1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do ở Việt Nam : Luận văn ThS. Pháp luật về quyền con người (Chuyên ngành đào tạo thí điểm)

94 25 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 833,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những quy định cơ bản của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do .... Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó trong áp dụng các quy định

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN PHƯƠNG LINH

HOµN THIÖN PH¸P LUËT

VÒ B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI CñA NG¦êI CH¦A THµNH NI£N

BÞ T¦íC Tù DO ë VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN PHƯƠNG LINH

HOµN THIÖN PH¸P LUËT

VÒ B¶O VÖ QUYÒN CON NG¦êI CñA NG¦êI CH¦A THµNH NI£N

BÞ T¦íC Tù DO ë VIÖT NAM

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người

Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH QUỐC TOẢN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Phương Linh

Trang 4

NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BI TƯỚC TỰ

DO BẰNG PHÁP LUẬT 71.1 Khái niệm, đặc điểm người chưa thành niên và người chưa

thành niên bị tước tự do 71.1.1 Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên 71.1.2 Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên bị tước tự do 131.2 Quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do và

sự cần thiết bảo vệ nó 151.3 Những quy định cơ bản của pháp luật quốc tế về bảo vệ

quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do 22Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN

BỊ TƯỚC TỰ DO VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 282.1 Các quy định của Pháp luật Việt Nam về quyền con người

của người chưa thành niên bị tước tự do 282.1.1 Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố 282.1.2 Trong giai đoạn xét xử 36

Trang 5

2.1.3 Chế độ của người chưa thành niên bị áp dụng các biện pháp

ngăn chặn tạm giữ, tạm giam; trong giai đoạn thi hành hình phạt

tù có thời hạn, biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng 422.1.4 Quyền khiếu nại, tố cáo của người chưa thành niên bị tước tự do 512.2 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo

vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do 522.2.1 Tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện 522.2.2 Thực trạng áp dụng hình phạt tù và biện pháp đưa vào trường

giáo dưỡng với người chưa thành niên 552.2.3 Thực trạng áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam 572.2.4 Thực trạng việc đảm bảo quyền bào chữa 582.3 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó trong áp

dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên bị tước tự do 602.3.1 Những tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy định của pháp luật

Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên bị tước tự do 602.3.2 Những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong áp dụng các quy

định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành niên bị tước tự do 64Chương 3: NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY

ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN BỊ TƯỚC TỰ DO VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 673.1 Nhu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về

quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do 673.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật

Việt Nam về quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do 70

Trang 6

3.3 Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng các quy

định pháp luật Việt Nam về quyền con người của người chưa

thành niên bị tước tự do 73

3.3.1 Vấn đề xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật 73

3.3.2 Thành lập Tòa án người chưa thành niên 76

3.3.3 Nâng cao năng lực của những người tiến hành tố tụng 78

KẾT LUẬN 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự

BLHS: Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung

năm 2009

Các quy tắc Bắc Kinh: Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp

Quốc về hoạt động tư pháp đối với người vị thành niên

ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị ICESCR: Công ước về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

UDHR: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Một số quyền con người cơ bản của người bị tước tự do 23 Bảng 2.1: Mức phạt tù có thời hạn áp dụng với người chưa thành

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Theo quy định của Luật nhân quyền quốc tế, người bị tước tự do là khái niệm thường được dùng để chỉ những người do bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc chế tài hành chính hoặc hình sự dưới các hình thức như bị bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù, tập trung cải tạo, tập trung cai nghiện …

mà bị hạn chế quyền tự do đi lại, cư trú và một số quyền tự do khác Do vị trí yếu thế, bất lợi của nhóm này mà luật nhân quyền quốc tế coi đây là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương Đặc biệt là nhóm đối tượng bị tước tự do theo tố tụng hình sự, họ có thể bị tước một số quyền công dân để phục vụ cho một số hoạt động khác nhau của cơ quan có thẩm quyền như các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Họ tham gia quá trình tố tụng với những tư cách pháp lý khác nhau và với tư cách nào họ cũng đều là những đối tượng này bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước Luôn tồn tại sự bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa họ với các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Bởi lẽ, một bên

họ là những đối tượng đang bị tình nghi, bị buộc tội bị kết án còn một bên là các cơ quan tiến hành tố tụng đại diện nhà nước, nhân danh nhà nước với sức mạnh cưỡng chế, quyền uy Tuy nhiên, ngoài việc quy định nghĩa vụ của các đối tượng này, pháp luật cũng có những quy định cụ thể nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình tố tụng đồng thời yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tôn trọng các quyền này

Nhưng trên thực tế, trong nhiều trường hợp các đối tượng này khó có khả năng và điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích của mình đồng thời những quyền và lợi ích hợp pháp này cũng dễ bị những người tiến hành tố tụng vô

Trang 10

tình hoặc cố ý xâm phạm Những xâm phạm này gây ra những hậu quả khó có thể khắc phục bởi nó liên quan trực tiếp đến những quyền cơ bản của cá nhân như quyền sống, quyền tự do… của họ

Nhằm hạn chế một cách tối đa những hành vi xâm phạm nói trên và hậu quả của nó, trong phạm vi quốc tế và mỗi quốc gia, có nhiều quy định chặt chẽ về các thủ tục tố tụng, đặc biệt là đối với những người bị tước tự do Tuy nhiên, trên thực tế, những quy định trên cũng bộc lộ nhiều điểm bất hợp

lý, thiếu hiệu quả chính vì lẽ đó đã ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các

vụ án, dẫn đến tình trạng oan sai, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng

Đặc biệt, đối với các đối tượng bị tước tự do là người chưa thành niên (NCTN) thì vấn đề trên càng cần phải quan tâm nghiên cứu bởi lẽ, NCTN là những người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh thần và nhận thức Trong quá trình tố tụng, tự bản thân họ không đủ khả năng và hiểu biết để tự tham gia và bảo vệ mình trong các giai đoạn của quá trình tố tụng Mặt khác, thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, quyết định đến sự phát triển hay tồn vong của một quốc gia việc bảo vệ quyền của NCTN, bảo đảm cho họ phát triển toàn diện, hài hòa cả về thể chất và tinh thần là mối quan tâm chung của toàn

xã hội Vì vậy, pháp luật đã ban hành các chế định nhằm cung cấp cho họ các công cụ pháp lý để bảo vệ và thực hiện các quyền của mình trong tố tụng Do

đó, việc nghiên cứu nội dung các chế định trên đồng thời đánh giá hiệu quả của nó trên thực tế là một điều hết sức cần thiết nhằm bảo vệ quyền của NCTN bị tước tự do

Vì những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về bảo

vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do ở Việt Nam”

làm đề tài luận văn thạc sĩ

Trang 11

Đề tài nghiên cứu khoa học:

+) Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người, Đề

tài nghiên cứu khoa học, Chủ trì Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chí – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

+) Thực trạng và giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm do NCTN thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội, Chủ trì TS Trịnh Quốc Toản, 2005

Sách chuyên khảo:

+) Quyền con người trong quản lý tư pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2000

+) Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự, Trung tâm

nghiên cứu quyền con người – quyền công dân và Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và tư pháp hình sự trực thuộc khoa Luật – Đại học quốc gia hà Nội

+) Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Trung

tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân trực thuộc khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội

Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ:

+) Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong

tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, Lại Văn Trình, 2011

+) Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là NCTN trong tố tụng hình sự,

