Liên quan trực tiếp đến đề tài của luận văn, có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: - Về người bị hại có các công trình: “Bàn về khái niệm nạn nhân của tội phạm tron
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ KIM OANH
QUYÒN CñA NG¦êI BÞ H¹I Vµ NG¦êI LµM CHøNG
TRONG LUËT NH¢N QUYÒN QUèC TÕ
Vµ LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ KIM OANH
QUYÒN CñA NG¦êI BÞ H¹I Vµ NG¦êI LµM CHøNG
TRONG LUËT NH¢N QUYÒN QUèC TÕ
Vµ LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CÔNG GIAO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thị Kim Oanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 7
1.1 Khái niệm người bị hại 7
1.1.1 Khái niệm người bị hại nói chung 7
1.1.2 Người bị hại trong vụ án hình sự 7
1.2 Khái niệm người làm chứng 9
1.3 Nội dung của quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự 11
1.3.1 Nội dung quyền của người bị hại trong vụ án hình sự 12
1.3.2 Nội dung quyền của người làm chứng trong vụ án hình sự 13
1.4 Đặc điểm các quyền của người bị hại, người làm chứng 16
1.5 Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của người bị hại, người làm chứng 20
1.5.1 Bảo đảm về chính trị 20
1.5.2 Bảo đảm về pháp lý 21
1.5.3 Bảo đảm về văn hóa 22
1.5.4 Bảo đảm về kinh tế 22
Kết luận Chương 1 24
Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 25
2.1 Quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật quốc tế 25
Trang 52.1.1 Quyền của người bị hại trong pháp luật quốc tế 25
2.1.2 Quyền của người làm chứng trong pháp luật quốc tế 31
2.2 Quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật hình sự Việt Nam 40
2.2.1 Quyền của người bị hại trong pháp luật hình sự Việt Nam 40
2.2.2 Quyền của người làm chứng trong pháp luật hình sự Việt Nam 52
Kết luận Chương 2 68
Chương 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 69
3.1 Các quan điểm về việc thúc đẩy bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự ở nước ta hiện nay 69
3.1.1 Thúc đẩy quyền của người bị hại và người làm chứng cần dựa trên phương pháp tiếp cận dựa trên quyền con người 69
3.1.2 Thúc đẩy quyền của người bị hại và người làm chứng cần dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan 71
3.1.3 Cần hoàn thiện pháp luật về quyền của người bị hại và người làm chứng, bảo đảm tính toàn diện, thống nhất của hệ thống pháp luật 71
3.1.4 Cần xác định rõ bảo vệ quyền của người bị hại, người làm chứng trước hết là trách nhiệm của Nhà nước 72
3.1.5 Cần xác định rõ bảo vệ quyền của người bị hại, người làm chứng không chỉ là vấn đề nhân quyền mà còn là vấn đề cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền 72
3.2 Các giải pháp thúc đẩy quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự 73
3.2.1 Các giải pháp thúc đẩy quyền của người bị hại 73
3.2.2 Các giải pháp thúc đẩy quyền của người làm chứng 79
3.2.3 Các giải pháp chung thúc đẩy quyền của người bị hại và người làm chứng 83
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật TTHS ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị 1966 QPPL: Quy phạm pháp luật TNHS: Trách nhiệm hình sự TTHS: Tố tụng hình sự VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một trong ba mục tiêu chính trong hoạt động của Liên Hợp Quốc Từ khi thành lập (1945) đến nay, mọi hoạt động của Liên Hợp Quốc đều dựa trên những chuẩn mực và nguyên tắc về quyền con người Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 ngày nay đã trở thành luật tập quán quốc tế, được tất cả các quốc gia trên thế giới chấp nhận và tuân thủ Tiếp cận dựa trên quyền con người là được Liên hợp quốc cổ vũ áp dụng trong mọi hoạt động của các quốc gia, bao gồm trong hoạt động tố tụng hình sự
Ở Việt Nam, các quyền con người đã được hiến định và bảo vệ từ Hiến pháp 1946 và xuyên suốt trong các bản hiến pháp về sau Ngoài ra, các quyền con người còn được ghi nhận và bảo vệ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự
Hiện nay đất nước ta đang thực hiện cải cách tư pháp với phương hướng đặt ra “hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bảo tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”, “nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử” [17] Vì vậy, việc bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự, bao gồm quyền của người bị hại và người làm chứng rất được chú trọng Trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, những thông tin mà người làm chứng và người bị hại cung cấp có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp các cơ quan chức năng phát hiện tội phạm và giải quyết đúng đắn, triệt để vụ án hình sự Với nghĩa vụ công dân, những người làm chứng, người bị hại thường tích cực phối hợp với cơ quan tố tụng làm rõ tội phạm và người phạm tội; tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy trong
Trang 8nhiều vụ án hình sự, người làm chứng, người bị hại tỏ ra e ngại, bất hợp tác hoặc hợp tác không tích cực với các cơ quan tiến hành tố tụng Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này, trong đó bao gồm những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành của nước ta về bảo vệ người làm chứng, người bị hại, khiến cho họ cảm thấy không an toàn khi cung cấp chứng cứ, lời khai
Trong pháp luật hình sự của Việt Nam hiện đã ghi nhận các nguyên tắc về việc bảo hộ tính mạng, sức khỏe nhân phẩm và tài sản của người bị hại và người làm chứng Cụ thể, người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật” [38, Điều 7] Người làm chứng còn có quyền “yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham
Bảo vệ người làm chứng, người bị hại là vấn đề có liên quan trực tiếp đến thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp năm 2013 Việc này cũng gắn liền với công cuộc cải cách tư pháp mà đang được tiến hành ở nước ta, cũng như gắn với việc thực hiện các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã tham gia, đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR) Bảo vệ quyền của nhóm này cũng góp phần xây dựng một cơ chế toàn diện và hiệu quả để thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở nước ta trong những năm tới
Trang 9Trong bối cảnh đó, học viên đã chọn đề tài “Quyền của người bị hại
và người làm chứng trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự Việt Nam” để thực hiện luận văn thạc sĩ, với mong muốn góp phần thực hiện các
mục tiêu đã nêu trên
2 Tình hình nghiên cứu
Quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả, thể hiện trong nhiều công trình khoa học đã được công bố ở nước ta trong những năm gần đây Liên quan trực tiếp đến đề tài của luận văn, có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
- Về người bị hại có các công trình: “Bàn về khái niệm nạn nhân của tội phạm trong tội phạm học” của Trần Hữu Tráng, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo
khoa học "Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam" do
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tháng 6/2006; “Người bị hại và chức năng buộc tội của người bị hại trong tố tụng hình sự” của Thuỳ
Dương, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam" do Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh tổ chức tháng 6/2006; “Người bị hại trong tố tụng hình sự” của Lê Tiến Châu, đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 1(38)/2007; “Một số vấn đề về người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” của Lê Thị Thuý Nga,
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15-2009; Luận án tiến sỹ luật học
“Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam” của Nguyễn Văn Thanh, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012
- Về người làm chứng có các công trình: “Lời khai của người làm chứng trong vụ án hình sự” của Trần Quang Tiệp, đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4, năm 2005; “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ người làm chứng trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Thái Phúc, đăng trên
Trang 10Tạp chí Khoa học Pháp lý số 3, năm 2007; “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo
vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong vụ án hình sự” của Trần Đình Nhã, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 12-2011; “Một số vấn đề trong việc bảo vệ người làm chứng” của Đinh Tuấn Anh, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 7/2008; “Một số vấn đề cần chú ý về tâm lý xã hội của người làm chứng” của Đinh Tuấn Anh, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 7/2008;
“Cần quy định rõ, đầy đủ tư cách pháp lý quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng” của Đinh Văn Lý, đăng tên Tạp chí Kiểm sát số 17/2009; “Hoàn thiện chế định người làm chứng trong tố tụng hình sự đảm bảo tính khách quan, minh bạch tại phiên tòa” của Nguyễn Thị Tuyết, đăng trên Tạp chí Tòa
án nhân dân số 10, năm 2011; “Vấn đề bảo vệ người làm chứng, người tố giác và những người tham gia tố tụng khác” của Phạm Mạnh Hùng, đăng trên Tạp chí kiểm sát số 7, năm 2012; “Hoàn thiện quy định của BLTTHS nhằm bảo vệ người làm chứng khi tham gia tố tụng”, luận văn thạc sĩ luật học của
Nguyễn Hải Ninh, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010
- Về quyền con người trong tố tụng hình sự nói chung, có các công
trình: “Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự” của Lê Cảm, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân
dân số 01/2006; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Các quyền cơ bản hiến định của công dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự” của Tô Văn Hòa, trường Đại học Luật Hà Nội, bảo vệ năm 2013
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là làm rõ các cơ sở lý luận, thực trạng các quy định về quyền của người làm chứng và người bị hại trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự Việt Nam về nội dung các quy phạm pháp luật
và các thủ tục tố tụng, từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng trong các vụ án hình sự ở nước ta
Trang 11Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ chính sau đây:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về quyền của người làm chứng và người bị hại trong tố tụng hình sự
- Phân tích làm rõ các quy định và nội hàm của các quy định về quyền người làm chứng và người bị hại trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam
- Phân tích đánh giá mức độ tương thích giữa các quy định của luật nhân quyền quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam về quyền người làm chứng
và người bị hại
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật
và cơ chế pháp lý bảo đảm hiệu quả quyền người làm chứng và người bị hại ở nước ta trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là khuôn khổ pháp lý về quyền của người làm chứng và người bị hại trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình
sự Việt Nam về nội dung các quy phạm pháp luật và các thủ tục tố tụng
Về phạm vi, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các quyền của người bị hại, người làm chứng, không đề cập đến quyền của các nhóm đối tượng khác trong luật hình sự về luật nội dung và luật tố tụng Đề tài chỉ khảo sát các quyền của người bị hại, người làm chứng trong pháp luật hình sự hiện hành của Việt Nam và luật nhân quyền quốc tế và các luật có liên quan, không đề cập đến các ngành luật khác và pháp luật của các quốc gia khác
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các tư tưởng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới và
Trang 12hoàn thiện hệ thống pháp luật và tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội, đặc biệt là phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các văn bản và tài liệu liên quan để làm rõ các vấn đề nghiên cứu đặt ra
6 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
Các công trình nghiên cứu hiện có liên quan đến chủ đề của đề tài thường mới chỉ tập trung phân tích chế định người bị hại hoặc người làm chứng trong luật hình sự Việt Nam về nội dung và tố tụng Đề tài này có đóng góp khoa học mới là mở rộng phạm vi nghiên cứu theo hướng phân tích so sánh các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam với các quy định của luật nhân quyền quốc về quyền của hai nhóm đối tượng đã nêu, vì thế tạo ra một góc nhìn mới toàn diện hơn về vấn đề Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm phong phú thêm cơ sở khoa học của pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta Những quan điểm và kiến nghị trong luận văn có thể có ích cho hoạt động lập pháp, hoạt động cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam và là tài liệu tham khảo đối với những người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự Ngoài ra, luận văn sẽ còn là nguồn tài liệu tham khảo có ích cho hoạt động học tập, nghiên cứu, giảng dạy của sinh viên, giảng viên trong các trường đào tạo luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền của người bị hại và người làm chứng
trong vụ án hình sự
Chương 2: Quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật
quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI
LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm người bị hại
1.1.1 Khái niệm người bị hại nói chung
Người bị hại nói chung là người bị thiệt hại do sự tác động tiêu cực của
sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào Theo cách hiểu này, khái niệm người bị hại đồng nghĩa với khái niệm nạn nhân, và dùng để chỉ cả cá nhân (con người) và tổ chức – những đối tượng phải gánh chịu thiệt hại từ bên
nhân với nghĩa là những cá nhân hay tổ chức phải gánh chịu những thiệt hại
về tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản ngày càng phong phú,
đa dạng dưới nhiều hình thức như: nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tai nạn (giao thông, lao động), nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của tội phạm Trong phạm vi của luận văn này chỉ tập trung vào một dạng nạn nhân (người
bị hại) của tội phạm
1.1.2 Người bị hại trong vụ án hình sự
Người bị hại là một khái niệm phổ biến trong khoa học tố tụng hình sự, tuy nhiên thế nào là người bị hại, phạm vi đối tượng được xem là người bị hại cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi
Dưới góc độ luật hình sự so sánh, có thể thấy ở các nước chưa có sự thống nhất trong khái niệm người bị hại Ở các nước theo hệ thống thông luật
Trang 14(Common Law) thường sử dụng thuật ngữ “nạn nhân” (victims), trong khi các nước theo hệ thống luật dân sự (Civil Law) lại thường dùng thuật ngữ “người
bị hại”, “người tố cáo” Ngoài ra, người bị hại còn được gọi là “bị hại”,
“người bị thiệt hại”, “nạn nhân”, hoặc thậm chí là “dân sự nguyên cáo” (người bị hại trong tố tụng dân sự)
Các quan điểm về người bị hại - nạn nhân của tội phạm - đã được các nhà nghiên cứu tội phạm học tranh luận sôi nổi từ giữa thế kỉ XX Các định nghĩa về nạn nhân của tội phạm tuy còn nhiều điểm chưa thống nhất nhưng nhìn chung đều xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, nạn nhân của tội phạm được xác định là những cá nhân
bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thần hay thiệt hại về kinh tế Quan điểm này cũng đã được ghi nhận trong Điều 1 Khoản 1 của Nghị quyết của Hội đồng Châu âu về địa vị của nạn nhân trong
tố tụng hình sự năm 2001 [22]
Ngược với quan điểm trên, nhiều nhà nghiên cứu về nạn nhân học đã đưa ra định nghĩa về nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng: nạn nhân của tội phạm bao gồm cả cá nhân và các tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại
Trong Bộ luật TTHS 2003, khái niệm người bị hại được định nghĩa tại
Điều 51 như sau: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra” [38] Theo đó, người bị hại trong vụ án hình sự
chỉ có thể là cá nhân, người mà thể chất, tinh thần, tài sản bị thiệt hại do tội phạm gây ra
Tuy nhiên, đến Bộ luật TTHS 2015 có hiệu lực thi hành vào 01/7/2016 khái niệm bị hại được mở rộng không chỉ bao gồm cá nhân mà còn có thể là
cơ quan, tổ chức Tại Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” [39]
Trang 15Về mặt nội dung pháp lý, có thể thông qua 3 dấu hiệu để xác định người bị hại trong TTHS, đó là: Về chủ thể, là người, cá nhân, tổ chức bị tội phạm xâm hại; Về thiệt hại, có sự thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác; Về nguồn gốc của thiệt hại, do chính hành vi phạm tội của người phạm tội trực tiếp gây ra
Trong vụ án hình sự, bị hại đóng vai trò là người tham gia tố tụng, được triệu tập để giải quyết vụ án hình sự theo giấy triệu tập của cơ quan
có thẩm quyền hoặc được xác định tư cách trong các biên bản tại cơ quan tiến hành tố tụng mà giai đoạn ban đầu là các biên bản ghi lời khai của cơ quan điều tra, đến tư cách tham gia tố tụng được xác định qua giấy triệu tập trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo là truy tố và xét xử
Theo quy định của Bộ luật TTHS hiện hành của nước ta, “người bị hại” chỉ cá nhân bị thiệt hại do tội phạm, còn pháp nhân hoặc tổ chức bị thiệt hại do hành vi tội phạm tuy cũng là người tham gia tố tụng nhưng chỉ với tư cách là nguyên đơn dân sự
1.2 Khái niệm người làm chứng
Theo Từ điển tiếng Việt, người làm chứng là “người đứng ra xác nhận những điều mình đã chứng kiến” [53]
Theo Từ điển Luật học thì:
Người làm chứng là người tham gia tố tụng Người nào biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án; có nghĩa vụ khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án [67]
Như vậy, người làm chứng trước hết phải là người trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc do nguồn thông tin khác mà biết rõ những nội dung và đối tượng có liên quan đến sự việc đã xảy ra Đây là đặc điểm thể hiện bản chất
Trang 16của người làm chứng Nếu một người không trực tiếp nhìn thấy hoặc không biết những nội dung có liên quan đến sự việc xảy ra thì không không thể trở thành người làm chứng Vì vậy, người làm chứng là người không thể thay thế, không thể cử người đại diện tham gia tố tụng thay cho người làm chứng
Những vấn đề mà người làm chứng đã được trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy hoặc biết đến có ý nghĩa chứng minh, làm rõ nội dung cụ thể của sự việc
đã xảy ra (về thời gian, địa điểm xảy ra sự việc, về đối tượng, hành vi và diễn biến cụ thể của hành vi ) Tuy nhiên, người trực tiếp nhìn thấy hay biết đến
sự việc không đương nhiên trở thành người làm chứng Họ phải được cơ quan
có thẩm quyền triệu tập đến, tiến hành lấy lời khai theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Những quy định về trình tự, thủ tục này sẽ tạo ra mối quan hệ về mặt pháp lý giữa người làm chứng với cơ quan có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, từ đó vị trí pháp lý của người làm chứng được xác lập, đồng thời xác định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người làm chứng, xác định hậu quả pháp lý khi người làm chứng khi có hành vi khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo
Ở Việt Nam, quy định về người làm chứng từng được ghi nhận trong
Bộ Quốc triều Hình luật thời Lê sơ (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) Điều
714 Bộ luật này quy định:
Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngày thường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thì không cho phép ra làm chứng Nếu những người ấy giấu giếm ra làm chứng, thì khép vào tội không nói đúng sự thật Hình quan,
ngục biết mà dung túng việc đó đều bị tội [51]
Trong thời kỳ Pháp thuộc, người làm chứng được quy định trong Bộ luật
tố tụng áp dụng tại Bắc Kỳ như sau: "Phàm người chứng đã liệt danh trong đơn khống chế và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến Tòa án để chất vấn" [28, Điều 20]
Trang 17Bộ luật Tố tụng Hình sự các năm 1988, 2003 và 2015 đều có quy định
về người làm chứng Theo Bộ luật TTHS năm 2003, người làm chứng là
“người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng”, người làm chứng chỉ có thể là cá nhân Cá nhân đó biết được những tình tiết liên quan đến vụ án và chứng minh được vì sao họ biết các tình tiết đó Pháp luật không quy định về độ tuổi và giới tính của người làm chứng, do vậy bất kỳ người nào biết được các tình tiết của vụ án đều có thể làm chứng Tuy nhiên, người làm chứng phải có khả năng nhận thức được
sự việc có ý nghĩa cho việc chứng minh, giải quyết vụ án hình sự phải có ý nghĩa đối với quá trình chứng minh vụ án hình sự và trình bày lại những tình tiết đã được chứng kiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận
Bộ luật TTHS 2015, tại điều 66 quy định: “Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng” [39]
Theo đó, người làm chứng tham gia tố tụng trong vụ án hình sự khi được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng,
1.3 Nội dung của quyền của người bị hại và người làm chứng trong
vụ án hình sự
Quyền là khái niệm chỉ những gì mà theo lẽ công bằng và chính đáng một người phải được hưởng, được làm, được bảo vệ và được đòi hỏi, yêu cầu chủ thể khác tôn trọng và bảo đảm Khái niệm quyền gắn với khả năng tự do hành động của chủ thể quyền Nói cách khác, quyền là những gì mà chủ thể của quyền có thể thực hiện hay từ bỏ
Như đã đề cập, quyền của người bị hại và người làm chứng thuộc về những quyền con người mà mang tính tự nhiên, vốn có của họ, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền của người làm chứng và người bị hại thuộc về các quyền con người trong quản lý tư pháp, hay trong tố tụng hình sự
Trang 181.3.1 Nội dung quyền của người bị hại trong vụ án hình sự
Theo pháp luật hình sự Việt Nam, người bị hại có những quyền hiến định và quyền luật định như sau:
- Quyền được bình đẳng trước pháp luật;
- Quyền tố giác tội phạm;
- Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, các quyền và lợi ích hợp pháp khác;
- Quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự;
- Quyền được rút yêu cầu khởi tố; quyền được có người bào chữa;
- Quyền được đưa tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Quyền được thông báo về kết quả điều tra;
- Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng;
- Quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch;
- Quyền được tham gia phiên tòa;
- Quyền được trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Quyền được đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường;
- Quyền được trình bày ý kiến về kết luận giám định;
- Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần hình phạt đối với bị cáo; quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường
Bên cạnh các quyền, người bị hại cũng có các nghĩa vụ nhất định Ví
Trang 19dụ theo Bộ luật TTHS hiện hành, người bị hại có những nghĩa vụ như: Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
