Năm 2002, dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ huyện ủy, UBND huyện xuất bản cuốn sách "Đất và người huyện Bình Giang" nhằm cung cấp cho bạn đọc, giới thiệu với nhân dân trong huyện và nhữn
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG
BÌNH GIANG
ĐẤT VÀ NGƯỜI
IN LẦN THỨ HAI
Có chỉnh lý và bổ sung
Trang 2THÁNG 3 NĂM 2017
Lưu ý khi chữa bản thảo:
- Chữa bằng bút đỏ, trực tiếp vào lỗi.
- Phần mềm thì đánh dấu vàng, không được cắt chữ.
Xong trước ngày 20/02/2017.
inbaohd@gmail.com
Tăng Bá Hoành
Trang 3Lời giới thiệu
(Xuất bản lần thứ nhất) Huyện Bình Giang nằm ở phía tây tỉnh Hải Dương Quốc sử chép rằng: Tỉnh Hải Dương xưa thuộc bộ Dương Tuyền, một trong
15 bộ của nước Văn Lang, dưới triều các vua Hùng.
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, mảnh đất thân yêu này đã bao lần thay đổi tên địa danh, địa giới từ thôn, xã đến tổng, huyện Bao lần thay đổi phương thức thâm canh trồng trọt, chăn nuôi Trong chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc, xây dựng, phát triển kinh tế, nhiều người có công lao, tài đức được ghi vào
sử sách hoặc khắc ghi trên bia đá Là người Bình Giang, ai cũng muốn biết cội nguồn, những đổi thay để càng tự hào hơn về mảnh đất, con người quê hương mình.
Từ trước đến nay, tuy đã có một sách viết về Bình Giang nhưng mới là khái lược Năm 2002, dưới sự chỉ đạo của Ban
Thường vụ huyện ủy, UBND huyện xuất bản cuốn sách "Đất và
người huyện Bình Giang" nhằm cung cấp cho bạn đọc, giới thiệu
với nhân dân trong huyện và những người quan tâm nghiên cứu những thông tin về lịch sử mảnh đất, con người Bình Giang.
Cuốn " Bình Giang đĐ ất và người Bình Giang" do cử nhân
Vũ Huy Phú, nguyên Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, hành chính huyện Bình Giang là chủ biên Cộng tác viên là những đồng chí
Trang 4cán bộ chủ chốt của huyện qua các thời kỳ, có hiểu biết sâu rộng
về truyền thống lịch sử của địa phương.
Cuốn " Bình Giang đĐ ất và người Bình Giang " được biên soạn công phu dựa trên những tư liệu lịch sử của Viện Hán Nôm Trung ương, dựa trên các văn bia, sắc phong, tư liệu lịch sử của các triều đại phong kiến và tư liệu đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Hải Dương Tuy nhiên, việc dựng lại bức tranh chân thực về Bình Giang đất và người suốt mấy nghìn năm là rất khó khăn, sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, mong được sự đóng góp của bạn đọc để chất lượng cuốn sách càng được nâng cao trong những lần tái bản.
Nguyễn Hữu Dương
đã có điều kiện nghiên cứu sâu hơn, như các mục: Nhân vật chí, Nghề cổ truyền, Di tích và danh thắng, Bia ký, … Đặc biệt là thành tựu về kinh tế, văn hóa xã hội, tiêu biểu là thành tích xây dựng nông thôn mới rất khả quan.
Để góp phần chào mừng 20 năm tái lập huyện, UBND huyện quyết định cho tái bản cuốn Đất và người Bình Giang Việc bổ sung, chỉnh lý do ông Tăng Bá Hoành, chủ tịch Hội Sử học tỉnh Hải Dương chủ trì thực hiện UBND huyện chủ trì việc đọc, duyệt trước khi in.
Về tên gọi, sách đổi tên là Bình Giang đất và người cho phù hợp với loại sách địa chí Về nội dung, sách tái bản giữ căn bản nội dung cũ, chỉ chỉnh sửa sai và sót, căt bỏ những phần trùng lặp,
bổ sung nội dung với số trang gần gấp đôi, khổ rộng hơn, trên cơ
sở tư liệu của trung ương và địa phương, đổi tên một số chương
Trang 5mục cho phù hợp với nội dung Ví dụ: mục Danh nhân được đổi thành Nhân vật chí, trước giới thiệu 21 người, nay bổ sung 3 48
người, thành 5 59 người Mục Tiến sĩ Nho học cũng được bổ sung tiểu sử và số tiến sĩ, Ảnh minh họa được bổ sung gấp 4 lần làm cho sách phong phú hơn.
Tuy nhiên, thời gian làm sách có hạn nên môt số chuyên mục chưa có điều kiện viết sâu hơn Hy vọng mỗi lần tái bản, được bạn đọc góp ý, điều kiện nghiên cứu tốt hơn, sách sẽ ngày càng hoàn thiện.
Bình Giang, ngày 10 tháng 2 năm 2017
UBND huyện Bình Giang
Chủ tich
Nguyễn Trung Kiên
PHẦN MỘT ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH
* Sự thay đổi tên gọi, địa giới, lỵ sở huyện Bình Giang qua các triều đại:
Nhìn trong bản đồ, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ở về bắc Bắc bán cầu, khoảng giữa đường vĩ tuyến bắc Bắc 8 độ 27phút và đường vĩ tuyến bắc Bắc 23 độ 23 phút; giữa đường kinh độ
đông Đông 102 độ 8 phút và đường kinh độ đông Đông 109 độ 27phút Huyện Bình Giang chỉ là một điểm nhỏ vào khoảng nơi gặpnhau của đường vĩ tuyến bắc Bắc 21 độ và đường kinh độ đôngĐông 105 độ, là huyện nằm ở phía tây Tây tỉnh Hải Dương
Năm 2000, huyện Bình Giang có diện tích là 105,14km2 vàdân số 102.977 người ? Tất cả đều là người dân tộc Kinh
Năm 2000, huyện có diện tích 105,140 ha, dân số 102.911khẩu, Dân cư đều là dân tộc kinh, 17 xã, 1 thị trấn
Bình Giang năm 2015, diện tích 106km2 145, dân số có109.138 khẩu)
Trang 6Phía Bắc huyện Bình Giang giáp các xã Cẩm Điền, CẩmPhúc, Cẩm Đông, Lương Điền huyện Cẩm Giàng Phía Nam giápcác xã Phạm Kha, Thanh Tùng, Hồng Quang, Ngô Quyền huyệnThanh Miện Phía Đông giáp các xã Trùng Khánh, Yết Kiêu, LêLợi huyện Gia Lộc Phía Tây và Tây bắc giáp các xã Hòa Phong,Minh Đức, Ngọc Lâm huyện Mỹ Hào và các xã Phù Ủng, Bãi Sậy,Tân Phúc, Văn Nhuệ huyện Ân Thi (huyện Mỹ Hào và huyện ÂnThi thuộc tỉnh Hưng Yên).
Điểm cực bắc huyện Bình Giang tại làng Thượng Khuông xãHưng Thịnh, đến điểm cực nam tại làng Kinh Trang xã TháiDương, cách nhau gần 14km Điểm cực đông tại làng Ô Xuyên, xã
Cổ Bì, đến điểm cực tây tại làng Thái Khương, xã Thái Dươngcách nhau hơn 13km
Qua các triều đại lịch sử Việt Nam, qua kiểm kê di tích lịch sửcủa các làng trong huyện năm 1999, chúng ta thấy từ trước Côngnguyên, dưới thời Hùng Vương, Thục Vương đến sau Côngnguyên, thời bà Trưng, Lý Bôn, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành,nhà Lý, nhà Trần ở các làng trong huyện đã có những danh nhân,tham gia khôi phục, bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc,được phong là Thành hoàng làng, được nhân dân còn trân trọngthờ cúng đến ngày nay Sự tích Thành hoàng ghi trong thần phảhoặc thần phả không còn thì kể theo truyền miệng Thần phả, haytruyền miệng đều có những điểm hư cấu, hoặc nâng cao để thầnthoại hóa nhân vật, nhưng cũng là những chứng tích nói lên người
và đất huyện Bình Giang có từ thời xa xưa của dân tộc Việt Nam(1)
(1) Lịch sử dân tộc Việt Nam bắt đầu từ 18 đời vua Hùng, tên nước là Văn Lang Đóng đô ở Phong Châu, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Nước Văn Lang chia làm 15 bộ Sử thông giám cương mục ghi từng bộ ấy, tương ứng với đất các tỉnh ngày nay như sau:
1 Bộ Giao Chỉ, nay là vùng đất thuộc Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên,
2 Bộ Chu DiênNay là vùng tỉnh Sơn Tây3 Bộ Chu Lộc4 Bộ Vũ Ninh, nay là đất vùng tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang.
5 Bộ Việt Thường, nay là đất vùng Quảng Trị, Quảng Nam.
6 Bộ Ninh Hải, nay là đất vùng đất tỉnh Quảng Ninh.
7 Bộ Dương Tuyền, nay là đất vùng Hải Dương.
8 Bộ Lục Hải, nay là đất vùng tỉnh Lạng Sơn.
9 Bộ Vũ Định, nay là đất vùng tỉnh Thái Nguyên.
10 Bộ Hoài Hoan, nay là đất vùng tỉnh Nghệ An.
11 Bộ Cửu Chân, nay là đất vùng tỉnh Thanh Hóa.
Trang 718 đời Hùng Vương so với dương lịch ước khoảng từ 2879đến năm 258 trước Công nguyên (2661 năm) và từ năm 275 đếnnăm 40 sau Công nguyên (27 năm) huyện Bình Giang có nhiềungười con đứng lên chiêu binh luyện võ giúp nhà vua đánh giặc lậpcông, được phong làm Thành hoàng làng, sử chép là thời Bắcthuộc lần thứ nhất.
Hai Bà Trưng lấy lại được nước, lên làm vua xưng là Trưng
Nữ Vương Đô ở Mê Linh và đặt tên nước là Hùng Lạc
Từ năm 43, đất nước ta lại bị phong kiến phương Bắc xâmlược, coi nước ta như một bộ phận của nước Trung Hoa Nhà Hánchia nước ta làm 9 quận, đặt quân cai trị Chín quận ấy là: NamHải, Thượng Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Châu Nhai, Đạm Nhĩ, GiaoChỉ, Cửu Chân, Nhật Nam Trong 9 quận ấy chỉ có 3 quận thuộcđất nước ta ngày nay: đó là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam
Huyện Bình Giang thuộc đất Giao Chỉ.
Từ năm Tân Dậu, Lương Đại Đồng năm thứ 7 (541), nghĩaquân dưới sự lãnh đạo của Lý Bí, giành được quyền độc lập, dựnglên nhà nước Vạn Xuân, quốc sử gọi là triều Tiền Lý Đến năm
602, nước ta bị nhà Tuy xâm lược Đến năm Nhâm Ngọ, Đường
Vũ Đức năm thứ 5(622), đổi Gia Châu thành An Nam đô hộ phủ,tên An Nam có từ đấy Do đấy mà sau này người Pháp gọi ta là An-na-mi-tơ (Annamite) An Nam Phủ có 12 châu là: Thang Châu, ChíChâu, Vũ An Châu, Giao Châu, Lục Châu, Phong Châu, ái Châu,Hoan Châu, Trường Châu, Vũ Nga Châu, Phúc Lộc Châu, DiễnChâu Bốn châu: Thang Châu, Chí Châu, Vũ Nga Châu, Vũ AnChâu nay là đất của nước Trung Hoa Tám châu còn lại thuộc nước
Việt Nam Huyện Bình Giang thuộc về Giao Châu.
Năm 825, vua Đường sai Vũ Hồn sang làm thứ sử Giao Châu.Năm 841, Vũ Hồn được thăng làm An Nam đô hộ phủ Trong khilàm quan, Vũ Hồn cắm đất, lập ấp Khả Mộ, tức làng Mộ Trạch, xã
13 Bộ Bình Văn, nay là đất vùng tỉnh Nghệ Tĩnh.
14 Bộ Cửu Đức, nay là đất vùng tỉnh Nghệ Tĩnh.
15 Bộ Văn Lang, là nơi vua đóng đô, nay thuộc Phú Thọ, Vĩnh Yên.
Trang 8Tân Hồng hiện nay và đặt tên huyện là Đường An (1) Tên huyệnĐường An có từ đấy.