Luận án tiến sĩ luật học, Nguyễn Hữu Thế Trạch, 2014

Trang 12

+) Bảo vệ quyền của NCTN trong tư pháp hình sự Việt Nam, Luận văn

thạc sỹ luật học, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Nguyễn Thị Thanh, 2008

+) Hình phạt tù có thời hạn, áp dụng đối với NCTN phạm tội theo Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa luật Đại học quốc gia Hà

Nội, Nguyễn Thị Thu Huyền, 2012

+) Quyền của những người bị tước tự do – Lý luận và thực tiễn, Luận

văn thạc sỹ luật học, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Tạ Thị Nhàn, 2013

Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả:

+) Nguyễn Sơn Hà (2013), “Tìm hiểu quy định của pháp luật quốc tế

về quyền của người bị bắt, tạm giam và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật

tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí kiểm sát, số 19 (tháng 10/2013, tr.52- 59)

+) Nguyễn Tiến Đạt (2006), “Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam”, Tạp chí khoa học pháp luật số 3(34)/2006

Ngoài ra, còn một số bài viết khác của các học giả có đề cập đến vấn đề này Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, việc nghiên cứu về quyền của người bị tước tự do ở Việt Nam trong những năm qua đã được quan tâm và đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về quyền con người của NCTN bị tước tự do ở Việt Nam Luận văn này có thể bổ sung cái nhìn tổng quát về NCTN bị tước tự do, đặc biệt dưới góc độ luật nhân quyền quốc tế từ đó nâng cao nhận thức về các vấn đề liên quan đến NCTN bị tước tự do đồng thời có những sự điều chỉnh hợp lý nhằm tăng cường bảo đảm các quyền của NCTN bị tước tự do trên thực tế

3 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục tiêu

Đề tài luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về hệ thống các văn pháp luật Việt Nam có liên quan đến NCTN bị tước tự do và các văn kiện luật nhân quyền quốc tế về lĩnh vực này Đồng thời xem xét thực tiễn áp dụng những quy định nêu trên tại Việt Nam Trên cơ sở đó, đưa ra những nhận xét, đánh

Trang 13

giá và những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về bảo vệ quyền của NCTN bị tước tự do ở Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, luận văn đi sâu giải quyết các vấn đề cụ thể sau:

+ Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm về NCTN, NCTN bị tước tự do + Phân tích các quy định đối với NCTN bị tước tự do theo quy định của luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam

+ So sánh, nhận xét, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật nhân quyền quốc tế về tính hợp lý, tính phù hợp và tính tương thích

+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với việc bảo vệ quyền con người của NCTN bị tước tự do

+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người của NCTN bị tước tự do

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa Nhất là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 08-NQ/TW

ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, quan điểm

của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thanh thiếu niên và đấu tranh phòng chống tội phạm do NCTN thực hiện

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của Triết học Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp

Trang 14

phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp đối chiếu, phương pháp so sánh, phương pháp logic, phương pháp chứng minh để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu

5 Những điểm mới của Luận văn

- Thứ nhất: Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của luật

nhân quyền quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam Luận văn đưa ra các kết quả để nhận xét tính tương thích, tính hợp lý trong các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật nhân quyền quốc tế về NCTN bị tước tự do

- Thứ hai: Nhận xét thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối

với việc bảo vệ quyền của NCTN bị tước tự do tại Việt Nam

- Thứ ba: Thông qua việc đánh giá thực trạng việc bảo đảm các quyền

con người của NCTN ở Việt Nam Luận văn đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền con người của NCTN bị tước tự do

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan tiến hành

tố tụng trong các vụ việc có liên quan đến NCTN đặc biệt là NCTN bị tước tự

do Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu tại Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác ở Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo vệ quyền con người của người

chưa thành niên bị tước tự do bằng pháp luật

Chương 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền con người

của người chưa thành niên bị tước tự do và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Nhu cầu và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật

Việt Nam về quyền con người của người chưa thành niên

bị tước tự do và nâng cao hiệu quả áp dụng

Trang 15

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên

Quá trình phát triển của con người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau trong đó có một quá trình đặc biệt

mà con người có những bước phát triển nhảy vọt cả về thể chất và tâm hồn, thời kỳ đó được gọi là thời kỳ chưa thành niên Chưa thành niên là thời kỳ quá độ từ trẻ em sang người lớn, luôn gắn liền với những biến đổi tâm sinh lý

mà bất kỳ người nào cũng phải trải qua Lúc này, NCTN không hẳn là trẻ em, cũng chưa hẳn là người trưởng thành, đây là thời kỳ chuyển tiếp, các em không còn thụ động với vai trò của người được dạy dỗ nhưng lại chưa hẳn là người lớn, chưa có đủ khả năng phán đoán và giải quyết các tình huống

Hiện nay có rất nhiều quan điểm, định nghĩa về NCTN, trước hết trên phương diện pháp luật quốc tế, khái niệm NCTN được đề cập tới trong nhiều văn kiện pháp lý quan trọng cụ thể như sau:

Tại Điều 1, Phần 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 20/11/1989, có hiệu lực từ ngày

02/9/1990 quy định “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [28] Như vậy, theo CRC trẻ em bao gồm tất

cả những ai dưới 18 tuổi

Tại Các Quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990, trong phần

Trang 16

phạm vi áp dụng quy tắc, có quy định “Người chưa thành niên là người dưới

18 tuổi Giới hạn độ tuổi thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự

do của trẻ em cần được pháp luật quy định” [30]

Các hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (các hướng dẫn Ri – Át), được thông qua và tuyên bố ngày 14/12/1990, mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể về NCTN nhưng thông qua các quy định như:

Hướng dẫn này phải được giải thích và được thực hiện trong phạm vi khuôn khổ của tuyên bố thế giới về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội, Công ước về quyền trẻ em là phạm vi các quy tắc phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN, cũng như các văn kiện và tiêu chuẩn khác có liên quan đến các quyền và lợi ích, phúc lợi của các thành niên… [29]

Như vậy, tinh thần của hướng dẫn cũng cho thấy NCTN là người dưới 18 tuổi

Theo Các quy tắc Bắc Kinh được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông

qua ngày 29/11/1985, “Người chưa thành niên là trẻ em hay thanh thiếu niên

mà tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội theo một phương thức khác người lớn” [26] Các quy tắc Bắc Kinh cũng nhấn mạnh

rằng giới hạn độ tuổi được coi là chưa thành niên phụ thuộc vào quy định của từng hệ thống pháp luật nghĩa là các quy tắc Bắc Kinh chỉ quy định các tiêu

chuẩn tối thiểu và nó hoàn toàn tôn trọng tính “riêng” của mỗi quốc gia Điều

này mở ra cho mỗi quốc gia được quy định giới hạn tuổi khác nhau đối với NCTN để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của quốc gia mình

Tóm lại, tuy các Văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người nói trên

có phạm vi điều chỉnh khác nhau xong đều thống nhất ở quan điểm NCTN là người dưới 18 tuổi

Trang 17

Ở Việt Nam, có nhiều quan điểm về NCTN, cụ thể:

Theo Từ điển Tiếng việt – Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam

thì:“NCTN là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [55]

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tùy từng đối tượng và phạm vi điều chỉnh của mỗi ngành luật mà mỗi ngành luật lại có quy định khác nhau về NCTN

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “ Người chưa đủ 18 tuổi là NCTN” Như vậy, NCTN là người dưới 18 tuổi [38, Điều 18]

Luật lao động năm 2012 quy định: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [41, Điều 161]

Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em khẳng định: “Trẻ em quy định trong luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [37, Điều 1]

BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [40, Điều 12]

BLHS quy định: “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS ” [40, Điều 68]

LHS (LHS) Việt Nam quy định NCTN phải chịu trách nhiệm hình sự

là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi, thực hiện hành vi phạm tội và

có năng lực TNHS Nói cách khác, NCTN phạm tội là những người từ đủ 14 tuổi trở lên đến chưa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và những người từ đủ 16 tuổi trở lên những người chưa đủ 18 tuổi phạm các tội phạm khác Một NCTN chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cho dù hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội

Trang 18

nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý đều không phải chịu trách nhiệm hình sự Ngoài ra, quy định vấn đề NCTN phạm tội trong LHS còn có

ý nghĩa thể hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự, nguyên tắc bình đẳng trong LHS làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt, đảm bảo mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội

Như vậy pháp luật Việt Nam nói chung có khá nhiều quy định khác nhau về NCTN nhưng đều thống nhất khái niệm NCTN là những người dưới

18 tuổi hay là người chưa đủ 18 tuổi Đến một độ tuổi nhất định, con người mới có sự phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý và trở thành người trưởng thành Độ tuổi nhất định ở đây là đủ 18 tuổi Khi đó, một người có đủ năng lực pháp luật, đủ năng lực hành vi và có thể tự chịu trách nhiệm khi tham gia vào các mối quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật nói riêng Ở Việt Nam, khái niệm trẻ em và NCTN là không đồng nhất bởi lẽ theo các phân tích ở trên, NCTN là những người dưới 18 tuổi nhưng trẻ em lại chỉ là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi mà thôi Như vậy, trẻ em là NCTN nhưng NCTN không phải trong trường hợp nào cũng là trẻ em

Nhìn từ khía cạnh luật pháp nhận thấy căn cứ để xác định một người có phải là NCTN hay không chính là các giới hạn về độ tuổi mà nhà làm luật đã quy định Có nhiều ý kiến cho rằng khái niệm NCTN trên phương diện pháp

lý chưa được đầy đủ vì mới chỉ ra giới hạn về độ tuổi mà chưa chỉ ra các đặc điểm về thể chất và trí tuệ Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm nhà làm luật đưa

ra là phù hợp bởi lẽ chính giới hạn về độ tuổi đã tính đến sự hợp lý giữa đặc điểm thể chất, tinh thần của các em đặc biệt đã tính đến khả năng của các em khi đặt các em trong mối tương quan với các quan hệ pháp luật khác nhau đó

Từ các phân tích trên, có thể rút ra những đặc điểm của NCTN như sau:

Thứ nhất: Có nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định cụ thể thời điểm

bắt đầu, kết thúc của thời kỳ này, với mỗi góc độ tiếp cận khác nhau thì quan

Trang 19

niệm về NCTN cũng theo đó mà không giống nhau Nhưng tựu chung các quan niệm này đều đồng ý, NCTN là người chưa trưởng thành về thể chất và trí tuệ Bởi các em đang ở trong quá trình hình thành, phát triển tâm sinh lý và hoàn thiện nhân cách Về cơ bản NCTN cũng có những trạng thái tâm lý khác như những người bình thường Tuy nhiên, do đặc trưng về lứa tuổi và sự phát triển chưa đầy đủ về thể chất, tinh thần, kinh nghiệm sống ít ỏi, trình độ nhận thức còn hạn chế mà ở họ tồn tại những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt Ở lứa tuổi này, các em đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể lực và tâm sinh lý, do vậy các em dễ xúc động, khi thì trầm tư, lúc thì sôi nổi, dễ bị kích động, lòng kiên trì và năng lực tự kiềm chế thấp Các em mong muốn được người lớn tôn trọng, luôn muốn khẳng định mình đã trưởng thành và không chấp nhận sự can thiệp quá sâu của người lớn vào đời sống cá nhân Tuy nhiên, các em lại có xu hướng cường điệu trong đánh giá bản thân và các sự việc xung quanh, tự cường điệu, đánh giá quá cao bản thân hoặc quá tiêu cực,

tự ti; luôn nhạy bén với mọi biến động của xã hội Dám nói lên ý kiến và nhận định của bản thân, muốn tự hành động, tự đưa ra quyết định theo ý kiến của mình mà không muốn bị ảnh hưởng bởi người khác, khát khao được người khác đánh giá và khẳng định mình Mặt khác, NCTN có nhu cầu giao tiếp với bạn bè, các em hay chơi thành nhóm với những đặc điểm khác nhau Các em

có thể cùng học hỏi ở nhau những điểm tốt hoặc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ nhưng cũng dễ bị ảnh hưởng bởi những thói hư, tật xấu từ các thành viên trong nhóm Điểm đặc biệt ở những nhóm này là tinh thần đoàn kết rất cao nhiều khi mang tính cực đoan, cục bộ, bè phái Có thể vì một cá nhân mà cả

nhóm sẵn sang gây gổ đánh nhau với nhóm khác một cách vô lý để rằn mặt, bảo vệ thành viên trong nhóm hay khẳng định địa vị của nhóm Nói chung,

các em thiếu tính chín chắn, bồng bột trong suy nghĩ và nông nổi trong hoạt động Do vậy, nếu thiếu đi sự quan tâm, định hướng, khích lệ các em có cơ

Trang 20

hội vi phạm các chuẩn mực hành vi, chuẩn mực đạo đức dẫn đến thực hiện các hành vi phạm pháp luật

Thứ hai: Trong mối quan hệ so sánh với những người đã thành niên,

nhận thấy, NCTN dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực từ bên ngoài tính cách chưa được hình thành đầy đủ sự tự kiểm soát hành vi còn kém, dễ bốc đồng và thiếu tự chủ cho nên khả năng phán đoán các tình huống còn chậm và chưa chính xác, thiếu chín chắn trong việc lựa chọn các hành vi thay thế hay đánh giá mức độ rủi ro và hậu quả của hành vi Nhất là trong bối cảnh hiện nay, các em rất dễ tìm kiếm những thông tin thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, trái đạo đức, có xu hướng bạo lực Các em rất tò mò, hiếu động, có xu hướng tìm kiếm, khám phá những cái mới lạ, hay bắt trước Mặt khác, sự hình thành và phát triển nhân cách phụ thuộc rất lớn vào môi trường các em đang sống Nếu sống trong môi trường lành mạnh, các em sẽ

có điều kiện phát triển toàn diện để trở thành một công dân có ích và ngược lại môi trường sống phức tạp sẽ ảnh hưởng xấu đến tâm lý các em dẫn đến sự lệch lạc trong nhận thức và hành vi, dễ bị lôi cuốn vào những hoạt động tiêu cực Theo đó các thói quen xấu dần được hình thành như nghiện thuốc lá, rượu bia, chơi trò chơi có xu hướng bạo lực, đồi trụy dẫn tới hậu quả các em

có những hành động vượt quá những chuẩn mực cho phép Trong khi đó, các

em cần tiền để thỏa mãn các nhu cầu trên nhưng lại chưa có nghề nghiệp, chưa có khả năng kiếm tiền Dẫn đến thực tế các em có thể làm bất cứ công việc gì để kiếm tiền thỏa mãn nhu cầu của mình kể cả những việc trái pháp luật để có tiền tham gia vào các hoạt động tiêu cực, thiếu lành mạnh nêu trên

