1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hội văn nghệ dân gian Việt Nam: Nghề và làng nghề truyền thống: Phần 2

274 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Làng Nghề Truyền Thống Ở Bình Định
Tác giả Nguyễn Xuân Nhân
Định dạng
Số trang 274
Dung lượng 7,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội văn nghệ dân gian Việt Nam: Nghề và làng nghề truyền thống: Phần 2 cung cấp cho người học những kiến thức như: Làng nghề truyền thống Bình Định; Đôi điều về làng nghề truyền thống; Làng nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa; Nghề dú đồng Phương Danh; Nghề đúc chuông; Làng nón ngựa Xuân Quang;...

Trang 1

PHÀN III LÀNG NGHÈ TRUYỀN THÓNG

Ở BÌNH ĐỊNH

Tác già: Nguyễn Xuân Nhân

Trang 2

ĐÔI ĐIỀU VÈ LÀNG NGHÈ

TRUYỀN THỐNG

Làng nghề truyền thống đã hình thành từ lâu đời ở nước ta

từ Nam chí Bắc Làng tập họp mọi người trong làng cùng làm một nghề, cùng chung một vị tổ nên mang tính cộng đồng Tính cộng đồng ấy thể hiện trong cách hành nghề, trong sinh hoạt, tập quán và cả trong sự học hỏi và truyền nghề Họ còn có liên

hệ máu huyết và cả trong quan hệ bà con láng giềng Vì vậy cách làm nghề đều tưomg tự như nhau Nói cách khác họ luôn theo một trình tự, một phương pháp giống nhau Biết được một làng nghề truyền thống một vùng là biết được sự tương tự của làng nghề khác

Trong quá trình làm nghề, luôn có những thuận lợi cũng như khó khăn mà họ phài tìm hiểu để vượt qua Từ đó nảy ra sáng kiến và trở thành kinh nghiệm Những kinh nghiệm ấy được truyền đạt cho người thân, trước tiên là người trong gia đình rồi sang tộc họ Quan hệ gia tộc còn có hên quan đến sui gia, bạn

bè thân thiết, tình làng nghĩa xóm Dù muốn hay không nghề nghiệp và kinh nghiệm cũng được chia sẻ truyền thụ Hơn nữa

từ quan hệ láng giềng qua lại, mắt thấy tai nghe Phải chăng đó

là một cách học hỏi thực tế mà kết quả

Trang 3

Làng truyền thống có cùng sinh hoạt khiến việc giao tiếp thuận lợi Sự giao tiếp ấy làm cho dân làng gần gũi, thân tình gắn bó Họ luôn sẵn sàng giúp đỡ nhau chẳng những trong nghề, trong quan hệ sản xuất và tiêu thụ mà cả khi gặp những khó khăn tai nạn.

Tuy nhiên, như ta đã từng nghe chuyện giữ gìn bí quyết trong nghề nghiệp ngày xưa Có những nghề họ chỉ truyền cho con trai, con dâu mà không truyền cho con gái vì họ quan niệm rằng “nữ sinh ngoại tộc” Họ sợ rằng con gái biết nghề khi có chồng sẽ đem nghề ấy truyền cho nhà chồng Có thể đó là một sai lầm khiến nghề nghiệp của nước ta không phát triển Đây là một nhược điểm cần khắc phục

Làng truyền thống có nhiều thế mạnh và cả thế yếu nên việc nghiên cứu, tìm hiểu về mặt chuyên môn kỹ thuật và cả những sinh hoạt văn hóa Những ngày giồ tồ, những lễ hội được tổ chức một cách long trọng và trang nghiêm để nhắc nhở con cháu nhớ đến các bậc tiền bối đã bỏ ra bao nhiêu công sức học hỏi, làm nghề, rút kinh nghiệm, qua bao vất vả khó khăn để truyền nghề cho con cháu, cho dân làng tạo nên cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn Vì vậy lễ hội mang tính văn hóa sâu đậm “Ưống nước nhớ nguồn” đó là truvền thống tốt đẹp của dân tộc ta

Một số nghề ngày xưa hầu như đã mai một Tìm hiểu đ<; tường nhớ Chẳng hạn như bài “Hoài niệm về làng nghề đá ong” Chúng ta cũng thừa nhận rằng có nhiều nghề truyền thông không còn theo kịp với đà phát triển của xã hội như nghê đan tre, nghề dệt chiếu, vì lẽ những sàn phẩm từ tre cói so sánh với sán phẩm nhựa thì mỗi loại có một số ưu nhược điểm nhất định

Đồ nhựa tuy giá rẻ nhưng không hơn hàng tre cói vì sự mát mẻ

Trang 4

và không ô nhiễm, vì khi những thứ hàng tre cói này khi vứt bỏ chỉ sau một thời gian nó đã tự hủy hoại.

Thứ đến khi nghiên cứu về làng nghề truyền thống chúng

ta còn hiểu được sự liên hệ giữa các nghề Nếu các nghề đươc phối hợp chặt chẽ thì mới có kỹ thuật cao tạo ra những sản phẩm xuất sắc Xin đơn cừ một trường hợp: nghề đúc đồng chỉ sàn xuất được những mặt hàng không mấy mỹ thuật lắm nên giá không cao Cũng là đồ đồng nhưng nếu là đồ tam khí ta sẽ thấy giá trị của nó

Nghiên cứu làng nghề truyền thống là tìm về cội nguồn của dân tộc để phát huy thế mạnh tìm cách khắc phục những yếu kém để khôi phục lại những gì đã mất hay suy yếu Nếu khôi phục được ta còn giải quyết được nạn thất nghiệp và cả việc tiêu thụ được những nguyên vật liệu trong nước Đó là trách nhiệm của chúng ta những nhà nghiên cứu về kinh tế hầu đưa nền kinh

tế nước ta mỗi ngày một phát triển bền vững

Trang 5

LÀNG NGHÈ TRỒNG DÂU NUÔI TẰM DỆT LỤA

Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng

Câu ca dao trên đã phản ảnh phần nào nỗi nhọc nhằn của nghề nuôi tằm Nghề này đã có từ xưa, đến thời vương phi Ỷ Lan có lẽ là thời kỳ hoàng kim và lưu truyền cho đến ngày nay

Tìm về nguồn gốc

Bình Định là đất mới - từ thời xa xưa dân tộc Chăm và Việt

đã có liên lạc với nhau tuy không chính thức nhưng đã giao tiếp trên buôn bán, trao đổi vật phẩm và truyền nghề trong đó có nghề trồng dâu nuôi tằm

Nhiều sự việc đã được các cụ già ngày xưa kể lại mà chúng tôi đã ghi chép được

Bài này tuy viết về làng Háo Lễ, với xóm Cửi có làng nghề truyền thống trồng dâu nuôi tằm, nói chung nhưng chỉ tượng trưng, vì lẽ có ất nhiều làng trong tỉnh Bình Định làm nghề này

Chuyện về làng Phương Danh: Làng nằm ven bờ sông Đập

đá, nên khá màu mỡ nhờ phù sa của dòng sông Côn hàng năm bồi đắp Dọc theo bờ sông là đất soi, nương dâu nối tiếp nương

Trang 6

dâu Một màu xanh mướt, phì nhiêu Chính từ những nương dâu này là nguồn cung cấp lá dâu thức án cho tằm.

Dệt lụa, trồng dâu, nuôi tằm là nghề truyền thống hiện nay vẫn còn trong quy mô nhỏ Trong làng có chùa Ty thờ bà tổ nghề dệt Chính nơi này đã đào tạo rất nhiều chàng trai có tay nghề cao Họ đi khắp nơi trong tỉnh truyền nghề Họ là những người thầy vừa là thợ, họ làm cho gia chủ những công đoạn khó khăn nhất-kỹ thuật dệt-nhất là “bắt hoa” là khó nhất, thứ đến là mắc canh vào khung dệt Câu ca dao:

Anh về Đập đá, Gò Găng

Để em kéo sợi đêm trăng một mình Mai này dệt cửi bắt canh Bắt hoa, nhuộm vài thay anh khỏ lòng

Theo sự tích thì nghề tơ lụa ở Phương Danh bắt nguồn từ bà

tổ được dân làng lập miếu thờ

Ngày xưa khi xóm cửi chưa hình thành, trong xóm có người con gái tên là Tô Huệ khá đẹp mà lại giàu lòng nhân ái Cô rất thương người nghèo khổ Cô thường mang tiền gạo trong nhà

ra phân phát cho người đói khổ Thời gian qua mau, cô gái càng lớn càng xinh đẹp nhưng cô không lấy chồng Người ta thường thỉ thầm bàn tán bảo nhau-cô là người nhà Trời đầu thai xuống trần gian để giúp dân làng Ngoài tấm lòng nhân ái cô còn rất yêu quý các loài hoa và ong bướm

Mùa xuân đến, họ nhà bướm mở hội bướm xuân Hàng ngàn con bướm bay lượn, nô đùa cùng cô Cô thấu hiểu cả những nỗi khổ của chúng, cô luôn chăm sóc đặc biết nhất là loài bướm

Trang 7

trắng Bướm ừắng chính là loài đã sinh ra tằm và tằm cho con người những sợi tơ vàng óng Từ những sợi tơ vàng đẹp đẽ ấy đã gợi cho nàng Tô Huệ này ra ý đem tơ dệt thành lụa như dệt vải.