1.3.2 Nội dung quyền của người làm chứng trong vụ án hình sự
Trước hết, với tư cách là công dân, người làm chứng cũng có những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận, ví dụ như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Bộ luật hình sự 1999 cũng chỉ rõ một trong những nhiệm vụ của bộ luật này là “…bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” [35, Điều 1] trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của người làm chứng
Bên cạnh các quy định nói trên, Bộ luật TTHS hiện hành, người làm chứng có một số quyền đặc thù, cụ thể như quyền yêu cầu cơ quan triệu tập
họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng; quyền được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật
Khái niệm các chi phí khác được cụ thể hoá trong Nghị định số 81/2014/NĐ-CP ngày 14/8/2014 của Chính phủ, theo đó bao gồm chi phí giám định, định giá, chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng
Bên cạnh đó, người làm chứng còn có một quyền đặc biệt, đó là quyền miễn trừ làm chứng Quyền này có cội nguồn sâu xa trong lịch sử xã hội loài người là một quy định vô cùng nhân văn Ví dụ, Bộ luật Hình sự hiện hành của nước ta đã quy định hành vi không tố giác tội phạm của những người là ông bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị em ruột, vợ hoặc chồng của kẻ phạm tội
là hành vi tội phạm (trừ trường hợp không tố giác tội phạm xâm phạm an ninh
Trang 20quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng) Quy định này thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước, phản ánh khía cạnh đạo đức trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và công dân
Quyền miễn trừ làm chứng cũng được đề cập trong pháp luật hình sự và
tố tụng hình sự của đa số quốc gia và trong một số điều ước quốc tế, như Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền 1948 và Công ước về các quyền dân
sự và chính trị 1966 của Liên hiệp quốc Hiến pháp của một số nước cũng ghi nhận quyền này như là nguyên tắc hiến định, thí dụ như Hiến pháp của Liên
bang Nga quy định: “Không ai buộc phải trình bày lời khai chống lại chính mình, vợ (hay chồng), người thân của mình” Quy định này của Hiến pháp có
ảnh hưởng sâu rộng trong toàn bộ hệ thống pháp luật Các nội dung của nó được thể hiện trong luật nội dung cũng như trong luật TTHS Cụ thể, BLHS
Liên bang Nga tại Điều 308 quy định: “Người làm chứng không phải chịu TNHS trong trường hợp từ chối trình bày lời khai chống lại bản thân mình,
vợ hoặc chồng hoặc người thân của mình” [48] Bộ luật TTHS Liên bang
Đức tại các Điều 52, 53, 54, 55 quy định:
Người làm chứng có quyền từ chối làm chứng trong một số trường hợp sau: Người thân hoặc họ hàng của bị cáo có thể từ chối đưa
ra chứng cứ nếu thấy rằng việc đó có thể dẫn đến xung đột, ảnh hưởng tới việc thực hiện bổn phận đạo đức của họ [49, Điều 52]; Những người làm ở một số nghề nghiệp luật định được quyền từ chối đưa ra chứng
cứ vì lý do bí mật nghề nghiệp Quy định này được áp dụng đối với linh mục, luật sư, bác sỹ và các cộng sự của họ [49, Điều 53] Viên chức nhà nước, gồm các Thẩm phán và những người làm việc tại các nhiệm
sở, có quyền từ chối đưa ra chứng cứ về những vấn đề bí mật liên quan đến công việc của [48, Điều 54]; Các người làm chứng không nhất thiết phải khai báo nếu câu trả lời câu hỏi cụ thể nào đó có thể
Trang 21làm cho họ hoặc một trong số những người họ hàng của họ có nguy cơ
bị truy tố hình sự hoặc kết tội [49, Điều 55]
Pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản cũng quy định người làm chứng được từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào buộc tội những người thân thích của
họ Điều 147 Bộ luật TTHS Nhật Bản quy định:
Một người làm chứng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào
mà có thể nghiêng về hướng buộc tội những người sau đây: Vợ chồng, người thân ruột thịt trong phạm vi ba đời hoặc người bà con gần gũi trong phạm vi hai đời của người làm chứng hoặc người đã
có mối quan hệ với người làm chứng; Người giám hộ, người giám sát của người giám hộ hoặc người phụ trách của người làm chứng; Người mà được người làm chứng giám hộ, phụ trách hoặc giám sát người giám hộ của người đó [46, tr 26]
Trong tố tụng hình sự quyền miễn trừ làm chứng được nhìn nhận ở
ba góc độ:
- Miễn trừ làm chứng như là một đặc quyền pháp lý, có tính chất bất khả xâm phạm Một số chủ thể tham gia TTHS có quyền không phải làm chứng, tức là quyền không trình bày lời khai với tư cách người làm chứng và không thể bị truy cứu trách nhiệm về việc này;
- Miễn trừ làm chứng như một chế định bảo vệ quyền của những người tham gia tố tụng;
- Miễn trừ làm chứng như một quyền tố tụng cụ thể [31]
Làm chứng, như đã nói ở trên, có nghĩa là khai báo, cung cấp những thông tin mà mình biết được về vụ án Quyền miễn trừ làm chứng bao hàm quyền im lặng, tức là không trình bày lời khai về bất kỳ tình tiết sự kiện nào của vụ án khi thấy lời khai của mình có thể được sử dụng để truy cứu TNHS đối với bản thân mình hoặc đối với người thân của mình Quyền miễn trừ làm
Trang 22chứng được thừa nhận không phải chỉ vì lợi ích của người làm chứng mà còn
vì mục đích thực hiện tổng thể các quyền tự do dân chủ - một trong những tiền đề cần thiết và quan trọng bảo đảm một cách hiện thực vấn đề quyền con người trong TTHS Quyền miễn trừ làm chứng đồng nghĩa là bảo đảm quyền
về nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm đời tư của công dân trong lĩnh vực TTHS Khi giải thích quyền im lặng như là một yếu tố của quyền miễn trừ làm chứng, Tòa án Châu Âu về quyền con người cho rằng những nội dung này được các quy phạm điều ước quốc tế thừa nhận và là nền tảng của khái niệm “thủ tục tư pháp công bằng”
Cũng theo Bộ luật TTHS hiện hành của Việt Nam, người làm chứng có những nghĩa vụ sau: Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì
có thể bị dẫn giải Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án cho cơ quan có thẩm quyền Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của BLHS năm 1999, khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 của Bộ luật Hình sự
1.4 Đặc điểm các quyền của người bị hại, người làm chứng
Các quyền của người bị hại, người làm chứng cũng là quyền con người, thể hiện nhu cầu tự nhiên vốn có được đối xử bình đẳng, công bằng, được bảo
vệ an toàn của những đối tượng này trong khi tham gia vào tố tụng hình sự, đồng thời có một vài đặc điểm riêng mà có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, tính phổ biến
Tính phổ biến của các quyền của người bị hại, người làm chứng thể hiện ở việc chúng có tính phổ quát, là giá trị và quyền chung của nhân loại Con người, không phân biệt quốc gia dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, thành phần xã hội… về nguyên tắc đều có quyền này
Trang 23Quyền của người bị hại, người làm chứng là những quyền con người đã nhận được sự đồng thuận cao của cộng đồng quốc tế Mặc dù cho đến nay chưa có một điều ước quốc tế riêng mang tính ràng buộc nào quy định về quyền của người bị hại, người làm chứng và các điều ước quốc tế về nhân quyền cũng chưa có quy định riêng về các quyền này; tuy nhiên Liên hợp quốc đã ban hành một số văn bản hướng dẫn về bảo vệ người bị hại, người làm chứng trong đó đề cập đến các quyền của họ Hướng dẫn tuy về mặt pháp
lý chỉ có hiệu lực khuyến nghị, nhưng các nguyên tắc và quy định của nó hiện vẫn được các quốc gia tuân thủ triệt để Hầu hết các quốc gia đã quy định các quyền của nhóm này trong luật tố tụng hình sự và hình thành cơ chế bảo đảm
và bảo vệ quyền của người bị hại, người làm chứng trong các vụ án hình sự
