp cho nhà trường rà soát lại tất cả các định mức chi, các định mức chi bất hợp lý đã được điều chỉnh lại Quy chế chi tiêu nội bộ thực sự đã trở thành một công cụ để lãnh đạo nhà trường quản lý sử dụng các nguồn lực tài chính của trường một cách có hiệu quả
- Với mục tiêu tiết kiệm chi tiêu nhằm cải thiện thu nhập cho giảng viên cán bộ công chức và nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường quản lý sử dụng kinh phí có hiệu quả bằng giải pháp là khoán chi một số khoản chi phí như: điện thoại, văn phòng phẩm, xăng dầu… Các định mức khoán này đã được điều chỉnh và chính thức hóa trong quy chế chi tiêu nội bộ Việc xây dựng các định mức chi nội bộ đã được thảo luận, bàn
Trang 30bạc dân chủ, công khai và đặc biệt quan tâm đến các khoản chi cho cán bộ, giáo viên đảm bảo định mức chi nội bộ cao hơn mức chi của Nhà nước Các định mức chi cho công tác chuyên môn nghiệp vụ giảng dạy được quan tâm và kinh phí cho hoạt động này được dành tỷ lệ cao
1.3.4 Kinh nghiệm liên kết quốc tế và tự chủ tài chính của Khoa Quốc Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội
Khoa Quốc Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội là cơ sở đào tạo đặc biệt, có nhiệm vụ thực hiện các thí điểm về xã hội hóa và quốc tế hóa giáo dục đại học Tám năm hoạt động
và phát triển của Khoa Quốc tế không chỉ phản ánh một cách cụ thể mà còn là bằng chứng về hiệu qủa của những thay đổi trong chính sách quản lý tài chính đại học
Về mặt tài chính, Khoa Quốc tế có những đặc điểm chính sau đây:
- Là cơ sở đào tạo công lập nhưng hoàn toàn không được cấp kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước
- Toàn bộ chi phí đầu tư và hoạt động dựa vào các nguồn thu đa dạng, bao gồm học phí, tài trợ, viện trợ, hiến tặng và dịch vụ
- Phi lợi nhuận (toàn bộ các nguồn thu dùng để xây dựng cơ sở vật chất, vận hành và thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước và Đại học Quốc Gia Hà Nội) Khoa Quốc tế tồn tại và phát triển nhờ sự tăng cường và mở rộng các nguồn tài chính của đơn vị, nhằm đảm bảo cơ sở vật chất tốt phục vụ giảng dạy và học tập
Dựa trên các nguồn lực xã hội khác nhau, các chương trình liên kết đào tạo được tiến hành chọn lọc với các tiêu chí về chất lượng, việc tính toán chi phí đầu tư hợp lí về giảng đường, thư viện thiết bị và phòng thí nghiệm Trong gần 9 năm qua, Khoa Quốc
tế đã triển khai thực hiện hàng chục chương trình liên kết đào tạo đại học và sau đại học bằng 4 thứ tiếng là Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc
Với tư cách một đơn vị sự nghiệp có thu, tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, Khoa luôn chú trọng phát triển các nguồn tài chính thông qua xã hội hóa giáo dục, huy động sự đóng góp tài chính hợp lí của người học, thực hiện chính sách học phí linh hoạt theo ngành, bậc và mô hình đào tạo
Trang 31Ngoài nguồn thu sự nghiệp, trong những năm vừa qua Khoa Quốc tế còn nhận được các nguồn tài trợ, viện trợ của các trường đại học đối tác, các đơn vị ở nước ngoài:
- Quỹ học bổng do Đại học HELP, Malaysia cấp cho sinh viên của Khoa học chương trình đại học, giá trị tương đương 5% tổng số tiền Đại học HELP nhận được để thực hiện các nhiệm vụ theo Thoả thuận giữa Khoa Quốc tế và Đại học HELP, giá trị hàng năm khoảng 200 triệu
- Đại học Nantes, Cộng hoà Pháp hỗ trợ toàn bộ chi phí giảng dạy của giảng viên do Đại học Nantes cử tới Khoa tham gia chương trình đào tạo Bác sỹ Nha Khoa liên kết giữa Khoa và Đại học Nantes, giá trị 108.000 Euro/ năm
- Tháng 6/2010 Quỹ “Thế giới Nga” viện trợ kinh phí đầu tư phòng đọc “Thế giới Nga” tại Khoa Quốc tế khoảng 39.000 USD và hỗ trợ kinh phí để duy trì và phát triển hoạt động của phòng đọc này, giá trị trung bình hàng năm khoảng 15.000 USD
- Trong khuôn khổ chương trình đào tạo Bác sỹ Nha Khoa, Đại học Nantes viện trợ cho Khoa toàn bộ thiết bị thực hành tiền lâm sàng; các trường đại học đối tác, tổ chức viện trợ sách, cơ sở học liệu (băng, đĩa, thư viện điện tử…)
- Giai đoạn 2011-2014, Quỹ học bổng của Liên minh Châu Âu Erasmus Mundus, cấp cho cán bộ, sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh của Khoa Quốc tế và Đại học Quốc Gia Hà Nội 16 suất học bổng, giá trị tương đương 384.000 Euro
- Cơ quan Đại học Pháp ngữ (AUF) đã ký văn bản cam kết hỗ trợ một số chương trình đào tạo bằng tiếng Pháp đang được thực hiện tại Khoa Quốc tế
Vậy có thể thấy kinh nghiệm đa dạng hóa loại hình đào tạo, cùng với đa dạng hóa nguồn lực tài chính, mở rộng liên kết quốc tế của Khoa Quốc Tế - Đại học Quốc gia