Từ khi tìm ra tơ vàng nàng xin cha cho nàng ra ở một căn nhà nhỏ ở ven sông giữa những nương dâu để dân làng phát triển nghề mới Cha mẹ khuyên nàng mãi nhưng ý nàng đã quyết nên cha mẹ cũng chiều lòng Từ một cô gái nhà giàu có, nàng trở thành người dân quê một lòng yêu nghề nên được dân làng quý trọng

Để ghi nhớ công đức của nàng, dân làng dã suy tôn gọi nàng bằng Bà Sau khi bà mất dân lập miếu thờ-tục gọi là bà chúa Ty

Cứ đến ngày 16/8 âm lịch hàng năm, ngày bà qua đời, dân làng

tồ chức tế lễ, rước đèn, cờ trống rất trọng thể Dân làng đến thắp hương, cúng bái Là ngày hội ăn mặc nên mọi người đều ăn mặc rất đẹp, hát múa vui chơi suốt ngày hội

Chuyện kể th ứ hai

Nguồn gốc nghề tằm tơ được truyền từ miền Bắc vào Nam.Ngày xưa, bên bờ sông La thuộc Hoan Châu nay thuộc vùng Nghệ Tĩnh, gần chân núi Hồng Lĩnh có một làng chuyên nghề trồng dâu, nuôi tằm dệt lụa Làng dọc ven sông, dân quen nghề sông nước, thuyền buôn ra vào tấp nập, mua bán hàng tơ lụa chuyển về Nam

Ải về Hà Tĩnh thì về Mặc lụa xứ Hạ, uống chè Hương Sơn

Những chuyến hàng từ đây được chuyển tải về Nam Thuyền này là của hai cha con họ Võ Thuyền chở nhiều tơ lụa và một

Trang 8

so hàng hỏa khác Trên đường mua bán hai cha con được quen biêt một người con gái Chăm lưu lạc trong chiến tranh Nhờ người này hướng dẫn, chỉ đường đi lối về nên việc buôn bán khá trôi chảy thu được nhiều lợi nhuận.

Khi thuyền cập bến Thị Nại, đây là vùng thuộc kinh đô Đồ Bàn của vua Chăm nên việc kiểm soát gắt gao theo luật lệ của vưorng quốc Việc khám xét khó khăn tưởng chừng như việc mua bán phải ngừng trệ Thế nhưng nhờ nhan sắc của cô gái

và những lời thưa gởi nhẹ nhàng, ân cần khiến viên quan trẻ có cảm tình nên việc giao lưu buôn bán có phần trôi chảy

Ngày lại ngày, họ thường gặp nhau, một mối cảm tình này sinh giữa đôi bên Mối tình giữa đôi trai tài gái sắc Chăm-Việt được nhen nhóm sâu đậm dần Một số thương nhân người Việt

ở lại trên đất Chăm làm ăn sinh sống Từ đó nghề trồng dâu, nuôi tằm được phổ biến và hình thành

Đời sống con người có nhiều nhu cầu, trong đó có hai nhu cầu thiết yếu là ăn và mặc Chuyện ăn quan trọng thế nào dù không nói mọi người đều biết Còn việc mặc thì thế nào? “Mặc” tuy thứ yếu nhưng không thề thiếu Nhu cầu về mặc đã có từ thời xưa, từ thời đồ đá con người đã biết lấy vỏ cây, da thú để che thân Nghề sản xuất vải vóc đã tạm đủ thỏa mãn cái mặc nhưng con người văn minh thì càng cần hơn Những thứ vài thông thường chưa hài lòng, họ cần có những thứ vải có giá trị cao, đó là tơ lụa Chỉ có tơ lụa mới có đủ tính năng ưu việt:

- Nhẹ nhàng, mềm mại dễ giặt

- Ẩm về mùa đông, mát về mùa nóng

- Bền chắc lại sang trọng

Trang 9

Vì vậy giá tơ lụa khá cao, đắt gấp nhiều lần so với vải và nylon Vả lại khoa học chỉ công nghiệp hóa được ngành vải nhưng chưa công nghiệp hóa được ngành sản xuất ra tơ tằm Muốn có tơ người ta phải trải qua nhiều công đoạn thủ công

Vì vậy mà tơ lụa đã trải qua một thời kỳ khủng hoảng vì vải lấn

ép Ngày nay tơ lụa đã trở lại ngôi thứ của nó Tơ lụa vẫn chiếm lĩnh thị trường cao cấp, ở các nước văn minh người ta vẫn thích dùng hàng tơ lụa

Mời bạn về quê tôi để xem việc sản xuất tơ lụa

Việc trồng dâu

1 Cây dâu: Là cây thân mộc, lá có hình trái tim, lớn bằn)

bàn tay, khi dâu tốt lá lớn bằng bàn tay xòe sắc xanh sáng Cê

dâu trồng trên nương không lớn lắm, thân dâu cỡ chỉ bằng ngó chân cái Cây mọc thẳng, lên cao cỡ 50cm mới đâm đọt Khi dâ ngang đầu người người ta mới hái lá Lá loại cho tằm ăn là lá bánh tẻ, lá mới lớn, màu xanh lục Sau một lần hái, những nách

lá lại nẩy đọt non Cứ mỗi lứa hái người ta lại bón phân tát nước Cây dâu lại sung sức và cho lượt lá thứ hai Lá dâu là thực phẩm duy nhất đối với tằm dâu Nó ảnh hưởng đến đòi sống con tàm và

cà trong việc sản xuất tơ Nhìn sắc tơ óng ánh, mượt mà là hiểu được sự chăm sóc tằm của người nuôi và cà việc trồng dâu

Dâu là cây thân mộc, gỗ tuy không cứng lắm lúc nhỏ nhưng khi dâu đã thành cổ thụ gốc lởn đến một người ôm không hết Trên ruộng dâu người ta không để dâu lớn quá Khi dâu đã có hoa là người ta lại sửa soạn một mùa ươm trồng mới, hoa dâu nhỏ màu đỏ sẫm rồi chuyển dần sang tím rồi nâu Lúc này năng

Trang 10

suât lá dâu không cao nên người ta hái lượt lá cuối cùng rồi phá

bỏ cây dâu (đốn dâu) để cây dâu ra đọt mới Nếu phải trồng mới người ta lựa những cành bánh té chặt cành dâu thành từng đoạn

cỡ vài chục cm - gọi là hom Khi đất trên nương dâu đã sẵn sàng người ta đem hom dâu găm nghiêng cỡ 45° Có đất hơi ẩm

là hom nẩy rễ nứt mầm Trồng dâu không khó, tỷ lệ sống trên 90% Ngày nay với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật người ta tiến hành ươm dâu giống bằng hạt, khi thành cây đủ tiêu chuẩn

họ đem trồng, việc làm này nhằm tránh sự thoái hóa của giống dâu mang lại năng suất lá cao (do sừ dụng lại hom)

Thu hoạch lá dâu là việc làm tưởng chừng đơn giản vì lẽ ai cũng làm được Người hái dâu mang theo một cái giỏ lớn, cao ngang ngực, đường kính cỡ 50-60cm, bên dưới có chân cũng bằng tre để lá dâu không chạm đất nhằm giữ sạch lá dâu Giỏ đựng lá dâu có lỗ hình lục giác lớn để lá được thông thoáng, tươi lâu Phụ nữ thường làm việc này Trông họ làm việc lúc nào cũng khẩn trương, đôi tay thoăn thoắt, dịu dàng, nhanh nhẹn như múa mặc dù sau lưng họ chiếc áo đã ướt sũng mồ hôi Điều

ấy chứng tỏ rằng việc hái lá dâu không nhẹ nhàng

Thức dậy từ tờ mờ sáng, lên nương hái xong giỏ dâu đầu tiên là mặt trời vừa lên Họ cũng vội vã ra về cho tằm ăn Neu

để tằm đói dù chỉ một vài giờ thôi cũng đủ làm tằm chậm lớn

“một giờ tằm đói bàng trâu đói một ngày” Câu nói vần trên cũng đủ nói lên sự quan trọng trong việc ăn của tằm Điều đáng nói thứ hai tùy theo nhu cầu của tuồi, lứa tằm mà hái một loại, lượng dâu vừa phải Nếu hái sai loại hoặc lượng mà không đúng

sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của tuổi tằm và để tằm đói hoặc phí phạm Vào những lúc tằm ăn rỗi thì dâu là một nhu cầu hết

Trang 11

sức khẩn trương, tưởng chừng bao nhiêu lá tằm ăn cũng hết, đó

là giai đoạn chạy dâu Người nuôi tằm đều có kinh nghiệm về giai đoạn này

“Vì tằm tôi phải chạy dâu - Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay”, con tằm giờ đây nó cũng quan trọng ngang với con người

- nhất là người chồng!