Thứ hai, tính đặc thù
Các quyền của người bị hại, người làm chứng vừa có tính phổ biến vừa có tính đặc thù, như là hai mặt của một vấn đề Tính đặc thù thể hiện ở chỗ tuy các quyền của người bị hại, người làm chứng là giá trị chung của nhân loại được thế giới thừa nhận và tuân thủ, nhưng ở khía cạnh bảo đảm, việc thực hiện các quyền này trên thực tế phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh
cụ thể của mỗi quốc gia cũng như phong tục, tập quán văn hóa của quốc gia
đó Hai đặc tính này của quyền của người bị hại, người làm chứng không mâu thuẫn, loại trừ nhau mà cùng tồn tại song song Tuy nhiên, trong khi tính đến những yếu tố đặc thù, các quốc gia vẫn phải bảo đảm những nguyên tắc chung nền tảng của các quyền của người bị hại, người làm chứng, bao gồm nguyên tắc về sự bình đẳng, công bằng và tính tự nhiên, vốn có của các quyền như đã nói ở trên
Thứ ba, tính không thể tước đoạt
Với ý nghĩa là một quyền tự nhiên, vốn có của con người, các quyền của người bị hại, người làm chứng là thiêng liêng và bất khả xâm phạm
Trang 24Không chủ thể nào, kể cả các Nhà nước, có thể tuỳ tiện tước đoạt hoặc hạn chế các quyền này
Điều đó có nghĩa là các quyền của người bị hại, người làm chứng không phải là tuyệt đối Trong một số trường hợp, các quyền này có thể bị giới hạn để bảo vệ các lợi ích cao hơn, bao gồm lợi ích của quốc gia, cộng đồng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của những người tham gia tố tụng khác Tuy nhiên, việc giới hạn quyền phải được quy định trong pháp luật và phải dựa trên những cơ sở hợp lý
Thứ tư, tính không thể phân chia
Tính không thể phân chia xuất phát từ nhận thức rằng tất cả các quyền con người đều là nhu cầu tự nhiên của con người, đều có tầm quan trọng như nhau Về nguyên tắc, không nên coi bất kỳ quyền con người nào có giá trị cao hơn các quyền con người khác Tuy nhiên, tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể một
số quyền có thể được ưu tiên thực hiện và chú ý bảo vệ hơn Chẳng hạn, trong bối cảnh tố tụng hình sự khi mà các quyền của người bị hại, người làm chứng đang ngày một bị xâm phạm một cách phổ biến thì các nhà nước cần có những chính sách, pháp luật bảo vệ chặt chẽ quyền này
Thứ năm, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Giữa các quyền của người bị hại, người làm chứng có mối liên hệ chặt chẽ với các quyền khác của con người trong tố tụng hình sự Các quyền con người nói chung về nguyên tắc không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn liên kết với nhau trong một tổng thể, vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau Việc đảm bảo các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần nằm trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác
Chẳng hạn, khi các quyền của người bị hại, người làm chứng không được bảo đảm, vụ án hình sự không thể được thực hiện đúng thời gian và không thể được xử lý một cách chính xác, do đó sẽ dẫn tới vi phạm quyền của
Trang 25những người tham gia tố tụng khác, bao gồm quyền của bị can, bị cáo Trong một số trường hợp, việc này còn có thể dẫn đến oan sai nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cả quyền sống của bị can, bị cáo
Bên cạnh những đặc tính chung như trên, các quyền của người bị hại, người làm chứng còn có một số đặc điểm riêng như sau:
- Các quyền của người bị hại, người làm chứng gắn với truyền thống tư pháp của quốc gia Mặc dù có những nguyên tắc chung, áp dụng phổ biến, với mỗi quốc gia, hệ thống tư pháp có thể quy định các quyền và cách thức thực hiện khác nhau với các quyền của nhóm này
- Các quyền của người bị hại, người làm chứng phát sinh trong quá trình tham gia tố tụng hình sự Chỉ khi con người tham gia vào quá trình pháp
lý đặc biệt này thì các quyền đó mới phát sinh Điều này khiến cho các quyền của người bị hại khác biệt với nhiều quyền con người khác về mặt thời điểm, hoàn cảnh và chủ thể
- Các quyền của người bị hại, người làm chứng đồng thời thuộc về nhóm các quyền dân sự và nhóm các quyền con người trong tố tụng hình sự
Do thuộc về nhóm các quyền dân sự, các quyền này gắn liền với danh dự, nhân phẩm của người bị hại, người làm chứng, đòi hỏi các nhà nước phải có biện pháp bảo đảm, bảo vệ ngay mà không phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của quốc gia Thuộc về nhóm các quyền con người trong tố tụng hình sự, các quyền của người bị hại, người làm chứng sẽ được bảo đảm thực thi theo quy trình tố tụng chặt chẽ Chủ thể chính có nghĩa vụ bảo đảm các quyền của người bị hại, người làm chứng là các cơ quan tiến hành tố tụng Như vậy, để bảo đảm thực thi hiệu quả các quyền của người bị hại, người làm chứng, điều kiện đầu tiên là cần phải có một hệ thống pháp luật hình sự quy định đầy đủ và phù hợp các quyền con người nói chung, quyền của hai nhóm chủ thể này nói riêng
- Các quyền của người bị hại, người làm chứng thuộc về quyền của các
Trang 26nhóm dễ bị tổn thương Người bị hại, người làm chứng là những đối tượng dễ
bị xâm hại quyền trong tố tụng hình sự, vì thế cần phải được bảo vệ đặc biệt Nhiều quyền của người bị hại, người làm chứng là riêng biệt, chỉ áp dụng với hai nhóm đối tượng này Bởi người bị hại, người làm chứng là những đối tượng dễ bị tổn thương, bên cạnh các thiết chế pháp lý của nhà nước, việc huy động các thiết chế xã hội, như hoạt động của các tổ chức xã hội về nhân quyền, trong việc bảo vệ nhóm này có ý nghĩa rất quan trọng
1.5 Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của người bị hại, người làm chứng
1.5.1 Bảo đảm về chính trị
Quyền của người bị hại, người làm chứng tất yếu phát sinh nghĩa vụ của chủ thể có liên quan, mà trước hết là các cơ quan tiến hành tố tụng – là các cơ quan quan trọng của nhà nước, chuyên trách giữ gìn trật tự an ninh của quốc gia Ở nhiều quốc gia, các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền lực rất lớn, việc giám sát, kiểm soát quyền lực của các cơ quan này rất khó khăn Vì vậy, để bảo đảm các quyền của người bị hại, người làm chứng, các quốc gia phải có quyết tâm chính trị cao, thể hiện ở việc có những chính sách vĩ mô kiên quyết, toàn diện, hiệu quả về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nói chung,
về bảo vệ các quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn xác định việc bảo đảm quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước Bước vào thời kỳ đổi mới, tư duy và nhận thức chính trị về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ngày càng củng cố đã tạo tiền đề cho việc khắc phục quan niệm bó hẹp trước đây về nội dung quyền con người cũng như phương thức đảm bảo quyền con người Đảng đã ban hành Nghị quyết số 49 năm 2005 quy định một cách toàn diện về cải cách tư pháp, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ, bảo đảm các quyền con người trong tố tụng hình sự
Việc thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về quyền con người
Trang 27nói chung, về quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng, sẽ góp phần bảo đảm cho người bị hại, người làm chứng được thực hiện đầy đủ và hiệu quả các quyền chính đáng của họ trong các vụ án hình sự Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, các nhánh quyền lực trong