Thứ ba: NCTN chưa phát triển hoàn thiện về thể chất, tinh thần, có

nhận thức chưa hoàn chỉnh về thế giới xung quanh, có kiến thức pháp luật và kiến thức xã hội chưa đầy đủ, đánh giá về xã hội chưa được chuẩn xác, dễ có những hành vi bốc đồng lệch chuẩn Cũng vì lẽ đó mà các em là một trong

Trang 21

các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ Do vậy, phải có những quy định đặc biệt đối với NCTN sao cho phù hợp với lứa tuổi, với đặc điểm tâm sinh lý của các em trên tinh thần tôn trọng nhân cách, phẩm giá, các quyền tự do cơ bản; cũng như nhằm tăng cường lòng tôn trọng của các em đối với quyền con người và các quyền tự do cơ bản khác nhằm mục đích giáo dục các em trở thành người có ích cho xã hội

1.1.2 Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên bị tước tự do

Theo Điểm b, Điều 11 Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ

NCTN bị tước tự do, 1990 định nghĩa: “Tước tự do nghĩa là bất kỳ hình thức giam giữ hoặc cầm tù nào, hay đưa một người vào nơi giam giữ chung hoặc riêng, mà người đó không được tự ý rời bỏ nơi giam giữ trừ khi có quyết định của cơ quan tư pháp, hành chính hoặc cơ quan công quyền” [30, Điều 11]

Khái niệm tước tự do theo luật nhân quyền quốc tế được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm không chỉ việc bỏ tù hay tạm giam mà còn là những việc hạn chế một phần hay toàn bộ tự do của một người dưới nhiều hình thức

và tên gọi khác nhau như bắt, tạm giữ, tạm giam, quản chế, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào các trung tâm cải tạo giáo dục… Như vậy, bên cạnh các trường hợp tước tự do theo thủ tục hình sự còn có các hình thức tước tự do theo thủ tục hành chính Sự tước tự do này khiến người bị tước tự do không thể có đầy đủ các quyền tự do như một người bình thường Họ bị buộc phải ở tại một nơi giam giữ, không được tự ý rời bỏ nơi giam giữ trừ khi được cho phép bởi một quyết định của một cơ quan có thẩm quyền Họ bao gồm tù nhân, những người bị tam giam, tạm giữ, quản chế, cải tạo tức là tất cả những người bị giới hạn, ở bất cứ mức độ và dưới bất cứ hình thức nào, các tự

do chính trị, dân sự của mình so với những công dân bình thường

Người bị tước tự do bị giới hạn một số quyền nhất định vì các lý do an ninh hay trật tự xã hội chứ không phải bị tước bỏ hoàn toàn tự do của con

Trang 22

người Ví dụ người bị tạm giam, tạm giữ, tù nhân bị tước đi quyền tự do đi lại, tự do cư trú nhưng họ vẫn được hưởng các quyền tự do khác như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do tư tưởng và các quyền đó vẫn phải được pháp luật tôn trọng và bảo đảm bằng các biện pháp cần thiết Cơ sở của việc tước tự do là khi một người có hành vi xâm phạm tự do của người khác

và xâm phạm đến lợi ích cộng đồng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến cộng đồng Việc tước tự do trước hết là nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm; giáo dục, cải tạo họ trở thành những người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời

là bài học cho những ai đang hoặc sẽ có ý định thực hiện hành vi xâm phạm đến tự do của người khác và lợi ích chung của cộng đồng

Việc tước tự do phải được điều chỉnh bằng nhiều quy phạm pháp luật,

ví dụ việc tước tự do theo thủ tục hành chính được điều chỉnh bằng pháp luật hành chính và việc tước tự do theo thủ tục tố tụng hình sự được điều chỉnh bằng tư pháp hình sự Trong đó, việc tước tự do theo thủ tục tố tụng hình sự đối với NCTN xảy ra khi cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khi Toà án áp dụng hình phạt tù có thời hạn hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với NCTN khi có đầy đủ các căn cứ theo luật định

Từ các phân tích trên có thể hiểu NCTN bị tước tự do là những người

từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi bị giới hạn các quyền tự do chính trị, dân sự so với các công dân bình thường bởi việc giam, giữ, cải tạo tại một nơi theo quyết định của Cơ quan có thẩm quyền Nơi giam, giữ, cải tạo có thể là trại tạm giam, nhà tạm giữ, nhà tù hoặc các trường giáo dưỡng

Đặc điểm của NCTN bị tước tự do:

- Thứ nhất, NCTN bị tước tự do bị hạn chế một số quyền tự do cơ bản

NCTN bị tước tự do với tư cách là thành viên của gia đình nhân loại nên họ vẫn được hưởng tất cả những quyền con người cơ bản như quyền được

Trang 23

sống; quyền được tôn trọng danh dự nhân phẩm, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn ác vô nhân đạo hoặc hạ nhục; quyền được bảo vệ để không bị bắt, giam giữ tuỳ tiện, quyền được giáo dục, quyền về sức khoẻ… Tuy nhiên do hoàn cảnh bị tước tự

do, họ không có đầy đủ các điều kiện để thụ hưởng các quyền này Việc tước

tự do, bị buộc ở tại nơi giam giữ cải tạo khiến họ bị mất đi quyền tự do đi lại,

tự do cư trú, quyền bầu cử, ứng cử… Tuy nhiên, do tính chất đặc thù này mà NCTN bị tước tự do được hưởng những ưu đãi nhằm tạo điều kiện tốt hơn cho các em được thụ hưởng các quyền của mình

- Thứ hai, NCTN bị tước tự do có nguy cơ bị khinh miệt, xa lánh, kỳ thị:

Bản thân NCTN dễ bị mất cân bằng khi bị bị tước tự do Phần lớn trong thời gian cải tạo các em có tâm lý nặng nề như mặc cảm tự ti, bi quan, chán nản, nhiều lúc tuyệt vọng, có thái độ thời ơ bất cần Đến khi trở lại với cộng đồng, các em thường bị xa lánh, kỳ thị điều này ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm sống và tương lai của NCTN Sự xa lánh, kỳ thị xuất phát từ sự thiếu nhận thức về nhóm đối tượng này Đa phần họ có suy nghĩ các em là những

đối tượng không ngoan, đầu gấu, không có sự giáo dục của gia đình, thiếu suy nghĩ, không biết kiềm chế, sốc nổi… Là thành phần hư từ bé, không thể

cải tạo và giáo dục được Họ xa lánh không muốn tiếp xúc, không muốn cho con em mình kết bạn, chơi cùng các đối tượng này Đặc biệt một số cơ sở kinh doanh hay doanh nghiệp có xu hướng không muốn nhận NCTN đã từng

bị tước tự do vào làm việc tại đơn vị mình Điều này làm hạn chế đến hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng đồng đối với NCTN

1.2 Quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do và

sự cần thiết bảo vệ nó

Trước hết, cần có nhận thức chung nhất về quyền con người Có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người bởi đây là một phạm trù đa diện, ở

Trang 24

mỗi một góc độ khác nhau người ta lại có một định nghĩa về quyền con người khác nhau Tính phù hợp của mỗi định nghĩa này phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi con người Ở cấp độ quốc tế, Văn phòng Cao ủy Liên hợp

quốc về quyền con người có định nghĩa “quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [22]

Ở Việt Nam, có nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau Nhưng xét chung

“quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được nghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [22]