Ruộng dâu: Người ta gọi là nương dâu Nương là vùng đất thổ pha cát phù sa Cây dâu rất thích hợp với loại đất phù sa này Hầu hết nương dâu đều nằm dọc theo bờ sông hay các bãi phù

sa trên sông

Nương dâu ở nơi vị trí cao nhưng cây dâu rất cần nước nên nương dâu luôn ở sát bờ sông để dễ dàng trong việc tưới nước.Những nương dâu luôn luôn xanh mát vì lá dâu mọc khá dày Một người đang ở giữa đám dâu thì không còn thấy và ngược lại người bên ngoài không thể nhìn thấy người bên trong

Có lẽ vì thế mà trai gái ngày xưa thường hẹn hò tình tự ở nương dâu chăng? Có lẽ cũng vì nương dâu kín đáo như thế nên giữa nương dâu thường xảy ra những cuộc tình không mấy tốt đẹp Trong Kiều có câu:

Ra tuồng trên bộc trong dâu Thì con người ấy ai cầu làm chi

Phải chăng nương dâu là nơi hò hẹn của ừai làng gái xóm ngày xưa?

Hầu hết những làng làm nghề nầy đều có một sinh hoạt giống nhau Trước hét chúng ta cũng nên tìm hiểu về nếp sống con tàm-con vật đã cho ta thứ tơ vàng, mịn óng ánh và

Trang 12

chắc chắn Con vật có chu kỳ sinh sản vòng tròn: xin bắt đầu

từ cái trứng

Nuôi tằm

- Trứng tằm được sinh ra từ con ngài Ngài đẻ trứng trên lớp giấy bổi do bàn tay con người lót Ngài đẻ một lần hàng trăm trứng nằm đều đặn trên tờ giấy bổi Chỉ cần giữ trứng trong môi trường và nhiệt độ thích họp trong vòng 7 ngày là ta

có một thế hệ sâu non - đó là con tằm Thời kỳ nầy nghề nuôi tằm chú ý nhất là bảo vệ tằm con khỏi bị hao hụt nhất là thằn lằn và kiến, hai kẻ thù ẩy luôn rình rập tằm con vì đó là thức ăn béo bở ngon lành Tằm con được đưa ra “trẹt” (cái nong nhỏ)

và cho tằm ăn lá dâu non đã được xắt nhỏ như sợi thuốc lá

Ihì trong vòng vài ba ngày mà tằm đã lớn lên bằng tăm nhang

jfừ một trẹt tằm con lại phải sang nơi ở mới là những cái nong lớn Đây là thời kỳ chạy ăn cho tằm, tằm ăn rất nhiều lá dâu, lá dâu được hái về hong ráo nước rồi phủ lên mình tằm Những con tằm háu ăn bám lấy lá dâu mà xơi Tiếng tằm ăn lá dâu kêu rào rào như một cơn mưa nhỏ Người ta bào tằm “ăn lên”

Có lẽ không một con vật nào ăn nhiều như tằm, tằm như theo lượng lá dâu mà lớn lên-lớn như thổi Tằm ăn rồi ngủ, cứ mỗi lần ăn rồi ngủ, ngủ rồi thức là tằm được một tuồi-tằm chừng năm tuổi tằm là tằm chín (chừng 25 ngày) Tằm ăn bao nhiêu phải cung cấp bấy nhiêu, càng ăn khỏe càng kết quả tốt Thật

là vất và khi chạy dâu cho tằm Không bao giờ để tằm đói Tục ngữ của làng tơ tằm có câu:

Tằm đói một ngày cũng tày người đói ba hôm

Trang 13

Dù tằm đói một hôm thôi cũng làm giảm năng suất tơ Tằm lớn nhanh chỗ nuôi cũng phái tăng theo bàng cách sang ra nhiều nong Sau thời kỳ ăn rỗi tằm lớn hết cỡ khi thân tằm từ màu trắng xanh chuyển sang màu vàng tằm mới thôi ăn.

Bây giờ người ta đưa tằm lên bổi Bổi là nhữg tấm vỉ kết bằng cành cây khô và sạch để tằm làm kén Thời kỳ rút ruột nhả

tơ chừng 3 ngày Thời kỳ nầy phải canh phòng loài ong đến bắt tằm và nhặng đến đẻ trứng vào thân tằm Tằm tiết ra chất nước quánh màu vàng, nước ra đến đâu là khô đến đó, những sợi tơ

ấy bắt đầu giăng lên bủa sợi tơ ngày càng dai quấn và che khuất thân tằm Tằm nằm trong kén là liên tục nhả tơ, kén ngày một dày thêm, bên trong tằm tự hóa nhộng

Một nong tằm là 5 nong kén

Chờ cho kén dày hết cỡ người ta mới gỡ kén ra khỏi bồi Ví

đưa đi ươm tơ

Lúc này người nuôi tằm có hai việc: ươm tơ hoặc lấy giốnjj Những 0 kén tốt được chọn làm giống Trong ổ kén tằm đã hóa thành nhộng Nhộng sẽ biến thành ngài (bướm tằm) Ngài tự cắn rách kén chui ra ngoài Tất cả những con ngài được đưa ra nong, chúng tự tìm kết bạn đời, cứ hai con một kết dính vào sau phía đằng đuôi, đến khi chúng rời ra thì những con ngài cái như đẫy

đà thêm lên Lấy những mẫu như cái chén chụp lại cho đến khi chúng đẻ trứng Lại bắt đầu chu kỳ mới cho đén khi tằm cho kén.Kén đem bỏ vào xanh đồng lớn nấu nước sôi để lấy tơ, đây là giai đoạn đòi hỏi tay nghề cao Hầu hết người ươm tơ đều là phụ

nữ, họ ngồi trước nồi nước sôi để bắt mối - họ dùng những đôi đũa dài quay quay đám kén, những sợi tơ mỏng manh được khơi

Trang 14

ra, băt lấy mối đưa qua “mắt sành” “Mắt sành” là một vòng sành

có lỗ nhô, đưa mối vào chuyền sang “xa quay” Xa quay cuốn tơ thành ông Bước đầu có khó khăn đôi chút, cho đến khi tơ đã lên cuộn thì người ươm tơ chỉ cần lấy mối chắp vào sợi tơ trước, cứ thê những thỏi ông tơ xoay tít, vàng hươm lớn dần Cứ xem số

tơ thu được là biết năm ấy nuôi tằm có kết quả không “một nong nằm là năm nong kén, một nong kén là chín nén tơ”

Sau khi đã lấy hết tơ ừong nồi còn lại những thân nhộng Nhộng là món ăn ngon, bổ Nhộng mà xào với hành củ, một món ăn tuyệt vời

Đó là chuyện ngày xưa Bây giờ nhờ những tiến bộ của khoa học, hiệu suất đã tăng lên rất cao nhờ giống tằm lớn con, cho kén lớn, nhiều tơ mà tơ lại có màu trắng Màu ừắng làm giảm được công đoạn tẩy màu Hơn nữa giống dâu cũng được cải tiến, lá dâu mới to gấp 2-3 lần lá dâu cũ khiến cho việc nuôi tằm bớt nhọc nhằn.Ngày nay người ta tính theo hộp trứng giống, cứ mỗi hộp trứng, nuôi đầy đủ thì thu được 30kg kén, ươm được 4kg tơ, mỗi ký tơ chừng 300.000đ Nghề nuôi tằm được phát triển khá mạnh vì lợi nhuận cao, gấp 4-5 lần trồng lúa Từ đó nghề nuôi tằm được chuyên môn hóa từng khâu, ở vùng thôn quê người

ta chỉ nuôi tằm rồi lấy tơ là giai đoạn cuối cùng phần dệt thành lụa đã có máy móc thay thế

Tuy nhiên nhân đây chúng tôi cũng muốn nói thêm về nghề dệt lụa ngày xưa ờ quê tôi để chúng ta hiểu thêm về nghề cổ truyền của ông cha truyền lại

Xóm Cửi là quê ngoại nên tôi thường về xem cậu và các anh chị nuôi tằm dệt lụa Từ ngoài đường vào làng là đã nghe tiếng

Trang 15

lách cách của khung dệt vang vọng rồi Thứ âm tiết rất riêng của làng nghề Xóm Cừi chừng 50 nóc nhà của một tộc họ - một nghề dệt Mới sớm tinh sương là các sinh hoạt đã bừng lên rồi Người nào việc ấy, các bà ngoài việc nội trợ còn đi hái dâu, những cái bội lỗ lớn và thưa, to cao hom người được sẵn sàng lên nương để trưa mang về những bội dâu đầy ắp, nặng trịch Đàn ông kẻ thì ngồi khung mắc cừi hoặc những công việc phụ cho nghề Họ kiên nhẫn ngồi dệt cả ngày Tiếng lách cách của thoi, của bàn đạp đều đều rền rĩ Những chiếc khung dệt cũ kỹ, chằng chịt những gọng những dây Đặc biệt nhất là khung dệt lụa hoa, chiếc khung dệt to chiếm hết một gian nhà Một người ngồi dệt, một người leo ngồi tận trên cao gần sát mái tranh để bắt hoa Đôi bàn tay cuốn lấy những sợi canh, thoăn thoắt khi lên khi xuống, khi qua khi lại

