Quyết định sô' 82/NV, ngày 01/03/1967 của Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian thành lập và hoạt động trên phạm vi toàn quốc và có mối liền hệ nghề nghiệp với c
Trang 1f\ị S ^ V
QD.0df9Ĩ-< 2 0 / ^
HỘI VĂN NGHỆ DÂN GIAN VIỆT NAM
XUÂN THIÊM - ĐỎ DUY VĂN - NGUYỄN XUÂN
NHÂN NGUYÊN YÊN TRI - LÊ HỮU TRỊNH
Trang 21 G S T S K H TÔ N G Ọ C T H A N H T rư ởn g ban
2 T h S H U Ỳ N H V ĨN H ÁI P h ó T rư ởn g ban
Trang 3C hịu trách n h iệ m n ộ i d u n g :
GS.TSKH TÔ NGOC THANH
Thẩm đ in h :
HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH BẢN THẢO
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (VNDGVN) là một tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, nằm trong khôi Liên Hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam
Quyết định sô' 82/NV, ngày 01/03/1967 của Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ đã cho phép Hội Văn nghệ dân gian thành lập và hoạt động trên phạm vi toàn quốc và có mối liền hệ nghề nghiệp với các tổ chức khác ở trong nước và nưóc ngoài
Tôn chỉ mục đích của Hội là "Sun tầm, nghiên cứu, phổ biến và truyền dạy vôn văn hóa-văn nghệ dân gian các tộc người Việt Nam" Trên cơ sở thành quả của các công việc trên, Hội là một trong những đội quân chủ lực góp phần bảo tổn và phát huy những giá trị văn hóa-văn nghệ mang đậm bản sắc dân tộc đã được ông cha ta sáng tạo và giữ gùi trong suốt mây nghìn năm của lịch sử dân tộc
N hững giá trị sáng tạo đó thể hiện môi quan hệ của các tộc người Việt Nam vói thiên nhiên thông qua các tri thức sản xuâ't nông nghiệp; với xã hội-thông qua phong tục tập quán, hội xuân; với nhân sinh quan thông qua các nghi lễ vòng đời người; vói vũ trụ và thếgiói tự nhiên đã được siêu nhiên hóạ thông qua các loại hình tín ngưỡng tôn giáo; với lý tưởng thẩm mỹ thông qua các sáng tạo văn học nghệ thuật Ở mỗi tộc người Việt Nam, những
Trang 5linh vực và hình thái văn hóa-văn nghệ này lại được thế hiện ; trong một sắc thái riêng Chính kho tàng văn hóa đa dạng đó là ị
nội dung, là đối tượng hoạt động của hội viên Hội VNDGVN
Sau hon bôn mươi năm hoạt động, được sự lãnh đạo của Đảng ị
và sự chăm sóc của Nhà nước, Hội VNDGVN đã lởn mạnh với ■gần 1200 hội viên Số công trình do hội viên của Hội đã hoàn 'í thành lên đêh gần 5.000 công trình, hiện đang được lưu trữ và ị
bảo vệ tại Văn phòng Hội *Nay, được sự quan tâm của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính ị
phủ, Dự án "Công bô' và phổ biên tài sản văn hóa-văn nghệ dân • gian các dân tộc Việt Nam" đã được phê duyệt Trong thòi gian l
10 năm, Dự án sẽ chọn lọc khoảng 2000 công trình trong sô' bản » thảo Hội lưu trữ của hội viên và xuâ't bản dưới dạng các cuôh i sách nghiên cứu, sưu tầm Trước mắt trong giai đoạn đầu (2008 - {2012) chúng tôi dự định sẽ chọn xuâ't bản 1.000 công trình ị
Hy vọng, các xuất bản phẩm của Dự án sẽ cung câp cho bạn đọc Ị trong và ngoài nước một bộ sách mang tính chất bách khoa thư về ■các sắc màu văn hóa của các tộc người Việt Nam, phục vụ thiết thực vào việc tra cứu, mở rộng hiếu biết của bạn đọc về truyền thông văn ị
hóa giàu có và độc đáo đó; góp phần xây dựng nền "Văn hóa Việt 4
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" ị
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Dự án mong nhận được
ý kiến chi bảo kịp thòi cửa bạn đọc gần xa
Xin chân thành cảm ơn
Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện Dự án
GS.TSKH TÔ NGỌC THANH
Trang 6PHẦN I
NGHÈ VÀ LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở HƯNG YÊN
Tác giả: X uân Thiêm
Trang 7đã qua rồi Đến thời kỳ xây dựng đất nước, một vấn đề cấp thiết đặt ra cho mỗi chúng ta là phải tìm hiểu toàn diện về quê hương Đây không đơn thuần là chuyện tâm linh tìm trở về nguồn mà còn là vấn đề tự khám phá mình trong quá trình phát triền, đề làm sống lại các tiềm năng thiên nhiên, tiềm năng kinh tế, các giá trị đạo đức, tinh thần, tinh hoa sáng tạo của ông cha ta ngàn xưa nhằm giúp chúng ta có thêm hành trang trong tiến trình hòa nhập với các vùng miền khác trong nước
và trên thế giới
Nói đến sự hình thành các nghề và làng nghề, cần thiết phải nghiên cứu về môi trường đã sản sinh ra mỗi nghề truyền thống,
đó là làng xã trên vùng đất cổ Hưng Yên
Từ thuở Vua Hùng dựng nên nhà nước Văn Lang, chia nước ra làm 15 bộ, đứng đầu mỗi bộ là Lạc tướng Dưới bộ
là các công xã nông thôn do người có tuổi cao, có đức lớn
Trang 8đứng ra cai quản Làng xã Hưng Yên cũng như mọi vùng miền trong cà nước được hình thành trong quá trình tự nguyện cố kết với nhau giữa những người dân lao động, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Mỗi chòm, xóm, kẻ, xá, trại, thôn, ấp xưa kia được ví như một pháo đài có sức mạnh kỳ diệu, chống lại sự phá hoại, xâm lấn, thậm chí nguy cơ hủy diệt của bão lụt, thú dữ và các thế lực ngoại bang Dưới sự cai quản của người được suy tụng là già làng, cả cộng đồng cư dân chung sức cầy sâu quốc bẫm, hái lượm, săn bắt, chống lại mọi tai họa để trụ vững và phát triển đời sống vật chất Sự tự nguyện liên kết cộng đồng còn thể hiện trong mọi sinh hoạt tâm linh, tôn giáo, trong xây dựng và thực thi hương ước, lệ tục, lễ hội góp phần tạo nên diện mạo văn hóa truyền thống một vùng đất Trải qua bao nhiêu biến thiên lịch sử, làng xã Việt chẳng những trụ vững mà còn phát triển theo chiều, hạt nhân bao giờ cũng là sự gắn kết, hiệp lực cộng đồng cư dân Hạt nhân
ấy được tạo nên bởi nhiều yếu tố: Yếu tố về ranh giới cư vực, quan hệ tín ngưỡng tôn giáo, quan hệ dòng họ, huyết thống, ngành nghề lao động
Làng xã Hưng Yên hình thành trên vùng châu thổ sông Hồng có phù sa màu mỡ bồi đắp rất phù hợp với canh tác nông nghiệp lúa nước nhưng chẳng mấy năm được yên ổn vì hạn hán
và lũ lụt đe dọa Hưng Yên phải huy động một nguồn nhân lực, vật lực cực kỳ to lớn đắp nên dải đê dài 80km ngăn chặn nước sông Hồng và sông Luộc tràn vào mỗi lần bão gió và lũ lụt Lại còn phải dốc sức người sức của vào các công trình đắp đê bối và
* xây dựng hệ thống sông ngòi, mương máng nội đồng, nội tỉnh với chiều dài trên 125km
Trang 9Trong những cuộc giao tranh chống ngoại xâm của dân tộc, làng xã Hưng Yên cũng là pháo đài tự nguyện, tự quản chặt chẽ
đề chặn bước tiến của quân thù, tiêu diệt sinh lực địch ngay từ ngoài chân ừe, bờ dậu Nhân dân Việt Nam đã đúc kết ra chân
lý “còn làng thì còn nước” Thời Trần Nhân Tông, hưởng ứng lời hiệu triệu Diên Hồng, làng xã Hưng Yên vang lên lời hô
“Sát Thát”, làng này dựng trên lũy thép, tường lửa chặn địch; nơi khác khéo léo thực hiện “kế thanh dã” (vườn không nhà trống) làm thất bại dã tâm thắng nhanh, cướp nhiều của địch Dưới ngọn cờ chính nghĩa, bất kể thời kỳ nào, làng xã Hưng Yên cũng “người trăm họ đều là lính” Đặc biệt là trong những năm diễn ra cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892) do ông Đinh Gia Quế và Nguyễn Thiện Thuật lãnh đạo, làng xã Hưng Yên - không chi cừ con em tham gia nghĩa quân mà từng xã còn thực sự là làng chiến đấu đánh thắng nhiều trận với danh nghĩa
“quân cụ tán” Sau lũy ừe làng là nơi nghĩa quân nấp giấu
an toàn, nơi tàng trữ vũ khí, lương thực cho nghĩa quân được dồi dào Người làng Xuân Dục (Mỹ Hào) thà chịu chết chứ không chịu chỉ cho kẻ thù mồ mả tổ tiên Hiệp Thống Nguyễn Thiện Thuật Cư dân Lôi c ầu (Khoái Châu) thà chịu cảnh giặc đốt nhà, giết người chứ nhất định không đầu hàng chúng Theo hương ước, trai đinh 18 tuổi răm rắp thực hiện nghĩa vụ tuần phòng canh gác, trụ cột của lực lượng vũ trang bào vệ làng xã.Truyền thống tự nguyện liên kết cộng đồng cư dân ừong làng xã càng có vaỉ trò quan trọng trong công cuộc lao động làm ra sản phẩm mang tính chất tự cung tự cấp nhằm nuôi sống minh và góp phần nuôi làng, dựng nước Tùy theo điều kiện
tự nhiên, môi trường, trình độ, năng khiếu, đặc biệt là nhu cầu
Trang 10thiết yếu của dân cư từng vùng đất mà các nghề thủ công xuất hiện Sự hình thành các làng có sự tập trung đông người cùng làm một nghề gọi là làng nghề Hưng Yên nằm giữa châu thổ đồng bằng Bắc Bộ, vốn là vùng sình lầy, lau sậy rậm rạp Sau hàng ngàn năm được bàn tay con người khai phá cùng với sự biến đồi về địa lý, địa chất, hàng năm được phù sa sông Hồng, sông Luộc bồi đắp nên vùng đất sình lầy đã trở nên mầu mỡ, phì nhiêu, được liệt vào loại “thượng đẳng điền” thích hợp với cấy lúa, trồng màu và các loại cây ăn trái Ở đây không có rừng núi, lại xa biển, chỗ nào cũng có làng xóm với lũy tre xanh bao bọc trên một địa hình tương đổi bằng phẳng với hệ thống ao hồ, đầm vực dày đặc, sông ngòi, mương máng chằng chịt.