Năm 843, quân lính nổi dậy, Vũ Hồn không đương đầu đượcphải chạy về Quảng Châu Vua Đường sai Đoàng Sĩ Tắc sang dẹpyên, cử người khác sang làm An Nam đô hộ phủ Vũ Hồn khônglàm quan nữa, trở về ấp Khả Mộ, tức làng Mộ Trạch và mất ở đấynăm 853, mộ táng ở cánh đồng làng Mộ Trạch còn đến ngày naygọi là Lăng Thần Làng Mộ Trạch thờ Vũ Hồn làm Thành hoàng vì
có công lập làng
Năm 863, nhà Đường bỏ chức đô hộ phủ, đặt ra Hành(2) GiaoChâu ở Hải Môn Trấn Hành là nơi đóng quân Tỉnh Hải Dươngbấy giờ thuộc Hải Môn trấn, huyện Bình Giang vẫn giữ tên làĐường An
Hải Môn trấn lại đổi tên là Hồng Châu, Hồng Châu là đất cócon sông Hồng Giang chảy qua Hồng Giang từ sông Hồng Hàchảy vào huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên, gọi là Kim Ngưu,chảy qua huyện Mỹ Hào, huyện Cẩm Giàng, nhập vào sông Sặt ởngã ba Tuần Ché, qua đập Bá Thủy ra sông Đĩnh Đào, qua huyệnGia Lộc, huyện Tứ Kỳ, huyện Ninh Giang, qua cống An Thổ rasông Luộc Sông Hồng Giang chảy qua làng nào mang tên làng ấy,làm cho người ta quên cả tên Hồng Giang
Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, năm Kỷ Hợi(939) coi là năm bắt đầu của kỷ nguyên độc lập, tự chủ
Năm Mậu Thìn (968), Đinh Tiên Hoàng lên làm vua, đặt tênnước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, bầy tôi dâng tôn hiệu làĐại Thắng Minh Hoàng đế Triều nhà Đinh bắt đầu từ đây Đếnnăm Canh Ngọ (970), đổi niên hiệu là Thái Bình
Năm Tân Tỵ (981), mở đầu triều Tiền Lê
Các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, huyện Đường An không thayđổi địa danh
(1) Phạm Đình Hổ, người làng Đan Loan, xã Nhân Quyền, trong tác phẩm "Vũ trung tùy bút" viết: Tên Đường An đã có từ trước ở bên Trung Hoa, huyện Đường An bao gồm cả huyện Đường Hào, tức huyện Mỹ Hào, thuộc tỉnh Hưng Yên Đặt tên Đường An là có ý muốn núi nhà Đường được yên ổn ở đây.
Trang 9Năm Canh Tuất (1010), Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ratriều Lý, lấy tên nước là Đại Việt, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, rờikinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long, tức Hà Nội ngày nay Dướitriều Lý, tỉnh Hải Dương là Hồng Châu Huyện Bình Giang vẫngọi là Đường An.
Năm Ất Dậu (1225), Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế, đặt nienhiệu là Kiến Trung, lập ra triều Trần, vẫn giữ tên nước là Đại Việtđóng đô ở Thăng Long Năm đầu Trần Thái Tông đổi tên HồngChâu ra Hồng Lộ, rồi lại đổi là Hồng Nhân Lộ, Hồng Hải Lộ.Huyện Bình Giang vẫn giữ tên là Đường An
Năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi Hoàng đế, lấyniên hiệu là Thánh Nguyên, lập ra triều Hồ thay, đặt tên nước làĐại Ngu (chữ Ngu theo nghĩa chữ Hán là yên vui)
Năm Đinh Hợi (1407), nhà Minh kiếm cớ sang đánh nhà Hồchiếm nước ta 20 năm, từ năm 1407 đến năm 1427 Thời thuộcMinh, đất Hải Dương chia làm 2 phủ là Lạng Giang và Tiên An.Phủ Lạng Giang có 3 châu và 5 huyện Châu Nam Sách cai quản 3huyện: Đường Hào, Đường An và Đa Cẩm
Năm Mậu Thân (1428), đất nước hoàn toàn giải phóng, LêLợi lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, lập ra triềuHậu Lê, phục hồi nền độc lập dân tộc Tên nước và kinh đô vẫngiữ như nhà Trần Đất Hải Dương thuộc về Đông Đạo gồm 4 lộ:Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, An Bang Huyện Bình Giangthuộc lộ Thượng Hồng Năm Quang Thuận thứ 7 từ 1466, tỉnhHải Dương thuộc về thừa tuyên Nam Sách Năm Quang Thuậnthứ 10 (1469), đổi thừa tuyên Nam Sách thành thừa tuyên HảiDương Tên Hải Dương có từ đấy Thừa tuyên Hải Dương có 4phủ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn Dưới 4 phủ
có 13 huyện Phủ Thượng Hồng có 3 huyện là: Đường Hào,Đường An và Cẩm Giàng Năm Nhâm Tý, Hồng Đức thứ23(1492) đổi Hải Hương thừa tuyên ra Hải Dương xứ rồi lại đổithành Hải Dương trấn
Năm Đinh Hợi, Mạc Đăng Dung lên ngôi Hoàng đế, lấy nienhiệu là Minh Đức, lấy Nghi Dương thuộc huyện Kiến Thụy (phủKinh Môn), làm Dương Kinh Tách huyện Thuận An đưa về Kinh
Trang 10Bắc, huyện Khoái Châu đưa về Sơn Nam Các phủ Kiến Xương,Tân Hưng, tỉnh Thái Bình, thuộc về tỉnh Hải Dương.
Thời Lê Trung Hưng, khi trở về Thăng Long, lại sắp xếp đấtnước như thời Lê Sơ Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1742), phủ ThượngHồng, Hạ Hồng, An Lão, Đông Triều làm 4 đạo, mỗi đạo đặt chứctuần phủ
Triều Tây Sơn, tồn tại có 14 năm (1788-1802), lập kinh đô ởPhú Xuân Địa danh, địa giới căn bản như trước Đường An vẫngiữ nguyên tên cũ
Năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng
đế, lấy niên hiệu là Gia Long, lập ra triều Nguyễn, lấy tên nước làViệt Nam, lấy Huế làm kinh đô, gọi Thăng Long là Bắc Thành là
Hà Nội và khi viết Thăng Long bằng chữ Hán không được viết chữ
"Long" là con rồng mà viết chữ "Long" là dầy dặn, lớn lao NămMinh Mệnh thứ 3 (1822), vì kiêng tên húy nhà vua là "Hồng" màđổi phủ Thượng Hồng ra phủ Bình Giang; Phủ Hạ Hồng ra phủNinh Giang
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), đổi Hải Dương Trấn thànhtỉnh Hải Dương, tên tỉnh Hải Dương có từ đấy
Thiệu Trị nguyên niên (1841), vì kiêng tên húy nhà vua là
"Hoa" mà đổi tên làng Hoa Đường ra Lương Đường (xã ThúcKháng), làng Hoa Lại ra Vĩnh Lại (xã Vĩnh Tuy)
Năm Tự Đức thứ 5 (1851), chia cho phủ Bình Giang kiêm cảhuyện Thanh Miện
Ngày 6 tháng 5 năm 1884, triều đình Huế ký hiệp ước nhânquyền bảo hộ của nước Pháp trên khắp đất nước
Đồng Khánh nguyên niên (1886), vì kiêng từ húy nhà vua là
"Đường" mà đổi huyện Đường An ra huyện Năng An, huyệnĐường Hào ra huyện Mỹ Hào, huyện Thủy Đường ra huyện ThủyNguyên, làng Lương Đường ra làng Lương Ngọc (xã ThúcKháng), làng Đường An ra Bình An (xã Tân Việt)
Năm Thành Thái thứ 10 (1898), người Pháp bỏ cấp phủ Triphủ Bình Giang đưa xuống quản lý huyện Năng Yên, nhưng vẫngiữ chức Tri phủ, đổi tên huyện Năng Yên ra phủ Bình Giang, rồisau cách mạng Tháng 8 năm 1945, gọi là huyện Bình Giang
Nghị quyết số 168/NQTW ngày 5/10/1967 cả BCH TW Đảng
Trang 11UBTV QH số 504-NQ-TVQH ngày 26/1/1968 về việc hợp nhấthai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, lấy tên là Hải Hưng
Từ ngày 9-10/2/1968, tại khu vực đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên)Hội nghị hợp nhất được thực hiện theo sự chỉ định của Trung ươngNăm 1968, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hợp hai tỉnh HảiDương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng;
Sau 29 năm hợp nhất, ngày 06/11/1996, tại kỳ họp thứ X,Quốc hội khóa IX đã thông qua Nghị quyết về việc tách và điềuchỉnh địa giới một số tỉnh, trong đó có Hải Hưng Ngày01/01/1997, tỉnh Hải Dương được tái lập
Ngày Năm 1977, hợp nhất hai huyện Bình Giang và CẩmGiàng thành huyện Cẩm Bình Sau 20 năm hợp nhất, ngày
17/2/1997 lại có quyết định chia tách ra thành hai huyện: Cẩm
Giàng và Bình Giang, địa giới huyện Bình Giang: Bốn mặt đều cósông Phía bắc có sông Kẻ Sặt Phía tây có sông Cửu An Phía nam
có sông Cầu Lâm, Cầu Cốc
Sông Sặt bắt nguồn từ sông Hồng, qua cống Xuân Quan, qua
cầu Lực Điền, cầu của đường 39A, nối quốc lộ 5 với thị xã HưngYên, tiếp cận với Bình Giang, sát làng Tranh Ngoài xã ThúcKháng Đến đây, sông có nhánh đi suốt phía tây huyện gọi là sôngCửu An, một nhánh đi suốt phía bắc huyện gọi là sông Kẻ Sặt,thông với sông Thái Bình qua âu Thuyền thành phố Hải Dương.Sông Sặt còn có tên là sông Kim Sơn, ngày xưa có tên là Vân Dậugiang, Dũng giang Khúc sông qua làng nào mang tên làng ấy nhưsông Thịnh Vạn, sông Mao, sông Tuấn, sông Cậy
Gặp đất Bình Giang, sông Sặt bên hữu ngạn là làng TranhNgoài; làng Tráng Liệt, thị trấn Kẻ Sặt Bên tả ngạn là đất thuộchuyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên và làng Đồng Xá thuộc thị trấn KẻSặt, huyện Bình Giang
Làng Tranh Ngoài: có chợ nhỏ, họp hai bên đường 38, gầncống Tranh, có nghề truyền thống đan giần sàng bằng tre rất khéođược nhiều người ưa chuộng
Làng Tráng Liệt: là làng đông dân cư, Công giáo toàn tòng, cónhà thờ lớn, có ba cây tháp cao nhất vùng
Thị trấn Kẻ Sặt từ làng Tráng Liệt tách ra từ năm 1958, có chợ
to, phố xá đông đúc, có bến sông, bến đò ngang sang đất Mỹ Hào.Sau ngày lập lại huyện Bình Giang, các cơ quan lãnh đạo của
Trang 12huyện về xây dựng trụ sở trên đất thị trấn Kẻ Sặt Thị trấn thànhtrung tâm văn hóa, chính trị của huyện.
Đối diện với chợ Sặt, bên tả ngạn sông Sặt là làng Đồng Xáthuộc thị trấn Kẻ Sặt, nhân dân chuyên nghề đánh cá sông
Từ ngày đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng Giêng năm
1947, quân Pháp đã về chiếm đóng làng Tráng Liệt và thị trấn KẻSặt Đóng ở hai nơi ấy nhiều đồn bốt, như một tập đoàn cứ điểm đểtuyển ngụy quân, lập ngụy quyền, uy hiếp vùng tây bắc huyện.Cuối phố Sặt là cầu Sặt còn gọi là cầu Thịnh Vạn, vì đầu cầuphía tây, nằm trên đất làng Thịnh Vạn, huyện Mỹ Hào Cầu xây từnăm 1897, cùng với thời đặt đường xe lửa nhỏ từ Cẩm Giàng điNinh Giang Từ chống Pháp đến nay, cầu đã phá đi làm lại nhiềulần Có lần bị bom Mỹ thả trúng bị hư hại nặng Đầu cầu phía tảngạn đã từng chứng kiến những trận đánh anh dũng của quân vàdân huyện Bình Giang Đêm 13 tháng 02 năm 1949, quận công anBình Giang không nổ súng, vào tước toàn bộ vũ khí của bốt đầucầu (bằng chiến thuật hóa trang và nội ứng chiến) Đêm ngày 24tháng 4 năm 1953, quân dân huyện Bình Giang hợp tác với Trungđoàn 42, dùng bọc phá, phá tan boong ke kiên cố của bốt đầu cầu,thu nhiều vũ khí
Cầu Sặt còn là cầu đường tỉnh lộ 38 và 20 Đường 38 từ BắcNinh qua Cẩm Giàng qua Bình Giang sang gặp đường 39A ởChương Xá, tỉnh Hưng Yên Đường 20 cùng tuyến với đường 38đến thị trấn Kẻ Sặt, rẽ về phía đông nam, qua huyện Bình Giangsang huyện Thanh Miện và Ninh Giang, chia huyện Bình Gianglàm hai phần bằng nhau
Qua cầu Sặt, sông Sặt đi vào nội địa Bình Giang, hữu ngạn là
xã Vĩnh Tuy, tả ngạn là xã Hưng Thịnh, tới xã Vĩnh Tuy, bên tảngạn là làng Mao Điền huyện Cẩm Giàng Năm Cảnh Hưng nguyênniên (1740), trấn lỵ Hải Dương từ Mặc Đông huyện Chí Linh, gọi làThành Vạn, chuyển về đây, xây một thành nhỏ gọi là Dinh Dậu, vì ởtrên bờ sông Vân Dậu giang, tức sông Sặt; thời ấy có một cầu đá bắcqua sông cho hành khách đi lại giữa Bình Giang và Mao Điền Đến
Trang 13nay Dinh Dậu và cầu đá không còn, chỉ còn một bài thơ nói về DinhDậu và một bia đá nói về việc bắc cầu qua sông Vân Dậu(*).