Cứ theo từng nhịp thoi, những tấm go lại đưa lên đưa xuống tạo thành một âm thanh riêng biệt khi khoan khi nhặt như nhắc nhở người thợ bắt hoa là dệt đến đâu rồi Nhịp thoi cứ đều đặn kêu suốt ngày Thời ấy muốn dệt một hoa văn trên lụa thật công phu

và khó khăn Tốc độ dệt là rất chậm, thế mà những sản phẩm dệt

cứ đều đặn ra lò Anh tôi kể rằng anh phải ra tận Nam Định để học nghề này, mỗi hoa có một bài học thuộc lòng dễ nhớ Những thước lụa thô dệt xong còn phải qua nhiều công đoạn, nhuộm, làm láng bằng nước hồ Hồ xong đem phơi và làm láng

Nhuộm và làm nguội: Những thước lụa vừa dệt xong, đó chỉ là những tấm lụa thô chưa đem ra thị trường tiêu thụ được

mà phải trải qua một thời gian nữa

Trước tiên là làm sạch các mối nối, con thoi làm nhiệm vụ đưa những sợi tơ vào khung Những cuộn tơ nhỏ trong thoi có một độ dàỉ nhất định nên khi dệt được chừng 5-7cm lụa là hết

Trang 16

tơ thợ dệt phải thay con suốt tơ trong thoi Từ đó có những mối nôi Mối nối có thể nằm giữa tấm lụa hay ở ngoài biên khiến tâm lụa chưa sạch Thợ phải dùng loại kéo đặc biệt-không giống loại kéo bình thường để cắt bò những mối nối Người ta thường đánh giá kỹ thuật dệt qua đường biên, đường biên phải thẳng, không cong vênh, đều đặn Đó là những tấm lụa tốt.

Lụa thô được đem hồ một lớp hồ để tẩy những vùng lụa khác màu Lụa thô được cuộn lên trục gỗ, căng thẳng và đem phơi Người ta dùng những thanh tre dài hơn khổ lụa chừng một tấc hai đầu nhọn hoặc có đinh nhỏ Hai đầu nhọn nằm phía biên, cây căng cong lên Khi lụa đã gần khô, người ta mới cuộn lên trục gỗ dùng vồ nhỏ gõ nhẹ, đều trên khắp mặt tấm lụa, lần lượt tấm lụa được cuộn tròn cho đến hết Sau đó người ta mới cuộn lần nữa Theo nhu cầu mà người ta cắt thành từng đoạn gọi là cây lụa

Nhuộm: Ngày xưa màu thông dụng nhất là đen và trắng Màu của lụa hơi vàng, đôi khi còn để nguyên màu tơ vàng rực như nghệ Vào thời ấy các màu sáng tươi gần như không nhuộm được Chủ yếu mua ờ đô thị qua các hàng của Tàu Các màu mà nghề nhuộm ở Bình Định chủ yếu là đen, nâu, xanh lơ Tất cả những nguyên liệu để nhuộm hầu hết là thực vật Những vỏ cây

có màu nâu, vị chát như lá ổi, lá xương bầu, cây chè hàng rào

và chàm

Tất cả những lá cây này hái về đem băm hoặc giã thật nhò đựng trong những ghè, hũ Ngâm độ vài ngày, đậy kín đem phơi nắng Những lá cây này chưa có màu đen đậm Dùng lừa để nấu, có nhiều nhà không nấu trên bếp lửa mà đổ trấu, rơm xung quanh rồi đốt Lừa cháy âm ỉ khá lâu

Trang 17

Những tấm lụa trắng được nhuộm đen bằng hỗn hợp lá cây này Nhuộm xong đem ủ bùn, bùn màu đen xám lấy trong ao hồ được phủ lên đem phơi Bùn cũng được lựa chọn khá công phu, bùn được dùng phải quánh, nhuyễn màu xanh đen.

Phải nhuộm và phủ bùn nhiều lần thì mới có được màu đen vừa ý Qua giai đoạn này người ta mới hồ thêm một lớp hồ Các tấm lụa được cuốn trên trục tròn Người ta dùng vồ vỗ đều trên mặt lụa, vừa vỗ vừa cuộn cho đến hết cuộn

Giờ đây mặt lụa đã láng, nhẵn bóng Đây là khâu cuối cùng của công đoạn nhuộm

Các mặt hàng từ lụa tơ tằm

1 Lụa: Lụa là mặt hàng chính của thời ấy, lụa dày mỏng tùy theo số sợi tơ lớn nhỏ mà có tên gọi riêng

Lụa được dệt bàng hai sợi tơ đậu lại gọi là lụa đậu hai

ba sợi là đậu ba, nhiều nhất là đậu năm Sợi canh (dọc) và sợi cửi (trong thoi) có số sợi tơ đậu ngang nhau thì lụa mới bền đẹp Cách dệt đều giống nhau, thỉnh thoảng cũng có những tấm lụa có hoa (như đã nói ở phần trước) loại này khá đắt tiền

2 Xuyến: Là lụa có cách dệt khác Xuyến là mặt hàng kiểu cách Sợi dọc không có gì đặc biệt, chỉ có sợi ngang được dồn thành từng quãng, cứ một quãng thưa lại có một quãng dày thành ra xuyến có sọc ngang

Sọc ngang của xuyến dành cho đàn ông lớn hơn xuyến dùng cho đàn bà Áo dài xuyến người ta có thể nhìn thấy lớp áo lót bên trong, vì vậy người ta thường mặc lót áo quần màu trắng

Trang 18

3 Lãnh: Là lụa được nhuộm và nghè thật láng Lãnh mới mặc thường có tiếng kêu sột soạt Sau một thời gian lãnh mềm mại nhưng tính trơn láng vẫn giữ nguyên Điều đáng nói đó là thứ hàng mà phụ nữ ngày xưa rất yêu thích Lãnh làm cho người mặc trở nên dịu dàng, đáng yêu, sang trọng Thào nào tục ngữ ta

có câu “người đẹp vì lụa” Thật quả là không ngoa!

4 Thao: Là lụa được dệt bằng tơ hoặc lấy lần đầu tiên từ kén tằm Những sợi tơ này chia đều, có chỗ lớn nhò và ngắn Vì vậy mà mặt thao có nhiều mối nối gồ ghề, tuy nhiên thao mặc bền hơn lụa

5 Đũi: Là lụa dệt bằng tơ lấy sau cùng từ kén tằm Đũi cũng giống như thao là mặt đũi có nhiều mối nối Đũi cũng chắc như thao lụa

6 Lương: Là lụa đậu tư, đậu năm nhưng khoảng cách giữa những sợi tơ rộng hơn Áo lương rất nhẹ, dệt thưa, khi mặc Ìgười ta có thể nhìn thấy áo lót bên trong

Còn nhiều mặt hàng khác cũng từ lụa mà ra tùy theo cách dệt

mà tên gọi khác nhau Gấm và nhiễu cũng từ lụa mà ra nhưng

đó là những mặt hàng cao cấp từ các vùng khác mang đến

Việc buôn bán tơ lụa ngày xưa

Nhìn tổng quát về nghề tơ lụa của từng địa phương của Bình Định, hầu hết có cách làm và sinh hoạt giống nhau Những làng nghề truyền thống về tơ lụa như: An Thái, Phương Danh và Háo Lễ là những làng có tính chất sản xuất khá quy mô, tuy việc làm hoàn toàn thủ công từ khâu đầu đến khâu cuối vì vậy hàng hóa chủ yếu là tự cấp tự túc Thinh thoảng một vài năm cà

Trang 19

làng cũng gom góp hàng hóa đem đi bán ở các tỉnh lân cận về phía Nam từ Phú Yên trở vào Có lẽ ở những vùng này ít có tơ lụa chăng? Vả lại thời ấy hầu hết dần chúng cơ cực, không đủ

ăn thì cái mặc trở nên thứ yếu Áo vải cũng chưa lành lặn nên

tơ lụa cũng trở nên những món hàng đắt giá và có phần xa xỉ Hàng tơ lụa chỉ cung cấp cho tầng lớp khá giả từ phú nông trờ lên Giai tầng trên nhu các vị quan lại, hào lý cũng chỉ dùng một cách khiêm tốn

Dăm ba ngày hoặc cà tháng mới thấy một người đi bán loại hàng này Hàng hóa cũng không nhiều, chỉ một tay nải trong ấy gôm nhiều mặt hàng chủ yếu là lụa, lãnh, xuyến Mặc dù được gọi là cây lụa, cây lãnh nhưng chiều dài chỉ khoảng 7-8 mét vừa