Bộ máy Nhà nước hoạt động trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Nhà nước nỗ lực xây dựng và kiện toàn các thiết chế đảm bảo quyền con người trên thực tế Hệ thống các cơ quan nhà nước được xây dựng bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của con người, quyền công dân trong đó bao gồm các quyền tố tụng của cá nhân công dân Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người bị hại, người làm chứng thụ hưởng quyền Quyền của người bị hại, người làm chứng được thông tin và tham gia đóng góp vào quá trình hoạch định chính sách, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng pháp luật ngày càng được tôn trọng và bảo đảm tốt hơn…
1.5.2 Bảo đảm về pháp lý
Trong toàn bộ những bảo đảm về quyền của người bị hại, người làm chứng, bảo đảm về pháp lý là quan trọng nhất Đó là bởi các quyền của những đối tượng này gắn liền với những hành vi phạm tội, nên cần phải được quy định bằng pháp luật một cách chi tiết, cụ thể, và phải có những
cơ chế, biện pháp pháp lý đi kèm thì mới có thể buộc các chủ thể liên quan phải tôn trọng, thực hiện
Ở Việt Nam, chế định quyền con người được hình thành từ Hiến pháp
1946, được hoàn thiện liên tục qua các bản Hiến pháp về sau, và đặc biệt là được củng cố, đổi mới trong Hiến pháp 2013 Từ Đổi mới (năm 1986) đến nay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành, sửa đổi hàng chục ngàn văn bản pháp luật, trong đó có những văn bản trực tiếp ghi nhận các quyền cơ bản của con người, quyền của người bị hại, người làm chứng như Bộ luật TTHS Hệ thống
Trang 28pháp luật Việt Nam đã thể hiện sự tương thích ở mức độ cao với các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người bằng việc khẳng định tất cả các quyền và
tự do cơ bản của con người Dù vậy, để bảo đảm hiệu quả các quyền của người bị hại, người làm chứng, vẫn cần rà soát, củng cố, bổ sung các quy định hiện hành có liên quan ở nước ta
1.5.3 Bảo đảm về văn hóa
Văn hoá là yếu tố tác động trực tiếp đến việc bảo đảm thực thi các quyền con người, trong đó có các quyền của người bị hại, người làm chứng Trong tố tụng hình sự, thái độ của xã hội, của cộng đồng và của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với người bị hại, người làm chứng có ý nghĩa rất lớn với việc bảo đảm quyền của các nhóm này
Theo cách tiếp cận trên, việc nâng cao dân trí, nâng cao nhận thức về quyền của các chủ thể có liên quan cần phải được tính đến trong quá trình bảo đảm các quyền của người bị hại, người làm chứng Xuất phát từ yếu tố văn hóa như vậy, cần chú trọng đến cách tiếp cận dựa trên quyền trong quá trình làm chính sách về tố tụng hình sự Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội trong việc thực hiện và bảo đảm quyền của người
bị hại, người làm chứng cần được tính đến, kết hợp trách nhiệm của nhà nước với việc xã hội hóa các phương thức thực hiện quyền của người bị hại, người làm chứng, bởi đây cũng là những yếu tố gắn với đặc thù văn hoá Việt Nam
1.5.4 Bảo đảm về kinh tế
Thuộc nhóm quyền dân sự, các quyền của người bị hại, người làm chứng đặt ra nghĩa vụ với các quốc gia phải bảo đảm thực thi ngay, không được viện dẫn lý do hạn chế về nguồn lực để trì hoãn
Mặc dù vậy, việc thực thi các quyền này, giống như với tất cả các quyền con người nói chung, ít hoặc nhiều, vẫn cần đến nguồn lực vật chất để bảo đảm Đối với các quốc gia, đây là một trong những nghĩa vụ (nghĩa vụ
Trang 29thực hiện) về quyền, vì vậy nên hầu hết đều cam kết và thực tế là danh ngân sách cho việc thực hiện quyền này
Ở Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, phải đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo tiền đề vật chất để thực hiện và bảo đảm quyền con người nói chung, trong đó có các quyền dân sự, chính trị và quyền trong tố tụng hình
sự Nhà nước có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, khoa học công nghệ, củng cố cơ sở hạ tầng và các điều kiện để có thể đáp ứng nhu cầu thực hiện các quyền của người bị hại, người làm chứng Việc bảo đảm thực thi các quyền của người bị hại, người làm chứng trong thực tế không đòi hỏi những điều kiện vật chất lớn, vì vậy chắc chắn không gây khó khăn cho nhà nước cả hiện tại và lâu dài
Trang 30Kết luận Chương 1
Người bị hại và người làm chứng là những người thuộc nhóm dễ bị tổn thương, vậy nên việc bảo vệ quyền của những người này là một yêu cầu tất yếu Các quyền của người làm chứng và người bị hại có đầy đủ các đặc trưng của quyền con người nói chung và quyền của người tham gia tố tụng nói riêng
là tính phổ biến, tính đặc thù, tính không thẻ tước đoạt, tính không thể phân chia và tính liên quan và liên hệ lẫn nhau Để có sự bảo vệ và thúc đẩy quyền một cách toàn diện các thể chế phải có những đảm bảo để thực thi quyền một cách tối ưu nhất bao gốm những đảm bảo về chính trị, về pháp lý về văn hóa
và về kinh tế
Mỗi quốc gia có tập quán pháp luật khác nhau nên việc bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng ở mỗi đất nước có khác biệt, tuy nhiên, có những nguyên tắc chung mà các quốc gia phải tuân thủ Việc nghiên cứu các quy định về quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam trong chương sau sẽ góp phần hoàn thiện hơn pháp luật hình sự nói riêng cũng như hệ thống pháp luật liên quan của nhà nước ta về bảo vệ và thúc đẩy quyền của người làm chứng và người bị hại
Trang 31Chương 2
QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI
LÀM CHỨNG TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 Quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật quốc tế
2.1.1 Quyền của người bị hại trong pháp luật quốc tế
Trên phạm vi toàn cầu, vào năm 1985, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua “Tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản về công lý cho các nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực”, trong đó khuyến nghị có các biện pháp hành động ở cấp quốc gia và quốc tế để cải thiện việc tiếp cận công lý và đối xử công bằng, đền bù, bồi thường và hỗ trợ cho các nạn nhân của tội phạm Tuyên bố này được thông qua tại kỳ họp lần thứ VII của Đại hội đồng Liên hợp quốc về ngăn chặn tội phạm và xử lý người phạm tội Để thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố này, Liên hợp quốc cũng đã thông qua Hướng dẫn thực hiện tuyên bố, còn Ủy ban kinh tế xã hội của Liên hợp quốc thì thông qua Nghị quyết số 1990/22 ngày 24 tháng 5 năm 1990, trong đó đề nghị phổ biến Tuyên bố này trong Kỳ họp thứ 8 của Liên hợp quốc về vấn đề ngăn chặn tội phạm và xử lý người phạm tội phổ biến rộng rãi Hướng dẫn này Bên cạnh đó, có những quy chuẩn được đề ra với những nhóm người dễ bị tổn thương trong nói chung khi áp dụng với người bị hại nằm trong các nhóm này như: Công ước về quyền trẻ em (1989); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ
nữ (1979); Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về phòng chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000)…
Trang 32Ở phạm vi khu vực, vào cuối những năm 1970, phong trào bảo vệ quyền của người bị hại ở châu Mỹ lên cao Năm 1982 Mỹ là một trong những
quốc gia đầu tiên ban hành đạo luật riêng về người bị hại (the Victim Rights Act), kéo theo đó là một số quốc gia châu Mỹ khác Tại châu Âu vào năm
1983, các quốc gia thành viên của Hội đồng châu Âu đã thông qua: “Công ước về bồi thường cho nạn nhân của tội phạm bạo lực châu Âu” có hiệu lực từ ngày 01/02/1988 Một trong những mối quan tâm được đề cập trong Công ước là việc đưa ra một chương trình mà theo đó quốc gia thành viên có thể can thiệp và bồi thường cho nạn nhân hoặc những người sống phụ thuộc vào nạn nhân, những người mà trên thực tế hiếm được bồi thường vì người phạm tội không tuân thủ pháp luật, bỏ trốn hoặc không có tiền để bồi thường Trên