Thay cầu, nay có bến đò ngang qua sông gọi là đò Mao, đưakhách từ làng Hồ Liễn xã Vĩnh Tuy huyện Bình Giang sang làngMao Điền huyện Cẩm Giàng và ngược lại Khúc sông Sặt quãngnày có tên là sông Mao
Hết xã Vĩnh Tuy đến xã Hùng Thắng và xã Phúc Cầu, bên tảngạn xã Phúc Cầu có các làng: Lê Xá, Vũ Xá, Phúc Xá, Phúc Cầu.Năm 1949, cắt chuyển thôn Phúc Cầu từ huyện Bình Giang, sátnhập vào xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng để tiện lãnh đạo, vì xãPhúc Cầu bấy giờ đã nằm sâu trong vùng bị Pháp ngụy tạm kiểmsoát như các xã của huyện Cẩm Giàng bao xung quanh
Trên bờ sông về phía xã Hùng Thắng, thời chiến tranh chốngPháp xâm lược, là nơi có lão du kích Đỗ Như Thìn, dùng kèn ốngtre uy hiếp địch Cụ Thìn kiên trì bám đất, bám dân, chở đò ngày,đêm đưa cán bộ, bộ dội, dân công, qua sông sang công tác ở vùngtạm bị chiếm đóng và phá hoại đường 5
Làng Nhân Kiệt, làng Quang Lễ, làng Pháp Chế (còn gọi làHòa Ché) thuộc xã Hùng Thắng, Ở sát bờ sông, được kiến thiếtthành làng chiến đấu liên hoàn, là nơi đã xảy ra hai trận ác chiếngiữa quân dân du kích, bộ đội với hàng ngàn quân địch đến bao
(*) Bài thơ của Phạm Đình Hổ, in trong tác phẩm "Vũ trung tùy bút" cho ta thấy vị in và nhận xét của nhà thơ về Dinh Dậu không đặt vào vị trí chiến lược bảo vệ đất nước, thơ bằng chữ Hán đã được dịch ra quốc ngữ như sau:
Trấn sở Hải Dương trên Hồng Lộ,
Đồn canh văng vẳng tiếng chuông pha
Kinh vua vệ dực, đường gần gũi,
Mặt bể quan hà, dặm thẳm xa.
Bóng nguyệt, xóm Mao trong vắt đứng.
Díp cầu sông Cẩm thắm mù qua
Cánh đồng mang mác khi nhàn ngóng.
Nọ cuộc can qua dấu chưa nhòa
Thơ sáng tác tháng 7 năm Nhâm Tuất, tức năm 1802 nhân dịp từ kinh đô về vào yết kiến hiệp trấn Hải Dương họ Ngô.
Bia nói về cầu đá qua sông dựng bên hữu ngạn, thuộc đất làng Hồ Liễn xã Vĩnh Tuy Bia đề
"Vân tân kiều" nghĩa là cầu cho hành khách qua sông Vân Bia dựng năm Chính Hòa thứ 20 tức năm 1699 Sông Sặt thủa ấy có tên là Vân Dậu Giang, gần bia ấy có nhiều bia ghi tên những người công đức, góp tiền để dựng cầu.
Trang 14vây, đốt phá, đào hầm hàng ngày và đóng tại đấy một đêm để lùngsục.
Hết xã Hùng Thắng đến xã Long Xuyên bên hữu ngạn, bên tảngạn là đất huyện Cẩm Giàng Ở khúc sông ấy, sông Sặt tiếp nhậnsông Cầu Giải của huyện Cẩm Giàng Chỗ hai sông gặp nhau gọi
1998 và trùng tu di tích lịch sử đền Côn Sơn, Kiếp Bạc thuộchuyện Chí Linh, cùng các di tích của cố đô Huế Đầu làng Cậy cócầu lớn bắc qua sông Sặt nối đường 194 với quốc lộ số 5, hoànthành năm 1989 Gần đấy còn có cống lớn xây năm 1962, thay chocống cũ quá nhỏ hẹp để lấy nước cho nội đồng cả huyện
Gần hết địa phận xã Long Xuyên, sông Sặt có một nhánh quađập Bá Thủy, sang sông Đĩnh Đào, sông ngăn cách địa giới củahuyện Bình Giang với huyện Gia Lộc Đập Bá Thủy xây năm1962; làng Bá Thủy trước thuộc huyện Gia Lộc, chuyển sang xãLong Xuyên, huyện Bình Giang từ năm 1949 Gần Bá Thủy có cầuĐại Mại, bằng gỗ, bắc từ thời Lê Chính Hòa, cuối thể kỷ XVII.Đây là cây cầy to đẹp, được ghi vào bia đá đương thời
Sông Đĩnh Đào: chảy từ bắc xuống nam, có nhiều khúc uốnlượn qua cống An Thổ ra sông Luộc và qua cống Cầu Xe ra cửasông Thái Bình Bên hữu ngạn thuộc xã Cổ Bì có trạm bơm tiêuúng lớn ở đây còn có một cầu phao, tiện cho nhân dân Bình Giang
và Gia Lộc qua lại
Sông Cửu An: chảy dọc phía tây huyện Bình Giang, bắt đầu từCống Tranh Sông còn có tên là sông Kênh Hai, sông Hà, sông Tây
Kẻ Sặt Cống Tranh xây khoảng năm 1924, sau có nhiều lần tu sửa,mặt cống là đường tỉnh lộ 38 đi sang tỉnh Hưng Yên Cánh cống cóthể đóng mở để điều tiết nước sông Sặt và sông Cửu An Cống torộng có thể cho thuyền trọng tải trên chục tấn qua lại được Từcống xuống phía nam có đoạn sông dài độ một cây số đào để thay
Trang 15đổi dòng sông khi xây cống, cho nên gọi là sông đào Sa Lung, tênmột làng thuộc huyện Ân Thi Tả ngạn sông là làng Tranh Trong,Châu Khê, Lương Ngọc, Ngọc Cục, Tào Khê thuộc xã ThúcKháng Hữu ngạn có đền Ủng thờ Phạm Ngũ Lão, một danh tướngnhà Trần, đánh thắng quân Nguyên thế kỷ thứ XIII Ven sông bênBình Giang có vực Châu Khê, miễu Gai thuộc làng Ngọc Cục, toàngiống tre gai, miếu Tào thuộc làng Tào Khê, toàn cây lộc vừng.Qua sông, quãng giáp đền Ủng, trước có cầu đá; giữa làng NgọcCục và làng Đầu có cầu gỗ, miếu Gai, miếu Tào, cầu đá, cầu gỗnay không còn Phía trong đê bên làng Ngọc Cục còn di tích mộtbia đá nhỏ đề "Hoàng Thị Kiều Bi" nghĩa là bia ghi sự tích cầu củachợ Hoàng Nhân dân kể lại, sông Cửu An đến địa phận làng NgọcCục có bến Vàng, trên bến Vàng có một chợ nhỏ mang tên củabến, tức chợ làng Ngọc Cục, trước cách mạng Tháng 8 năm 1945,khi có chợ Hà thì chợ Ngọc Cục tan dần
Qua xã Thúc Kháng, đến xã Thái Dương, quãng làng HoàngSơn có chợ Hà và một cầu phao sang đất huyện Ân Thi, tỉnh HưngYên; nối đường 194 với đường 38 Ở đây còn có một cống lớn xâynăm 1965, trên cơ sở mở rộng nâng cao cống cũ quá nhỏ lấy nướcsông vào nội đồng toàn huyện Từ cống này có con sông đào dọcđường 194, ăn thông với cống Cậy
Hồi kháng chiến chống Pháp năm 1951, Pháp ngụy đến đóngbốt trong ngôi chùa làng Hoàng Sơn, bên chợ Hà Năm 1952 cótrận do nữ du kích ? Thị Tốn, người ấp Kinh Dương lãnh đạo, độtnhập vào chợ, Thị Tốn đâm tên tay sai của địch là Nguyễn VănThơm, người làng Mộ Trạch từng chỉ điểm cán bộ kháng chiến chođịch bắt Tháng 10 năm 1953 bộ đội huyện hạ bốt Hà, thu toàn bộ
vũ khí
Từ chợ Hà xuống có Vực Cương, Vực Hai; Vực Hai đã lấpthành đất thổ cư, nhân dân làng Hà Tiên và làng Thái Khương cócánh đồng bên hữu ngạn sông Cửu An, lập khu dân cư gọi là ấp HàTiên và xóm Thái Khương Ở hai nơi này trước có cầu tre, rồi cầu
xi măng cho dân đi lại đến nay không còn
Khoảng thế kỷ thứ XIX đê sông Hồng vỡ 18 lần, triều đìnhnhà Nguyễn giao cho các quan, huy động dân phu, khơi sâu lòng
Trang 16sông để nước chóng thoát và đắp đê nhỏ để giữ từng vùng Do đấy
có con đê nhỏ bao quanh 3 mặt huyện Bình Giang qua các xã TháiDương, Thúc Kháng, Tráng Liệt, Vĩnh Tuy, Hùng Thắng, LongXuyên, Cổ Bì, dọc theo bờ sông Cửu An, Kẻ Sặt và Đĩnh Đào.Chân đê có nhiều cống để lấy nước, tháo nước; cho đồng ruộngnhư cống Hà, cống Tranh, cống Cầu Xộp, cống Hồ Liễn, cốngKiệt, cống Cậy Tiếp các cống ấy đều có ngòi đi sâu vào trongđồng
Tục truyền, thế kỷ thứ XIII nhà Trần chống quân Nguyên, cólần đi qua sông Cửu An sang Thái Bình Quân đi đến đâu khơisông sâu đến đấy, thuyền đi qua thì lấp lại
Gần đây, nhờ có tầu hút bùn, nhân dân lấy đất lòng sông Cửu
An lấp những thùng, vũng ven đê thành thổ cư và vườn trồng cây
ăn quả Lòng sông thêm sâu thuyền máy trọng tải trên 10 tấn đi lạithuận lợi
Hết địa phận huyện Bình Giang, sông Cửu An chảy qua đậpNeo huyện Thanh Miện ra sông Luộc, còn có nhánh chảy sanghuyện Phù Cừ, Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
Năm Minh Mệnh thứ hai (1831), thành lập tỉnh Hưng yên, đãcắt 3 làng Kinh Trang, Kinh Dương, Thái Thượng trên tả ngạnsông Cửu An, từ huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên về huyện BìnhGiang, tỉnh Hải Dương Đưa làng Đào Xá thuộc xã Thúc Khánghuyện Bình Giang ở trên hữu ngạn sông Cửu An về huyện Ân Thi,tỉnh Hưng Yên
Phía nam huyện Bình Giang có con sông nhỏ mang tên sôngChùa Khu, sông Cầu Cốc, Cầu Lầm đi song song với địa giới giữahuyện Bình Giang và huyện Thanh Miện có khúc thuộc huyệnThanh Miện, có khúc thuộc đất Bình Giang Sông bắt đầu từ sôngCửu An, chảy vào đất Thanh Miện, hết xã Ngô Quyền thì vào đấtBình Giang, qua các làng Quàn, Chương Cầu, Bình Đê xã BìnhXuyên gọi là sông Di, rồi lại về đất Thanh Miện, ra gặp sông ĐĩnhĐào Tên sông là lấy tên địa phương mà sông chảy qua Cầu Cốc là
Trang 17cầu của đường 20 qua sông, thuộc địa phận làng Cốc huyện ThanhMiện, cách Hòa Loan, huyện Bình Giang không xa (*)
Sông Sặt, sông Cửu An, sông Đĩnh Đào (còn có tên là sôngĐinh Đào) phục vụ cho việc tưới, tiêu nước huyện Bình Giang, lại
là tuyến đường giao thông thủy để huyện Bình Giang giao lưu vớikhắp nơi trong nước Lỵ sở Theo sách xưa để lại, lỵ sở của phủThượng Hồng ở làng Lê Xá, tổng Phú Cầu Nay làng Lê Xá đãchuyển về huyện Cẩm Giàng, ở đây không còn di tích của lỵ sở, lỵ
sở của huyện Đường An ở làng Vĩnh Lại xã Vĩnh Tuy cũng khôngcòn di tích
Sách "Dư địa chí" tỉnh Hải Dương viết năm Thành Thái thứ tư(1893) nói: Văn miếu tỉnh Hải Dương trước ở làng Vĩnh Lại, có 2gian chính tẩm, 5 gian bái đường Thời Quang Trung, tức năm
1788 đến 1792, văn miếu tỉnh chuyển về Mao Điền, huyện CẩmGiàng ở làng Vĩnh Lại xã Vĩnh Tuy còn khu đất gọi là Văn miếu.Năm Minh Mệnh thứ 3 tức năm 1822 đổi tên huyện BìnhGiang ra Năng Yên, năm Minh Mệnh thứ 12 tức năm 1831 đổi lỵ
sở về khu đất thuộc làng Hoạch Trạch tức làng Ninh Bình mà tavẫn gọi là Phủ cũ
Năm Đồng Khánh thứ (1885), huyện Đường An đổi tên làNăng Yên Năm 1898, người Pháp bỏ cấp phủ Phủ Bình Giangđóng trên đất huyện Năng Yên, tri phủ Bình Giang đổi sang giữchức của tri huyện Năng Yên, đổi tên huyện Năng Yên là Phủ BìnhGiang, tuy gọi là phủ nhưng thực chất chỉ quan lý một huyện Từ
(*) Trong dân gian còn truyền: ông Đỗ Uông người làng Thanh Tùng huyện Thanh Miện, đỗ Bảng nhãn khoa Bính Thìn tức năm 1556, ông Phạm Trấn người làng Phạm Trấn huyện Gia Lộc đỗ Trạng nguyên cùng khóa với ông Đỗ Uông, hai ông cùng về vinh qui qua Cầu Cốc Bấy giờ ở Cầu Cốc có cửa hàng bán cơm của cô Loan, một cô gái có nhan sắc Hai ông đã làm bài thơ nôm "Cô Loan bán làng Cầu Cốc "Tài tình là mỗi câu của bài thơ đều có tên của hai thứ chim Bây giờ khi nói đến Cầu Cốc, đọc bài thơ để mua vui Thơ như sau:
Cá nhẩy, diều bay, gặp hội rống
Cô Loan, cầu Cốc, bán hàng đông
Gót câu, đủng đỉnh, dâng lòng vịt.