đủ để may một bộ đồ hay hai cái quần

Khách hàng cũng chỉ là những người quen biết, có tiếng tăm là giàu có, bác Lý, cụ Hương, ông Cửu, ông Bá, Những người thường thường bậc trung thường nhật chỉ dùng vải, chủ yếu là vải ta, dệt bằng sợi bông Ngày Tết hay ngày cưới người ta mới dám mặc lụa tơ tằm Xong dăm ba ngày lễ Tết, giặt giũ kỹ lưỡng rồi đem cất trong rương trong tủ chờ đen dịp sau

- Chuyện cây thước đo vải

Một bài vè địa phương có đề cập đến cây thước

Trời mưa lâm râm

Cây trâm có trái

Cây thước đo vài

Cây cài làm dưa

Trang 20

Cây thước để đo vải Nói là thế nhưng cây thước để đo vài còn gọi là thước ta, nó dài ngắn, non, già tùy theo từng vùng, từng người Thước đo vài dài cỡ hai thước mộc, nếu tính theo mét thì dài độ 84cm Tuy nhiên các cây thước đo vải tùy theo mua hay bán Có cây chỉ chừng 78cm Việc đo lường ngày xưa dường như không được quy định đúng mức Vì vậy vải vóc được bán theo giá thỏa thuận Từ việc đo lường đến giá cả đều không có gì là thống nhất có lẽ vì trình độ yếu kém ấy mà hóa

ra thiếu văn minh?

Chuyện vải vóc

“Ăn ham chắc, mặc ham dày” là câu châm ngôn của người dân quê Vải đáp ứng được tiêu chuẩn trên Người nông dân một nắng hai sưomg, khổ cực là thế thì việc mặc cần chắc và dày

để đủ sức chịu đựng với việc khuân cao vác nặng

Cây bông vải là cây dễ trồng, nó gần như thích hợp với mọi loại đất đai, nơi nào cũng trồng được Việc thu hoạch và chế biến thành sợi hầu như người phụ nữ nào cũng làm được

Có lẽ vì thế mà bất cứ một xóm làng quê nào cũng có khung dệt và khung kéo sợi Sau mùa lúa, những lúc nông nhàn họ lại quay sang làm nghề thủ công trong đó có việc trồng bông kéo sợi

Cuộc sống vất vả nhưng vẫn là chiều hướng đi lên, người ta bắt đầu cải cách nghề dệt Trong thời kháng chiến chống Pháp

ờ Bình Định có vài xi ta, rồi xi-ta chỉ đánh Mặt hàng này cung cấp cho bộ đội và cả mọi người Đây là nét đặc biệt của Liên

Trang 21

khu 5 trong cái mặc Vải xi-ta dày chắc và cũng đẹp Mọi người dùng loại vài này, nó gần như “mốt” thời bấy giờ Mặc hàng tơ lụa lùi dần mãi cho đến gần đây mới được thúc đẩy sản xuất trở lại (1978-1979).

Kết luận: Công việc trồng dâu nuôi tằm dệt lụa ngày nay

đã được khuyến khích trở lại Có một thời: “Bỏ hàng rào dài, cài hàng rào dâu”, mọi người đều làm theo, tuy nhiên đó mới

là những việc làm ban đầu Nhu cầu tơ tằm càng nhiều khi đời sống chúng ta ngày càng khá dần lên Tuy nhiên, nghê dệt lụa còn rất ít, hầu hết chúng ta chỉ xuất khẩu ở dạng nguyên liệu (tơ) hay sản phẩm thô (lụa thô) Hàng tơ lụa của các nước tiên tiến rất đắt giá Nếu so với giá tơ thì tơ quá rẻ Thiết tưởng các nhà doanh nghiệp nước ta cần đầu tư thật mạnh mẽ vào khâu dệt và hoàn tất sản phẩm thì việc làm kinh tế mới hiệu quà

Hy vọng một ngày gần đây, nước ta sẽ có những thứ lụa tốt đẹp tiêu thụ ra thị trường nước ngoài với giá cao, nâng cao hiệu quả kinh tế của một ngành kinh tế truyền thống có ảnh hưởng rất lớn đến hàng trăm ngàn nông dân đang trồng dâu nuôi tằm

Trang 22

NGHÊ CHẠM

ỉ Sự LIÊN HỆ GIỮA CÁC NGHÈ M ộc - CHẠM

Nghề chạm, khảm có sau nghề mộc - nghề chạm khảm mang tính kỹ thuật cao Những sản phẩm từ hai nghề này đậm nét cung đình Muốn vào nghề chạm khảm phải trải qua thời “thợ mộc” Như vậy thợ chạm khảm phải biết nghề mộc Biết đóng bàn ghế, nói chung là mộc dân dụng

II NGHỀ CHẠM

Hiện nay, tại Bình Định còn 2 thôn cỏ nghề chạm đó là: thôn Lưorng Lộc - xã Phước Quang, An Cửu - xã Phước Hưng và rải rác nhiều nơi trong tinh Người thợ chạm gỗ, trước tiên là một người thợ mộc khéo, biết làm những đồ dùng như bàn ghế tủ giường một cách tinh tường khéo léo Người thợ xưa chú trọng đến việc lắp ghép, phải lắp ghép thể nào cho chắc cho đẹp Những mối nối phải sít sao, nhờ những mộng gỗ có thể tháo ráp

dễ dàng tuyệt đối không dùng đỉnh sắt

* Gỗ để chạm

Không phải gỗ nào cũng chạm được Gỗ để chạm cần có

“thịt nhuyễn” khó nứt bể Những loại gỗ dễ nứt như vú sữa,

Trang 23

sao, người ta không dùng để chạm Người thợ chạm không ngại

gỗ cứng, tuy chạm khó nhưng khi chạm xong thì rất đẹp và sắc sảo Tuy nhiên có những loại gỗ mềm, dẻo, không nứt bể cũng dùng để chạm Loại này nhẹ, dễ làm, dễ đục khoét nên được ưa chuộng Mặc dù gỗ lát có ưu thế nhưng người yêu đồ chạm vẫn thích những đồ chạm bàng trắc, gụ (gõ)

Có ba cách chạm thể hiện trên tác phẩm:

* Chạm khắc

Là lối chạm đơn sơ nhất Những hình dáng, hoa cành đều thể hiện bằng nét to nhỏ mà thôi Bề sâu của bức khắc đều nhau, không sâu quá 3mm

Lối chạm khắc đơn giản giá rẻ nhưng dễ nhìn, dễ thể hiện

đề tài Vì vậy lối chạm khắc này nếu được họa sĩ vẽ mẫu thì có thể thành tranh khắc gỗ, mang tính mỹ thuật cao Đó là nhữnr khuôn (âm bản) để in ra nhiều bản như tranh dân gian Ị||

* Chạm nổi và lộng

Là những tác phẩm công phu hơn Bức chạm nổi còn gọi là phù điêu Phù điêu thể hiện được từng khối và chiều sâu cùa không gian Phù điêu còn nền không bị đục thủng Chạm lộng thể hiện được bề sâu không gian Các hình tượng được nải rõ hơn vì các chi tiết được thể hiện kỹ hơn tất cả đều nằm trên nền trống làm không gian có màu sẫm tối

* Tượng tròn: Là hình tượng được chọn lọc, tính mỹ thuật

cao, tượng tròn thể hiện đầy đủ các hình khối gần gũi sự thật, trong lúc ấy chạm lộng thì thể hiện các khối bằng bóng qua các vùng tối sáng

Trang 24

Trong các cách điêu khắc vừa nêu trên thì tượng tròn có tính quy mô và khó hom cả Khi thể hiện tượng tròn, nghệ nhân phải theo một quy trình kỹ thuật được định trước: phân thành nhiều khối và thể hiện dần.

III ĐỀ TÀI

Điêu khắc ngày xưa thường bị bó hẹp qua các đề tài cổ điển như: sơn thủy tùng đình, mai lan cúc trúc, ngư tiều canh mục, phước lộc thọ Phần trang trí thì chạy hoa văn, với các hình dáng của hoa lá với các đề tài nho sóc Mặc dù đề tài khá nhiều nhưng hầu hết đều lệ thuộc theo những bản điêu khắc có trước

và nghệ nhân chỉ việc sao chép, thiếu tính sáng tạo Những nghệ nhân thể hiện đề tài là những người thợ có bàn tay vàng Họ thể hiện rất chi tiết, linh động tinh vi nhưng dù có đẹp đến thế nào

đi nữa họ cũng chỉ là “thợ chạm” mà thôi vì thiếu sáng tạo.Ngoài những hỉnh khối thể hiện trên gỗ, họ còn thể hiện phân biệt bằng màu sắc của gỗ Gụ, trắc, gõ có màu nâu đậm, mun sắc đen tuyền, mít, thò đo có sắc vàng, lồng mức có sắc trắng - nghệ nhân lựa gỗ có màu sắc thích ứng từng chi tiết cho tác phẩm để tác phẩm hài hòa mỹ thuật linh động hơn

Gỗ là nguyên liệu chính trong điêu khắc, ngoài ra nghệ nhân còn dùng ngà voi, sừng các loại thú như: sừng tê, sừng bò rừng, nai hoẵng, trâu bò v.v những tác phẩm này khá đắt giá

Tôi đã may mắn được nhìn thấy những tác phẩm bàng ngà, sừng thể hiện tính mỹ thuật một cách tinh vi, chính xác và rất nhỏ đến độ chúng ta khó tưởng tượng nổi rằng đó là tác phẩm làm bằng tay con người!