Hưng Yên thuộc vùng nhiệt đới khí hậu gió mùa, độ ẩm cao, lượng mưa khá lớn Tính theo hệ thống sông nước, ngòi mương
ấy, có thể chia Hưng Yên thành ba khu vực: Vùng trên địa hĩnh tương đối cao hơn cả gồm các huyện Văn Giang, Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ Đất ở đây được phù sa liên tục bồi đắp do rạn vỡ
đê từ Phi Liệt đến cửa sông Đuống suốt nhiều năm liền Vùng giữa gồm các huyện Khoái Châu, Ân Thi, Kim Động và một phần ngoại vi thị xã Hưng Yên Vùng dưới, coi như khu có đất rộng nhưng lại trũng, vào mùa mưa thường bị ngập lụt
Hưng Yên không có rừng, tất nhiên không có lâm thổ sản Không có biển nên cũng không có các loại hải sàn Là đất thuần nông, nhiều ao chuôm, lại được bao bọc bời hai sông Hồng và sông Luộc nên Hưng Yên có nguồn thủy sinh nước ngọt dồi dào Cá lớn có các loại trắm, mè, trôi Cá bé có trạch, lươn, cua, tép, tôm, hến, ốc, ếch, nhái Có một loại cá mà thiên nhiên ban tặng cho Hưng Yen rất nên nhắc đến, đó là cá mòi
Trang 11Cá mòi thuộc loại cá nước lợ nhưng đến mùa sinh sản từ tháng giêng đến tháng ba Âm lịch chúng ngược dòng sông Hồng lên Mạn Trù, Tân Châu (Khoái Châu) để sinh sản Cá mòi có vị thơm ngọt, giàu chất đạm đã trở thành món ăn quý, một loại đặc sản vùng đất bãi Hưng Yên Hàng năm, vùng đất này còn được hưởng lộc thiên nhiên dành cho, đó là nguồn cá bột từ trứng c á kết lại thành đám, thành màng nổi trên mặt sông Hồng, sông Luộc Mỗi mùa nước lũ bà con sống ven sông vớt lên đem về ương giống Ngoài các loại cá kể trên, Hưng Yên còn nhiều vật nuôi, đó là vật nuôi trâu, bò, lợn, gà, ngan, ngỗng ; các loại cây trồng: Lúa, ngô, khoai, sắn, nhãn, táo, sen, dưa hấu, dưa hồng cùng với nhiều loại rau, đậu khác.
Mỗi vùng dân cư với nhiều nét riêng về canh tác, về môi trường thiên nhiên, về tập quán sinh hoạt, lại hình thành một số nghề thủ công phù hợp Vì vậy, ngoài làng xã có nhiều mẫu số chung: Làm lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm đậu, làm bún, làm tương, chẻ lạt, cạp rổ ., ta có thể phân ra các khu vực
có nghề thủ công truyền thống như sau:
- Khu dân cư ven sông, có đê, bãi sa bồi, vạt cỏ rộng Ngoài làm ruộng, làm bãi, người dân còn săn bắt, chăn nuôi, chài lưới
Từ đặc điểm này đã hình thành các nghề đánh bắt cá, bẫy chim, thà lưới, đơm tát, gột cá bột, bán cá giống, đan lờ, đan thuyền,
ép mía, kéo mật làm đường, se đay, se sợi, đan lưới, đan võng, trồng dâu nuôi tằm
- Khu cư dân chuyên canh lúa màu, tiêu biểu cho nền sảnxuất nông nghiệp lúa nước với năng suất cao Nghề thủ công đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và lao động của cư dân vùng này là
Trang 12đan thúng, đan gàu, đan rổ, rá, đóng cối xay, đẽo cày, làm bừa, rèn dao, làm nghề mộc, nấu rượu, nung vôi, đóng gạch, làm nghề xây dựng .
- Vùng ven các trục đường giao thông quan trọng nhưđường 5, đường 39A, 39B, cận giang, cận thị (gần sông, gần chợ) tiếp cận nhanh chóng với thị trường để dành lưu thông hàng hóa Cái mạnh của vùng này là bắt nhịp nhanh với sự phát triển kinh
tế, thương mại đô thị Các nghề truyền thống ở đây nhờ vậy có
sự tăng trưởng nhanh về thị phần cũng như về quy mô sản xuất Một số mặt hàng sớm gây được uy tín như tương Bần, vải Rồng, nhuộm Huê cầu, Trổng Lưu Thượng, gốm Xuân Quan, đồ đồng Đông Mai, hương sạ Cao Thôn, nhãn lồng Phố Hiến
Nghề truyền thống của Hưng Yên khá phong phú, đa dạng
Nó góp phần tạo nên diện mạo hoàn chỉnh và hấp dẫn về văn hóa truyền thống của một vùng đất cổ Người Hưng Yên cũng như cư dân mọi miền trên đất nước, qua các thăng trầm biến đổi của lịch sử, đã bám chắc vào môi trường thiên nhiên để tồn tại, nghề truyền thống vì vậy mang đậm dấu ấn cua quá trình khai hoang lập ấp, lập làng, dấu ấn của cư dân nông nghiệp lúa nước, của quá trình tích hợp tiếp biến với văn hóa ngành nghề của khu vực, của Thăng Long Hà Nội Đến đây, thiết nghĩ đến vai trò của nghề và thợ giỏi của Hưng Yên đóng góp vào sự phồn vinh của trái tim dất nước: Thù đô Hà Nội
Trong cuộc Hội thảo Phố Hiến tổ chức gần đây, nhà nghiên -cứu khoa học xã hội Nguyễn Vinh Phúc có bài tham luận đặc
s ắ c , trong đó khẳng định: “Đa số các nghề đem lại sự phồn
—/inh cho Thăng Long, tạo dựng ra cả một quy hoạch phường
Trang 13phố với những tên phố bắt đầu bằng chữ Hàng cổ kính là từ tứ ’ trấn đưa về trong đó có Hưng Yên Hưng Yên vốn có nghề dệt
ra vải đẹp.như các làng Phong Cốc, Hưng Quất, Mậu Duyệt, Ị
Triều Dương nổi nhất là làng Rồng tức Như Lân (Văn Ị Giang) Vải Rồng từng được người Thăng Long ưu chuộng ’ nên Hà Nội có phố Hàng Vải thuộc phường Đông Hoa chính Ị
là do dân làng Rồng lập ra từ thế kỷ XVIII Lụa Hưng Yên thì Ị
có Vân Phương (Tiên Lữ) cũng khá nồi tiếng từng có mặt ở I phường Đông Lạc tức phố Hàng Đào, được các bà các cô một Ị
thuở ưa chuộng gọi là lụa cống Vân đề phân biệt với lụa vân Vạn Phúc (Hà Đông)
Một số nghề thủ công khác của Hưng Yên cũng hiện diện
ở Thăng Long - Hà Nội, cũng choán một dãy phố riêng, đó
là nghề nhuộm thâm Nghề này không chỉ nổi ở Thăng Long '
- Hà Nội mà là trên cả nước, chẳng thế mà đi vào ca dao
“A i về Đồng Tỉnh Huê cầ u , Đồng Tỉnh bản thuốc Huê c ầ u nhuộm thâm ” Thợ nhuộm Huê c ầu (Văn Giang) kéo theo
thợ nhuộm Liên Xá, Liêu Xuyên (Yên Mỹ) về Thăng Long ; lập nghiệp, lập ra dãy phố Thợ Nhuộm trên đất của làng j Đông Mỹ thuộc phường c ổ Vũ Bài vị thờ thần ở Đình Đông !