Như vậy, quyền con người là những chuẩn mực được cộng đồng quốc

tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này là kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng với tất cả mọi người Thông qua đó, mọi thành viên trong gia đình nhân loại được bảo vệ nhân phẩm, có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực cá nhân với tư cách là một con người Quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội

và mọi giai đoạn lịch sử

Chủ thể cơ bản của quyền con người là các cá nhân Tuy nhiên trong một số trường hợp, chủ thể của quyền con người còn là các nhóm người như các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo… Như vậy, trẻ em nói chung và NCTN nói riêng đều là những chủ thể của quyền con người Tuy nhiên, vị thế của các em trong việc thụ hưởng các quyền này như thế nào Quay lại lịch sử, năm 1924 Tuyên ngôn Geneve về quyền trẻ được Hội quốc liên thông qua đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thức và hành động bảo vệ trẻ em trên toàn thế giới Những lời mở đầu của UDHR, ICCPR, ICECSR đều

Trang 25

nhấn mạnh “Việc thừa nhân phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng, không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại là nền tảng cho tự do, công lý và hòa bình thế giới” [53]; Mặt khác, mệnh đề

mở đầu của các văn kiện pháp lý quốc tế trên đều là "Mọi người có quyền … hay bất cứ người nào đều có quyền… " đã thừa nhận một cách chắc chắn

rằng trẻ em cũng là chủ thể bình đẳng so với người lớn trong việc hưởng tất

cả các quyền và tự do cơ bản được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc

tế về quyền con người

Các văn kiện quốc tế về quyền con người đều xác định trẻ em là đối tượng cần bảo vệ đặc biệt và có những quyền con người đặc thù Bởi lẽ, dù Luật nhân quyền quốc tế thừa nhận trẻ em và người lớn đều bình đẳng với nhau về quyền, nhưng việc “cào bằng” vị thế chủ thể quyền của người lớn và trẻ em cũng không hoàn toàn phù hợp do đặc trưng của trẻ em còn non nớt cả

về thể chất lẫn tinh thần Do vậy, ngay trong UDHR, ICCPR, ICECSR trẻ em đều được ghi nhận các quyền đặc thù Cụ thể:

UDHR khẳng định “… Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt Mọi trẻ em dù sinh ra trong hay ngoài giá thú, đều phải được sự bảo trợ xã hội như nhau” [53, Điều 25, Khoản 2, tr.53]

ICESCR khẳng định:

Cần áp dụng những biện pháp bảo vệ và trợ giúp đặc biệt đối với mọi trẻ em và thanh thiếu niên mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì các lý do xuất thân hoặc các điều kiện khác Trẻ em

và thanh thiếu niên cần được bảo vệ để không bị bóc lột về kinh tế,

xã hội Việc thuê trẻ em và thanh thiếu niên làm các công việc có hại cho tinh thần, sức khỏe hoặc nguy hiểm tới tính mạng, hay có hại tới sự phát triển bình thường của các em phải bị trừng trị theo pháp luật Các quốc gia cần định ra những giới hạn về độ tuổi mà

Trang 26

việc thuê lao động trẻ em dưới hạn tuổi đó phải bị pháp luật nghiêm cấm và trừng phạt [53, Điều 10, Khoản 3, tr.59]

ICCPR nhấn mạnh: “Mọi trẻ em, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản hoặc dòng dõi đều có quyền được hưởng những biện pháp bảo hộ của gia đình, xã hội và nhà nước cần thiết cho NCTN …” [53, Điều 24, Khoản 1, tr 85]

Một trong những văn kiện quốc tế về quyền của trẻ em quan trọng nhất

là CRC Công ước CRC là điều ước quốc tế về quyền con người của Liên Hợp Quốc có số lượng quốc gia thành viên tham gia cao nhất từ trước đến nay Công ước này không chỉ đưa ra định nghĩa trẻ em mà còn nêu lên các nguyên tắc cơ bản trong việc bảo vệ quyền của nhóm đối tượng này Công ước khẳng định trẻ em là chủ thể của quyền chứ quyền trẻ em không phải xuất phát từ sự ban phát hay thương hại của lòng từ thiện thuần túy, trẻ em là nhóm dễ bị tổn thương nhất, có những nhu cầu đặc biệt… do vậy có quyền hưởng sự chăm sóc, đối xử và bảo vệ đặc biệt Có thể nói Công ước CRC đã bao quát được hầu hết các khía cạnh của quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc đảm bảo quyền của trẻ em và mối quan hệ giữa quyền trẻ em và quyền con người Với phương châm dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em, CRC ghi nhận do trẻ

em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời Trẻ em có quyền:

- Quyền không phân biệt đối xử

- Quyền được có họ tên và quốc tịch ngay từ khi ra đời

- Quyền không bị cách ly khỏi cha mẹ

- Quyền được chăm sóc sức khỏe

- Quyền được học hành

- Quyền được sống trong môi trường lành mạnh và tự nhiên

- Quyền được vui chơi, giải trí

Trang 27

- Quyền được thông tin phù hợp với lứa tuổi

- Quyền được tự do kết giao và tập hợp nhau theo những nhóm bạn cùng chung sở thích

- Quyền được nhận sự chăm sóc đặc biệt

- Quyền được tự do bày tỏ ý kiến

- Quyền được bảo vệ chống lại sự ngược đãi

- Quyền được bảo vệ chống lại sự lạm dụng tình dục

- Quyền được bảo vệ chống mọi hình thức tra tấn và đối xử tàn tệ

- Quyền có các đặc thù khi có hành vi vi phạm pháp luật …

Ở Việt Nam, NCTN là người có độ tuổi dưới 18, còn trẻ em là người có

độ tuổi dưới 16 Do vậy, khái niệm về trẻ em và NCTN không đồng nhất Tuy nhiên trẻ em là NCTN, nên quyền trẻ em cũng chính là quyền của NCTN Mặt khác, trẻ em trong phạm vi Công ước CRC là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi Hơn nữa Việt Nam là một trong các thành viên của Công ước CRC Do vậy, tất cả NCTN nói chung và NCTN bị tước tự do nói riêng ở Việt Nam đều được hưởng quyền và những bảo đảm pháp lý nêu tại CRC

Các quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do, 1990

nhấn mạnh: “NCTN bị tước tự do không vì bất cứ lý do nào liên quan tới địa

vị của mình mà bị phủ nhận các quyền dân sự, kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa họ có theo pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế và tương thích với việc tước tự do” [30, Điều 13]

Điều này khẳng định chắc chắn rằng, NCTN bị tước tự do vì bất kỳ

lý do gì, trong thời gian bao lâu, bị giam giữ hay cải tạo ở đâu cũng có quyền con người Quyền con người ở đây bao gồm các quyền dân sự, kinh

tế, chính trị, xã hội và văn hóa họ có theo pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Tuy nhiên những quyền này họ được thụ hưởng phù hợp với việc tước tự do của mình

Trang 28

Quyền của NCTN bị tước tự do có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất: quyền con người của NCTN bị tước tự do cũng là quyền con

người theo quy định chung của Luật nhân quyền quốc tế Do vậy, quyền con người của NCTN bị tước tự do mang đầy đủ các đặc điểm của quyền con người nói chung như tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Cụ thể:

- Tính phổ biến:

Quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được

áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại Không

có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi …

- Tính không thể tước bỏ:

Các quyền con người không thể bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Không thể bị tước đoạt hay hạn chế tùy tiện có nghĩa là trong một số trường hợp đặc biệt thì có thể bị tước đi một số quyền tự do trong những trường hợp đặc biệt

và phải tuân thủ các quy định của pháp luật

- Tính không thể phân chia:

Các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc, không có quyền nào quan trọng hơn quyền nào và không có quyền nào có giá trị cao hơn quyền nào Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau:

Việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác

Thứ hai: Quyền con người của NCTN bị tước tự do mang tính chất đặc

Trang 29

thù Bởi lẽ, NCTN nói chung và NCTN bị tước tự do nói riêng đều là những nhóm yếu thế trong xã hội do sự non nớt về thể chất và tinh thần, do vị thế pháp

lý… do vậy, các em cần phải nhận được nhiều những ưu đãi hơn so với các

nhóm, các cá nhân khác Sự ưu tiên này không đi ngược với nguyên tắc bình đẳng về quyền của Luật nhân quyền quốc tế mà thực chất nhằm thực hiện, hay tạo điều kiện cho các chủ thể được bình đẳng về quyền Bởi lẽ, bình đẳng về quyền có nghĩa là mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại đều có cơ hội được hưởng các quyền như nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh, năng lực sẵn có như nhau Như vậy, với các cá nhân, các nhóm phải chịu những thiệt thòi và có xuất phát điểm thấp hơn những nhóm khác, cần thiết được hưởng các quyền đặc thù để có thể đạt được sự bình đẳng thực chất với các cá nhân khác trong việc hưởng thụ các quyền con người Sự ưu tiên này nhằm bảo đảm sự bình đẳng thực chất về cơ hội của những NCTN bị tước tự do với tất cả mọi thành viên trong xã hội đảm bảo tất cả thành viên trong xã hội đều được hưởng thụ các quyền của con người trong bối cảnh khác biệt về trình độ, văn hóa và vị thế

Bảo vệ quyền của NCTN bị tước tự do là sự bảo đảm thực hiện các quyền của NCTN là người bị giam, giữ, chấp hành án phạt tù, học sinh trong trường giáo dưỡng… được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia

Vấn đề bảo vệ quyền con người của NCTN là vấn đề quan tâm đặc biệt của toàn thế giới Sự nghiệp chăm sóc và giáo dục trẻ em được xác định là trách nhiệm của toàn xã hội Đối với NCTN nói chung và NCTN bị tước tự do nói riêng, việc bảo vệ quyền con người của đối tượng này càng cần được chú trọng Bởi lẽ, NCTN bị tước tự do là những người tuổi đời còn rất trẻ, kinh nghiệm sống còn ít ỏi, hiểu biết về pháp luật và các chuẩn mực xã hội còn hạn chế Đặc biệt đây là lứa tuổi có sự chuyển biến mạnh mẽ về tâm, sinh lý và là giai đoạn quan trọng của quá trình hình thành và phát triển nhân cách Do vậy, NCTN dễ bị người khác dụ dỗ, kích động, lôi kéo vào việc thực hiện tội phạm Các loại tội phạm do NCTN thực hiện chủ yếu xuất phát từ nhận thức hạn chế

Trang 30

về pháp luật Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết pháp luật, ý thức phạm tội chưa rõ rệt nên NCTN phạm tội dễ uốn nắn, cải tạo và giáo dục trở thành người có ích cho xã hội Bên cạnh đó, NCTN đa phần không thuộc những đối tượng ngoan

cố, lì lợm hay có ý thức cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử Cũng do thể chất

và tâm lý chưa có sự phát triển đầy đủ nên khi bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế tố tụng, sự tổn hại về thể chất và đặc biệt sự tổn hại về tinh thần của lứa tuổi này thường dẫn đến những sang chấn tâm lý mạnh và để lại những hậu quả tiêu cực kéo dài đối với NCTN trong suốt thời gian dài sau đó

Biện pháp tước tự do là cần thiết trong những điều kiện và hoàn cảnh

cụ thể Tuy nhiên việc tước đoạt tự do trong nhiều trường hợp làm tổn hại nghiêm trọng đến quyền cơ bản của một người Bởi khi họ bị bắt, tạm giữ, tạm giam hay bị cầm tù đều, họ đều ở trong một tình trạng chung là bị hạn chế thân thể, tự do đi lại, tự do cư trú trong một thời hạn nhất định vì thế quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị xâm phạm Việc quyền của những NCTN bị tước tự do có nguy cơ cao bị xâm phạm, do vậy cần thiết phải bảo đảm quyền cho nhóm người này

Mặt khác, với vị thế là một nhóm dễ bị tổn thương nên NCTN bị tước

tự do được pháp luật quy định một số quyền năng để tự bảo vệ mình trước sự xâm phạm về quyền của một số nhóm đối tượng khác, để đảm bảo họ vẫn được sống trong phẩm giá vốn có của mình và được hưởng đầy đủ các quyền con người mà chỉ bị hạn chế bởi hoàn cảnh sống bị tước tự do của họ mà thôi

1.3 Những quy định cơ bản của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên bị tước tự do

Trước hết, NCTN bị tước tự do cũng được hưởng các quyền cơ bản của con người nói chung và đặc biệt là các quyền trong hoạt động tư pháp Quyền con người trong lĩnh vực này rất đa dạng, nhưng đặc biệt quan trong là những quyền thuộc nhóm quyền dân sự - chính trị Người bị tước tự do buộc có nghĩa vụ phải tuân thủ những quy định của pháp luật nhưng họ cũng có những

Trang 31

quyền nhất định để bảo vệ mình khỏi bị xâm phạm bởi các chủ thể tiến hành

tố tụng Cơ bản có thể kể đến một số quyền như quyền không bị tra tấn, quyền được tôn trọng về nhân phẩm, tính mạng, quyền bào chữa, quyền tự do, an ninh cá nhân và quyền được xét xử công bằng

Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân bao hàm một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm bảo vệ sự an toàn về tính mạng, thân thể, danh dự, nhân phẩm và tự do của con người Quyền này hàm chứa nhiều quyền cụ thể, trong

đó bao gồm quyền sống, quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục; quyền được bảo vệ khỏi bị bắt giữ tùy tiện và quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người

bị tước tự do…

Tập hợp của các quyền này cùng với những bảo đảm về xét xử công bằng cấu thành một trong những mảng rất quan trọng của luật quốc tế về quyền con người mà thường được gọi là quyền con người trong hoạt động tố tụng

Bảng 1.1: Một số quyền con người cơ bản của người bị tước tự do

- Cụ thể hóa tại Điều 6 ICCPR Quyền được bảo vệ không bị tra

tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn

bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục

- Đề cập tại Điều 5 UDHR

- Cụ thể hóa tại Điều 7 ICCPR

- Công ước chống tra tấn (CAT)

- Là một quy phạm tập quán quốc tế Quyền được bảo vệ khỏi việc bị

bắt, giam giữ tùy tiện (quyền tự

do về an ninh cá nhân)

- Đề cập tại Điều 9 UDHR

- Cụ thể hóa tại Điều 9 ICCPR

- Bình luận chung số 8 thông qua tại phiên họp thứ 16 năm 1982

Quyền được đối xử nhân đạo và

tôn trọng nhân phẩm của những

người bị tước tự do

- Quy định tại Điều 10 ICCPR

- Các tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về đối xử với tù nhân (1955)

Quyền được xét xử công bằng - Đề cập tại Điều 10, 11 UDHR

(Nguồn: Các văn kiện quốc tế vê quyền con người)