Mắt phượng, long lanh, hiến chả mòng.
Chèo bẻo, véo von, chào quý khách,
Chích bông, ríu rít, bận chân hồng.
Loài này, lúc phát, loài anh, yến,
Gặp buổi vinh hồi lương quốc công.
Trang 18đấy tên Phủ Bình Giang thay cho tên huyện Năng Yên, sau tháng8-1945 lại đổi tên Phủ Bình Giang là huyện Bình Giang.
Lỵ sở đắp như một tòa thành nhỏ, chu vi 208 trượng, tức832m, cao 7 thước tức 2m84, xung quanh có hào và có 3 cửa ravào Năm 1883, một tướng của phong trào yêu nước Bãi Sậy tên làTán Khoát, quê ở xã Bói Giang, tổng Đông Cao huyện NinhGiang, Phủ Hạ Hồng, tức thôn Bói xã Tân Hưng, huyện NinhGiang ngày nay, đem súng về hàng Pháp Pháp phong cho làm trihuyện Vĩnh Bảo, rồi thăng tri phủ Bình Giang Tán Khoát chonhân dân đến ở xung quanh thành, lập ra làng Ninh Bình, cái tênNinh Bình do Tán Khoát đặt lấy chữ Ninh là chữ đầu của tênhuyện Ninh Giang quê Khoát và chữ Bình là chữ đầu của tên phủBình Giang, nơi Khoát đến trị nhậm Đến nay thành Bình Giang bịphá không còn di tích
Năm 1925, lỵ sở Bình Giang chuyển lên địa phận làng TrángLiệt gần phố Kẻ Sặt Xung quanh sở cũng đào hào đắp lũy, trồngcây kín đáo, nơi làm việc xây nhà một tầng kiểu công đường, vớicác công trình phụ, có một cổng ra vào Trước lỵ sở có nhà y tếnhỏ, do một y tá trưởng cai quản, một sân quần vợt nhỏ ở lỵ sởnày Ngày 12 tháng 8 năm 1945, đại diện của huyện bộ Việt MinhBình Giang vào tước súng của tri huyện Ngày 18 tháng 8 năm
1945, vào thu sổ sách và đuổi tên tri huyện cuối cùng ra khỏihuyện Ngày 20 tháng 8 năm 1945, nhân dân toàn huyện lên họpmít tinh ở sân quần vợt trước trụ sở huyện, lập ủy ban cách mạnglâm thời huyện Tri huyện cuối cùng tên là Hà Trường Thịnh, làngười mới ra nhận chức, chưa có tội ác với nhân dân, ngay từ buổiđầu đã cam đoan làm đúng lệnh của Việt Minh huyện, lại có bạncùng học là ông giáo Hiến đảm bảo nên được đối xử khoan hồng.Buổi đầu lỵ sở được sử dụng làm trụ sở của ủy ban cách mạng lâmthời và các cơ quan của huyện, nay trên đất ấy xây hội trường củaHuyện đội
Cuộc kháng chiến lan đến đất Bình Giang, ủy ban kháng chiếnhuyện do đồng chí Hoàng Sỹ Thục làm chủ tịch, rời lỵ sở từ phố
Kẻ Sặt về nơi giữa huyện, ly sở cũ của huyện Bình Giang tức Phủcũ
Trang 19Hình thái chiến tranh chuyển sang thế cài răng lược, cơ quanlãnh đạo Đảng, chính quyền, quân sự, mặt trận, lùi vào bí mật Vănphòng đóng lưu động ở các làng thuộc xã Bình Xuyên, NhânQuyền, Hồng Khê, Cổ Bì Chỉ có điểm tiếp dân là công khai vớimọi người Công tác bí mật rất được coi trọng.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1954, trụ sở các cơ quanhuyện về đặt ở phố Kẻ Sặt, nhưng đến thời gian chống Mỹ, năm
1962, lại rời về Phủ cũ
Ngày 5 tháng 2 năm 1977, huyện Bình Giang hợp với huyệnCẩm Giàng thành huyện Cẩm Bình, trụ sở xây dựng ở xã Lai Cáchthuộc huyện Cẩm Giàng, bên cạnh đường 5, cách thành phố HảiDương 8 km
Ngày 1 tháng 4 năm 1997, lập lại huyện Bình Giang, trụ sởmới kiến thiết trên đất thuộc thị trấn Kẻ Sặt
Huyện Bình Giang ngày trước còn có một văn chỉ thờ đứcKhổng Tử và các tiên hiền Văn chỉ do người làng Hoạch Trạch làNhữ Đình Toản, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất, tức năm 1736, làmquan đến chức Tham tụng, thượng thư bộ binh, trí sĩ (*) phongQuốc lão đã cúng đất bỏ tiền ra xây nhà, lại cúng ruộng để lấy hoalợi chi cho việc tế lễ hàng năm Năm Quý Mão, tức năm 1843, di
về xây trên nền văn chỉ của làng Hoạch Trạch Đến nay văn chỉkhông còn, đất đã chia cho nhân dân làm nhà ở
Chỉ còn một bia đá cao hơn đầu người lưu giữ ở khu đất đìnhlàng Hoạch Trạch, trước miếu thờ Thành hoàng, bia dựng nămGiáp Thìn tức năm 1844, niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 Văn bia do tiến
sĩ Vũ Như Phiên tức Phan, người Lương Ngọc, đỗ khoa Bính Tý,tức năm 1826 soạn Một mặt bia ghi là "Đường An văn chỉ bi"nghĩa là bia ghi về văn chỉ huyện Đường An, một mặt ghi là
"Đường An lịch đại tiên hiền bi" nghĩa là bia ghi tên các tiên hiềncủa huyện Đường An qua các triều đại Tất cả trên bia ghi 108 tiênhiền, những người này hầu hết đỗ Tiến sĩ
Trụ sở các cơ quan huyện Bình Giang từ năm 1999 được xâydựng kiên cố nhiều tầng, trang bị hiện đại trên khu đất thuộc thịtrấn Kẻ Sặt, từ giáp phố kéo dài theo đường 20 về phía đông nam,
(*) Trí sĩ: Về hưu
Trang 20ở đây còn có đền liệt sĩ, một sân vận động, một trường THPT Phủ
cũ là khu đất giữa huyện, có một trường THPT, một trung tâm y tếcủa huyện
* Các tổng, xã của huyện Bình Giang thời đại phong kiến:
"Dư địa chí" của Nguyễn Trãi nói huyện Đường An có 59 xã,nhưng không nói tên tổng, tên làng
Sách Tên làng xã Việt Nam đầu thể kỷ XIX, cụ thể là năm
1810, cho biết:
Huyện Đường an có 10 tổng, 67 thôn xã
1- Tổng Vĩnh Lại có 4 xã: Vĩnh Lại, Thượng Khuông, Tuy
Lai, Triền Đông
2- Tổng Tông Tranh có 8 xã, thôn: Tông Tranh, Trang Liệt,
thôn Trung, thôn Phục Lễ, thôn Phụng Cán, thôn Bằng Tề thuộc xã
My Thự, My Khê, Châu Khê
3- Tổng Ngọc Cục có 4 xã: Ngọc Cục, Hà Xá, Hoàng Đường,
Hào Xá
4- Tổng Thi Cử có 10 xã, thôn: thôn Thi Cử, Bá Đông, Diên
Tiền, Trạch Xá thuộc xã Thi Cử; Cao Xá, My Cầu, Mộ Trạch,Trâm Khê; thôn Thị, thôn An Đông thuộc xã Nhữ Xá
5- Tổng Đường An có 7 xã, thôn: thôn Đường An, Mỹ Trạch
thuộc xã Đường An; Phú Đăng, Hoạch Trạch, Đình Tổ, TrươngCầu, Lôi Dương
6- Tổng Minh Loan có 6 xã: Minh Loan, Dương Xá, Bằng
Đê, Bằng Cách, Đan Loan, Bùi Xá
7- Tổng Lôi Khê có 7 xã: Lôi Khê, Trinh Nữ, Hệ Bì, Bùi
Khê, Cam Xá, Bì Đổ, Ô Xuân
8- Tổng Triền Đổ có 8 xã, thôn: Triền Đổ, Lôi Trì, Hương
Gián, Bất Đoạt, Phú Đa, Hương Lễ; thôn Nhị thuộc xã Phú Thuận
9- Tổng Bằng Dã có 6 xã: Bình Dã, Quang Lễ, Thuần Lương, Kệ Gián, Nhân Kiệt, Pháp Chế.
10- Tổng Phúc Cầu có 7 xã, thôn: Phúc Cầu, Hạ Khuông, Hồ
Liễn, thôn Vũ, thôn Lê Xá thuộc xã Vũ Xá, Tuấn Kiệt
Thời Minh Mệnh nói huyện Đường An có 10 tổng và 67 xã,cũng không nói tên tổng, tên làng, tên xã Theo báo cáo của công
Trang 21sứ Pháp năm 1900, năm coi là đã bình định được toàn tỉnh, thìhuyện Bình Giang có 10 tổng, 70 xã, dân số 35.870 người.
Nay kể tên 10 tổng, 70 xã, cùng dân số như sau.