Mỹ (số 18 Thợ Nhuộm) vẫn ghi tên vị Thành Hoàng làng I Liêu Xá Nhưng nếu nói về một nghề ở Hưng Yên đã góp !
phần lớn cho nền tài chính cả nước và Thăng Long thì phải \
là nghề đúc đồng Từ thuở Lê Trung Hưng (thế kỷ 16), thợ Ị
đồng quê ở Đông Mai, Châu Mỹ, Lộng Thượng, Đào Viên, ị
Thái Ty, Điện Tiền, Đại Đồng (khi đó thuộc huyện Đường ị
An) đã về Thăng Long lập phường đúc tiền cho triều đình, Ị nay là phố Lò Đúc Hiện nay trong ngõ 79 Lò Đúc có ngôi I
Trang 14chùa gọi là Chùa Tổ còn thờ ông tổ làng nghề đúc đồng quê
ở Cầu Nôm Sau đó thế kỷ XVIII, phường đúc chuyển lên bờ Đông Hồ Tây lập ra Ngũ Xã đã đúc nên pho tượng Trấn Vũ, niềm tự hào của nền đúc đồng ở Việt Nam Có một nghề nữa phục vụ dân sinh nhưng tồn tại khá lâu ở Thăng Long - Hà Nội cho tới tận ngày nay là nghề làm quạt
Thợ quạt hai làng Hải Yến (tức làng Hới) huyện Tiên Lữ, làng Đào Xá (tức làng Đầu), huyện Ân Thi lên Thăng Long tụ hợp ở thôn Thuận Mỹ, ngày nay là phố Hàng Quạt Tại đây, họ lập một ngôi đình ở nhà số 4 gọi tên là Xuân Phiến Đình (Đình quạt Xuân) làm nơi sản xuất, bán buôn, bán cất quạt Ngày trước có các loại quạt nan tre, nan đồi mồi, nan sừng trâu, nan ngà voi Quạt được phất bằng lụa, the, gấm song phổ biến là quạt nan tre phất giấy nhuộm màu Cái quạt khiêm tốn vậy mà
tồn tại dài lâu với lời thơ tôn vinh: “Mát mặt anh hùng khỉ tắt gió, Che đầu quân từ lúc sa mưa
Các nghề trên hội tụ ở Kinh kỳ, chắt lọc tinh hoa, nâng cao kỹ thuật, làm ra sản phẩm một thời gọi là Kẻ Chợ được thị trường chấp nhận, ngay cả khách phương Tây cũng đánh giá cao
Những ngành nghề này đáp ứng nhu cầu của giới thượng lưu cũng như quảng đại quần chúng Như vậy, nhờ thị trường Thăng Long mà các nghề gốc và người làm nghề tứ trấn được tinh xảo lên và cuối cùng các nghệ nhân trụ lại được ở kinh đô, sau 3 đời trở thành người kinh đô chính tịch (tam đại thành tổ) Nhưng họ vẫn không quên quê cũ, vẫn lập đình đền gọi là vọng
từ để thờ vọng về cố hương .”
Trang 15CHƯƠNG II
MỘT SÓ NGHÈ VÀ LÀNG NGHÈ TIÊU BEÈU VÙNG TRÒNG VÀ CHÉ BIÉN NHÃN
Nhãn có mặt khắp các vùng Đông Nam Á Nhưng nhãn được ưa chuộng nhất, có tiếng vang xa nhất vẫn là nhãn Hưng
Yên Vì vậy có câu ca: “Của ngon vật lạ trăm vùng Không bằng nhãn tiến, nhãn lồng H ung Yên Nhãn ngon được trồng
tập trung quanh vùng Phố Hiến gồm thị xã Hưng Yên và phụ cận Hồng Nam, Hiến Nam, Liên Phương, Xích Đằng, Thù Sĩ, Phương Chiểu, Đằng Châu, Lam Sơn,
Người trong vùng gọi nhãn tiến vì loại này ngon, cùi dày, róc vỏ, có vị ngọt thơm được kén làm sản vật quý dâng tiến vua Nhãn tổ là nhãn được lấy giống từ cây nhãn tổ rất lâu đời qua hàng mấy trăm năm bão gió, cây nhãn tổ vẫn tồn tại xanh tốt, cung cấp nhãn giống cho nhiều nơi Nhãn lồng là loại nhãn quý, quả từng chùm trĩu nặng, thơm ngon Để giữ cho chuột bọ, sâu rệp và dơi không phá hoại nhãn, người ta đan lồng bọc lấy chùm quả Lồng bọc nhãn giữ được chuột bọ mà vẫn có cho nắng gió nuôi dưỡng quả tươi Do vậy mà bà con gọi là nhãn lồng, tên gọi ấy lâu dần thành quen Cũng có người nói nhãn đem đến tiến vua phải kén ngựa khỏe có sức bền đặc biệt để chuyên chờ
Trang 16Muốn rút ngắn thời gian, ngựa phải lồng nước kiệu Thêm lẽ đó
mà nhãn có tên là nhãn lồng
Người sành ăn còn phân biệt ra nhiều loại nhãn với chất ngọt và hình dáng khác nhau Đó là nhãn nước, nhãn đường phèn, nhãn cù, nhãn thóc, nhãn điếc
Muốn có một cây nhãn chuẩn người ta thường trồng bằng ươm nhãn hột hoặc chiết cành từ một cây nhãn mẹ sai quả, ngọt nước thơm hương, không ướt cùi
Quả đem ươm được chọn từ những chùm nhãn thường ở lưng chừng vầng tán cây trở lên Bóc nhãn lấy hạt rồi đem gieo vào vạt đất xốp ở độ sâu từ 1 - 2cm, không đọng nước và thoáng mát Ươm hạt tháng sáu, tháng bảy năm nay thì sang tháng giêng, tháng hai năm sau hạt nẩy mầm và phát triển thành cây con cao 30 - 40cm Lúc này có thể mang cây ra ừồng nơi cố định Khi tách cây con, phải giữ cho bầu không nứt, không vỡ,
có đường kính từ 25 đến 30cm, trồng trên khu đất đã chuẩn bị
kỹ, tốt nhất là nơi đất xốp pha cát
Người làm vườn thích trồng cây chiết thường được bảo tồn được ưu điểm của cây mẹ về số lượng và chất lượng quả Tỷ
lệ thoái hóa ở vườn cây chiết thấp hơn so với vườn cây ươm
từ hạt Chiết cây đòi hỏi kỹ thuật cao ở mấy khâu: Chọn cành bóc vỏ, bó bầu và chăm sóc cho bầu nảy rễ Mùa xuân là thích hợp cho việc cắt bầu trồng xuống đất Ờ thời tiết này, cây đâm chồi nảy lộc và phát triển nhanh Từ khi ra hoa đến khi được hái quả, nhãn trải qua quá trình từ 100 đến 120 ngày tức từ 3 đến 4 tháng Từ nhãn thơm ngọt thường được gọi là nhãn nước một đến khi được thu hoạch gọi là nhãn nước ba, khi đó nhãn đã
Trang 17chín tới độ ngọt sắc, cùi đẫy nước, vỏ mỏng, da sáng Nhãn tươi
là nhãn dùng sau khi hái từ trên cây Nhãn qua chế biến thành mứt ngọt gọi là long nhãn Làm long nhãn là một quy trình kỹ thuật có tính gia truyền Mỗi mùa vụ, từng gia đình, dòng họ lại tích lũy thêm kinh nghiệm về bóc vỏ, phơi, sấy long nhãn.Nhãn quả là một đặc sản quý, ngon miệng và có tác dụng rất tốt trong việc bồi dưỡng cơ thể Long nhãn còn là vị thuốc quý trong thang thuốc Bắc, trong vò rượu ngâm
v ề giá trị kinh tế, sau khi trồng từ 3 - 5 ngày, cây nhãn đã
cho thu hái quả Sau vài chục năm cây mới có cỗi Chăm bón tốt, được trồng trên đất thích hợp, cây có bổn, năm mươi tuổi vẫn sai quả Trung bình mỗi cây nhãn có từ một tạ đến một tạ hai quả
Đi theo nhãn có nghề phụ nuôi ong lấy mật mang lại hiệu quả cao vì mật long nhãn rất quý
Thân cây nhãn được dùng làm đóng đồ thờ, tủ chè, trường
kỷ và nhiều vật dụng trong gia đình nông nghiệp
Trên toàn tỉnh Hưng Yên, chỗ nào cũng có nhãn Nhưng để luôn được mùa nhãn, nghĩa là có thu hoạch cao và ổn định từng mùa vụ, người đất nhãn đã rút ra ba yếu tố quyết định: biết làm chủ khoa học kỹ thuật, làm chủ được thời tiết và phải rất tâm huyết, rất gắn bó với nghề trồng nhãn, với đời sống cây nhãn.Tính theo thời điểm hiện nay (2006) Hưng Yên có khoảng 5.500 héc ta thâm canh nhãn các loại, chiếm 80% diện tích cây
ăn quả Trong đó, trên 3.200 héc ta được trồng tương đối tập trung ở khu vực thị xã Hưng Yên và các huyện Tiên Lữ, Kim Động và Khoái Châu Diện tích nhãn đến tuồi cho khai thác là
Trang 184.000 héc ta, với sản lượng ước đạt từ 19 đến 20 ngàn tấn quả, doanh thu khoảng từ 150 tỷ đến 180 tỷ đồng, chiếm từ 8 đến 10% giá trị sản xuất của ngành trồng trọt Người trồng nhãn lâu năm,
qua nhiều thăng trầm của nghề, có câu nói cửa miệng: “trồng nhãn cũng như nuôi người, phải hiếu tính nết của tùng gốc cày nhãn ngon đều đặn ra quả ngọt, thơm, không phân biệt trà sớm, trà trung hay trà muộn Một trong những bí quyết của