cơ sở văn bản nêu trên, Hội đồng Bộ trưởng của Hội đồng Châu Âu qua Khuyến nghị số R(85)11 về vị trí của nạn nhân trong cơ cấu luật hình sự và luật tố tụng hình sự đã mở rộng phạm vi nhu cầu bảo vệ nạn nhân của tội phạm, những người phải chịu tổn thương về thể chất,tinh thần, vật chất và những nhu cầu của họ cần phải được chú ý hơn nữa trong tất cả quy trình của
tư pháp hình sự
Theo Tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản về công lý cho các nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết 40/34 ngày 29/11/1985, khái niệm "nạn nhân" của tội phạm được hiểu là:
những người, là cá nhân hay tập thể, đã phải chịu tổn thất, bao gồm cả về thể chất hoặc tinh thần, chịu đựng sự tổn thương về tình cảm, thiệt hại về kinh tế hoặc tổn hại đến các quyền pháp lý cơ bản, là kết quả của những hành vi hoặc sự khinh xuất vi phạm luật hình sự đang áp dụng tại quốc gia thành viên, những luật này cấm lạm dụng quyền lực [54, đoạn 1] Tuyên bố nêu rõ, một người có thể được coi là một nạn nhân của tội phạm bất kể thủ phạm đã được
Trang 33nhận dạng, bị bắt, bị truy tố, bị kết án hay chưa và không kể mối quan hệ gia đình giữa thủ phạm và nạn nhân [54, đoạn 2] Thuật ngữ "nạn nhân" cũng bao gồm thành viên trong gia đình trực hệ hoặc những người phụ thuộc trực tiếp của nạn nhân, và những người mà do can thiệp để trợ giúp nạn nhân khi gặp khó khăn hoặc
đã để ngăn chặn sự vi phạm xảy ra xa hơn đã phải chịu đựng sự tổn hại [54, đoạn 2]
Tuyên bố quy định một loạt các quyền của những nạn nhân của tội phạm mà sẽ được áp dụng với tất cả mọi người, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính độ tuổi, ngôn ngữ, tôn giáo, quốc tịch, quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, niềm tin hoặc thực hành văn hóa, tài sản, nơi sinh hoặc địa vị gia đình, dân tộc hay nguồn gốc xã hội và tình trạng khuyết tật [54, đoạn 3] Các quyền này được chia thành các lĩnh vực chính, bao gồm: Tiếp cận công lý và đối xử công bằng; Phục hồi; Bồi thường
và Trợ giúp
Về tiếp cận công lý và đối xử công bằng, Tuyên bố trên yêu cầu các
quốc gia phải bảo đảm:
- Các nạn nhân được đối xử với tình thương và tôn trọng nhân phẩm Họ được quyền tiếp cận với các cơ chế của công lý và được đền bù nhanh chóng theo quy định của pháp luật quốc gia vì
sự thiệt hại mà họ đã phải chịu đựng [54, đoạn 4]
- Các cơ chế tư pháp và hành chính được thiết lập và tăng cường bất cứ khi nào cần thiết để tạo điều kiện cho các nạn nhân đạt được sự đền bù thông qua các thủ tục chính thức và không chính thức nhanh chóng, công bằng, ít tốn kém và dễ tiếp cận Các nạn nhân phải được thông báo về các quyền của họ được tìm kiếm cơ hội đền bù thông qua các cơ chế như vậy [54, đoạn 5]
Trang 34- Quá trình tư pháp và hành chính đáp ứng nhu cầu của các nạn nhân phải được tạo điều kiện thuận lợi bằng cách:
+ Thông báo cho các nạn nhân về vai trò và phạm vi, thời gian và tiến triển của các thủ tục và về cách xử lý vụ việc của họ, đặc biệt trong trường hợp tội phạm nghiêm trọng và nếu nạn nhân yêu cầu cung cấp thông tin như vậy;
+ Cho phép trình bày và cân nhắc quan điểm và mối quan tâm của các nạn nhân, ở những giai đoạn thích hợp của quá trình
tố tụng khi các lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, mà không gây tổn hại đến người bị buộc tội và phù hợp với hệ thống tư pháp hình
sự của quốc gia;
+ Cung cấp trợ giúp đầy đủ cho các nạn nhân suốt quá trình pháp lý;
+ Thực hiện những biện pháp để giảm thiểu khó khăn cho các nạn nhân, bảo vệ sự riêng tư bất cứ khi nào cần thiết và bảo đảm sự
an toàn của họ cũng như của gia đình và người làm chứng đại diện cho họ, không bị đe dọa và trả thù;
+ Tránh sự trì hoãn không cần thiết trong giải quyết vụ việc và thi hành các mệnh lệnh hay quyết định trao cho các nạn nhân [54, đoạn 6]
+ Các cơ chế không chính thức giải quyết các tranh chấp, bao gồm trung gian, trọng tài và các thực tiễn tư pháp bản địa và mang tính tập quán cần được sử dụng bất kỳ khi nào thích hợp để bảo đảm sự hòa giải và đền bù cho các nạn nhân [54, đoạn 7]
Về các biện pháp phục hồi, Tuyên bố trên yêu cầu các quốc gia phải bảo đảm:
- Người phạm tội hay bên thứ ba có trách nhiệm về các hành
vi của mình, bất kỳ khi nào thích hợp Phải phục hồi công bằng
Trang 35cho các nạn nhân, gia đình của nạn nhân hay những người phụ thuộc Sự phục hồi như vậy cần bao gồm trả lại tài sản hay thanh toán về những thiệt hại hoặc mất mát, hoàn trả lại những chi phí phát sinh là kết quả của hành vi phạm tội, cung cấp dịch vụ và khôi phục các quyền [54, đoạn 8]
- Xem xét lại các thực tiễn, các quy định và pháp luật để xem xét việc phục hồi như là một sự lựa chọn sẵn có trong các vụ án hình sự, bên cạnh các hình phạt tương ứng khác [54, đoạn 9]
- Trong trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng về môi trường, sự phục hồi, nếu được yêu cầu, cần bao gồm, trong phạm
vi cao nhất có thể, việc khôi phục lại môi trường, xây dựng lại cơ
sở hạ tầng, thay thế các cơ sở hạ tầng cộng đồng và hoàn trả các chi phí phát sinh trong khi đặt lại địa điểm, bất cứ khi nào những thiệt hại như vậy xảy ra do kết quả của việc di chuyển vị trí của cộng đồng [54, đoạn 10]
Bất cứ khi nào, các quan chức nhà nước hoặc những người đại diện thực hiện chức năng chính thức hoặc bán chính thức mà vi phạm luật hình sự của quốc gia, các nạn nhân cần được phục hồi bởi quốc gia có các quan chức hoặc cơ quan đại diện chịu trách nhiệm về những thiệt hại Trong trường hợp chính phủ có hành vi và sự khinh suất gây thiệt hại cho nạn nhân không còn tồn tại nữa, thì quốc gia hoặc chính phủ kế thừa phải cung cấp sự khôi phục cho các nạn nhân
Về các biện pháp bồi thường, Tuyên bố trên yêu cầu các quốc gia phải bảo đảm:
- Bất cứ khi nào người phạm tội hay các nguồn khác không cung cấp sự bồi thường, quốc gia phải cố gắng cung cấp các bồi thường về tài chính cho: a Các nạn nhân, những người đã phải chịu
Trang 36đựng những tổn thương về cơ thể hay thiệt hại về thể chất, sức khỏe tinh thần do tội phạm gây ra; b Gia đình, đặc biệt là những người phụ thuộc của người đã chết hoặc không còn có khả năng về thể chất hoặc tinh thần do tội phạm gây ra [54, đoạn 12]:
- Khuyến khích thiết lập, tăng cường và mở rộng các quỹ quốc gia về bồi thường cho các nạn nhân Bất kỳ khi nào thích hợp, các quỹ khác cũng có thể được thiết lập vì mục đích này, bao gồm trong cả những trường hợp khi quốc gia có nạn nhân là công dân không còn trách nhiệm đền bù cho nạn nhân của hành vi gây hại [54, đoạn 13]
Về các biện pháp trợ giúp, Tuyên bố trên yêu cầu các quốc gia phải bảo đảm:
- Các nạn nhân nhận được sự trợ giúp cần thiết về vật chất, y
tế, tâm lý và xã hội thông qua các phương tiện tự nguyện của chính phủ, dựa vào cộng đồng và vào bản địa [54, đoạn 14]
- Các nạn nhân được thông báo về sự sẵn có của các dịch vụ
xã hội và sức khỏe, các trợ giúp thích hợp khác và sẵn sàng cho họ được tiếp cận dễ dàng [54, đoạn 15]
- Nhân viên cảnh sát, tư pháp, y tế, dịch vụ xã hội và cá nhân liên quan khác được đào tạo để thích ứng chúng với các nhu cầu của nạn nhân và hướng dẫn bảo đảm trợ giúp nhanh chóng và đúng đắn [54, đoạn 16]
- Khi cung cấp các dịch vụ và trợ giúp cho các nạn nhân, chú
ý những nhu cầu đặc biệt, vì tính chất của thiệt hại hoặc vì các yếu
tố như đã đề cập ở ở trên [54, đoạn 17]
Bên cạnh những quy định về bảo vệ nạn nhân nói chung như đã nêu ở trên Tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản về công lý cho các nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực của Liên hợp quốc còn
Trang 37dành một phần riêng để quy định về các quyền và bảo vệ những nạn nhân của lạm dụng quyền lực Theo đoạn 18 của Tuyên bố này, khái niệm "nạn nhân của việc lạm dụng quyền lực" [54, đoạn 18] có nghĩa là những người,