Hà Nội là một xu hướng tất yếu trong quá trình các trường đại học thực hiện tự chủ tài chính Nguồn lực tài trợ, việc trợ trong và ngoài nước rất dồi dào, các trường cần phải chủ động tiếp cận và khai thác một cách hiệu quả
Trang 32Bài học kinh nghiệm khi thực hiện cơ chế tự chủ tại các trường đại học:
Thứ nhất, việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học là một nhu cầu cấp thiết cho
sự phát triển của các trường nói riêng và của giáo dục đại học nói chung trong bối cảnh hội nhập kinh tế
Thứ hai, khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, các trường đại học cần phải xây dựng
và triển khai quy chế chi tiêu nội bộ với các mức chi hợp lý trên cơ sở tăng thu tiết kiệm chi
Thứ ba, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng các loại hình đào tạo,
thành lập các chuyên ngành mới, và các lớp chất lượng cao nhằm tạo nguồn thu trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính
Thứ tư, thực hiện liên kết và hợp tác với các trường nước ngoài thông qua các chương
trình liên kết đào tạo, nhằm tạo điều kiện cho giảng viên và sinh viên có cơ hội tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến của thế giới
Thứ năm, các trường đại học cần tìm kiếm và khai thác các nguồn viện trợ, tài trợ
trong và ngoài nước để tạo nguồn thu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học và cũng khẳng định uy tín của các trường
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã khái quát những nội dung cơ bản của cơ chế tự chủ tại các đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể là tại các trường đại học công lập Việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học là một nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tạo điều kiện cho các trường đại học tự chủ trong việc tổ chức bộ máy, hoạt động chuyên môn
và tự chủ về tài chính, qua đó giúp các trường từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, khẳng định vị thế của mình trong thị trường giáo dục ngày càng có sự cạnh tranh gay gắt
Quá trình thực hiện tự chủ tài chính tại các trường đại học cũng đòi hỏi những điều kiện nhất định như các quy định pháp lý của nhà nước, tình hình thực tế của thị trường lao động cũng như khả năng của bản thân các trường đại học
Cơ sở lý luận này cùng với những kinh nghiệm thực hiện tự chủ tại các trường đại học tạo nền tảng cho việc đánh giá thực trạng thực hiện tự chủ tài chính tại các đơn vị giáo dục đại học nói chung và tại trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, từ đó đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình thực hiện tự chủ tài chính của nhà trường trong chương 2
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH CỦA CÁC ĐƠN
VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP (Nghiên cứu tình huống tại Trường Đại Học Kinh
Tế Thành phố Hồ Chí Minh)
2.1 Cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập
Theo quy định của pháp luật hiện hành, chế độ quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm
2006 của Chính phủ
2.1.1 Nội dung
- Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ có chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động
- Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động
sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ ngân sách nhà nước
- Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, quan tâm đầu
tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; đảm bảo cho các đối tượng chính sách – xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ theo quy định ngày càng tốt hơn
- Phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp với cơ chế quản lý nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước
2.1.2 Đặc điểm
Theo tinh thần của Nghị định 43/2006/NĐ-CP, phạm vi tự chủ tài chính được mở rộng hơn
Về đối tượng thực hiện, nghị định mở rộng đến toàn bộ các đơn vị sự nghiệp công lập,
bao gồm cả các đơn vị không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân
Trang 35sách nhà nước đảm bảo toàn bộ Đơn vị thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán Đây là đặc điểm được mở rộng hơn so với Nghị định 10/2002/NĐ-CP ban hành ngày 16/01/2002
Về tự chủ trong việc thực hiện nhiệm vụ, nghị định quy định các đơn vị sự nghiệp
được quyền quyết định các biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao nhằm đảm bảo chất lượng và tiến độ, được tổ chức các hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn, được liên doanh liên kết để cung cấp dịch vụ theo nhu cầu xã hội theo quy định của pháp luật
Về tự chủ việc tổ chức bộ máy và biên chế, nghị định cho phép các đơn vị thành lập