người trồng nhãn là kinh nghiệm nắm bắt của sự thay đồi của thời tiết để có cách chăm sóc cây hợp lý Thí dụ khi xuất hiện mưa a xít, phải kịp thời phun nước tẩy rừa cho cây; khi nắng nóng kéo dài phải tưới dưỡng lá và gốc Tùy theo độ tuổi của cây và điều kiện thời tiết mà có quy trình cho cây “ăn” được khoa học, hợp
lý Gia đình nào thực hiện đúng quy trình kỹ thuật thì nhãn vườn gia đình ấy chẳng những cho năng suất cao mà còn có mẫu mã đẹp, hàm lượng đường trong cùi luôn đạt tiêu chuẩn
Gần đây, Sở Khoa học và công nghệ tỉnh phối hợp với Hội nhãn lồng tỉnh đã có kế hoạch hàng năm mở một số lớp tập huấn nhằm trang bị kiến thức làm cho cây nhãn thực sự là cây trồng xóa đói, giàm nghèo và làm giàu của người dân xứ nhãn
LÀNG ĐÔNG TÀO NUÔI GÀ THỊT VÀ GÂY GIỮ GIỐNG
Nước nào cũng có gà Nước ta, trong Nam ngoài Bắc, miền ngược hay miền xuôi, nơi nào cũng nuôi gà Nhưng gà Đông Tảo nổi tiếng từ lâu đời Gần đây, các nhà khoa học của Viện chăn nuôi quốc gia đã lên tiếng cảnh báo nguy cơ mai một của loài gà “độc nhất vô nhị trên thế giới” này và đề ra chương trĩnh hành động nhằm bảo vệ nguồn gien gà Đông Tảo
Trang 19Đông Tảo thuộc huyện Khoái Châu, giáp Văn Giang, cách thị xã Hưng Yên khoảng 35 km Gà Đông Tảo xuất hiện từ bao giờ, không tìm thấy thư tịch nào ghi rồ Chỉ biết rằng, từ lâu lắm rồi gà Đông Tảo đã nổi tiếng to con, ngon thịt, đẹp dáng,
dễ nuôi Theo gia phả họ Nguyễn Trọng, họ lớn nhất trong làng, thì gia đình ông Nguyễn Trọng Tích đã trải qua nhiều đời nuôi dưỡng gà Đông Tảo Hiện nay trong vườn nhà ông Tích đang
có giống gà Đông Tảo thuần chủng và đang theo đuổi một kế hoạch bảo tồn gien loại gà quý hiếm này
Gà Đông Tào là giống gà thịt, thể hiện ở năng suất thịt cao
tư 70 đến 82%, có sức đề kháng cao hon hẳn mọi giống gà khác, rất ít mắc bệnh đường hô hấp
Gà Đông Tảo thuần chủng được nhân dân đúc kết thành mấy tiêu chí ngoại hình: Đầu gộc tre, mình cốc (thân giống con cốc), cánh vỏ trai (hai cánh như hai vỏ con trai úp sát vào thân), đuôi nơm (giống chiếc nơm úp cá loe phía dưới), da đỏ tía hoặc vàng nhạt, chân to Khi còn nhỏ, chân phát triển bình thường Càng lớn chân gà phát triển càng to, bước đi chắc nịch, bệ vệ nâng cái chân khổng lồ lên cao, lừng lững át hẳn các loại gà khác Gà trống có thể nặng tới 4 - 5kg, gà mái cũng nặng tới 3.5 kg Gà trống có hai màu lông cơ bản: màu mận chín pha lẫn màu đen gọi là mã mận và màu đen óng ánh gọi là
mã lĩnh Gà mái có ba màu lông cơ bản là vàng nhạt (mã nõn chuối), nâu nhạt (mã chuối khô) và trắng sữa Vì gà Đông Tảo
có dáng hình đẹp, màu sác lộng lẫy nên nhiều gia đình chọn mua về nuôi làm cảnh, nhất là chân gà sành chơi mấy thành phố lớn
Trang 20Gà Đông Tảo rất thích hợp với cách nuôi thả Thức ăn chính
là thóc, cám, ngô, cám gạo trộn lẫn với rau bèo Riêng gà dưới một tháng tuổi (gà bột) thì cho ăn thêm thóc ngâm nẩy mầm và
cá, tép để gà chóng lớn Vườn nuôi và chuồng trại phải được quét dọn sạch sẽ và định kỳ phun thuốc sát trùng
Một số địa phương đã về tận gốc Đông Tảo để mua giống
gà Đông Tảo thuần chủng mang về lai tạo với một số loại gà giống khác tạo ra gà thịt thương phẩm tăng trọng nhanh, giá trị kinh tế cao
Trải qua nhiều năm có chiến tranh, bom đạn địch không ngừng trút xuống vùng quê màu mỡ này, gà Đông Tảo cũng long đong theo người Đã có một thời gian dài, gà Đông Tảo vắng bóng trên các chuồng trại dẫn đến nguy cơ bị mai một
Theo sự khảo sát của Viện chăn nuôi quốc gia gần đây (2004
- 2005) giống gà thuần chủng Đông Tảo còn được nuôi dưỡng, bâo lưu gien ở một số xã của Yên Mỹ, Yên Hào, Khoái Châu, Văn Giang thuộc Hưng Yên Nhưng mang lại hiệu quả cao cũng như tích lũy được nhiều kinh nghiệm, trí thức về nuôi dưỡng giống gà này vẫn là cơ sở chăn nuôi của ông Nguyễn Trọng Tích ở Đông Tảo Ông coi nghề nuôi gà Đông Tảo chẳng những là nguồn thu chính đáng, một nghề cha truyền con nối của nhiều thế hệ dòng họ ông mà còn là cách trà ơn, trả nghĩa mảnh đất ông được sinh ra làm người Ông thường khoe người cha của ông là Nguyễn Trọng Dốc
với danh xưng “vuagà Đông Tảo”khi tao loạn, chạy giặc càn, tới
đâu cũng mang cặp gà giống Khi cụ qua đời, bà con thương tiếc
làm thơ viếng cụ, có câu rằng: “Chống giặc trường kỳ bao khắc nghiệt Giữ gà hy vọng buổi hồi h ư ơ n g ”
Trang 21Nhiều cụ cao tuổi trong làng vẫn tự hào kể chuyện với con
cháu về một sự kiện đặc biệt: “Năm ẫy-đang hồi chiến tranh
ác liệt, cả làng xôn xao vì cỏ lệnh từ Trung ương về kén cho được cặp gà Đông Tảo thuần chủng mang lên ngay Bao nhiêu p h ỉ tổn cấp trên lo chu đảo ” Bà con cũng như cán bộ xã
thắc mắc: Trung ương mở tiệc đãi khách sao chỉ có cặp gà (con trống và con mái) thì làm sao đủ thịt để làm cỗ? Thôi, đã lệnh thì cứ làm đúng lệnh
Mãi về sau, mới được cấp trên giải thích: Thủ Trưởng Phạm Văn Đồng kén gà tặng đoàn khách quý Cu Ba do Chủ tịch Phi- Đen Cas-Trô dẫn đầu để mang về nước gây giống Thật là vịnh
dự cho quê hương Đông Tảo
Gà Đông Tảo được xếp vào danh mục gia cầm quý hiếm cần được bào vệ cấp quốc gia Viện chăn nuôi và quỹ bảo tồn gien vật nuôi của Nhà nước đã hỗ trợ một phần kinh phí cho địa phương để vượt qua cơn sóng gió về dịch cúm gà đang lây lan ngày càng rộng hiện nay Gà Đông Tảo với nhiều ưu điểm vượt trội hơn các giống gà Ri, gà Hồ, gà Tè, gà Mông nên được bà con tìm mua gà bột (vài tháng tuổi) về nuôi gây đàn Gia đình ông Tích là nơi cung cấp gà giống được tín nhiệm nhất Trong vòng mười năm gần đây, từ vốn 100 gà thuần chủng đã nhân ra hàng ngàn gà ông bà, bố mẹ để tạo ra hàng chục ngàn gà giống cung cấp cho nhiều tỉnh bạn tạo ra nguồn gà thương phẩm có giá trị kinh tế cao Có thời điểm giá mỗi ki-lô gà Đông Tảo lên tới 90-100 ngàn đồng Cơ sở nuôi dưỡng gà Đông Tảo do ông Nguyễn Trọng Tích làm chủ đang là nơi cộng tác mật thiết của viện chăn nuôi quốc gia về chương trình nhân giống gien gà Đông Tảo
Trang 22LÀNG CÓ NGHỀ LÀM TƯƠNG NỔI TIẾNG: LÀNG BẢN
Tương là món ăn giàu chất đạm, là thứ không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của nhà chùa cũng như nhà dân
Rau muống, cà nén, đậu phụ chấm tương là những món
ăn truyền thống được nhiều người ưa thích Nước ta có nhiều địa phương làm tương khéo và ngon Nổi tiếng nhất và được ưa chuộng nhất vẫn là Tương Bần, một đặc sản mà người Hà Nội
đã biết đến và xếp vào những món ăn đặc biệt của kinh thành xưa: “ Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét”
Làng Bần có tên là Yên Nhân, cũng vì thế có khi người ta gọi Bần Yên Nhân, là một làng nằm cạnh đường 5 giữa vùng đồng bằng rộng lớn và giàu có, vị trí chiến lược quan trọng, lại gần Thủ đô (cách Hà Nội 25km) Yên Nhân có tới nừa số dân làm dịch vụ ở Hà Nội nhưng dân làng ai cũng biết làm tương Mỗi gia đình ở đây mỗi năm ít nhất cũng phải ngả một chum tương (100 lít) để ăn suốt năm Có gia đình quanh năm không dùng đến nước mắm