là cá nhân hay tập thể, đã phải chịu tổn thất, bao gồm cả về thể chất hoặc tinh thần, chịu đựng sự tổn thương về tình cảm, thiệt hại về kinh tế hoặc tổn hại đến các quyền cơ bản, là kết quả của những hành vi hoặc sự khinh xuất
mà chưa cấu thành hành vi vi phạm luật hình sự của quốc gia, nhưng đã cấu thành vi phạm các quyền được công nhận về mặt quốc tế là các quy phạm liên quan tới nhân quyền
Khuôn khổ các biện pháp bảo vệ các với nạn nhân của việc lạm dụng quyền lực mà Tuyên bố nêu trên đề cập bao gồm:
- Chuyển hóa thành các quy phạm luật quốc gia quy định cấm lạm dụng quyền lực và quy định cung cấp đền bù cho các nạn nhân của những hành vi lạm dụng Đặc biệt, sự đền bù nên bao gồm phục hồi hoặc bồi thường và sự trợ giúp cần thiết về vật chất, y tế, tâm lý và hỗ trợ và ủng hộ của xã hội [54, đoạn 19]
- Ký kết các điều ước quốc tế đa phương liên quan tới bảo vệ nạn nhân [54, đoạn 20]
- Định kỳ rà soát các luật và thực tiễn đang tồn tại để bảo đảm sự thích nghi với những hoàn cảnh thay đổi, nên ban hành và thực thi, nếu cần thiết, quy định pháp luật cấm các hành vi cấu thành sự lạm dụng nghiêm trọng quyền lực chính trị hay kinh tế, cũng như thúc đẩy các chính sách và các cơ chế ngăn ngừa các hành
vi như vậy nên phát triển và thông qua các quyền thích hợp và các đền bù cho các nạn nhân của các hành vi như vậy [53, đoạn 21]
2.1.2 Quyền của người làm chứng trong pháp luật quốc tế
Giống như người bị hại, luật nhân quyền quốc tế không có điều ước nào đề cập riêng đến quyền của người làm chứng trong tố tụng hình sự Mặc
Trang 38dù vậy, vấn đề quyền và việc bảo vệ người làm chứng được đề cập trong nhiều văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhân quyền quốc tế và khu vực
Theo Điều 14 ICCPR:
Trong việc xác định bất kỳ trách nhiệm hình sự nào đối với một người, người này được hưởng những điều tối thiểu sau đây, một cách hoàn toàn bình đẳng: Được chất vấn hoặc yêu cầu chất vấn những người làm chứng buộc tội mình, và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên toà và chất vấn họ tại toà với những điều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộc tội mình [27]
Như vậy, luật nhân quyền quốc tế thừa nhận người bị buộc tội hình sự
có quyền gọi người làm chứng cho họ và chất vấn người làm chứng của bên kia Quyền này là một yếu tố cơ bản của quyền được bảo vệ và nguyên tắc bình đẳng của các bên buộc tội và gỡ tội trong tố tụng hình sự, vì nó đảm bảo cho bên bào chữa có cơ hội để yêu cầu xem xét lại các bằng chứng chống lại bị cáo Việc chất vấn các người làm chứng của bên công tố và bên bào chữa cần được tiến hành công khai với sự hiện diện của bị cáo, cho phép tòa án xem xét các bằng chứng và yêu cầu xem xét lại các bằng chứng đó cũng như kiểm tra thái độ của các người làm chứng Nó củng cố quyền được suy đoán vô tội và tăng khả năng phán quyết sẽ được dựa trên tất cả các bằng chứng có liên quan
Quyền này bao gồm quyền của các bị cáo được đặt câu hỏi với người làm chứng ở nơi công cộng và trong sự hiện diện của họ, và gọi các người làm chứng của bên bào chữa Tuy nhiên, quyền này không phải không có giới hạn Quyền của bị cáo để chất vấn người làm chứng của bên công tố trong sự hiện diện của họ có thể bị hạn chế để đảm bảo việc xét xử công minh và nhanh chóng Ngoài ra, hạn chế về quyền của bị cáo được hỏi người làm chứng của bên công tố có thể được cho phép nếu các người làm chứng không
Trang 39thể có mặt (đã chết hoặc mất tích), nếu người làm chứng có lý do hợp lý sợ bị trả thù, hoặc nếu người làm chứng đặc biệt dễ bị tổn thương Các người làm chứng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em và nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới Mặc dù vậy, trước khi cho phép bất kỳ hạn chế nào, tòa án phải xác định rằng hạn chế đó là khách quan và cần thiết Hạn chế chỉ được phép ở mức cần thiết và phù hợp với quyền lợi của bị cáo và các yêu cầu của tố tụng công minh Tòa án phải đảm bảo rằng những khó khăn gây ra cho bên bào chữa phải được cân bằng với các biện pháp khác để đánh giá sự công minh và độ tin cậy của các bằng chứng
Việc sử dụng lời khai của người làm chứng giấu mặt (bên bào chữa không rõ danh tính của người làm chứng) về nguyên tắc là không phù hợp với quyền chất vấn các người làm chứng của bị cáo Bởi vì không rõ danh tính các người làm chứng, bị cáo và bên bào chữa thiếu thông tin cần thiết để yêu cầu xem xét độ tin cậy của các lời khai và các bằng chứng mà các người làm chứng đó đưa ra Các bằng chứng cung cấp bởi người làm chứng giấu mặt càng có tầm quan trọng thì nguy cơ bị xét xử không công minh càng lớn Mặc
dù vậy, một số tiêu chuẩn quốc tế cho phép dùng người làm chứng giấu mặt, nhưng chỉ trong một số trường hợp đặc biệt, một số hoàn cảnh nhất định và tùy thuộc vào điều kiện cụ thể Ví dụ, các nguyên tắc về tố tụng công minh ở châu Phi cho phép sử dụng lời khai của người làm chứng giấu tên tại phiên tòa trong những trường hợp đặc biệt, vì lợi ích của công lý, xét tính chất và hoàn cảnh của hành vi phạm tội và sự cần thiết phải bảo vệ sự an toàn của người làm chứng Tòa án Châu Âu về nhân quyền và các toà án hình sự quốc
tế đặc biệt cho phép việc sử dụng các người làm chứng giấu tên trong các trường hợp liên quan đến khủng bố, buôn bán ma túy, tội phạm có tổ chức và tội phạm theo luật quốc tế Tuy nhiên, các tòa án đã được khuyến cáo rằng chỉ
sử dụng người làm chứng giấu tên trong những trường hợp ngoại lệ và hạn chế nghiêm ngặt, theo quan điểm ít gây tổn hại đến quyền bào chữa
Trang 40Việc sử dụng bằng chứng do các người làm chứng không có mặt tại tòa
án (người làm chứng vắng mặt) cũng đặt ra những thách thức đặc biệt đối với bên bào chữa Ngược lại, với các người làm chứng giấu mặt, danh tính của các người làm chứng vắng mặt không được biết đến Độ tin cậy của họ, do đó,
có thể được điều tra bởi bên bào chữa Tuy nhiên, do các người làm chứng không có mặt tại tòa, bằng chứng của họ có thể không được kiểm tra thông qua việc chất vấn tại tòa án trước sự chứng kiến của thẩm phán (và bồi thẩm đoàn, nếu có) Việc sử dụng các bằng chứng như vậy cần cẩn trọng và cần có các biện pháp để đánh giá một cách công minh độ tin cậy của các bằng chứng
và việc bảo vệ quyền lợi của bên bào chữa phải được thực hiện
Quy tắc về thủ tục và chứng cứ của Toà án Hình sự quốc tế cho phép sử dụng lời khai ghi âm của người làm chứng vắng mặt, miễn là bên bào chữa và bên công tố có thể chất vấn người làm chứng khi lời khai được thực hiện Còn Tòa án châu Âu đã tuyên bố rằng việc tiếp nhận bằng chứng từ một người làm chứng vắng mặt, người mà bên bào chữa không có cơ hội để chất vấn, phải là một biện pháp cuối cùng Trong phán quyết về tính công minh của phiên tòa
có sử dụng lời khai của người làm chứng vắng mặt, Tòa án châu Âu về nhân quyền đã xem xét ba vấn đề: Có những lý do hợp lý về sự vắng mặt của người làm chứng, và chấp nhận tuyên bố của họ; Các bằng chứng này có phải là bằng chứng duy nhất hoặc quyết định chống lại bị can? Có các biện pháp cân bằng đầy đủ để cho phép đánh giá công bằng về độ tin cậy của các bằng chứng và để bảo đảm quyền lợi của bên bào chữa (như ví dụ, đủ cảnh báo cho ban bồi thẩm)?
Nỗi sợ hãi trước sự đe dọa hoặc bị trả thù bởi những người bị buộc tội hoặc đại diện của họ được coi là "lý do chính đáng" để làm chứng vắng mặt, theo Tòa án châu Âu về nhân quyền Nếu có đủ các yếu tố phản cân bằng thì việc chấp nhận bằng chứng từ một người làm chứng như vậy, ngay cả khi nó
là bằng chứng duy nhất hoặc quyết định, sẽ không vi phạm quyền được tố