1 Tổng Lý Đỏ dân số: 2610 người gồm: Xã Lôi Trì: 500; xã
Nam Gián: 700; xã Phú Đa- 500; xã Phú Thuận: 300; xã Lý Đỏ:500; xã Bát Đoạt: 50; xã Hợp Lễ: 60
2 - Tổng Bằng Giã dân số: 4590 người gồm: Xã Thuần
Lương: 120; xã Nhân Kiệt: 100, xã Quang Lễ: 1100; lã Kệ Gián:1100; xã Pháp Chế: 140; xã Bằng Giã: 80; xã Tân Hưng: 550
3 - Tổng Vĩnh Lại dân số: 3000 người gồm: Xã Vĩnh Lại:
900; xã Lý Đông: 900; xã Tuy Lai: 950; xã Thượng Khuông: 250
4 - Tổng Lôi Khê dân số 3.000 người gồm: Xã Lôi Khể:
3501 xã Trinh Nữ: 500; xã Lý Long: 80; xã Ô Xuyên: 800; xã TamXá: 200; xã Bì Đổ: 600; xã Hạ Bì: 350; xã Bùi Khê: 120
5- Tổng Ngọc Cục dân số: 2870 người gồm: Xã Ngọc Cục:
700; xã Hà Xá: 700; xã Kim Dương: 250; xã Lương Ngọc: 900; xãThái Khương: 320
6 - Tổng Bình An dân số: 4230 người gồm: Xã Bình An: 300;
xã Đinh Tổ: 1000; xã Chương Cầu: 180; xã Phú Khê: 800; xãHoạch Trạch: 900; xã Mỹ Trạch: 250; xã Lôi Dương: 800
7 - Tổng Tuyển Cử dân số: 4850 người gồm: Xã Tuyển Cử:
200; xã Cao Xá: 650; xã Trạch Xá: 300; xã Mộ Trạch: 1600; xãTrâm Khê: 300; xã My Cầu: 400; xã Quang Tiền: 100; xã AnĐông: 550; xã Nhữ Thị: 600; xã Bá Đông: 150
8 - Tổng Hòa Loan dân số: 3110 người gồm: Xã Hòa Loan:
560; xã Đan Loan: 600; xã Dương Xá: 350; xã Bình Đê: 500; xãBình Cách: 400; xã Bùi Xá: 700
9 - Tổng Phúc Cầu dân số: 2130 người gồm: Xã Phúc Cầu:150; xã Hạ Khuông: 650; xã Tuấn Kiệt: 350; xã Vũ Xá: 120; xã LêXá: 260; xã Phúc Xá: 400; xã Hồ Liễn: 200
10 - Tổng Thị Tranh dân số: 5480 người gồm: Xã My Thữ:
200; xã Bằng Trai: 200; xã Châu Khê: 230; xã Phục Lễ: 250; xãThị Tranh: 230; xã My Khê: 220; xã Phụng Viện: 350; xã TrángLiệt: 3000; xã Đông Xá: 800
Trang 22PHẦN HAI GIÀNH CHÍNH QUYỀN, THIẾT LẬP CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG
* GIÀNH CHÍNH QUYỀN, THIẾT LẬP LIÊN XÃ:
9 giờ sáng ngày 12 tháng 8 năm 1945: Đại diện của Mặt trậnViệt Minh huyện Bình Giang vào tước vũ khí của tri huyện HàTrường Thịnh Tri huyện đầu hàng, xin nộp vũ khí
Ngày 19 tháng 8 năm 1945: Giương cao lá cờ đỏ sao vàng,Mặt trận Việt Minh huyện Bình Giang lãnh đạo nhân dân các xãtrong huyện kéo vào lỵ sở huyện giành chính quyền Đồng chí VũDuy Tiêu, thay mặt Mặt trận Việt Minh huyện tuyên bố xóa bỏ
Trang 23chính quyền thực dân, phong kiến, giải thích chính sách khoanhồng đối với tri huyện Hà Trường Thịnh cùng bọn nha lại và lính
cơ, tịch thu triện dấu và sổ sách của huyện đường
Ngày 20 tháng 8 năm 1945: mít tinh toàn huyện, lập Ủy bancách mạng lâm thời Đồng chí Vũ Dương Ái, tức Hoàng Tâm làmChủ tịch, Vũ Đình Thê làm Phó chủ tịch
Đội trừ gian của huyện do đồng chí Đỗ Mãi, người làng NgọcCục làm đội trưởng, đồng chí ? Hoách người làng Nhân Kiệt làmđội phó, cùng đội tự vệ Việt Minh các làng, đập tan có hiệu quảhành động của các phần tử phản cách mạng, dẹp yên nạn trộmcướp, cờ bạc, nghiện hút, giữ vững trật tự an ninh, nhân dân vôcùng phấn khởi
Ngày 22 tháng 8 năm 1945: lập xong hệ thống chính quyềncách mạng lâm thời cấp xã, xóa bỏ cấp tổng> Đầu năm 1946, thànhlập các liên xã
Ngày 06 tháng 01 năm 1946: Thực hiện phổ thông đầu phiếutoàn huyện, trai gái từ 18 tuổi trở lên đều được đi bỏ phiếu, bầu raQuốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Đồng chí
Vũ Duy Hiệu, người làng Vĩnh Lại trúng cử đại biểu Quốc hộikhóa đầu
Ngày 26 tháng 4 năm 1946: toàn cử tri đi bỏ phiếu bầu các đạibiểu Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương và đại biểu Hội đồng nhândân của liên xã, gọi tắt là xã
Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hộithông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946, nhà nước cách mạng khôngchủ trương bầu Hội đồng nhân dân huyện
Ngày 05 tháng 7 năm 1946: đại biểu Hội đồng nhân dân các
xã trong huyện đi bỏ phiếu bầu ủy ban hành chính Từ sau ngàycách mạng thành công đến đây, chính quyền các cấp mời là lâmthời Từng phiếu bầu ghi rõ chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch, Ủyviên thư ký Kết quả đã trúng cử: Chủ tịch Hoàng Sĩ Thục, Phó chủtịch Phạm Đình Thủy, Ủy viên thư ký Vũ Huy Phú
Hiến pháp được Quốc hội thông qua ngày 31 tháng 12 năm
1959 mới nói đến các nam nữ cử tri trong huyện đi bầu Hội đồngnhân dân huyện và Hội đồng nhân dân huyện cử ra Ủy ban nhân
Trang 24dân huyện Từ đó mới có Hội đồng nhân dân 3 cấp: tỉnh, huyện, xãnhư ngày nay.
Ban đầu huyện Bình Giang có 22 liên xã Đó là: Hưng Thịnh,Phúc Cầu, Tráng Liệt, Thúc Kháng, Vĩnh Tuy, Hồng Mỹ, Vĩnh Thị,Vạn Thắng, Tam Quang, Tân Việt, An Mỹ, Long Xuyên, HồngKhê, Cổ Bì, Thái Học, Nhân Quyền, Bình Xuyên, Thái Dương,Ngọc Hà, Tân Hồng, Bình Minh, Thái Hòa
Qua những năm kháng chiến chống Pháp, những năm tiếnhành cải cách ruộng đất, có 6 lần điều chỉnh địa giới của liên xã:1- Năm 1949, bàn giao xã Phúc Cầu cho huyện Cẩm Giàng vì
xã Phúc Cầu cùng hoàn cảnh bị địch tạm chiếm như toàn huyệnCẩm Giàng, ba mặt giáp với các xã thuộc huyện Cẩm Giàng
2 - Năm 1950, địch chiếm đường 20, để tiện chỉ đạo khángchiến, giải thể xã An Mỹ, đưa làng Bình An xã An Mỹ về xã TânViệt Làng Bá Đông, làng Mỹ Tranh xã An Mỹ về xã Bình Minh
3 - Năm 1951, địch đóng bốt Hà Chợ, thuộc làng Hoàng Sơn
xã Ngọc Hà, để tiện việc lãnh đạo kháng chiến đã giải thể xã Ngọc
Hà, đưa làng Ngọc Cục, làng Tào Khê, xã Ngọc Hà về xã ThúcKháng; làng Hoàng Sơn, làng Hà Đông, làng Hà Tiên xã Ngọc Hà
về xã Thái Dương
4 - Trong kháng chiến, địch đào hầm lấy được con dấu của ủyban xã Vạn Thắng, Ủy ban xã xin khắc dấu khác và đổi tên là xãHùng Thắng để phòng địch lợi dụng
5-Trong cải cách ruộng đất (năm 1955), hợp xã Hùng Thắngvới xã Tam Quang lấy tên là xã Hùng Thắng Cắt làng Hồ Liễn của
xã Hùng Thắng đưa về xã Vĩnh Tuy
Hợp xã Vĩnh Thị với xã Hồng My thành xã Vĩnh Hồng
6 - Năm 1958, tách phố Kẻ Sặt, làng Đồng Xá, ấp Thanh Hảicủa xã Tráng Liệt ra khỏi xã Tráng Liệt, lập thị trấn Kẻ Sặt thànhmột đơn vị hành chính ngang với một xã
Đến năm 2000, huyện Bình Giang có 17 xã và 1 thị trấn Đólà: Hưng Thịnh, Tráng Liệt, Vĩnh Tuy, Thúc Kháng, Thái Dương,Vĩnh Hồng, Hùng Thắng, Long Xuyên, Tân Việt, Hồng Khê, Cổ
Bì, Nhân Quyền, Bình Xuyên, Thái Học, Thái Hòa, Tân Hồng,Bình Minh, thị trấn Kẻ Sặt
Trang 25Xã và thị trấn, là đơn vị hành chính cấp cơ sở của Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Mỗi xã, thị trấn có Đảng ủy
xã, thị trấn, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã, thị trấn vàBan mặt trận xã, thị trấn, ủy ban mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểquần chúng: Thanh niên, Phụ Nữ, Cựu chiên binh, Chữ thập đỏ,Người cao tuổi
* Những địa danh và đặc điểm nổi bật của rừng làng, từng xã
và thị trấn thời điểm năm 2000
1 - Thị trấn Kẻ Sặt
Năm 2000: Diện tích: 93,37 ha Dân số: 4.166 người
Năm 2015: Diện tích 62,73ha, dân số 5033 khẩu
Dân số các khu năm 2000:
Từ xã Tráng Liệt tách ra năm 1958, thị trấn Kẻ Sặt có khu dân cư:Khu 1 có: 1007 người,
Khu II có: 724 người;
Khu III có: 664người;
Khu IV có: 966 người;
Khu V - làng Đồng Xá có : 648 người;
Khu VI - ấp Thanh Hải có: 157 người
Khu I, II, III, IV là 4 khu thuộc phố và chợ Kẻ Sặt, nơi buônbán sầm uất nhất huyện Nhân dân là người địa phương và ngườicác nơi khác đến buôn bán, kinh doanh Có đường bộ, đường thủy
đi Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh miền Bắc và miền Nam Có ôtôhàng chạy suốt đến Sài Gòn và ngược lại
Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, ở phố Sặt có một số cửahàng bách hóa, thuốc bắc, cân thóc gạo của Hoa Kiều, nay khôngcòn Hoa Kiều nào buôn bán ở đây
Phố kéo dài từ Cầu Vồng làng Tráng Liệt đến đầu cầu Sặt Mặtđường rải nhựa áp phan, hai bên có cống thoát nước Hai bên phố cócửa hàng, xưởng thợ, bán đủ thứ, phục vụ cho yêu cầu của cả mộtvùng Mặt hàng nổi bật là: máy và phụ tùng máy xay xát, đập tuốtlúa, máy bơm Ban đêm đường phố có sáng ánh điện cao áp
Chợ có quán xi măng và quán ngói, lối đi chạt cứng, trời mưakhông lầy lội Bánh đa đường Kẻ Sặt là đặc sản của địa phương
Trang 26Nhân dân chợ và phố Sặt có người theo đạo Gia tô, có ngườitheo đạo Phật Ở đây có nhà thờ "Ông thánh An Tông" làm năm
1920 và chùa "Kẻ Sặt tự" , trùng tu năm 1991, có nghĩa trang liệt
sĩ, nghĩa địa nhân dân bên Lương và bên Giáo, có tượng đài "Anhquân đội"
Đầu năm 1945, thanh niên tiến bộ khu phố, chợ Kẻ Sặt cùngtrong làng Tráng Liệt, sớm xây dựng cơ sở Mặt trận Việt Minh,tích cực tham gia giành chính quyền huyện và làm mọi công tácsau khi giành được chính quyền Chi bộ Đảng đầu tiên của huyệnBình Giang được thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1945, tại gácxép nhà đồng chí Vinh ở phố Kẻ Sặt
Bước vào toàn quốc kháng chiến, nhân dân khu chợ và phốthực hiện tiêu thổ kháng chiến Pháp và ngụy về đóng nhiều vị trítrong phố và chợ Sặt Biến một vài quán mái xi măng của chợ Sặtthành nơi tra tấn, giam giữ những người mà chúng bắt được trongcác trận càn Lúc nhân dân hồi cư, chợ họp khá đông, địch kiểmsoát nghiêm ngặt, mà công an, bộ đội, chính quyền vẫn có cơ sởhoạt động ở chợ, ở phố Sặt
Năm 1997, lập lại huyện Bình Giang, các cơ quan của huyệnBình Giang về xây dựng cơ sở ở thị trấn Kẻ Sặt Thị trấn Kẻ Sặttrở thành nơi trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện BìnhGiang
Khu V, là làng Đồng Xá, làng công giáo toàn tòng, trên tảngạn sông Sặt có nhà thờ thánh Phê rô Nhân dân chuyên sốngbằng nghề chài lưới trên sông, người ta còn gọi là làng Thủy Cơ.Tin tưởng vào cuộc kháng chiến do Đảng lãnh đạo, nhất định thắnglợi, nhân dân Đồng Xá không nghe luận điệu phản tuyên truyềncủa bọn phản động, một số được kết nạp vào Đảng Có nhữngngười quen sông nước đã giúp công an, bộ đội vào sát bốt đầu cầuSặt, điều tra nắm vững tình hình, đánh nhiều trận thắng lợi
Khu VI, là ấp Thanh Bình Trước ruộng ấp Thanh Bình củaPháp Kiều Huých Ken (Huckel) Huých Ken bán cho Phán Chi,Phán Chi lại bán cho Pháp Kiều Bua sa (Bou - chat) Lý Kiệmngười làng Tráng Liệt làm quản lý Sau cách mạng Tháng 8 năm
1945, chủ ấp bỏ đi đâu không rõ Chính quyền cách mạng coi là
Trang 27ruộng vắng chủ chia cho nhân dân không có ruộng trong xã TrángLiệt, phố Kẻ Sặt và các làng xung quanh cày cấy.