Trang 32

Mặt khác, với tư cách là NCTN, quyền của các em còn được ghi nhận

và bảo vệ bởi các văn kiện quốc tế quan trọng khác Nhìn chung các em có những quyền cơ bản như:

- Quyền bình đẳng với người lớn về mọi quyền tố tụng

- Không bị tuyên và thi hành án tử hình

- Việc bắt, giam và tuyên án tù chỉ là biện pháp cuối cùng có thể áp dụng với NCTN Được bảo vệ đặc biệt khi bị giam giữ, thể hiện ở các quy định về thăm viếng, giam giữ tách riêng khỏi người lớn, chăm sóc, học văn hoá, học nghề

Khi nghiên cứu các quy định bảo vệ quyền của NCTN phạm tội không thể không nhắc tới Công ước CRC – Công ước quan trọng về quyền của trẻ

em Nguyên tắc nền tảng trong vấn đề này là trẻ em làm trái pháp luật phải được đối xử theo cách thức nhằm nâng cao ý thức của các em về nhân phẩm, danh dự của các em; tăng cường sự tôn trọng của trẻ em đối với các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của người khác; các biện pháp áp dụng với các em phải tính đến sự phù hợp về lứa tuổi và tâm sinh lý nhằm mục đích tái hòa nhập chứ không nhằm mục đích trừng phạt các em

Trong quá trình tố tụng đối với trẻ em bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cần phải đảm bảo các nguyên tắc:

- Không áp dụng hồi tố;

- Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội;

- Phải được thông báo nhanh chóng, trực tiếp về những điều bị buộc tội;

- Phải được giúp đỡ về mặt pháp lý hoặc sự giúp đỡ thích hợp khác để thực hiện việc bào chữa trước khi bị đưa ra xét xử;

- Tại phiên tòa, trẻ em phải được sự giúp đỡ về pháp lý để tham gia cùng với cha mẹ hoặc người giám hộ vào một cuộc thẩm vấn công bằng đúng pháp luật trước một Hội đồng xét xử có thẩm quyền, độc lập, và có khả năng

ra quyết định một cách không chậm trễ;

Trang 33

- Không bị ép buộc, làm chứng hay nhận tội, có quyền thẩm vấn hay nhờ người thẩm vấn những nhân chứng chống lại mình đồng thời có quyền đưa ra những người làm chứng cho mình trong những điều kiện bình đẳng;

- Quyền được kháng cáo đối với những quyết định sơ thẩm để được xét xử phúc thẩm bởi một Hội đồng xét xử có thẩm quyền cao hơn, độc lập

và vô tư;

- Được có người phiên dịch miễn phí trong những trường hợp cần thiết;

- Được giữ bí mật những điều riêng tư trong suốt quá trình tố tụng Quy tắc số 7 về quyền của NCTN thuộc Các quy tắc Bắc Kinh nhấn mạnh:

Trong tất cả các giai đoạn tố tụng, cần bảo đảm các biện pháp bảo vệ mang tính thủ tục cơ bản, như giả định vô tội, quyền được thông báo về các lời buộc tội, quyền được giữ yên lặng, quyền được

có luật sư bào chữa, quyền được sự có mặt của cha mẹ hay người giám hộ, quyền đối chất và thẩm vấn chéo các nhân chứng, quyền được kháng cáo lên một cơ quan có thẩm quyền cao hơn [26]

Quy tắc này đã đề cập đến một số điểm quan trọng được xem là những yếu tố cơ bản bảo đảm cho quá trình xét xử được công bằng, bình đẳng và những điểm này đã được quốc tế công nhận trong những văn kiện hiện hành

về quyền con người như UDHR, ICCPR… Quy tắc đã cụ thể hóa các quy định về Điều tra và truy tố, về xét xử và quyết định, về cách xử lý không giam giữ đối với NCTN

Nhìn chung, NCTN bị tước tự do có các quyền:

- Được đối xử nhân đạo trong quá trình bị giam giữ bao gồm không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, không bị bức cung

- Được đảm bảo các điều kiện sinh hoạt tối thiểu

- Được giữ mối liên hệ với thế giới bên ngoài, với thân nhân, luật sư trừ một số hạn chế để đảm bảo tố tụng

Trang 34

Cụ thể, Điều 10 các quy tắc tối thiểu chuẩn của Liên Hợp Quốc về thực thi công lý với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) quy định:

Những người mất tự do vẫn phải được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm:

a, Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt, các bị cáo chưa được xét xử phải được giam giữ cách biệt với những người đã can án và phải được đối xử theo quy chế của những người không can án

b, Các bị cáo thiếu nhi phải được giam giữ cách biệt với người lớn và phải được xét xử trong thời hạn sớm nhất

c, Chế độ lao tù phải đặt trọng tâm vào việc cải huấn tù nhân, tạo cho họ cơ hội cải hóa và hội nhập vào đời sống xã hội Các thiếu nhi phạm pháp phải được giam giữ cách biệt với người lớn và phải được đối xử tùy theo tuổi tác và tình trạng pháp lý của chúng

d, Trong các vụ án thiếu nhi, thủ tục xét xử phải căn cứ vào tuổi tác của bị cáo và hướng về mục tiêu cải huấn can phạm [26, Điều 10] Riêng về vấn đề áp dụng biện pháp tước tự do, nhiều văn kiện pháp lý quốc tế quy định về vấn đề này như Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do thông qua ngày 14/12/1990, quy tắc này quan tâm đến việc tái hòa nhập cộng đồng của NCTN phạm tội tái hòa nhập cộng đồng sau khi hết thời hạn bị tước quyền tự do Theo đó, các cơ quan giam giữ cần mở các khóa đặc biệt về dạy nghề cho NCTN, thực hiện các thủ tục giảm án, thả tù trước thời hạn; tạo điều kiện cho gia đình hay các cơ quan cung cấp dịch vụ cho NCTN được tiếp xúc với NCTN ngay khi còn bị giam giữ nhằm nhanh chóng giúp họ trở về với cộng đồng sau khi được trả tự do Đối với các cơ quan có thẩm quyền, cần cung cấp các bảo đảm cần thiết để NCTN có được nơi ở, làm việc, ăn mặc thích hợp và đủ điều kiện tồn tại sau khi được trả tự do; hạn chế các định kiến chống lại NCTN trong xã hội

Trang 35

Bên cạnh đó, bình luận chung (số 10) về quyền trẻ em trong tư pháp NCTN của Uỷ ban về quyền trẻ em tại mục 28b, 28c nhấn mạnh: Mọi trẻ em

bị tước quyền tự do có quyền được nhanh chóng tiếp cận với sự giúp đỡ pháp

lý và những giúp đỡ thích hợp khác, cũng như quyền được biết về tính hợp pháp của việc tước quyền tự do, có quyền đòi hỏi một quyết định nhanh chóng về bất kỳ hành động nào Mọi trẻ em bị bắt giữ và tước tự do cần phải được đưa ra trước một nhà chức trách có năng lực để xem xét tính hợp pháp của việc tước quyền tự do Mọi trẻ em bị tước quyền tự do phải được cách ly với người trưởng thành Mọi trẻ em bị tước quyền tự do không bị giam giữ trong nhà tù dành cho người trưởng thành hay các cơ sở vật chất khác dành cho người trưởng thành Mọi trẻ em bị tước tự do có quyền duy trì liên lạc với gia đình của mình qua thư tín và các cuộc viếng thăm