Trang 25

IV VÀI TÁC PHẢM ĐÃ THẢY

Một miếng ngà diện tích chừng 1 cm2, trên ấy được khác một bài thơ Đường luật (thất ngôn bát cú) 56 chữ + với 4 chữ đề tài

và 3 chữ tên tác già, khi xem ta phải dùng kính lúp thì mới đọc được chữ

Tác phẩm thứ hai: Là mọt ống tre, đường kính chừng 6 đến 7cm, cao chừng 10cm trên ấy điêu khắc 7 cảnh với đề tài Trúc Lâm Thất Hiền mỗi hiền sĩ thường có một đến hai tiểu đồng phục vụ Chẳng hạn như Kê Khan đánh đàn thì có tiểu đồng hầu trà Họa sĩ thì có hai tiểu đồng căn giấy để vẽ Tất cả 18 nhân vật trên 7 cảnh được thể hiện trên diện tích 180cm2 Vì vậy hình dáng con người chỉ bằng hạt thóc nhưng vẫn đầy đủ chi tiết, thậm chí ta thấy cả những ngón tay cầm bút gảy đàn thật sinh động

V ĐỒ NGHỀ

Là những vật dụng như: cưa, đục, bạc, chàng nhưng rất nhiều, đủ kích cỡ hình dáng, mỗi món đồ nghề thích ứng cho một công việc Một người thợ chạm có thể dùng đến năm ba chục món đồ nghề cho một công việc Các nghệ nhân bảo rằng đồ nghề phải thật bén thật “ngọt” đã đành

mà còn phải thích ứng cho mỗi việc Vì vậy người thợ làm càng lâu năm thì số đồ nghề càng nhiều vì đó là những đồ nghề được chế tạo theo nhu cầu chạm đục Chẳng hạn một người thợ chạm có thể có hàng chục lưỡi cưa, hàng chục lưỡi bào v.v

Trang 26

Nghề chạm ở Bình Định không tập trung hoàn toàn tại một vùng, hiện nay chỉ còn hai làng là Lưomg Lộc và An Cửu nhưng cũng chỉ có ba bốn gia đình sống bằng nghề này mà thôi Đó là những làng mang tính truyền thống Tuy nhiên, hiện nay mới hình thành một cơ sở có tính quy mô hơn Đó là Công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc Bưu điện Diêu Trì.

Thợ thuyền ở đây hầu hết là thợ ở miền Bắc được đón vào

và một số thợ trẻ địa phương mới được đào tạo! Hy vọng những ngày gần đây, nghề điêu khắc ở Bình Định sẽ phục hồi và phát triền lại

Trang 27

NGHÈ KHẢM

Như đã nói ở phần nghề chạm, nghề khảm cũng bắt đầu từ nghề mộc, nghề khảm là giai đoạn sau khi đã hình thành đồ mộc Những bàn, ghế, tủ thờ, áng thư được khảm xà cừ trai để trang trí tăng giá trị mỹ thuật, giá bán rất cao

Chất liệu để khảm: gồm có xà cừ, trai, đụn Đây là những nguyên vật liệu quan ừọng không thể thiếu Muốn có các chất liệu trên đòi hỏi một nghề nữa đó là nghề lặn ốc xà cừ - xà cừ

là chất liệu tốt nhất

I NGHÈ LẶN ỐC XÀ CỪ

Ngày xưa cũng như ngày nay nghề lặn để kiếm sống quả là một nghề cực nhọc và nguy hiểm Theo những lão ngư, thời trẻ

đã làm nghề này kể rằng: Hàng năm chục năm về trước khi còn

ờ tuổi mười tám đôi mươi, thời kỳ sung mãn nhất của ông đã làm nghề lặn Ngày ngày theo các bậc đàn anh để lặn bắt tôm hùm, san hô, xà cừ Cứ vào tiết tháng hai Âm lịch cho đến tháng sáu thời tiết tốt, bể yên gió lẳng là lúc hành nghề tốt nhât Nước biển trong và ấm, nhờ đó mới lặn sâu được Ngày ấy thợ lặn chỉ trông cậy sức khỏe chính mình, dụng cụ không có đây đù như ngày nay, họ chỉ lặn được ở mực nước sâu nhất là sáu bày

Trang 28

sài nước là cùng (chừng 10m), mỗi lần lặn được 2 phút, khi lặn xuông các ghênh đá, các rặng san hô là nhiều sản phẩm nhất, gặp gì nhặt nấy từ con tôm, con cá, đồn đột (hải sâm) cho đến con ốc Nhiều khi gặp được xà cừ là quý lắm, xà cừ càng lớn giá trị càng cao Những lần lặn được những thứ quý hiếm là được những bữa rượu thịt no say Tuy vậy không phải lúc nào cũng gặp may, nhiều khi gặp mồi (sản vật) là cố gắng đuổi theo, hoặc dùng mũi lao đâm bắt, gặp những lúc ham quá quên mất mình

đã lặn quá sâu đến lúc trồi lên thì ngất xỉu và chuyện chết là chuyện vẫn thường xảy ra Biết là nguy hiềm nhưng quá nghèo không làm thì không có ăn nên phải liều mạng thế thôi Nhiều người gặp may thoát chết đành phải bỏ nghề luôn Chúng tôi không sợ khổ nhưng cái lạnh dưới đáy biển cũng đáng kể lắm, hầu hết chúng tôi đều bị chứng điếc vì nước ép vào màng nhĩ Ngoài ra nghề lặn mà gặp ốc tai tượng kẹp thì tưởng cũng dễ

đi đời Còn chuyện cá mập nữa nhưng lâu lắm mới gặp một lần thành ra coi như không đáng kể

Thời ấy ít người lặn nên xà cừ là một sàn vật tương đối dễ kiếm Nhiều lúc gặp ốc nhò chưa có cừ tốt thì không nhặt ,để dành cho năm sau

Các cụ còn bảo: “Ngày nay cừ rất đắt giá”, một ký xà cừ loại tốt giá đến mấy chục triệu bạc nhưng vẫn không tìm ra vì phương tiện ngày nay khá đầy đu, họ đã bắt sạch khi cừ chưa kịp già, chưa kịp lên màu

Ngoài cừ ra còn có trai và đụn là những loại ốc dễ nuôi nhưng ánh ngọc sắc màu không rực, nó chi trắng tái, chẳng đẹp

tí nào!

Trang 29

Vì vậy trong nghề khảm có câu nói về chất lượng xà cừ: Nhất lục, nhì lam, tam hồng, tứ tía Xà cừ càng già càng đẹp, tùy theo chiều ánh mà có màu, tuy nhiên màu lục ngọc là màu ít

có Xà cừ tốt là xà cừ đổi màu liên tục tùy theo vị trí ánh sáng và lúc nào cũng sáng mặc dù ánh sáng rất yếu chiếu vào bức khảm Người ta thường liệt xà cừ vào hàng ngọc mảnh (lá)

II KỸ THUẬT KHẢM

Khám là giai đoạn sau cùng của một món đồ khảm Trước tiên người thợ phải hoàn tất phần “xác mộc” - xác mộc là những phần gỗ vừa hoàn thành chưa đánh bóng Các bộ phận

có thể tháo ra và lắp lại qua hệ thống mộng - Lúc bấy giờ người thợ tháo rời từng phần Sở dĩ có việc tháo rời là để thuận tiện trong việc xoay trở lúc khảm Họ dùng những mẫu

đã vẽ sẵn, thường là những mẫu được nhiều người ưa thích, đặt lên mặt gỗ và lấy dấu, gọi là “can” - những hình vẽ cr' tính sơ lược!

a) Lấy đường đất: Giai đoạn thứ đến là lấy “đường đấi

- Theo hình đã vẽ sẵn người thợ khảm khoét vào gỗ, độ sâu chừng một ly (lmm)