Thành tích chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân thị trấn
50 bằng khen; 400 người được thưởng Huân, Huy chương các loại;
2 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng: Đào Thị Hiệp, Lê Thị Nhu
2 - Xã Tráng Liệt
Năm 2000: Diện tích: 206,33 ha Dân số: 3.604 người
Năm 2015, diện tích 233,03ha, dân số 4566 người
Dân số các khu năm 2000
Chia làm 3 khu: Khu Thượng: 1320 người; Khu Trung: 1050người; Khu Hạ: 1234 người
Thời Pháp thuộc xã Tráng Liệt còn gọi là Tráng Liệt Bìnhthuộc tổng Thị Tranh, hay Tổng Tranh
Tục truyền, triều Trần (1225 - 1400) Chu Tam Xương lập ralàng Châu Khê Chu Tam Xương là Chu Liệt Trang sang ở khu đấtlàng Tráng Liệt hiện nay, nhiều người các nơi đến cùng sinh sốnglập ra Tráng Liệt thôn, sau đổi thành Tráng Liệt xã có từ đấy LàngTráng Liệt còn có tên nôm là làng Sặt
Đầu tiên làng Tráng Liệt cũng có đình chùa, khoảng cuối thế
kỷ thứ XVI, đạo Gia tô truyền đến Tráng Liệt Có người kể: cuốithế kỷ thứ XVI giáo hội phái Quản Thu, Quản Ngọc, từ xứ đạoCao Từa tỉnh Hưng Yên đến Tráng Liệt khuyên dân đi theo đạo gia
tô Rồi có cha người ngoại quốc đến truyền giáo, lập nhà thờ, dầndần cả làng theo đạo, thành nơi công giáo toàn tòng, trên nền đình
cũ nay là Hội trường xã, có 4 đền nhưng không còn di tích, nay chỉchỉ có những tên xóm Chùa, chợ Đình Cha đến truyền đạo làngười Pháp, Y pha nho (Ytalia), Bồ Đào Nha
Lịch sử còn ghi: Năm 1873, trước khi lên chiếm Hà Nội lầnthứ nhất, tướng Pháp là đại úy Phờ-năng-xi Gác-ni-ê (Francis
Trang 28Garnier) đến Cửa Cấm, cửa bể Hải Phòng ngày 23 tháng 10 năm1873; ngày 30 tháng 10 năm 1873 lên Sặt gặp giám mục Puy-gi-ni-
ê (Puiginier) hỏi tình hình, thuê hoa tiêu; ngày 02 tháng 11 năm
1873 đến Hà Nội; ngày 05 cùng tháng đánh chiếm Hà Nội Ngày
04 tháng 12 năm 1873, đánh chiếm tỉnh thành Hải Dương Giữatruyền đạo và chiếm đất có mối liên hệ mật thiết với nhau Sau nàyPháp đóng đồn ở Kẻ Sặt, đến năm 1889 mới rút, nhường cho línhkhố đỏ đến thay thế
Nhân dân theo đạo Gia tô, trước làm nhà thờ nhỏ từ năm 1673sau đó chuyển thành khu nhà chung, chủng viện rồi xây dựng nhàthờ lớn, khu nhà chung, nhà mụ, chủng viện thành trung tâm củamột xứ đạo Năm 1922 sửa 3 tháp cao nhất vùng Tháp cao nhất ởđầu nhà thờ, trên có gắn chữ la tinh Rex sun ego (Rếch san ê gô)nghĩa là Ta là vua và ghi niên hiệu năm 1922 Sau cách mạngTháng 8 năm 1945, cha ngoại quốc rút đi hết
Dưới triều vua chúa thời Lê Trung Hưng và triều Nguyễn GiaLong, để ngăn chặn mối liên hệ mật thiết giữa truyền đạo và chiếmđất, có lệnh cấm truyền đạo Gia tô, trục xuất các linh mục nướcngoài, một số người Tráng Liệt quyết tâm theo đạo bị sát hại, đượcnhà thờ tôn là Thánh tử vì đạo
Năm 1935, Pháp nắn con đường 38 đi ra ngoài phố Sặt, cắtqua Khu Thượng, đến chợ Đình thẳng ra Cống Tranh
Nhân dân Tráng Liệt cần cù lao động, sùng đạo, chuyên trồnglúa, xu hào, cải bắp, bí xanh, có thời trồng thuốc lào Thuốc lào Sặtkhông ngon bằng thuốc lào Tiên Lãng nên phải bỏ Sặt giỏi nghề thủcông như nhuộm vải chàm, chế biến thuốc lào, thợ mộc, thợ rèn, nặntượng, chế biến thực phẩm bằng thịt lợn, thịt trâu, thịt chó, làm bánh
đa đường Nhiều người sành buôn bán thóc gạo, tre gỗ, có mối quan
hệ với nhân dân nhiều làng trong huyện về mua bán nông sản
Nhân dân giàu lòng yêu nước, ngay từ đầu năm 1945, một sốnam nữ thanh niên công giáo tiến bộ làng Tráng Liệt sớm vào Mặttrận Việt Minh, tham gia giành chính quyền huyện và xã lập chínhquyền cách mạng huyện và xã Nhiều người có tinh thần giác ngộcao, được kết nạp vào Đảng như các đồng chí: Phạm Văn Bằng,Chu Văn Công, Phạm Văn Cường, Phạm Văn Lan, Phạm Văn
Trang 29người tham gia bộ đội, tham gia tuần lễ vàng, mua công phiếukháng chiến, thực hiện tiêu thổ kháng chiến.
Chi bộ Đảng xã Tráng Liệt có từ năm 1947 Lúc đầu là chi bộghép với xã Minh Tân (tức Thúc Kháng) và xã Ngọc Hà Sau mớitách ra thành chi bộ độc lập lãnh đạo phong trào trong xã
Cuối tháng 7 năm 1945, tự vệ Tráng Liệt phối hợp với độidanh dự trừ gian của Huyện bộ Việt Minh Bình Giang, tước súng
và trừng trị tên Việt gian Mai Quốc Phong ở đầu làng Tráng Liệt,trên đường ra Cống Tranh
Đầu năm 1947, quân Pháp kéo vào chiếm đóng làng TrángLiệt và phố Sặt, đóng nhiều vị trí ở trong làng ngoài phố, lập quậnhành chính, khống chế vùng tây bắc huyện Trong nhà thờ cha giaogiảng thơ luân lưu của giám mục Đô - lây (*)
Đảng viên, cán bộ xã bền gan đấu tranh chống âm mưu địch
có người đã công khai lánh ra ngoài, chỉ về hoạt động ban đêm.Người có điều kiện ở lại lập cơ sở bí mật, giúp cán bộ, bộ đội vàohoạt động bí mật, thu thập tình hình báo ra ngoài, lúc đen tối nhấtcũng còn vài chục cơ sở, có lúc phát triển lên hàng trăm cơ sở, đấy
là những gia đình tin tưởng vào cuộc kháng chiến nhất định thắnglợi, hết sức giúp đỡ cán bộ, bộ đội khi vào công tác
Tháng 02 năm 1947, Pháp tiến vào làng Tráng Liệt, đến CầuVồng gặp bộ đội và du kích Tráng Liệt Ta nổ súng diệt 2 tên línhPháp, thu 2 súng Tháng 3 năm 1947, Pháp đánh vào nhà thờ, tiểuđội quyết tử đánh địch đến cùng Đại bác địch bắn từ Bần YênNhân bắn về, làm gẫy gọng vó tháp giữa Ngày 13 tháng 12 năm
1949, có anh Lộ người làng Tráng Liệt làm nội ứng, công an quậnIII vào tước vũ khí bốt đầu cầu Sặt, không nổ tiếng súng nào Ngày
13 tháng 8 năm 1950, nhờ có nội ứng, ta vào tước vũ khí bốt cổngnhà Mụ Nhiều lần nhờ có cơ sở bí mật giúp sức, ta vào vũ trangtuyên truyền, treo cờ đỏ sao vàng, phá phòng thông tin của địch.(*) Đô-lây là một Tổng giám mục gốc Mỹ, được Va-ti-căng thỏa thuận với nhà cầm quyền Pháp cử đến Hà Nội để tiến hành các hoạt động tôn giáo, cai quản các giám mục, linh mục người Pháp, người Việt Nam, lợi dụng tôn giáo đánh phá cách mạng Việt Nam, ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản Thực chất - Đô lây là trùm CIA ở Việt Nam lúc đó Sau ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa không thừa nhận sự có mặt của Đô-lây tại Hà Nội, động viên nhân dân đấu tranh đòi Va-ti-căng rút Đô- lây khỏi Việt Nam.
Trang 30Đến thời máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc, Tiểu đội nữ dânquân của xã Tráng Liệt được trang bị 4 khẩu súng 12,7 ly, đi phụckích bắn máy bay ở nhiều nơi, 11 giờ trưa ngày 23 tháng 2 năm
1968, phục kích bảo vệ đập Bá Thủy, bắn cháy một báy bay F4H(con ma), đêm 31 tháng 3 năm 1968, phục kích bảo vệ nhà máyxay Ninh Giang, bắn cháy một máy bay A6A, trong chiến dịchĐiện Biên Phủ trên không, tháng 12 năm 1972, nhân dân TrángLiệt cùng với dân quân xã Vĩnh Tuy bắt sống 1 giặc lái máy bayB52
Cuối tháng 10 năm 1954, theo hiệp định Giơ-ne-vơ, trước khirút khỏi Tráng Liệt, địch tung tin Đức bà Ma ria đã vào Nam, bịađặt ra việc Cộng sản trả thù, cưỡng ép 5.083 giáo dân tập trung vềTráng Liệt, đưa xuống Hải Phòng, rồi vào Nam, lập một làng Sặt ở
Hồ Nai, tỉnh Biên Hòa
Theo "Hương khoa lục" của tiến sĩ Cao Xuân Dục, dưới triềuNguyễn Gia Long, làng Tráng Liệt có Dương Xuân đỗ cử nhânkhoa Nhâm Dần, niên hiệu Thiên Trị thứ 2, tức năm 1842 làm quanđến chức Huấn đạo
Thời chống Pháp, chống Mỹ Tráng Liệt có linh mục PhạmQuang Phước, kính chúa yêu nước, tích cực hoạt động trong Mặttrận Tổ quốc Việt Nam, được Nhà nước tặng Huân chương khángchiến hạng 3, được bầu vào Quốc hội
Thành tích chống Pháp, chống Mỹ của nhân dân xã Tráng Liệt 285 người tham gia bộ đội, thanh niên xung phong 204 người
tham gia dân quân du kích; 35 người tham gia trực chiến; 54 liệt sĩ;
33 thương binh; 54 là dũng sĩ diệt Mỹ; Toàn xã được thưởng 6Huân chương các loại, 81 cờ thi đua, 120 bằng khen; 270 cá nhânđược thưởng Huân chương các loại- Năm 2000 được phong tặngdanh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
3 - Xã Hưng Thịnh
Năm 2000: diện tích 196,13 ha, dân số: 2330 người
Năm 2015: diện tích 196.99 ha, dân số 2631người
Dân số các làng năm 2000:
Trang 31Gồm có: Làng Thượng Khuông: 592 người; Phố Gỏi: 544người; Làng Ngọc Mai: 548 người; Làng Phương Độ: 646 người.Thời Pháp thuộc làng Thượng Khuông và phố Gỏi là xãThượng Khuông thuộc tổng Vĩnh Lại Làng Ngọc Mai và làngPhương Độ là xã Hạ Khuông thuộc tổng Phúc Cầu.