Như vậy, NCTN bị tước tự do cũng được hưởng các quyền như những người đã thành niên Nhưng với thực tế, NCTN là những người chưa phát triển toàn diện về mặt thể chất và tinh thần, là đối tượng dễ bị tổn thương cần đặc biệt quan tâm Do vậy pháp luật quốc tế quy định cho những NCTN được có những quyền ưu tiên hơn tạo điều kiện tốt nhất để bảo vệ lợi ích của các em

Trang 36

Ở Việt Nam, những NCTN bị tước tự do theo thủ tục tố tụng hình sự bao gồm NCTN bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành án phạt tù có thời hạn và NCTN bị áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng Ở mỗi giai đoạn của quá trình tố tụng, NCTN đều được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bởi rất nhiều các quy định khác nhau Cụ thể:

2.1.1 Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố

Khởi tố, điều tra, truy tố là ba giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình

sự Kết quả của những giai đoạn này là tiền đề quan trọng của việc xét xử, là cơ

sở để Tòa án nghiên cứu, xem xét ban hành một bản án đúng người đúng tội

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó

cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các hoạt động nhằm xác định có hay không có các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó

Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó

Trang 37

Cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới dự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tội phạm gây nên Trên cơ sở điều tra để quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc kết thúc điều tra chuyển toàn bộ hồ sơ vụ

án sang Viện kiểm sát và đề nghị truy tố bị can

Truy tố là giai đoạn thứ ba của hoạt động tố tụng hình sự, ở giai đoạn này Viện kiểm sát đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tài liệu chứng

cứ trong vụ án hình sự do Cơ quan điều tra chuyển đến Bên cạnh đó Viện kiểm sát có thể tiến hành một số hoạt động điều tra khi thấy cần thiết Trên cơ

sở đánh giá chứng cứ Viện kiểm sát ra một trong các quyết định Trả hồ sơ điều tra bổ sung; Tạm đình chỉ vụ án hình sự; Đình chỉ vụ án hình sự hay ban hành Cáo trạng truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân để xét xử

Hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố trong những vụ án có bị can là NCTN cũng được tiến hành theo thủ tục chung mà BLTTHS đã quy định Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu cho quá trình tố tụng Mở ra giai đoạn điều tra vụ án hình sự Trong giai đoạn này, NCTN phạm tội nói chung

có một quyền tố tụng rất quan trọng, đó là quyền không bị bắt, giữ, giam một cách tùy tiện Pháp luật Việt Nam đã quy định cụ thể về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam NCTN theo thủ tục tố tụng hình sự

Căn cứ để tiến hành áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam được quy định tại các điều Điều 80, 81, 82, 86, 88, 120 và 303 BLTTHS, NCTN bị bắt bao gồm NCTN bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, NCTN bị bắt theo quyết định truy nã…

NCTN bị tạm giữ, tạm giam là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,

Trang 38

phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú mà tại thời điểm bị bắt, tạm giữ, tạm giam họ là NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Bị can chưa thành niên là người bị khởi tố về hình sự vì có căn cứ xác định họ thực hiện hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự mà tại thời điểm có quyết định khởi tố của cơ quan có thẩm quyền họ là người từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do

cố ý, tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Như vậy, người bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo là NCTN phải thỏa mãn những quy định pháp luật về người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo và tại các thời điểm tố tụng đó, họ đang ở độ tuổi từ đủ 14 đến chưa đủ

18 tuổi Những thủ tục đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN phải được tiến hành theo thủ tục đặc biệt được quy định tại Chương XXXII, BLTTHS Đây là những quy định nhằm đưa ra các thủ tục tố tụng sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người bị bắt bị tạm giữ, tạm giam,

bị can, bị cáo là NCTN góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của họ Việc bắt NCTN để tạm giữ, tạm giam chỉ được thực hiện khi tuân thủ các quy định chặt chẽ và thận trọng trên cơ sở có tính đến sự cần thiết của việc áp dụng đó

Nhằm đảm bảo quyền không bị giam giữ một cách tùy tiện, người bị tạm giữ, tạm giam còn phải được biết lý do mình bị giam, giữ, có quyền thực hiện các hành vi tố tụng mà pháp luật quy định để bác bỏ các căn cứ giam, giữ Đồng thời những quy định này còn nhằm kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế và giáo dục nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết để những NCTN sửa chữa những sai lầm, sớm trở thành người có ích cho xã hội

Trang 39

BLTTHS có những quy định hoàn toàn phù hợp với điểm b, Điều 37 của Công ước CRC Tinh thần chung là chỉ áp dụng biện pháp bắt NCTN để tạm giữ, tạm giam trong trường hợp thật cần thiết khi việc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác không có hiệu quả Tinh thần đó đã được biểu hiện rõ tại Điều

303 BLTTHS Theo quy định tại Điều 303 BLTTHS, chỉ có thể bắt tạm giữ, tạm giam đối với NCTN nếu đủ các căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82,

86, 88 và 120 của luật này đồng thời các căn cứ trên chỉ xét đến trong những trường hợp người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; và trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng

Như vậy, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam đối với NCTN chỉ được thực hiện trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng

do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng Quy định này đã thu hẹp đáng kể phạm vi NCTN bị bắt tạm giữ, tạm giam Ngay sau khi bắt, tạm giữ, tạm giam cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam NCTN phải thông báo cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát khi xét thấy không còn cần thiết phải

áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam NCTN phải áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam NCTN thì phải trả tự do ngay cho họ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác

Mặt khác, theo quy định tại Điều 304 BLTTHS nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trên là không cần thiết Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo là NCTN cho cha mẹ, người đỡ đầu của họ giám sát để đảm bảo sự có mặt của bị can, bị cáo khi có giấy triệu tập của Cơ quan tiến hành tố tụng Biện pháp này có thể được các

Cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng theo đề nghị của cha, mẹ hoặc người đỡ

Trang 40

đầu của NCTN phạm tội hoặc theo sáng kiến của chính các Cơ quan tiến hành

tố tụng Để quyết định giao việc giám sát NCTN phạm tội cho cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của họ, các Cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét các yếu tố: Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, nhân thân của NCTN ; khả năng thực hiện nhiệm vụ giám sát của cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của NCTN Nếu trường hợp phạm tội của NCTN không thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng và không cần phải tạm giữ, tạm giam và cha, mẹ hoặc người đỡ đầu có khả năng giám sát, đảm bảo

bị can, bị cáo không phạm tội mới, không trốn tránh hoặc cản trở tố tụng thì

Cơ quan tiến hành tố tụng có thể giao cho cha, mẹ, người đỡ đầu giám sát Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ NCTN, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó Trong trường hợp người được giao nhiệm vụ giám sát không thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, các Cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nghiêm khắc hơn Theo quy định của Điều 79 BLHS, biện pháp này không phải là một biện pháp ngăn chặn Đây là những quy định có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện chính sách ngày càng nhân đạo của Nhà nước ta đối với NCTN

Một trong những quyền quan trọng ở giai đoạn này của NCTN bị tạm giữ, tạm giam, bị can chưa thành niên là quyền bào chữa Tại Hiến pháp

2013 quy định “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” [43, Điều 31, Khoản 4] Đây là quy định nhằm bảo đảm quyền con

người của NCTN

Quyền bào chữa được phát sinh ngay từ khi NCTN phạm tội bị bắt tạm giữ Đây cũng là một phương tiện pháp lý cần thiết để người bị tạm giữ, bị can chưa thành niên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo quá trình tố tụng được khách quan công bằng Điều 11 BLTTHS quy định người

Ngày đăng: 25/09/2020, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w