Cũng hình vẽ ấy, đặt xà cừ, kẻ, vẽ và cắt Làm thế nào để phần xà cừ đặt vào phần “đất” thật sít sao Các bạn cứ tưởng tượng cái khó khăn của nghề khảm là phải làm thế nào để cắt được xà cừ - chất liệu thật dòn, dễ vỡ - thành những sợi tóc và sợi tóc ấy lại cong vòng như hình râu con bươm bướm Hơn nữa trong một bức khảm không phải chỉ một vài sợi râu bướm, mà

có cả hệ thống dây leo chằng chịt

Trang 30

b) Lắp ghép: Họ đem ướm thừ xà cừ trên gỗ khi thấy xà cừ

và hình khắc trùng nhau họ tiến hành việc khảm họ dùng “trám” hay còn gọi là “khằn” là một hỗn hợp chất kết dính, loại này có tính khi nóng thì chảy mềm, khi nguội thì cứng Đổ trám lên gỗ

và lắp phần xà cừ vào

c) Tách tỉa: Là giai đoạn khá quan trọng, một bức khảm chưa tách tỉa nhìn không thấy sức sống vì ta chỉ thấy những mảng màu loang loáng mà thôi Tách tỉa là kè vẽ trên xà

cừ để tạo phần bóng tối Họ dùng những dụng cụ chuyên nghiệp, là những cây dùi - hay cây dao nhỏ thật bén - kẻ những chi tiết trên mặt cừ Họ dùng màu đậm kéo qua một lượt - những nét vạch đọng màu khiến bức khảm rõ ràng và sống động

d) Lựa chiều ánh sáng: Như đã nói ở trên, xà cừ thay đổi theo vị trí người nhìn, theo nguồn sáng Vì vậy để bức tranh được đẹp đẽ, người thợ phải lựa sắc cừ như thế nào để bức tranh linh động hài hòa

e) Đánh bóng:

Đây là giai đoạn cuối cùng khi mọi việc đã xong xuôi Đánh bóng tranh xà cừ họ không dùng véc-ni hay som, người ta dùng sáp ong chà xát cho sáp chảy ra thấm vào gỗ, gỗ sẽ trở nên bóng loáng mà không chói, người ta dùng lá chuối khô chà xát nhiều lần rất công phu Làm theo cách này đẹp, mỹ thuật hom dùng vecni

Đó là cách khảm thông thường, mang tính mỹ thuật sơ cấp,

đó là đồ dân dụng, những bức khảm liệt vào hạng tác phẩm cao cấp thì có hai cách khảm đặc biệt

Trang 31

Khảm nồi tổn nhiều vật liệu (cừ) và công phu, tính mỹ thuầ cao nên giá tranh khảm nổi rất cao.

i) Các lối khảm khác: Gỗ khảm trên gỗ - dùng gỗ 2 màu khác nhau, khảm lên nhau

Khảm kim loại Những đồ vật bằng kim loại cũng thường được khảm Tùy theo số kim loại dùng để khám mà có tên khác nhau Chẳng hạn như đồ đồng khảm bạc thì gọi là nhị khí, vàng, bạc, đồng - gọi là tam khí

Trên những đồ đồng - người ta dùng các chất khác khảm lên - công việc làm tương tự như khảm xà cừ nhưng vật liệu khác mà thôi

Trang 32

ỉll SÀN PHẢM

Nghề khảm là nghề cùa phương Đông - của Việt Nam, Trung Hoa và các nước châu Á - ở châu Âu gần như không có nghề này

từ truyện cổ - mục đích để nhắc nhở công đức của người xưa.Nghề khảm là một thế mạnh của đất nước ta vì nghề này đã

có từ lâu đời Người thợ Việt Nam vừa khéo tay vừa cần cù, các đức tính ấy rất phù hợp với nghề khảm này Hiện nay một số nước phương Tây giao lưu với ta, họ đã nhận thấy cái mỹ thuật của tranh khảm, một số sản phẩm đã được tiêu thụ Thiết tưởng, nhà nước chúng ta cần có chính sách khuyến Jchích và ưu đãi để nghề này có cơ hội phục hồi và phát triền

Trang 33

NGHÈ RÈN

Nghề rèn, rèn bủa, rèn đao

Mồ hôi như tắm, tại sao chằng giàu.

Nghề rèn có khắp nơi trên tỉnh Bình Định, mỗi xã hoặc vài

ba xã là có một lò rèn, thịnh nhất là ở Đập Đá - An Nhơn Nghề rèn là nghề tổng hợp vừa sửa chữa vừa sản xuất vật dụng, nó giải quyết được nhu cầu về kỹ thuật ở thôn quê Họ sản xuất

từ con dao nhô, cái nhíp nhổ râu cho đến cà chiếc lưỡi cày to

và rất nhiều công việc lặt vặt khác Có một thời, người thợ rèr được gọi là “kỹ sư của đồng quê” ! Thoạt nghe, tưởng chừng như một câu nói đùa, nhưng khi tìm hiểu công việc của họ thì câu nói ấy quả không ngoa Nghề rèn sắt có sau nghề đồng nhưng nghề rèn phát triển mau chóng và thông dụng Cây cuốc

hư mang đến thợ rèn, cái dao không bén - thợ rèn - cây rựa sứt cán - thợ rèn v.v

Thợ rèn biết rất rõ đặc tính của sắt thép, mặc dù độ nóng chảy của sắt thép rất cao nhưng sắt lại mềm dẻo khi nung nóng Sắt lại dễ giãn nở dưới áp lực của búa Dựa theo những tính ấy người thợ rèn đã khống chế được sắt, bắt sắt phải theo ý minh thông qua lửa

Trang 34

I NGUỒN NHIỆT

Giống như nghề đúc đồng, nghề rèn cần có nguồn nhiệt khá cao Họ dùng than hoa, than rừng để nung đỏ sắt thép Họ ít dùng than đá vì than đá quá đắt so với than cây rừng

Bễ - Là dụng cụ cung cấp oxy cho than, bễ càng thổi mạnh, oxy càng nhiều than càng cháy nóng

Bễ gồm hai ống hình khối ống - bên trong có piston bằng lông - có van đóng mở khi kéo lên xuống Muốn có nguồn cung cấp oxy cao thì người kéo bễ phải kéo đều tay, hai cây boon phải lên xuống thật đều, cứ một bên kéo lên là một bên đẩy xuống Dòng hơi sẽ được thổi đều lửa sẽ rất nóng

Thợ rèn cũng như thợ đúc đều coi “bễ” như là vật tổ trong nghề Hằng ngày họ thắp nhang cầu nguyện để nghề nghiệp mỗi ngày một thăng tiến

II ĐỒ NGHÈ

a) Đe: Mặc dù đe chỉ là vật cản, là điểm tựa để đặt thanh sắt,

đe chịu lực đập cùa búa nên đe phải vững vàng, có nhiều loại

đe chuyên dụng có hình dáng khác nhau Đe hình trụ, hình con thoi Tùy theo công việc mà thợ rèn sử dụng

b) Búa: Có nhiều loại búa lớn nhỏ, hình dạng khác nhau để dùng riêng cho mỗi động tác rèn Cho nên có những chiếc búa đầu bàng hay đầu tròn, dẹp, nhọn v.v

c) Kềm: Dùng để gắp sắt trong lò, tùy theo nhu cầu mà kềm cũng có hình dạng ngắn dài khác nhau

Trang 35

là cây chổi dụi Chổi dụi để dập bớt lửa khi cần.

Cây búa nhỏ là hiệu lệnh Tay bễ tay búa đều làm theo cây búa nhỏ Ví dụ, một tiếng gõ nhẹ trên đe là kéo bễ, búa lật ngang là ngưng

Khi sắt đã được nung đỏ, thợ cả dùng kềm gắp miếng sắt ra khỏi lò, đặt miếng sắt lên đe Người thợ cả gõ búa nhỏ vào nơi nào là thợ búa đập theo, đúng vào chỗ mà người thợ cả đã gõ

Cứ thế búa nhò đập đến đâu là búa lớn đánh theo rập ràng chr đến khi thành sản phẩm Như đã nói ở trên, sắt có tính nv nhão khi gặp nhiệt, dựa vào tính ấy mà thợ rèn biến miếng thô thành vật chuyên dụng

Trang 36

Sau khi sản phẩm đã hình thành, vật thô còn phải làm nguội, tức là làm cho đẹp Họ dùng những con nạo hay đá mài để trau chuôt cho sàn phâm trở nên đẹp hơn Ờ giai đoạn này sản phẩm vân chưa dùng tôt vì chưa được làm cứng Đối với các mặt hàng thép, thì việc trui lần cuối cùng là rất quan trọng Những con dao, cái bào, cái đục thì cần cứng và bén Người thợ cả cho nung lại vật thép ấy, lấy ra, nhìn sắt đỏ trên sản phẩm và chờ đợi đến lúc nào cần nhúng nước Đó là “tôi” thép, tùy theo độ cứng cần thiết mà thợ rèn có cách trui khác nhau Có mấy cách “tôi”, “tôi” bằng nước lạnh, nước muối hay dầu Đây là bí quyết nhà nghề Tùy theo sự học hỏi và tiếp nhận của thợ con mà nhanh hay chậm thành nghề.