Quốc lộ số 5, xuyên qua xã Hưng Thịnh, từ đông sang tây,một bên là làng Thượng Khuông và phố Quán Gỏi, một bên là làngNgọc Mai và Phương Độ Đường 38 và đường 20 đi chung tuyếnqua xã từ bắc xuống nam, cắt quốc lộ số 5 ở Quán Gỏi
Sau khi chiếm thị xã Hải Dương, quân Pháp đến Quán Gỏiđóng bốt ở Mã La bên cầu Dát làng Phương Độ vào chiếm cầu Sặt,phố Sặt và làng Sặt Xã Hưng Thịnh sớm bị quân Pháp kiểm soát,phải sơ tán triệt để làm vườn không nhà trống Nam nữ khỏe mạnhvẫn tranh thủ về sản xuất trong làng và cánh đồng xa quốc lộ số 5
Làng Thượng Khuông: còn gọi là làng Thượng Nhân dân
chuyên làm ruộng, làm thợ mộc, buôn bán ở phố Gỏi Đình, chùa
bị phá hoại nay đã phục hồi một phần Thần phả, sắc phong củaThành hoàng không còn Theo thư mục thần tích, thần sắc năm
1938, cũng như truyền miệng Thượng Khuông thờ 5 nhân thần:Uyên Phổ, Tôn Càn Duệ Trì, Đại Càn Hồng Hựu, Đại Càn AnhLinh Hùng Đoán, Bát Bộ Hiển Vinh Trong đình còn truyền trướcđây có bức đại tự "Ngũ nhạc giáng thần-五五五五" nghĩa là Thần 5quả núi xuống làm Thần của làng, có người nói đây là 5 vị tướngcủa vua Hùng
Đình nay liền với chùa, ngoài thờ 5 vị thần xưa còn thờ Phật,thờ Hồ Chủ tịch bằng tượng chân dung bán thân và một câu đối:
"Sinh vi lương tướng tử vi thần, công tại triều đình danh tại sử"Thời Pháp thuộc có Hoàng Thị Đào, con Hoàng Cao Khải vềtậu 43 mẫu ruộng ở đây định lập ấp
Quán Gỏi: Còn gọi là phố Gỏi kéo dài hai bên đường 5 và
đường 38, khách đi ô tô từ Hà Nội, Hải Phòng hay khách đợi xe đi
Hà Nội, Hải Phòng thường trú ở đây, khách đông cả ngày Người
ra mở cửa hàng buôn bán phần lớn là người làng Thượng Khuông,Ngọc Mai, Phương Độ và người xã Minh Đức, huyện Mỹ Hào,tỉnh Hưng Yên Người ta gọi là phố Gỏi vì trước ở đây có cửa hàng
Trang 32bán gỏi cá được khen là ngon, nay không thấy bán món ăn ấy nữa.
Do buôn bán tấp nập suốt ngày, tương lai phố Gỏi trở thành một thị
tứ của xã
Làng Ngọc Mai: nôm gọi là làng Mố, trước kia là một thôn
của xã Hạ Khuông, thuộc tổng Phúc Cầu Nhân dân chuyên làmruộng và làm thợ mộc đóng dụng cụ gia đình như: ghế, sa lông, tủ,giường
Làng đã phục hồi một đình, theo thư mục Thần tích, Thần sắcnăm 1938, đình Ngọc Mai thờ 2 nhân thần là: Khoái Trù và PhạmĐình Trọng và 3 thủy thần là Hoàng Cả, Hoàng Hai, Hoàng Ba.Nay nói là thờ Đông Hải đại vương Đoàn Thượng
Chùa còn một phần, tên là Sùng Ngọc Tự”五五五", có gian thờPhật, có gian thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo, gian thờ Bà chúaLiễu Hạnh Chùa có cây tháp cao bằng nhà 3 tầng, thân hình bátgiác rất đẹp
Theo truyền ngôn, năm 1938, sư Thông chủ trì chùa NgọcMai là nhà sư có tư tưởng tiến bộ Hội chấn hưng Phật giáo thường
về họp ở đây, có ông Lê Thanh Nghị và Hoàng Quốc Việt về dự,ngoài việc nói về Đạo Phật, Hội nghị bàn cả việc cứu tế đồng bàoBắc Ninh bị lụt và việc truyền bá chữ quốc ngữ để mở mang dântrí Nhà mà Hội Phật giáo họp nay không còn Sư Thông đi theocách mạng, nay là cán bộ nghỉ hưu ở quê nhà, thuộc huyện MỹHào
Năm 1954, trước đại thắng Điện Biên Phủ, cán bộ xã HưngThịnh làm công tác ngụy vận, vận động Tư Nhuận, người làngNgọc Mai, trong đội ngụy binh bảo vệ đường 5 về hàng Tư Nhuậnthuyết phục được tên chỉ huy trung đội, đem toàn bộ vũ khí và 1 xe
ô tô về hàng Trung đội gặp đại diện ủy ban kháng chiến xã HưngThịnh tại nhà ông Chưng làng Hồ Liễn, xã Vĩnh Tuy, để nộp súng.Còn ô tô, không có nơi thu nhận, đùn xuống sông cầu Giát, sauđịch lấy đi
Năm 1972, tỉnh xây ở cánh đồng làng Ngọc Mai một nhà máychế biến thức ăn gia súc, trang bị máy của nước Ru-ma-ni Năm
1998, tỉnh đã nhường cho người Mỹ trang bị lại và đưa vào sảnxuất
Trang 33Làng Phương Độ: nôm gọi là làng Đò, hồi Pháp thuộc là một
thôn của xã Hạ Khuông Làng chia ra 2 thôn: thôn Khánh Dư vàthôn Đò Theo thư mục thần tích, thần sắc năm 1938, đình Khánh
Dư thờ thủy thần Lê Triêu Lương Đình Đò thờ nhân thần là CaoSơn Thần phả và đình không còn, trên khu đất giáp bờ sông, cònbia ghi đình làm năm Vĩnh Thịnh thứ 13, tức năm 1718, triều vua
Lê Dụ Tôn và chúa Trịnh Cương Theo truyền thuyết Cao Sơn đạivương là tướng của vua Hùng
Chùa làng tên là Cảm Ân Tự "五五五", còn đủ tượng và các đồthờ cúng Lại còn một quả chuông đúc năm Bảo Đại thứ 13 tứcnăm 1938
Nhân dân Phương Độ chuyên làm ruộng, nghề mộc của làng
đã có từ lâu đời, trước thời Pháp thuộc Nhiều người đã đi làm ởkhắp nơi, sau đó phát triển sang thôn Ngọc Mai và ThượngKhuông
Thành tích chống Pháp, chống Mỹ của xã Hưng Thịnh: 316người tham gia bộ đội, thanh niên xung phong; 85 người tham giaquân dân du kích; 36 người trực chiến; 25 liệt sĩ; 14 thương binh;
14 dũng sĩ diệt Mỹ; 187 cá nhân được thưởng Huân, Huy chươngcác loại
4 - Xã Vĩnh Tuy
Năm 2000: diện tích: 439,85 ha Dân số: 3569 người
Năm 2015, diện tích 446,15 ha, dân số 3.912 người
Dân số các làng năm 2000:
Gồm có: làng Hồ Liễn: 859 người; làng Vĩnh Lại: 1299người;
Làng Mòi: 670 người; làng Lại: 741 người
Trước xã Vĩnh Tuy chỉ có 3 làng: Vĩnh Lại, Mòi, Lai Năm
1956 nhận thêm làng Hồ Liễn của xã Vạn Thắng chuyển sang.Thời Pháp thuộc làng Mòi, làng Lại là hai thôn của xã TuyLai Làng Vĩnh Lại, làng Mòi, làng Lại thuộc tổng Vĩnh Lại, làng
Hồ Liễn thuộc tổng Phúc Cầu
Theo Dư địa chí Hải Dương viết vào năm 1893, Văn miếutỉnh Hải Dương nằm ở đất làng Vĩnh Lại, có hai gian chính tẩm, 5
Trang 34gian bái đường Thời Quang Trung, Nguyễn Huệ (1788 - 1792)mới dời về Mao Điền huyện Cẩm Giàng Hiện ở khu đồng giữalàng Sãi và làng Lại, bên ngoài đê, còn khu đất nền Văn miếu Tạiđây có vường bạchđàn rất cao, chim chèo bẻo thượng tập trùngtừng đàn.
Từ làng Hồ Liễn ra có đò Mao, đưa khách qua sông sang làngMao Điền huyện Cẩm Giàng Chỗ bến đò Mao vào cuối thế kỷ thứXVII có cầu đá qua sông Cầu nay không còn, chỉ còn một bia đátrên bờ sông phía làng Hồ Liễn Bia đề "Vân Tân Kiều" nghĩa làcầu cho khách đi qua sông Vân Sông đò Mao lúc ấy gọi là VânDậu giang(五 五 五 ) hay sông Vân Dậu, sông Vân Bia dựng nămChính Hòa thứ 20, tức năm 1699
Tháng 7 năm 1945, Việt Minh vào tước súng của chánh đạongười làng Vĩnh Lại Cùng thời gian ấy đội danh dự trừ gian củahuyện bộ Việt Minh, trên quãng đê từ làng Vĩnh Lại sang làng Lai
đã trừng trị hai tên Việt gian thân Nhật là Cả Ấp và Ba Túc
Trong kháng chiến chống Mỹ, quân dân xã Vĩnh Tuy đã bắtsống một giặc lái Mỹ từ trên chiếc máy bay bị súng phòng khôngcủa ta bắn hạ
Năm 1998, xã Vĩnh Tuy đã xây dựng trạm lọc nước, lấy nướcsông Sặt lên lắng lọc, cung cấp nước sạch cho nhân dân Mới cóống dẫn đưa nước đến làng Lại và làng Mòi Đây là xã có trạm lọcnước đầu tiên của huyện
Làng Vĩnh Lại: Còn có tên là làng Sãi, thời đầu triều Nguyễn
Gia Long có tên là Hoa Lại Nhân dân chuyên làm ruộng, cấy lúa,trồng bí xanh, cà chua, khoai sọ, đánh cá sông, có nghề phụ thợmộc, thợ xây
Đình chùa, văn chỉ, bước vào kháng chiến chống Pháp bị địchđốt phá, nay còn nhiều bia trên nền cũ Một phần đình chùa đượcxây dựng lại để nhân dân lễ bái
Đình theo thư mục thần tích, thần sắc năm 1938, thờ một thiênthần là Chấn Quốc, nhưng nay trước bàn thờ lại có đôi câu đối:
"Nộ Trần dục đảo tam giang thủy Phù Lý, không dư bách chiến niên"
Trang 35nNghĩa là: Ghét nhà Trần muốn làm đảo lộn nước ba sông,
Phù nhà Lý hàng trăm năm chiến trận, ghét nhà Trần muốn làm đảo lộn nước ba sông, giống như câu đối của đền thờ Đông Hải đạivương Đoàn Thượng, Thành hoàng làng Hoạch Trạch Có thể đìnhthờ cả Trấn Quốc và Đông Hải đại vương
Trên nền đình cũ liền với đình mới dựng là chùa làng tên làSùng Phúc tự "五五五" Bia chùa Sùng Phúc vẫn còn, ghi dựng nămDương Hòa thứ 7, tức năm 1639 Bia ghi công Tăng Thị NgọcNguyệt vợ chúa Trịnh Tráng xuất tiền xây chùa làm phúc Bia đãdịch ra chữ quốc ngữ
Đầu tháng 7 năm 1954, Đại đội 75 cùng một trung đội của đạiđội Lê Lợi huyện, phối hợp với dân quân du kích xã Vĩnh Tuy độtkích một đại đội ngụy vừa rút từ Bùi Chu về đóng trong làng Sãi
Ta tiêu diệt gần hết, tịch thu toàn bộ vũ khí
Dưới triều Nguyễn, theo "Hương khoa lục" của Cao XuânDục làng Sãi có Vũ Huy Tấn đỗ Cử nhân khoa Bính Tuất tức năm
1883 làm quan chức giáo thụ
Còn truyền lại câu chuyện rằng Tán Khoát, một tướng củanghĩa quân Bãi Sậy, năm 1883, đem súng về hàng Pháp Pháp cholàm tri huyện Vĩnh Bảo, rồi thăng tri phủ Bình Giang Đến BìnhGiang ít lâu Tán Khoát hẹn đến thăm nhà cụ Vũ Huy Tấn Khi TánKhoát đến, cụ Tấn ra tận cổng đón vào nhà Vào nhà, giường, phảnđều không có chiếu Cụ Tấn nói với Tán Khoát: "Thưa quan phủ,đêm qua mưa, nhà dột, chiếu ướt hết, phải đem giặt phơi đầy sânkia, mời quan phủ ngồi uống nước trên phản vậy, quan thứ lỗicho" Sau tuần nước và vài câu thăm hỏi, phủ Khoát xin cáo lui.Khoát biết cụ Tấn phê phán mình là người ít học, lại nộp súng,hàng giặc để cầu danh, trong lòng lấy làm hổ thẹn
Làng Sãi: Có một gia đình được Nhà nước cấp bằng "Gia
đình có công với nước" đó là gia đình ông Vũ Duy Trinh tức Phác
và bà Phạm Thị Liên sinh 6 trai, 1 gái
Con cả là Vũ Duy Cương giáo học, mất trước cách mạngTháng 8 năm 1945,
Thứ hai là Vũ Duy Hiệu tham gia cách mạng từ năm 1930,làm Chủ tịch ủy ban cách mạng lâm thời tỉnh Hải Dương, đại biểu
Trang 36Quốc hội khóa đầu tiên, trước khi nghỉ hưu là Ủy viên Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam, phó Tổng giám đốc Ngân hàng ViệtNam
Thứ ba là Vũ Duy Kiểm tức Hiền, làm phó chủ tịch UBNDtỉnh Bắc Thái
Thứ tư là Vũ Duy Lựu tức Giang, đại tá quân đội, Cục trưởngCục thanh tra Bộ Quốc phòng
Thứ năm là Vũ Thị Diệu, là cán bộ phụ nữ, trước khi nghỉ hưu
là quyền Tổng Giám đốc Công ty vải sợi
Thứ sáu là Vũ Duy Chương tức Vũ Oanh tham gia ủy viênTrung ương Đảng nhiều khóa, trước khi nghỉ hưu là ủy viên BộChính trị, Trưởng Ban Dân vận Trung ương
Thứ bảy Vũ Duy Quát, tức Thu, Bí thư Huyện ủy Bình Giangđầu tiên trước khi nghỉ hưu giữ chức Vụ trưởng Vụ Tổ chức Tòa
án nhân dân tối cao
Cả huyện ai cũng khen đức độ và tinh thần cách mạng của giađình cụ Vũ Duy Trinh và Phạm Thị Liên Cụ Vũ Trinh mất trướccách mạng Tháng 8 năm 1945
Làng Lại tức thôn Đoài của xã Tuy Lai cũ, nhân dân chuyên
làm nông nghiệp
Đình, miếu bị phá hoại đã phục hồi một phần Theo thư mụcthần tích, thần sắc năm 1938, thì hai làng Lại và Mòi xã Tuy Laiđều thờ hai nhân thần Vũ Loan và Vũ Mật và hai thiên thần MinhHựu và Hoàng Hựu Vũ Loan và Vũ Mật là hai anh em ruột người
xã Tuy Lai (không ghi thôn nào) cùng trúng Tiến sĩ khoa Đinh Mùitức năm 1487, triều vua Lê Thánh Tôn, Vũ Loan làm tới chứcĐông các đại học sĩ, Vũ Mật làm đến Tả thị lang
Chùa tên là: Sùng Khánh Tự "五五五"
Sau khi chiếm đóng Tráng Liệt địch thành lập quân hànhchính, đầu năm 1947 quân địch ập đến làng Lạ,i tập trung dân éplập tề, sát hại một trận hơn hai chục người, phần lớn là cụ già vàphụ nữ
Làng Mòi tức thôn Đông của xã Tuy Lai cũ, nhân dân làm
ruộng và có nghề phụ làm bánh cuốn bằng bột gạo
Trang 37Đình, chùa bị phá trong kháng chiến nay đã phục hồi mộtphần, thờ Vũ Loan và Vũ Mật và hai thiên thần là Minh Hựu,Hoàng Hựu như làng Lại Không còn thần phả chỉ còn một số sắcphong.