Cách đây nừa thế kỷ đã có những người làm tương ngon nổi tiếng và những cửa hiệu sàn xuất 2-3 vạn lít tương một năm, trong đó hai phần ba sản phẩm là hàng hóa Từ xưa đã truyền nhau tương ngon là sản phẩm được tiến vua Tương Bần thơm ngon thì nhiều người đã thấy Còn tiến vua vào thời nào thì chưa thấy ghi vào sừ sách mà chỉ được truyền lại qua dân gian Thực ra, tuy cả làng biết làm tương nhưng chỉ
có một số ít người làm tương khéo, những người này thường truyền dạy cách làm cho cả xóm Làm tương không tốn nhân
Trang 23p ỉi
công lẳm, một gia đình sản xuất 2-3 vạn lít một năm cũng chi 1 cần 2-3 nhân công chuyên nghiệp 1
Nguyên liệu làm tương gồm 4 loại: Đậu tương hay đỗ tương, còn có tên là đậu nành, gạo nêp, nước lã và muối I
Muốn có tương ngon phải chọn nguyên liệu: nếp cái hoa vàng ]
già đều, mẩy hạt Đậu phải chọn đậu mận - một loại đậu nhỏ 5 hơn đậu thường, nơi mắt bao quanh một màu tím nhạt, phải ]
đong ở chợ Bình Phú, Từ Hồ (Văn Giang) và chợ Ghềnh, chợ ị Sủi (Bắc Ninh) Trồng đậu mận năng suất thấp nhưng c h ấ tĩ
lượng cao, vùng đồng màu gần các chợ nói trên trồng nhiều I loại đậu này Nước dùng ngả tương phải là nước trong và tinh * khiết, nếu có nước mưa thì càng tốt Làng Bần có hai giếng Ịi chuyên lấy nước để ngả tương Đó là Giếng Đanh rộng trên 1 lOOm vuông, bờ vỉa gạch, nước ngọt và trong veo Một giếng I khơi gọi là giếng Tây ở cạnh đường 5 Thành giếng xếp bằng i; cối đá thủng, nước trong trông thấy đáy Muối làm tương càng 1
trắng càng tốt, nếu lẫn nhiều tạp chất phải đun rồi lọc trước í
tự rơi xuống, tạo cho đỗ chín đều ị
- Nong nia để trải mốc là loại nong nia chuyên dùng đàm íbảo vệ sinh và kỹ thuật ■
Trang 24- Chum để ngả tưong là dụng cụ quan trọng Chum to nhỏ tùy theo dung lượng cần thiết Những nhà chuyên làm tương bán dùng chum cỡ 100-150'lít để ngả tương và chum cỡ 300 lít
để chứa tương Chum ngả tương tốt nhất là loại chum làm bằng đất mịn, nung ở nhiệt độ cao, không thấm nước
Tương được làm theo quy trình sau:
Thổi xôi: Gạo nếp xay, sàng sẩy sạch, ngâm nước 4-5 tiếng đồng hồ mới đem thổi xôi để ngả mốc gọi là xôi mốc Yêu cầu xôi mốc phải dẻo, không rắn, không nát Thổi xôi sao cho chín dều, tránh hiện tượng đáy chõ thì cháy, quanh chõ thì rắn
Ngả mốc: Xôi thổi xong dàn ra nong nia dày chừng hai đốt ngón tay Để nơi thoáng gió, đủ nhiệt độ cần thiết Lá ngả mốc tốt nhất là lá nhãn hoặc lá ngái Sau khi ủ hai ngày một đêm (36 giờ), người làm mốc phải theo dồi từng giờ, nóng quá phải bớt
lá, gỡ báo ủ ra; lạnh phải thêm lá, thậm chí phải đốt lửa sưởi Nhân dân thường ngả tương vào tháng 5 tháng 6 Âm lịch Đây
là thời vụ ngà tương thuận nhất Sau ba giờ mốc bắt đầu dậy, khoảng một ngày sau (60 giờ từ khi rải mốc) nếu mốc vàng đẹp thì dồn nén lại trong nong, bóp vụn ra rồi trải lại như cũ Một ngày nữa (24 giờ) khi cầm nắm mốc lên lấy bụi vàng bay là được mốc Mốc được, bốc vào thúng, mỗi lớp xôi dày 5-6 cm lại vẩy một ít đỗ ngâm làm cho mốc mềm ra, xếp đầy thúng rồi đậy kỹ, sau một đêm thì ngả tương
R ang đỗ: Thổi xôi, rang đỗ cùng một ngày, khi bắt đầu ngả xôi lên nong thì rang đỗ, xay nhỏ đỗ bò vào chum ngâm Mốc phải ủ trong thúng phải đợi đến sáng hôm sau ngả tương cho có nắng Đổ vào chum nước đỗ, tra muối vừa phải, khuấy
Trang 25đêu cho tan Để tương ở chỗ nắng, khi ánh nắng phủ lên chum I phải mờ vung dùng trang khuấy đều cho cái tương nổi lên j Nắng nhiều tương chóng ngấu Khoảng 20 ngày tương chìm ; cái, người ta đậy vung kỹ, lấy rơm nhào với bùn trát kín xung quanh cốt để cho tương ngấu Không hà hơi, chống mọi thứ I
Người xưa quen đo tương bằng mắt, mặn nhạt bằng lưỡi, đẹp xấu do kinh nghiệm bản thân, truyền nghề bằng thực tế sự việc, không mấy người đúc kết thành công thức để phổ biến,
vả lại tương mặn, nhạt đặc loãng tùy theo ý thích của từng gia ình, không thể thống nhất được công thức Gần đây, người làng Bần được đi làm “chuyên gia” ngả tương hay dạy cách làm tương ở nhiều nơi Tùy từng chuyên gia mà có kinh nghiệm và
có một phác đồ kỹ thuật riêng
Tương Bần tính chất tự sản tự tiêu, thời kỳ thịnh đạt nhất sản cũng không quá mười vạn lít một năm Con số đó thật không thấm gì so với nước mắm ít ỏi như vậy nhưng tiếng tăm của tương Bần lan ra khá rộng Hai nhà sản xuất và buôn bán tương ở phố Bần là Dân Sinh và Cự Nam Tương Bần xưa, khi xuất bán thường đóng vào thùng gỗ nặng 20 lít, cao khoảng 50cm, đường kính 35cm, đóng ba đai tre như thùng nước mắm, chét sơn ta, miệng rót tương đóng nút gỗ, bọc lá chuối khô
Tương theo sự phân tích khoa học là một món ăn giàu chất dinh dưỡng, nhiều sinh tố cần thiết cho cơ thể con người Trong lít nước tương có từ 6,6 - 9,2 đạm toàn phần, 7 - 9,5 gam chất béo, 140 - 172 đường Ngoài làm tương gạo người
ta còn làm tương ngô, thành phần không kém phần tương
Trang 26gạo Các kỹ sư trong quân đội đã làm tương khô gửi cho các chiến sĩ ngoài mặt trận Ngả tương là một phương pháp làm giàu dinh dưỡng bằng phương pháp cổ truyền của dân tộc Đây là một phương pháp chế biến thực phẩm đang được các nhà khoa học nghiên cứu.
Đời sổng của nhân dân ta đang ngày càng được cải thiện Dù mức sống có cao đến mấy, tương vẫn là thức chấm được nhân dân ta ưa chuộng, quen dùng Rau muống non luộc chấm tương,
cá kho tương, cà dầm tương vẫn không thể thiếu trong mâm cơm thường ngày của nông thôn Việt Các nhà khoa học công nghệ cùng với các nghệ nhân khéo tay ngả tương cùa làng Bần đang dần đưa công nghệ tiến hóa để tương ngày càng hấp dẫn hơn, có giá trị xuất khẩu cao hơn
Ngày nay, trên đường giao thông chiến lược số 5, đường 39 vùng có nghề làm tương đã mọc lên những cửa hàng bán đặc sản tương Bần san sát bên nhau như Yên Nhân, Phố N ố i
NGHỀ SE HƯƠNG Ở CAO THỔN
Hương thơm dùng trong ngày giỗ, ngày Tết, lễ tảo mộ, lễ viếng người đã khuất của mọi gia đình Hương được thắp trong các buổi tế, lễ ở các đình, chùa, đền, miếu Hương thắp từng nén hay bẻ nhỏ đốt trong đỉnh Tục dùng hương như vậy đã có hàng ngàn năm trên đất nước ta Trong mộ cổ cách đây 1 6 - 1 7 thế kỷ đã thấy có bát hương bằng gốm, bằng đồng Trên văn bia
Lý - Trần cũng thấy nói đến hương trong những ngày đại lễ Do
Trang 27nhu cầu xã hội, nhân dân ta sáng tạo nhiều loại hương Gọi theo màu sắc và chất liệu có hương xạ, hương trầm hay hương đen Hưng Yên tá xưa có một số làng chuyên làm hương nhưng nồi tiếng khắp mọi miền đất nước vẫn là hương của thôn Cao tức Cao Thôn thuộc xã Bảo Khê huyện Kim Động (nay là thị xã Hưng Yên).