V HÀN

Hàn là khâu cuối cùng Bễ thợ rèn không đủ sức làm sắt nóng :hảy, nên người thợ dùng đồng thau để hàn Những bộ phận cần hàn như khâu rựa, dao và các mối nối v.v Họ dùng bột thau hay thau

đã cắt thành miếng nhỏ, đặt lên mối hàn, đem nung đỏ rồi dùng hàn the kích thích cho thau chày Thau chảy nối hai mối sắt lại

“RÈN” với nhiều lò rèn Họ đang tiến dần tới việc sản xuất đại trà Trong đà phát triển chung nghề rèn sẽ hiện đại hóa sớm nhất

Trang 37

NHỮNG NÉT VĂN HÓA QUA LÀNG RÈN PHƯƠNG DANH

Như đã nói ở phần kỹ thuật, nghề rèn đòi hỏi người theo nghề cần có sức khỏe, kiẽn nhẫn và sáng tạo Nghề còn đqi hỏi

về đạo đức Đó là lòng yêu, kính trọng và biết ơn vị tổ sư, người

đã truyền nghề cho làng

Là làng nghề mang tính truyền thống, cha truyền con nối nên nghề rèn được truyền bá khắp làng, xã Hiện nay Phương Danh - Đập Đá có đến vài trăm lò rèn Nghề rèn nặng nhọc nên đòi hỏi người thợ phải có sức khỏe, chịu đựng Tuy nhiên không

vì thế mà vai trò người phụ nữ thiếu vắng Ngày nay có nhiều phụ nữ làm nghề này với vai trò thợ chính Người phụ nữ ngồi

ở giữa, dùng búa nhỏ để điều khiển công việc rèn trong lò Điều

ấy đã nói lên tính truyền thống Cả làng đều làm một nghề, vì vậy tính tập thể rất cao

Họ nhìn cách làm của nhau, trao đổi cho nhau những kinh nghiệm trong nghề Họ cùng toan tính công việc làm, sàn phẩm tiêu thụ, chia nhau công việc như một hợp tác xã Đó là nói về

kỹ thuật và vật chất Họ còn chú ý về mặt tinh thần

Điều ấy đã thể hiện rõ trong lễ hội “Làng rèn” Lễ hội này không phải mới có, nó đã có trước năm 1945 Hằng năm lễ hội được tổ chức long trọng Những người thợ được đào tạo từ nơi này, dù làm ăn xa, họ luôn hướng về làng, nên cứ vào dịp lễ là

họ thu xếp công ăn việc làm để về cúng tổ

Trước năm 1945 đền thờ đã được xây dựng để thờ vị tổ sư đã lập và truyền nghề cho người địa phương, tức là Ty rèn Phương

Trang 38

Danh Sau năm 1945, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, thực hiện chủ trương tiêu thồ kháng chiến nên Ty Rèn bị phá hủy Rồi năm 1945, một số thợ đi lưu lạc làm ăn nơi xa trờ về quê hương Với tấm lòng ngưỡng mộ, kính tổ yêu thầy họ đã tự động thờ cúng tại các nhà họ Lê, Huỳnh - là những người đã hành nghề lâu đời.Trong cuộc di dân về phương Nam, nhiều dòng họ đã vào Nam lập nghiệp Con cháu nhà Lê, sau khi bị thất sủng họ cũng phải xa quê vào các tỉnh miền Trung sinh sống Họ đi mang theo cả gia đình và nghề nghiệp Đó là những điều mà dân làng kể cho nhau nghe, họ chỉ còn biết làng Phương Danh được hình thành như thế.Tương truyền ràng có đến 20 dòng họ về Nam, mỗi dòng

họ đều có một vị côi cả Họ lập làng ở Bình Định - Vùng Nha Phiên tức là vùng Nam Bình Định ngày nay Đình Càng Rang ở Phù Cát rất lớn thờ hai mươi vị tổ của các dòng họ

Vị tồ sư nghề rèn Phương Danh là Đào Già Tương (theo tài liệu của Nguyễn Văn Ngọc) người có công xây dựng làng và truyền nghề, ông đã được tôn vinh làm Thành hoàng Nghề rèn coi ông Đe là quan trọng nhất, đe chịu đựng mọi va đập - có lẽ nếu không có ông Đe thì nghề không thành

Nghề rèn không ruộng không trâu

Làm ăn nó ấm nhờ đầu ông đe

Trang 39

Người trong nghề cử ra một ban quản lý nghề, cũng là người

- Lễ vọng (thắp nhang khấn mời) tức là lễ tiên cáo

- Lễ nghênh tồ (rước trên kiệu)

- Cúng cô hồn (cúng những người chết oan không người thừa tự)

- Lễ tế điện (mọi người đều đặn cúng lạy)

- Lễ hát án (hát bộ cho mọi người xem, trả ơn chung)

Lễ được tiến hành từ 12 giờ khuya ngày 11 đến 02 giờ ngày

12 (lễ vọng) tiếp tục các lễ cho đến sáng, sau khi tế xong là hát bộ.Mọi người đều ăn mặc chỉnh tề, người lớn tuổi thì mặc lễ phục cổ truyền, khăn đóng áo dài, còn tuổi trẻ có thể tùy nghi Cờ rập rình, tiếng chiêng nhịp nhàng Họ rước kiệu đi khắp làng, mọi người trong nghề đều đủ mặt Lễ rước thật uy nghi, trân trọng

Lễ hội làng mang tính truyền thống, cử hành hàng năm với nghi thức tôn kính, bày tỏ lòng biết ơn người xưa, kết nối tinh thần cho lớp trẻ ngày nay

Đó là lễ hội, tập tục tốt đẹp đáng trân trọng

Trang 40

NGHÈ GỐM

Đi chợ Quán Rường

Mua mây, mua rế

Đi chợ Trường Thuế

Mua trã, mua nồi

Đi chợ Gò Bồi

Mua tôm, mua cả.

Đó là trích đoạn trong bài vè “Đi chợ” mang tính dân gian

ở vùng Gò Bồi Trường Thuế hay là Hữu Thành nổi tiếng nghề làm gốm từ xưa Nghề được truyền từ đời cha ông đến đời con cháu, hiện nay tên tuổi các ông: Ông Tường, ông Tứ vẫn còn

Từ chợ qua khỏi cầu là ta đã thấy ngổn ngang các mặt hàng gốm rồi Từ gạch ngói cho đến các dụng cụ gia đình như chum,

hũ, nồi, niêu Mặt hàng đa dạng phong phú Nghề gốm tuy vất

và nhưng nguồn lợi khá lớn nên hầu hết các gia đình ờ đây đều làm nghề này Nhà tiếp nhà, lò tiếp lò, tiếng cười nói, tiếng kêu gọi người qua kẻ lại, không khí lao động thật là khẩn trương

Đó là những lò gốm nhỏ mang tính gia đình theo truyền thống nghề nghiệp của ông cha Xa hơn về phía Bắc cách mấy đám ruộng là những lò gốm lớn, có đủ trại phơi rộng lớn hằng mấy

Ngày đăng: 10/07/2021, 10:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Đầu: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn (tập Biên Hòa), NXB TPHCM, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn
Nhà XB: NXB TPHCM
2. Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, Tu Trai Nguyễn Tạo dịch, Sài Gòn, 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định thành thông chí
3. Huỳnh Minh Đức: Vãn hỏa chữ Hán trong các đình chùa miếu mạo ở thành phố Biên Hòa, Đồng Nai, bản thảo lưu tại phòng Văn hóa-Thông tin Tp Biên Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vãn hỏa chữ Hán trong các đình chùa miếu mạo ở thành phố Biên Hòa, Đồng Nai
4. Lưong Văn Lựu: Biên Hòa sử lược, tập V, bản thảo đánh máy chưa in, lưu ở nhà Bảo tàng Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên Hòa sử lược
5. Nguyễn Yên Tri: Bình Đa kháng chiến, NXB Đồng Nai, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Đa kháng chiến
Nhà XB: NXB Đồng Nai
6. Chu Quang Trứ: Tim hiểu làng nghề thủ công điêu khắc cổ truyền, NXB Thuận Hóa, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tim hiểu làng nghề thủ công điêu khắc cổ truyền
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
7. GS T rần Quốc Vượng chủ biên: Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề, NXB Văn hóa dân tộc, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
11. Nhà bảo tàng ĐN: Đề cương chi tiết trưng bày bảo tàng Đồng Nai, phòng số 12, chuyên mục: Điêu khắc đả Biên Hòa.Tài liệu viết tay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương chi tiết trưng bày bảo tàng Đồng Nai", phòng số 12, chuyên mục: "Điêu khắc đả Biên Hòa
8. Đại Nam nhất thống chí, NXB Thuận Hóa, 1992 Khác
9. T ừ điển địa chất, NXB Khoa học &amp; Kỹ thuật, 1979 Khác
10. Địa chí tỉnh Biên Hòa các năm 1901, 1924, 1974 Khác
12. Sở VHTTĐN: 25 năm xây dựng và phát triển 1976- 2001 Bào tàng Đồng Nai, BTĐN xb, 2001 Khác
13. Báo Đồng Nai và Lao động Đồng Nai: một số bài viết về nghề đá Bửu Long. Báo Đà Nằng: một số bài viết về nghề đá Ngũ Hành Sorn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w