mới, sáp nhập, giải thể các tổ chức trực thuộc (trừ những tổ chức do cấp trên quyết định thành lập) Các đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động được tự quyết định biên chế, đối với các đơn vị tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động và đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thì hàng năm căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu thực tế, định mức chỉ tiêu biên chế và khả năng tài chính của đơn vị xây dựng kế hoạch biên chế gửi cơ quan chủ quản để xem xét giải quyết Các đơn vị được quyền thuê lao động khoán đối với những công việc không thường xuyên
Về tự chủ tài chính, nghị định quy định:
- Tự chủ về các khoản thu và mức thu: Đơn vị thực hiện thu đúng, thu đủ phí, lệ phí theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ
- Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính: các đơn vị được quyền chủ động sử dụng nguồn kinh phí do NSNN cấp và nguồn thu sự nghiệp để đảm bảo hoạt động thường xuyên
và hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với các đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động hoặc tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động được quyền quy định các mức chi quản
lý và chi nghiệp vụ thường xuyên cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do Nhà nước quy định Để sử dụng nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên đúng mục đích, tiết
Trang 36kiệm và có hiệu quả, các đơn vị sự nghiệp thực hiện xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ hàng năm để cán bộ viên chức thực hiện
- Tự chủ về sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm: hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:
Đối với các đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động hoặc tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động: Trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp (tối thiểu 25%); Chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động; Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập
Đối với các đơn vị do NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động: Chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động; Chi khen thưởng cho tập thể, cá nhân; Chi phúc lợi, trợ cấp cho người lao động; Chi tăng cường cơ sở vật chất của đơn vị; Chi lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để bảo đảm thu nhập cho người lao động
2.2 Thực trạng nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động tại thành phố
Hồ Chí Minh
Trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay, nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của đất nước và sự tồn tại của các doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn của cả nước, thu hút nguồn lớn đầu
tư nước ngoài cho sự phát triển kinh tế xã hội Chính ví lý do này, nhu cầu nguồn lao động của thành phố khá lớn và luôn tăng qua các năm, đặc biệt là lao động đã qua đào tạo Bên cạnh các doanh nghiệp Việt Nam thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn khát nguồn lao động có chất lượng cao Trong khi đó thực trạng nguồn lao động của TP.HCM có chất lượng rất thấp, mặc dù nguồn lao động dồi dào, nhu cầu làm việc lớn, thất nghiệp gia tăng nhưng các doanh nghiệp vẫn thiếu lao động Do đó, việc quan tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế đang là nhu cầu cấp bách
Năm 2013, dân số trong độ tuổi lao động tại TP.HCM có khoảng 6 triệu người chiếm 75,32% tổng dân số, số lao động đang làm việc trên 4,2 triệu người chiếm 68,97%
Trang 37dân số trong độ tuổi lao động Theo số liệu điều tra thị trường lao động TP.HCM năm
2012, tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo chiếm khoảng 59% tổng lực lượng lao động, trong đó lực lượng lao động có trình độ cao đẳng trở lên chiếm 23,58% tổng lực lượng lao động, tuy tỷ lệ này cao hơn so với cả nước nhưng lại thấp hơn so với nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM, nhu cầu nhân lực có trình độ từ cao đẳng trở lên năm 2012 tăng 3.01% so với năm 2011 chủ yếu nhu cầu tuyển dụng lao động có tay nghề, trình
độ cao và kinh nghiệm là đối tượng được các doanh nghiệp chú trọng tuyển dụng trong năm 2012 cụ thể: lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học chiếm 24,29%
Trong giai đoạn 2013 – 2015 và xu hướng đến năm 2020, TP.HCM ưu tiên phát triển nhân lực cho những ngành có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, đảm bảo nhu cầu lao động chất lượng cao cho 09 ngành dịch vụ, 04 ngành công nghiệp chủ lực Dự kiến nhu cầu nhân lực 1 năm khoảng 270.000 việc làm (trong đó: lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 31% với 89.100 việc làm.)