Chùa làng Mòi tên là Đông Thôn Tự "五五五", chùa thôn Đông Hương khoa lục của Cao Xuân Dục, viết dưới triều Nguyễn,
xã Tuy Lai không nói rõ thôn nào có 3 người đỗ cử nhân:
1- Vũ Duy Đản - Cử nhân khoa Bính Tý niên hiệu Tự Đức thứ
9 năm 1953 đại đội Bảo Lộc cùng đại đội Lê Lợi của huyện, dukích xã Hùng Thắng, tiêu diệt hoàn toàn bốt, thu nhiều vũ khí, hômsau địch cho máy bay oanh tạc làng và các làng xung quanh như:
Lý Đỏ, Nhân Kiệt
Khi địch đến đóng bốt, làng có Vệ Hoàn trước đi lính choPháp, tích cực làm tay sai cho Pháp, ức hiếp nhân dân Hoàn bị độitrừ gian trừng trị đích đáng đêm ngày 01 tháng 2 năm 1952
Đình, chùa làng Hồ bị địch phá khi đến đóng bốt nay đã phụchồi chùa ở bến đò Mao, đình chỉ còn phần hậu cung thờ hai vịThành hoàng Còn giữ được thần phả đã dịch ra chữ quốc ngữ, tómtắt như sau: Vị Thành hoàng thứ nhất là người làng, con ông PhạmHoàng và bà Trương Thị Bạch tên hiệu là Huyền Thông Thái Úy.Phạm Nhật Công là tướng của Đinh Bộ Lĩnh có công dẹp 12 sứquân thống nhất đất nước
Vị thần thứ hai là công chúa con vua Lý Cao Tôn, về chùa Hồcắt tóc đi tu, sau tịch ở chùa Đức Minh huyện Gia Lộc
Theo Đăng khoa lục và bia văn chỉ huyện Đường An, ngoài
Vũ Loan, Vũ Mật nói trên còn Bùi Hoàn Khánh đỗ Tiến sĩ khoa
Trang 38Canh Tuất, tức năm 1490 chỉ ghi quê quán xã Tuy Lai mà khôngnói thôn nào.
Thành tích chống Pháp, chống Mỹ của xã Vĩnh Tuy: 371người tham gia bộ đội và thanh niên xung phong; 242 tham gia dânquân du kích; 37 người tham gia trực chiến; 82 liệt sĩ; 35 thươngbinh; 19 dũng sĩ diệt Mỹ; cả xã được thưởng 10 Huân chương, 16
cờ thi đua, 30 bằng khen; 240 cá nhân được thưởng Huân, Huychương các loại Một gia đình được tặng bằng có công với nước
5- Xã Hùng Thắng
Năm 2000: diện tích 707,60 ha Dân số 4910 người
Năm 2015, diện tích 679,16 ha, dân số 5150 khẩu
Dân số các làng năm 2000:
Làng Nhân Kiệt: 1863 người; làng Tuấn Kiệt: 937 người; làngHòa Chế: 1247 người; làng Phúc Lão: 424 người; làng ThuầnLương: 439 người
Xã Hùng Thắng là xã Vạn Th'ắng trước kia rồi đồi thànhHùng Thắng hợp với xã Tam Quang trong cải cách ruộng đất vàlấy tên là Hùng Thắng Trong một trận càn thời chống Pháp, địchđào hầm lấy được con dấu khắc tên xã Vạn Thắng nên xã khắc dấukhác đổi tên là xã Hùng Thắng đề phòng địch dùng con dấu để lừadối Xã Vạn Thắng có các làng: Tuấn Kiệt, Nhân Kiệt và Hồ Liễn
Xã Tam Quang có các làng: Quang Lễ, Pháp Chế, Phúc Lão,Thuần Lương Làng Quang Lễ, Pháp Chế ở liền nhau gọi tênchung là làng Hòa Ché Thời Pháp thuộc làng Tuấn Kiệt thuộc tổngPhúc Cầu, làng Nhân Kiệt, Quang Lễ, Pháp Chế, Thuần Lương,Phúc Lão thuộc tổng Bằng Giã
Nhân dân chuyên làm nông nghiệp Làng Nhân Kiệt trước cónhiều người biết nghề sơn đồ gỗ, nay không còn ai làm LàngThuần Lương có di tích của lò nung sành sứ Làng Phúc Lão cóvườn ổi ngon Trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế, các làng có ruộngtriều ven sông cấy lúa bấp bênh, chuyển sang đào ao nuôi cá, vượtthành vườn trồng cây ăn quả Làng Tuấn Kiệt có bến đò ngangsang làng Phúc Cầu
Trang 39Trong kháng chiến chống Pháp, các làng Nhân Kiệt, Quang
Lễ, Pháp Chế kiến thiết thành làng kháng chiến liên hoàn đọ vớiđịch hai trận lớn ngày 17 tháng 3 năm 1949 và ngày 18 tháng 3năm 1954, được khu và tỉnh biểu dương, khen thưởng
Ven sông Sặt, làng Tuấn Kiệt có lão du kích Đỗ Như Thìnhoạt động gan dạ được Hồ Chủ tịch gửi thư khen
Làng Nhân Kiệt còn gọi là làng Kiệt, xa xưa làng Nhân Kiệt
và làng Tuấn Kiệt là một xã gọi là làng xã Thanh Trung LàngNhân Kiệt có xóm trong đê và xóm ngoài đê, cách làng Pháp Chế,Quang Lễ một con ngòi Nhân dân chuyên làm ruộng, trước đây cómột số người làm nghề sơn gỗ, nay không còn Nhiều người làngNhân Kiệt lên làm ăn sinh sống ở Na Sầm, tỉnh Lạng Sơn
Đình, chùa bị phá hoàn toàn trong kháng chiến, nay đã phụchồi một phần Đình thờ Đinh Điền, tướng của Đinh Bộ Lĩnh cócông dẹp 12 sứ quân, từ năm 966 đến năm 968 thống nhất đấtnước Là một công thần nhà Đinh, sau vì chống lại việc đưa LêHoàn lên làm vua, người cầm quân chống quân Tống xâm lược mà
bị Lê Hoàn đánh đuổi Đình đã được nhà nước cấp bằng công nhận
là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia Giữa làng có một chợ nhỏgọi là chợ Kiệt
Làng Kiệt là quê của các đồng chí: Nguyễn Ngọc Sơn hoạt
động từ xã, huyện, tỉnh, trước khi mất là Đại sứ đặc mệnh toànquyền của nước Việt Nam tại Cuba; đồng chí Lê Bình cũng hoạtđộng từ xã, một thời gian chịu trách nhiệm chung của phong tràotoàn huyện, sau là Tỉnh ủy viên Đảng bộ tỉnh Hải Dương, Trưởng
ty thông tin tuyên truyền
Làng Tuấn Kiệt: Còn gọi là làng Tuấn, có hai xóm cách biệt
bởi con đê, gọi là xóm trong đê và xóm ngoài đê, hay gọi là TuấnNam, Tuấn Bắc Lưu truyền xa xưa, khoảng thế kỷ thứ X, làngTuấn và làng Kiệt là một làng gọi là làng Thanh Trung
Trong kháng chiến chống Pháp làng có lão du kích Đỗ NhưThìn giỏi bơi lặn, tài đánh cá sông, biết thuật bắt rắn và chữa người
bị rắn độc cắn, kiên quyết bám đất, bám dân, có mưu lừa giặc giúpcán bộ, bộ đội qua sông đánh giặc, bị giặc bắt Vì già ốm mà giặctha, gia đình lo thuốc men, sức khỏe hồi phục lại tự nguyện lặn
Trang 40xuống sông Ghẽ mò đạn cho bộ đội Thật xứng đáng với thư khen
và phần thưởng của Hồ Chủ tịch gửi tặng Lão đương ích tráng ().Ông Thìn mất ngày 20 tháng 8 năm 1958
Trong kháng chiến, đình chùa làng Tuấn đều bị tiêu hủy Đìnhthờ tướng Đinh Điền như ở làng Kiệt Xem thư mục thần tích, thầnsắc năm 1938 thì làng Tuấn thờ 2 nhân thần là Đinh Điền và ĐặngThị Chân, làng Nhân Kiệt thờ Đinh Điền và Trần Lương Vũ trungtùy bút của Phạm Đình Hổ nói đình làng Tuấn thờ phò mã và côngchúa nhà Lý, sự kiện này cần nghiên cứu lại
Làng Hòa Ché: Là hai làng Quang Lễ và Pháp Chế ở liền
nhau, trong kháng chiến chống Pháp 2 làng này đã cùng làng NhânKiệt kiến thiết thành làng kháng chiến liên hoàn Làng Quang Lễhay nôm gọi là làng Ché, làng Pháp Chế còn gọi là làng Hòa
Làng Phúc Lão: Còn gọi là làng Láo, có vườn trồng toàn ổi
trên bờ sông
Ba làng Quang Lễ, Pháp Chế và Phúc Lão có đình, chùariêng, ba đình thờ chung một Thành hoàng Thần phả còn và đãdịch ra chữ quốc ngữ, tóm tắt như sau: Thời Hùng Vương thứ 18
ở Châu Bố Chính có Nghiêm Trung Công và Đinh Thị Hoan sinh
ra Nghiêm Lang Công, Nghiêm Lang Công đến học ở TrangPháp Chế, đẹp duyên cùng Vũ Tần Nương, con thầy học của mình
là Vũ Thành Công và Nguyễn Thị Yến, người làng Pháp Chế.Nước Văn Lang của vua Hùng bị vua Thục xâm lược, NghiêmLang Công cùng vợ là Vũ Tần Nương, tài đức hơn người, tìnhnguyện đi giúp vua Hùng chống quân Thục, trận đầu đại thắng,hai người trở về và hóa ở làng Pháp Chế Nhà vua phong NghiêmLang Công và Vũ Tần Nương làm Thành hoàng 3 làng: Quang
Lễ, Pháp Chế và Phúc Lão
Làng Thuần Lương: Còn gọi là làng Ngói, xa xưa do 3 xóm
Cao Lương, Sơn Lương, Bá Lương hợp lại, nay lại mở thêm xómtrại Đình, chùa làng bị phá trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp,nay đã khôi phục lại Đình làng theo thư mục thần tích, thần sắcnăm 1938, thờ Thành hoàng tên là: Quảng Lợi đại vương Bạch Mã,chùa tên là: Lương Phúc Tự(五五五)