Trước cách mạng, xã Bảo Khê có hai thôn là Tiền, Cao Thượng Thôn Tiền sau đồi tên là Tiền Thắng, Thượng đổi thành Đoàn Thượng, chỉ có Cao Thôn vẫn giữ nguyên tên cũ đến nay Các thôn trong xã Bảo Khê nằm ven đường 39, sát đê sông Hồng, đoạn Dốc Lã đi Dốc Suối cách thị xã Hưng Yên 5km về phía Bắc
Ngoài lúa, Bảo Khê còn trồng đay, ngô, đậu, vừng Trong vườn trồng nhiều táo và các loại rau Bãi cỏ ven đê rộng và tốt, tạo điều kiện cho đàn bò phát triển Tuy vậy, Cao Thôn vẫn lấy
se hương làm nghề chính
Buổi đầu khi nghề làm hương mới du nhập tới Cao Thôn, chỉ có vài gia đình biết làm, dần dần phát triền ra cả thôn Đến nay, trong số 1000 hộ thì có trên 90 hộ làm hương, chưa kề các gia đình chuyển cư đến các thành phố và thị xã cũng chuyên sống bằng nghề làm hương Từ khi biết làm hương, đời sống nhân dân cải thiện nhanh hơn Nghề làm hương mang lại thu nhập lớn trong tổng thu nhập của mỗi gia đình
Theo chuyện kể của các già làng, vào cuối thế kỷ 14, làng
có người con gái họ Đào, tên Khương trôi dạt sang phương Bắc
xa xôi lấy chồng rồi học nghề làm hương cho dân làng Từ đấy
Trang 28Cao Thôn biết làm hương Nglrời làm hương ở Cao Thôn lấy ngày 22 - 8 âm lịch là giỗ tổ nghề se hương.
Nghề hương học việc chóng thành Trong gia đình có một người làm hương thì không bao lâu sẽ lôi cuốn cả nhà làm theo Dụng cụ làm hương đơn giản, mọi gia đình có thể tự tạo hoặc mua sắm không tốn kém lắm Nguyên liệu làm hương đều lấy
từ thào mộc, thành phần gồm các loại: Tăm hương, hương liệu, chất kết dính, chất chống dính và chất dễ bắt cháy, thuốc màu, ngoài ra nguyên liệu làm hương còn cần có giấy đóng bao in nhãn quảng cáo
Làm hương nén hay hương sào phải có tăm tức cái lõi của nén hương Tăm hương làm bằng nứa ngộ bánh tẻ, ngâm đủ chín để hương dễ bắt cháy Nứa ngâm rồi, bỏ đốt cưa từng đoạn
có độ dài bằng nén hương Hương nén thông dụng khoảng 36cm, hương sào khoảng 45-45cm
Tăm chẻ xong phơi khô, lấy lạt bó 500 cái thành một bó, rỗ cho bằng, nhúng vào thuốc nhuộm chân hương Chân nhuộm màu xanh, đỏ, tím tùy theo từng gia đình Nhuộm chân xong để
cả bó, xoay nhẹ một vòng, phơi từng hàng trên sân rộng trông như những đóa hoa lớn
Hưomg liệu làm cho hương thơm và dễ cháy Hương liệu chính của hương trà là hương trầm, tiếp đến là quế đinh hương, nhựa trám, thảo quả, địa liên, mộc hương, ba kích, long xuyên hương, mai hoa, bạch đàn Từng gia đình, từng nhóm thợ có cách riêng trong việc chọn nguyên liệu chế thành bột để làm sản phẩm Sản phẩm của từng gia đình, từng dòng họ có sức hấp dẫn riêng Tay nghề cao hay thấp chính là ờ khâu pha chế này
Trang 29C hất keo là vật kiệu liên kết các hương liệu lại với nhau và bám chắc vào tăm hương Chất keo làm vỏ lấy từ cây rè ớt Chất keo này có ưu điểm kết dính các hương liệu nhưng lại không : dính tay, rất thuận lợi cho người sản xuất Loại cây này mọc • rất nhiều ở vùng núi Quàng Ninh, Yên Bái, Plây-Cu v ỏ rè ớt phơi khô, tán nhò, trộn lẫn với bột hương liệu sẽ thành một chất - keo đặc biệt.
Khi vê hương liệu vào tăm cần có chất chống dính để các nén hương không chập vào nhau và quan trọng hơn là làm cho hương bắt cháy nhanh, cháy đều, cháy không tắt nửa chừng Trước đây chất chống dính làm bằng bột cây dó, dai và bền Ngày nay, nguyên liệu bột cây dó được thay bằng bột gỗ bồ đề.Hương sử dụng quanh năm, nhưng nhiều nhất vẫn là dịp Tết Thời vụ làm hương cũng vào hai tháng Tết, khi mùa thu hoạch xong, nghề làm hương cùa Cao Thôn phát đạt ngót một thé kỷ nay Quá trình sản xuất đã tạo cho một số gia đình có vốn lớn Họ ra thành phố mở xưởng, mượn thợ sản xuất trở thành chủ hiệu chuyên bán hương nổi tiếng một thời như: Quảng Thái, Vạn Hoa, Hoàng Phát (Hà Nội), Đồng Phát (Hà Đông), Hồng Phúc (Huế), Đông An Sương (Sài Gòn), Đồng An Mỹ (Hải Dương) Sản lượng hương xạ Cao Thôn rất lớn, có thể sản xuất hàng triệu bao một năm Chất lượng ở đây không kém hương nước ngoài Nghề làm hương nhẹ nhàng, thu hoạch cũng khá, nhưng Cao Thôn không giữ bí quyết truyền nghề Con gái lấy chồng làng khác, con rể làng khác về làm rể làng Cao Thôn,
ai mang được nghề theo thì cứ mang, làng không ngăn trở
Cao Thôn hiện nay sản xuất ba loại hương: Hương nén thông Ị dùng, hương sào và hương vòng ị
Trang 30H ương nén và hương sào: Hương liệu đã keo và khối bột luyện kết dính, tăm hương phơi khô đã nhuộm chân đưa lên giá vê hương Giá vê hương là một tấm gỗ rộng 40 X lOOcm
kê trên hai niễng cao 50cm Trước giá có tủ hai ngăn, ngăn dưới để bột bồ đề, ngăn trên để bột hương Vê hương bằng bàn xoa giống như bàn xoa của thợ nề Người làm hương ngồi trên ghế đẩu cao, tay trái cầm nắm tăm hương Phần chân ở phía dưới, kéo khối bột luyện như kéo kẹo, tay phải cầm bàn vê, chấm lên bột gỗ, vê từng nén hương Vê hương hết một tay thì để lên giá phía trước, vê tiếp tay khác Trung bình một người vê một ngày được 5000 nén Nếu làm cả tối, người vê nhanh có thể đạt một vạn nén một ngày Hương vê đầy giá mang ra phơi Dàn phơi làm bằng thân đay, hay mành mành đặt trên sào tre, cao khoảng một mét Hương phơi một nắng là được Tay nghề thành thạo, khéo léo đã làm ra những nén hương đều tăm tắp như đúc ra cùng khuôn Làm hương sào dài hàng sài tay, to bằng ngón tay, trang trí rồng phượng màu sắc rực rỡ
Làm hưong vòng: Hương liệu pha chế cơ bàn giống như hương nén nhưng đòi hỏi kỹ thuật cao hơn Các dụng cụ làm hương vòng là bàn ép, cối ép, giá p h ơ i Hương vòng có nhiều loại, mỗi nén có 10 vòng, thắp được nửa ngày Loại trung bình, thiết diện lớn gấp đôi và dài hơn, có thể thắp được 2-3 ngày Loại lớn có thể thắp đến 2 tuần mới hết một nén
Nghề làm hương đến với Cao Thôn mới ngót một thế kỷ, tạo cho trẻ, già, trai gái ở đây ai cũng biết làm hương Cao Thôn trở thành đất nghề, làm hương trở thành nghề truyền thống của người dân ở đây Hiện nay, nghề làm hương ở Cao Thôn trở lại
Trang 31phạm vi sản xuất trong phạm vi gia đình Mỗi hộ hiện nay là một công trường, hoàn thiện từ khâu đầu đến khâu cuối Vào tháng giáp Tết, Cao Thôn có tới 400 lao động chính phụ làm hưomg Với nàng suất bình quân 5.000 nén hương một ngày, một tháng Cao Thôn có thể sản xuất 60 triệu nén hưomg thông dụng, tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn.
Hương thơm là một mặt hàng được chuộng như hoa tươi, hoa giấy Thắp hương trong ngày giỗ, Tết vẫn là tập quán của nhân dân cả nước Hương Cao Thôn có thể là mặt hàng xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước nếu chất lượng sàn phẩm ngày một tốt lên và bao bì mát mắt hơn nữa
RƯỢU TRƯƠNG
Làng Trương Xá thuộc xã Toàn Thắng, huyện Kim Động Phố Trương có sông Cửa An chạy qua, có chợ Trương và cây cầu bê tông sát bốt Trương cũ, cách tỉnh lỵ Hưng Yên 17km, người đông tới 2000 khẩu Làng Trương đã hình thành cách đây hàng ngàn năm Nghề làm rượu có từ đó Rượu Trương Xá không chỉ nổi tiếng trong nước còn vang
xa tận Châu Âu, do người trong nước xuất khẩu lao động mang đi làm quà Nghề nấu rượu đã sống mãi với làng, gọi
là làng nghề không ai nhớ đến tên cụ tổ nghề chỉ biết ràng: đời tiếp đời truyền nghề cho nhau và nói: các cụ xưa đã truyền lại cho mình
Rượu Trương Xá chưng cất từ nguyên liệu chính là gạo nếp cái hoa vàng và men làm bằng thuốc Bắc Nay dùng cả gạo nếp mộc tuyền Một nồi cơm chín chừng mười ca gạo nếp xay (mỗi
Trang 32ca 1.4kg) Thổi cơm rượu sao cho cơm rượu chín nục và dẻo Cơm không khê, không sống và không nát Xới cơm rượu trải lên mặt nong Cơm để nguội còn âm ấm tay, rắc men theo từng lượt xếp vào thúng, dưới thúng kê một chiếc chậu đựng nước cốt Sau 48 giờ, vớt cơm thúng vào chum Đổ nước cốt cùng với khoảng 10 lít rượu trong chum, còn gọi là ủ ủ men rượu: thuốc Bắc phải đủ 36 vị theo liều lượng, tán nhỏ thành bột Trộn với nhau tạo thành một chất dẻo, làm thành bánh, to cỡ miệng chén uống trà Trải qua một lượt trấu mỏng trên nong, rồi xếp bánh men dẻo vào đó, úp nong khác và phủ chiếu lên Sau 24 giờ là men đã đủ dùng cho cả làng nấu rượu Thời xa xưa bộ đồ chưng cất rượu gồm: Một nồi đồng, trên có vòi để rượu bốc hơi gặp lạnh ngưng tụ mà thành Rượu theo cuống ba ba chảy qua ống dẫn bàng tre (còn gọi là ổng voắm) và hũ đựng rượu Nước làm lạnh phải luôn luôn thay thi rượu mới không bị nóng Ngày nay,
bộ đồ nấu rượu đồ sộ hơn Bộ ba ba bằng gỗ được thay bằng tấm bía đồng (hình hộp chữ nhật mỏng dẹt) Người ta còn dùng
cà bộ đồ inox rất to có thể nấu 100 kg gạo một mẻ Quá trình nấu rượu, đôi khi gặp trường hợp bị khê Lý do thứ nhất, nấu cơm sống và nhão Lý do thứ hai, mùa đông vật cơm và thúng quên không lót xung quanh thành thúng một lớp lá khoai nên cơm ở đó bị khô cứng, làm chậm quá trình chuyển hóa vi sinh
từ tinh bột sang rượu
Cà nước biết đến và ưa chuộng món rượu Trương Xá Đó
là món rượu Trương chính hiệu Rượu chính hiệu phải hội đủ các yếu tố: nguyên liệu là gạo nếp, men thuốc Bắc đủ 36 vị, thời gian ngâm rượu trong chum đủ 10 ngày Rượu chưng cất không qua lọc vẫn trong suốt, trong hơn cả nước mưa Nhìn từ
Trang 33ỉ
1
<
bên này sang bên kia vỏ chai thủy tinh vẫn không vẩn bụi bẩn ị
trong rượu Nồng độ rượu phài đạt tới 45 độ Những người \
sành rượu, khi uống rượu Trưorng Xá thứ thiệt cảm thấy vị i ngọt êm, càng uống càng phấn khích cho đến khi say mềm vẫn ■'! không muốn thôi Họ thường mua thứ rượu Trương về ngâm thuốc Bắc hoặc ngâm rắn Giá hiện tại khoảng 8 - 1 0 ngàn đồng một lít
Rượu Trương còn có loại khác cũng có quy trình ủ và chưng nấu như trên, nhưng rượu chỉ lấy ra khoảng 30 - 40 độ, có màu
lờ lờ nước hến, phải qua lọc mới hết đục Nhưng rượu lấy ra chỉ khoảng 5 ngàn đồng 1 lít Như vậy, trên thị trường có hai loại rượu Trương Xá: rượu nếp thứ thiệt (chính hãng), rượu nếp loại trung bình
Thời thuộc Pháp chính quyền thực dân độc quyền về rượu, chỉ cho lưu hành hai hãng rượu Phông Ten và rượu Văn Điển
Ai nấu rượu và bán rượu khác đều coi là rượu lậu, bị bát bỏ tù thậm chí bị tịch thu tài sàn Toàn dân làng Trương Xá thời xưa
đã kéo nhau ra đình, đóng đinh vào cột mà nguyền rằng: “Chết thì thôi, ai còn sống phải giữ lảy nghề nấu rượu” Vì thế,
nhiều người bị Pháp bắt bỏ tù, sau khi ra tù lại tiếp tục nấu rượu Rượu nếp Trương Xá sực nức mùi hương dân dã vẫn sống và
đè bẹp rượu của nhà nước Lính Tây rình rập bắt bớ triền miên, nhân dân tìm cách chống lại Thời kỳ nhân dân còn thiếu lương thực, nấu rượu vẫn phải lén lút làm lậu Kẻ mua ngưới bán phải dùng tiếng lóng gọi rượu bằng: “cuốc lủi” chứ đâu được thoải mái hành nghề nấu rượu như bây giờ
Làng Trương có một số nhà làm nghề nấu rượu, gọi là xóm
Bồ Đề hay xóm Trại Xóm này nằm trải dài một bên là sông,
Trang 34một bên toàn cỏ rậm rì Tây Đoan bao phen vào bắt rượu lậu
mà khó lòng bắt được quả tang một vụ dân đang nấu rượu, bởi xóm Bồ Đề có thế hiểm Trẻ con trèo lên ngọn cây cao hoặc đang chăn trâu, tắm lội ở sông đều có ý thức canh gác cho bà con hành nghề, khi thấy có động, tức là có Tây và lính Đoan
về làng, trẻ con tức tốc báo cho cả xóm biết mà cất giấu đồ nghề Tây và lính Đoan nhiều phen bị mắc hợm vì những đòn
; hiểm mà thú vị của bà con Chuyện kể rằng: Tây Đoan về bắt rượu vào ngày làng xóm mở hội Đúng lúc chúng đang hò hét dọa dẫm dân làng thì có một cụ già từ làng bên về tới Cụ già
có hình dáng khác người: tóc búi lò xò sau gáy, râu bạc trắng như Tiên ông, đang khoác ô đen vừa đi vừa lẩm nhẩm như đọc bùa chú Đe đánh lạc hướng lùng sục của Tây Đoan, một nhóm thanh niên hô hoán lên là có Tiên hiện về, cà xóm, cả
I làng kéo lại xem Trong sự hứng khởi đột xuất ấy, họ mang Kiệu Bát Cống ra đặt ông già lên rồi khiêng ông cụ một vòng sân đình trong tiếng reo hò, khẩn vái và chiêng trống inh ỏi Ồng “tiên” cứ mặc nhiên ngồi trên kiệu mà chắp tay niệm Phật Bọn quan Tây và lính trợn tròn mắt vừa ngạc nhiên lại vừa sợ sệt
Cuộc lùng bắt rượu lậu của Tây Đoan kết thúc một cách
bẽ bàng Cụ già tình cờ-qua làng ấy là ông xã Kiềm ở làng Bông đi thăm bà con ở Trương chứ có phải Tiên Phật nào hiện về đâu
Rượu Trương Xá tiếng tăm ngày càng vang xa Nghề nấu rượu tại làng Trương tuy có lúc đã giảm chỉ còn 50% số hộ hành nghề Ngược lại, có tới hàng ngàn người quê Hương
Xá đã mang theo cả gia đình, di chuyển nghề nấu rượu lên
Trang 35tận miền núi phía Bắc (Sơn La, Lai Châu ), vào miền Trung jỉ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình), có người vào 1: tận Tây Nguyên, tập trung đông hơn cả tỉnh Quảng Ninh có ! tới 100 hộ, Vũng Tàu có trên 70 hộ, dân Trương Xá nơi đây ịị
đã thành lập làng nấu rượu với những xưởng lớn, quy mô sản : :
xuất mở rộng, rượu chưng cất ra chi giữ ở mức 35° - 38° nên ])
dễ bán Do đó, lãi suất nghề nấu rượu lên tới 30% so với vốn \
ban đầu Năm 2005, Trương Xá là trong một những làng được *: chính quyền tỉnh công nhận Làng nghề truyền thống đầu tiên ; cùa tinh
NGHÈ BƯNG TRỐNG Ở LƯU THƯỢNG
Trổng được liệt vào hệ thống các nhạc cụ dân tộc đặc sắc,
nó rộn rã âm vang, níu kéo mọi người, mỗi khi tiếng trống vang lên Trống có mặt trong dàn nhạc chèo, tuồng, trong lễ hội làng
xã của người lớn, trong tối vui đón trăng rằm của trẻ em Phút
thiêng liêng nhất của đời người cần đến trống: “sống dầu đèn, chết kèn trống”.
Làng cổ Lưu Thượng ở cách phố Nối 1.5km, cạnh trục đường 39A, thuộc tổng Tam Lưu, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng xưa nay là huyện Yên Mỹ Đất này không những
là quê hương của đại danh y Lê Hữu Trác mà còn là quê hương của trống gõ mặt da trâu nổi tiếng
Trống có nhiều loại: Trống cái, trống cơm, trống chầu, trống
đế, trống khẩu, trống ừẻ chơi rằm tháng tám Trống cái cao 0,6m mặt rộng 0,5m Trống cơm dài 0,62m, mặt rộng 0,20m
Trang 36Trống đại cao l,8m; mặt tới l,5m là loại lớn nhất thường dành cho đình, đền của làng dùng trong các đám rước hay lễ hội lớn.
Nghề làm trống nhộn nhịp nhất là vào dịp trước Tết trung thu và trước Tết Nguyên Đán Khi nhu cầu người mua nhiều, các hiệp thợ trống Lưu Thượng làm việc quanh năm
Dụng cụ làm trống
Bộ dao gồm nhiều dao to, nhỏ, dài, ngắn khác nhau tùy theo từng công đoạn thao tác Rìu to, dao to đẽo gỗ làm tang, dao vừa chẻ đinh, dao nhò cắt da bưng mặt trống
Tang trống được làm bằng gỗ bồ đề, gỗ mỡ, gỗ xoan, quéo, găng tay nhưng chuẩn nhất vẫn là gỗ mít Tang gỗ được
xẻ, được đẽo bằng tay, ghép lại Người thợ giỏi, thợ cả lão luyện lâu năm cầm rìu, cầm dao chắc tay, đẽo từng vạt dài, nhanh, chính xác, động tác đẹp như múa Trống nhỏ thì tang trống được tiện Công đoạn này ngày nay được hỗ trợ bằng máy móc
M ặt trống được làm bằng da trâu bò, da ngựa, song da trâu vẫn là tốt nhất Da trâu được tách từng lượt tùy theo loại trống, rồi nạo đều, đem phơi khô dưới nắng Tang trống có vai trò tạo nên hợp âm Làm tang trống phải pha gỗ thế nào
để lật được thớ gỗ, tiết kiệm gỗ nhất mà lại tiện cho các khâu bào gọt về sau, sao cho tang trống phình, tròn đều, dáng đẹp
To mà không nặng, không kềnh càng, lớn mà thanh thoát không thô
Bộ rìu cũng có cỡ to nhỏ khác nhau để đóng các loại đinh Một bộ nêm làm bằng gỗ có tác dụng làm căng mặt trống, hai
Trang 37thanh gỗ dày để đặt bàn nêmto, nhỏ, dài, ngắn tùy trổng lớn hay • nhỏ Một bàn đế gỗ lim họặc nghiến đóng thưa sáu mảnh có độ I dầy dài tùy ý Bàn đế cũng làm mặt bằng.
Bộ nạnh cũng có nhiều kích cỡ: Mỗi con nạnh có ba móc ị
sắt Mỗi khi bưng trống, người thợ móc vào phía mép da, dùng Ị chảo quấn vào một đầu nén ghl xuống làn da mặt trống đều ị căng Trống to cần nhiều nạnh, trống nhỏ ít nạnh hơn Một bàn Ị
xàm tre vầu trũng lòng mo, một đoạn gỗ cố định tang trống, I một bộ chảo dài néo các con nạnh cho mặt da căng lên Bộ ; con xỏ bằng tre để vặn nút chảo, lạt giang xỏ vào các lỗ mép miếng da tạo thành đường viền quanh miếng da và có thêm dụng cụ như chì kẻ chỉ, chổi quét phẩm, cưa, bào, đục, dao chẻ
da, dao bào da
Mặt trống căng xong được đóng đinh cố định vào tang Đinh được làm bằng tre bầu già, dùng dùi đục lỗ, hoặc khoan lỗ Hàng đinh mau, đều tạo những đường tròn quanh tang trống rất đẹp mắt
Trống lớn phải có đai Dụng cụ đóng đai phải được làm bằng tre chẻ nhỏ, bện lại, hoặc bằng cây song, cây mai Thợ giỏi thạo tay hay mắt, có kinh nghiệm được giao cho sơn trổng,
vẽ trang trí Tang trống sơn đỏ có vẽ rồng bay lượn, nhảy múa xung quanh mặt trăng, mặt trời ẩn hiện trong những đám mây ngũ sắc, vừa thực vừa ảo Mặt trống vẽ những đường tròn ở giữa bằng sơn đỏ, tròn xoe, vừa tạo nên vẻ đẹp, vừa là nơi đánh dấu điểm gõ hay nhất Nhìn chiếc trống to tưởng nặng nề bỗng trở nên nhẹ nhàng, bay bổng Làm một chiếc trống cái có đến mười hai công đoạn Thợ giỏi, dụng cụ đầy đủ, làm nhanh cũng mất đến 20 - 30 công một chiếc
Trang 38Trống làm xong phải được kiểm tra Người thợ gõ trổng, nghe âm thanh, nghe tiếng tang kêu mà phân định trống tốt hay không tốt, chất lượng đạt hay không đạt Trống tốt là trống kêu giòn, âm thanh trong, vang chuẩn, đúng tính chất của loại hình trống đó, đạt yêu cầu cùa người mua.
Dùi trống được tiện bằng gỗ xoan, gỗ bồ đề, gỗ đinh hương, cũng có khi tiện bằng tre Điều kỳ lạ là mỗi khi tiếng trống cất lên nó có sức thôi thúc, lôi cuốn mạnh mẽ mọi người
Làng Lưu Thượng có năm dòng họ lớn là: Họ Lê, họ Lưu,
họ Chí, họ Nguyễn, họ Phạm Riêng họ Phạm có ba chi họ bưng trống Họ Phạm Đức đến đời cụ Phạm Đức Nghiễn là 18 đời
Họ Nguyễn Đình Bách (cháu ngoại họ Phạm Đức) là 5 đời làm nghề bưng trống Thợ trống làng Lưu còn lưu truyền rằng xưa
cụ thợ trống họ Phạm đi bộ hàng ngày xuống Phú Lộc (Hài Dương) làm nghề bưng trống Có cô gái làng xinh đẹp, thấy anh thợ trống có tài, ăn nói giỏi, liền phải lòng rồi thành vợ chồng Sau rồi, cụ truyền nghề cho con cháu dưới đó Vì vậy ngày nay làng Đức Trạch, xã cẩm Định, huyện cẩm Giang, Hài Dương cũng có nghề làm trống Trống làng Đức Trạch hình dáng, mẫu mã cũng giống trống quê tổ làng Liêu Ở huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam cũng có một họ Phạm đang làm trống Chính chiếc trống đại đang treo ở Quốc Tử Giám (Hà Nội) có chiều cao 2,60m; mặt rộng 2,20m là do thợ Duy Tiên kết hợp với thợ trống làng Lưu làm ra
Người Lưu Thượng không giỏi làm trống mà còn giỏi làm nghề thuộc gia, tiện gỗ và buôn bán Thời xưa tại phố Thụy
Trang 39Khê, phố Hàng Nón và nhà số 16 phố Hàng Trống (Hà Nội) có các cửa hàng rất lớn của người Lưu Thượng.
Người làm trống vất vả, thu nhập không cao song rất ; đáng tự hào Nhiều gia đình từ làm nghề, theo nghề mà tậu được ruộng, làm nhà cửa, đủ nuôi con cái học hành, lập nên :
cơ nghiệp
Thời Pháp thuộc cụ Bá họ Phạm Đức đã làm nhiều loại trống
sang dự hội chợ Pa-ri đạt “giải ba, hàng của các nước thuộc địa của Pháp".
Trước đây, đình làng còn có một chiếc trống mẫu, đó là một chiếc trống lớn, tang trống được làm bằng gỗ liền khối Các thợ lành nghề của làng đã khéo đục rỗng ruột một khúc thân cây lim
cổ thụ, bịt da hai đầu rất đẹp và chắc Chiếc trống đại này, mỗi khi đánh nó vang âm khắp một vùng Chiếc trống đó đã bị giặc Pháp phá mất khi chúng càn vào làng
Vào làng Lưu Thượng ngày nay, ta nhập vào không gian đầy âm thanh vui tai của tiếng gõ, tiếng đục, tiếng chạm, tiếng niêm, tiếng thử trống Sôi động và yên tâni lạ thường Yên tâm bởi lẽ nghề cồ không bị mất, sôi động bời lẽ các em học sinh ngoài giờ đến trường, về nhà chăm chỉ theo cha mẹ học nghề cổ truyền Mừng nữa vì nghề bưng trống làng Liêu Thượng có điều kiện phát triển mạnh, nhu cầu về trống trong
xã hội, trong dân gian ngày càng nhiều Các loại trống kim loại có tính năng riêng, dù văn minh hiện đại mấy vẫn không thay thế loại trống truyền thống tang gỗ, bịt da rất quen thuộc với người dân Việt
'í
í
Trang 40LÀNG THÙ Sĩ VỚI NGHÈ ĐAN LỜ - ĐÓ
Thủ Sĩ là một xã của huyện Tiên Lữ, chuyên đan lờ và đó Thủ Sĩ là đất đồng chiêm trũng, 6.300 con người sống trên diện tích 1.480 mẫu, trong đó chi có non nghìn mẫu canh tác Tuy thế, đời sống của Thủ Sĩ vẫn được cải thiện nhanh và ổn định hơn nhiều nơi khác
Thủ Sĩ đã biết khai thác tiềm năng lao động và đất đai, biết duy trì và phát huy các ngành nghề cổ truyền ở địa phương, tạo cho mọi người đều có việc làm Trong xã có thôn Tất Viên, Nội Lăng làm nghề đan đó, Ba Hàng làm nghề đan lờ nhiều đời Nội
Lễ chuyên đan thuyền Chỉ riêng một cái đó mà tới ba làng của hai tỉnh sàn xuất mới hoàn chỉnh Tất Viên Nội iiăng chuyên đan thân, Ba Hàng chuyên đan hom còn Hội Động, một làng thuộc huyện Lý Nhân (Hà Nam), tận bên kia sông Hồng, xa trên mười cây số chuyên đan trúm (đuôi đó) Sự phân công ấy hình thành bao đời nay đã trở thành sự liên kết quen thuộc và tập quán nghề nghiệp khó thay đổi
Thủ Sĩ có đồng chim rộng, lắm cá nhiều tôm nên nghề đan lờ đã xuất hiện ở đây rất sớm Từ trẻ em 7-8 tuổi đến các
cụ già ở Tất Viên và Nội Lăng đều biết đan đó và có tới 70% gia đình đan chuyên nghiệp, v ố n bỏ ra không đáng kể, chỉ vài chục bạc qua một này lao động là có sản phẩm Đó của Nội Lăng, Tất Viên đan bằng nứa tươi Người ta mua nứa theo cân, mỗi cân nứa loại tốt đã chặt đốt có thể đan được
4 thân đó Đó đan bằng hai loại nan: nan dọ.c chẻ lột, rộng khoảng hai li, nứa càng già đó càng bóng đẹp, nan cuốn bằng nứa bánh tẻ, chẻ nhò như cái tăm, càng dài càng tốt Người