Hiện nay, do chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo còn nhiều hạn chế nên chưa có
sự đổi mới trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Trong đó, số lao động đã qua đào tạo, chỉ có khoảng 30% đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng Vì khi tuyển dụng nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ lao động chất lượng cao thường chỉ chú trọng đến năng lực thực tế của ứng viên
Trước tình hình trên, các trường đại học cần có sự thay đổi trong công tác đào tạo và quản lý nhằm từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để cung ứng cho thị trường lao động Cần có sự bắt tay hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp để tạo sự gắn kết giữa chương trình đào tạo với thực tiễn của xã hội và hợp tác quốc tế
2.3 Khái quát về Trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh
2.3.1 Giới thiệu chung
Trang 38Trường Đại học Kinh tế TP.HCM được thành lập trên cơ sở hợp nhất Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (thành lập năm 1976), Trường Đại học Tài chính Kế toán TP.HCM (thành lập năm 1976) và Khoa Kinh tế thuộc Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM, theo quyết định số 2819/GD-ĐT ngày 09/7/1996 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Ngày 10/10/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 18/2000/QĐ-TTg về việc thay đổi tổ chức của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, theo quyết định này Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM tách ra thành Trường Đại học Kinh tế TP.HCM trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường Đại học Kinh tế TP.HCM là một trường đại học đa ngành, với nhiều bậc, hệ đào tạo đa dạng Trường có đội ngũ giáo sư, giảng viên được đào tạo từ nhiều nguồn,
có trình độ cao, có uy tín khoa học và chuyên môn Đây là một trong những điều kiện chính để trường từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao vị thế và uy tín của mình trong xã hội Trường Đại học Kinh tế TP.HCM là trường có số lượng người học thuộc các bậc, hệ đào tạo, từ Cử nhân đến Thạc sĩ, Tiến sĩ được coi là lớn nhất nước Hiện nay, trường đào tạo bậc đại học theo hai loại hình chính quy và vừa làm vừa học, đào tạo sau đại học theo loại hình không tập trung, lưu lượng sinh viên, học viên của trường hàng năm khoảng trên 50.000
Mục tiêu của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM là đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp cho
xã hội các nhà hoạch định chính sách kinh tế, các nhà quản trị doanh nghiệp và các chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực kinh tế - quản trị kinh doanh Mục tiêu chủ yếu thứ hai của trường là nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực kinh tế - quản trị kinh doanh, nhằm tham gia giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước; đồng thời bổ sung, phát triển lý luận về kinh tế trong điều kiện Việt Nam Trường luôn mở rộng mối quan hệ hợp tác với các trường đại học và các tổ chức trong và ngoài nước, nhằm từng bước hòa nhập công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học của trường với thế giới; quốc tế hóa kiến thức cho người dạy và người học, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong tương lai
Hiện nay, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM là một trong 14 trường đại học trọng điểm của quốc gia Từ khi thành lập (1976) đến nay, trường đã đào tạo hàng chục
Trang 39ngàn cán bộ, nhà kinh tế, nhà quản lý có trình độ đại học và sau đại học cho cả nước; đảm bảo chất lượng, uy tín và được xã hội thừa nhận
2.3.2 Năng lực của Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh
Nguồn nhân lực
Tính đến tháng 12/2012, tổng số giảng viên cơ hữu của Trường là 601 người; trong đó
có 7 Giáo sư và 43 Phó giáo sư Số lượng giảng viên cơ hữu chia theo trình độ chuyên môn như sau:
Tiến sĩ khoa học và tiến sĩ: 144;
Thạc sĩ: 321;
Cử nhân: 136
Ngoài đội ngũ giảng viên cơ hữu, Trường còn mời trên 400 giảng viên ngoài tham gia thỉnh giảng; trong đó có 02 Giáo sư, 10 Phó giáo sư, 97 tiến sĩ, 277 thạc sĩ và trên 100
cử nhân Đây cũng là một trong những nguồn lực mạnh của Trường
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu trình độ của giảng viên Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
24.32%
52.70%
22.97%
Tiến sĩ Thạc sĩ
Cử nhân
Nguồn: Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh