Như vậy là, có một sự tương ứng giữa các liên từ logic và các liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên.. Đề tài “Liên từ logic và liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên” được chúng tôi lựa chọn nằm hướn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
HỌC PHẦN HỘI THẢO NHÓM CHUYÊN ĐỀ
HVTH: TRƯƠNG VƯƠNG LINH LỚP: NGÔN NGỮ HỌC K16.2
HCM, THÁNG 8 NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI LIÊN TỪ LOGIC VÀ LIÊN TỪ TRONG
NGÔN NGỮ TỰ NHIÊN
GVHD: TS NGUYỄN DUY TRUNG
HCM, THÁNG 8 NĂM 2017
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề 3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5 Phương pháp nghiên cứu 6 Bố cục đề tài PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 Logic và ngôn ngữ tự nhiên
1.1 Logic và ngôn ngữ tự nhiên là hai hệ thống kí hiệu
1.2 Vận dụng logic mệnh đề để nghiên cứu liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên
Chương 2 Liên từ “∧ ” logic và liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tự nhiên
2.1 Liên từ “∧” logic
2.2 Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “∧” logic
2.3 Một số nhận xét
Chương 3 Liên từ “∨ ” logic và liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tự nhiên
3.1 Liên từ “∨” logic
3.2 Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “∧” logic
3.3 Một số nhận xét
Chương 4 Liên từ “⇒ ” logic và liên từ tương ứng trong ngô ngữ tự nhiên . 4.1 Liên từ “⇒” logic
4.2 Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “⇒” logic
4.3 Một số nhận xét
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 41 Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của ngành ngôn ngữ học, chúng ta không thể phủ nhận sự ảnh hưởng mạnh mẽ của logic học Sự ảnh hưởng đó thể hiện rõ nét trong một số thuật ngữ cú pháp cơ bản mà giới ngôn ngữ học vẫn sử dụng rộng rãi để phân tích câu từ xưa cho đến nay như : mệnh đề, chủ ngữ, vị ngữ, vốn xuất phát từ các khái niệm logic Không chỉ vậy, nhiều lý thuyết logic như : logic mệnh đề, logic vị từ, logic thời gian, logic đa trị, logic mờ … đã trở thành những vốn quý cho việc miêu tả ngôn ngữ tự nhiên, đồng thời góp phần vào việc phát triển ngôn ngữ học hiện đại Đặc biệt phải kể đến hướng nghiên cứu logic - ngữ nghĩa hay logic của ngôn ngữ tự nhiên đã có những đóng góp đáng kể
Hướng nghiên cứu này có thể nói là không mới Đây đó đã có một số tác giả trong
và ngoài nước đề cập đến Tuy nhiên, cho tới này nó vẫn chưa được quan tâm một cách thoả đáng, đặc biệt là ở trong nước Chúng ta chỉ có thể kể ra đây những cái tên ít ỏi trong giới Việt ngữ học đã tiếp cận vấn đề này như: Nguyễn Đức Dân, Hoàng Phê Có thể nói logic - ngữ nghĩa là những vấn đề vô cùng lý thú, hấp dẫn nhưng cũng vô cùng phức tạp
Để tiếp cận vấn đề đòi hỏi người nghiên cứu phải có những hiểu biết đến một chứng mực nhất định tri thức của cả hai ngành khoa học ngôn ngữ học và logic học
Trong logic học tồn tại nhiều hệ thống logic khác nhau như chúng ta đã đề cập đến ở trên Trong đó, logic mệnh đề được xem là một trong những hệ thống logic cơ bản Nó sử dụng các tác tử logic (hay còn gọi là liên từ logic) : hội (∧), tuyển (∨), kéo theo (⇒), để liên kết hai phán đơn đã cho tạo ra những phán đoán mới, phức hợp Trong ngôn ngữ, phán đoán được thể hiện bằng câu tường thuật và các tác tử logic được biểu hiện bằng các liên
từ Như vậy là, có một sự tương ứng giữa các liên từ logic và các liên từ trong ngôn ngữ
tự nhiên Đề tài “Liên từ logic và liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên” được chúng tôi lựa
chọn nằm hướng tới việc miêu tả, so sánh mức độ tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống liên từ này Và nó sẽ là một dẫn chứng sinh động cho hướng nghiên cứu logic -ngữ nghĩa Một mảnh đất còn nhiều chỗ trống
2. Lịch sử vấn đề
Hướng nghiên cứu này đã được khá nhiều học giả nước ngoài quan tâm Từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu thấy xuất hiện khuynh hướng vận dụng logic để phân tích ngôn ngữ Ban đầu chỉ là phân tích cấu trúc cú pháp, dần dần về sau là phân tích cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa và cấu trúc logic – ngữ nghĩa của câu Có thể kể tên các đại diện tiêu biểu như : J.D McCawley, G Lakoff, H.P Grice, O Ducrot…
Ở Việt Nam , cũng đã có những nhà ngôn ngữ học quan tâm đến hướng nghiên cứu
Trang 5này nhưng quả thực là không nhiều Có thể nói, cho đến nay thực tế chỉ có hai nhà ngôn ngữ học Việt Nam thực sự quan tâm đến lĩnh vực này, và đã có những đóng góp nhất định cả về lý thuyết lẫn thực hành, đó là : Nguyễn Đức Dân và Hoàng Phê
Nghiên cứu liên từ theo hướng logic - ngữ nghĩa đã được Nguyễn Đức Dân chú ý và quan tâm Trong bài “Logic và sắc thái liên từ tiếng Việt” (Ngôn ngữ, 4.1976), bằng việc tiến hành so sánh liên từ logic và liên từ tương ứng trong tiếng Việt, ông đã chỉ ra được các
sắc thái ngữ nghĩa của các liên từ: và, hay/hoặc, nếu…thì khi đi vào hoạt động Tiếp thu phương pháp và những kết quả từ nghiên cứu này, chúng tôi thực hiện đề tài “Liên
từ logic và liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên” với mong muốn bổ sung thêm những sắc thái
nghĩa, phạm vi hoạt động cũng như những nhân tố tác động đến khả năng biểu nghĩa của các liên từ tiếng Việt, ngoài ra mở rộng hơn phạm vi đối chiếu với liên từ logic không chỉ
có tiếng Việt mà gồm cả tiếng Anh để thấy rõ hơn sự tương đồng và khác biệt giữa liên từ trong logic mệnh đề và liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên Hơn nữa, đề tài của chúng tôi muốn nhấn mạnh hơn vai trò của logic mệnh đề trong việc miêu tả và phân tích các liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên Chúng tôi mong rằng đề tài sẽ được xem là một đóng góp nhỏ cho việc nghiên cứu liên từ nói riêng và cho hướng nghiên cứu logic - ngữ nghĩa - cú pháp nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Logic mệnh đề được xác định gồm có ba tác tử logic, đó là : hội (∧), tuyển (∨), kéo theo (⇒), biểu hiện b a quan hệ logic khác nhau Chính vì thế, đề tài của chúng tôi chỉ đề cập đến ba liên từ logic nêu trên và các liên từ ngôn ngữ tương ứng với ba liên từ đó
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các liên từ logic và các liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tự nhiên Tuy nhiên, chúng tôi không thể tiến hành nghiên cứu liên từ của tất cả các ngôn ngữ tự nhiên được mà chỉ lựa chọn ngôn ngữ là tiếng Việt , xem chúng như là những đại diện tiêu biểu cho hệ thống các ngôn ngữ tự nhiên
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các liên từ logic và các liên từ tương ứng trong tiếng Việt Thông qua những miêu tả, phân tích từng liên từ cụ thể, chúng tôi quan tâm đến chức năng và phạm vi hoạt động của các liên từ này Từ đó so sánh và rút ra những luận điểm về sự tương đồng và khác biệt giữa liên từ trong logic và liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau :
Thu thập và xử lý các tư liệu liên quan đến thực tiễn hành chức của các liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên
Trang 6 Miêu tả, phân tích chi tiết về phạm vi hoạt động, chức năng, các sắc thái ngữ nghĩa cũng như các nhân tố tác động đến việc biểu nghĩa của từng liên từ cụ thể
Nhận xét về những nét tương đồng và khác biệt giữa các liên từ logic và các liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên
Khái quát được những điểm giống và khác nhau giữa hai hệ thống ký hiệu: logic và ngôn ngữ
Dựa trên những miêu tả, phân tích các liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tiếng Việt, rút
ra một số điểm cần lưu ý
Đề tài lựa chọn đối tượng nghiên cứu cũng như đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu như trên nhằm hướng đến những mục đích và đóng góp sau :
• Đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu : đề tài được tiến hành theo hướng logic -ngữ nghĩa - -ngữ pháp, một hướng nghiên cứu mang tính chất liên ngành Nó sẽ là minh chứng cụ thể cho một hướng tiếp cận các vấn đề ngôn ngữ một cách hệ thống và mang lại hiệu quả, giúp chúng ta thấy được tính hữu ích và giá trị của hướng nghiên cứu này
• Đóng góp về phương diện lý thuyết : Bằng những miêu tả và phân tích cụ thể đối với từng liên từ trong cả hai hệ thống logic và ngôn ngữ, chúng ta sẽ có cái nhìn khái quát, đầy đủ và toàn diện về chức năng và phạm vi hoạt động của các liên từ trong từng hệ thống nói chung cũng như thấy được các sắc thái, các quan hệ ngữ nghĩa riêng biệt đặc trưng của từng liên từ trong từng ngôn ngữ nói riêng Từ đó có thể góp thêm những dẫn chứng về sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống ký hiệu logic và ngôn ngữ
• Đóng góp về mặt thực hành : Đề tài sẽ là một đóng góp thiết thực cho công tác dạy tiếng, đặc biệt là quá trình giảng dạy các liên từ, một nhóm từ không dễ tiếp nhận và sử dụng trong quá trình học ngoại ngữ
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã
sử dụng những phương pháp sau
Phương pháp miêu tả, phân tích và tổng hợp : Từ những câu cụ thể chúng tôi tiến
hành miêu tả và phân tích các khả năng biểu hiện nghĩa cũng như các quan hệ ngữ nghĩa của từng liên từ Từ đó tổng hợp lại và rút ra những luận điểm lý thuyết
Phương pháp so sánh, đối chiếu : Từ những miêu tả và phân tích về chức năng cũng
như phạm vi hoạt động của các liên từ logic và liên từ ngôn ngữ, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu chúng với nhau để thấy được sự tương đồng và khác biệt giữa chúng
Trang 76 Bố cục của đề tài
Đề tài được chia thành ba phần:
• Phần mở đầu
• Phần nội dung
• Phần kết luận
Trong đó phần nội dung có bốn chương:
Chương 1 Logic và ngôn ngữ tự nhiên
1.1 Logic và ngôn ngữ tự nhiên là hai hệ thống kí hiệu
1.2 Vận dụng logic mệnh đề để nghiên cứu liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên
Chương 2 Liên từ “∧ ” logic và liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tự nhiên
2.1 Liên từ “∧” logic
2.2 Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “∧” logic
2.3 Một số nhận xét
Chương 3 Liên từ “∨ ” logic và liên từ tương ứng trong ngôn ngữ tự nhiên
3.1 Liên từ “∨” logic
3.2 Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “∧” logic
3.3 Một số nhận xét
Chương 4 Liên từ “⇒ ” logic và liên từ tương ứng trong ngô ngữ tự nhiên
4.1 Liên từ “⇒” logic
4.2 Liên từ trong ngôn ngữ tự nhiên tương ứng với liên từ “⇒” logic
4.3 Một số nhận xét
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 LOGIC VÀ NGÔN NGỮ TỰ NHIÊN
1.1 Logic và ngôn ngữ tự nhiên là hai hệ thống kí hiệu
1.1.1 Logic học và kí hiệu logic
Logic được xem như là đối tượng của một ngành khoa học độc lập từ rất sớm ở các quốc gia như Hy Lạp, Trung Quốc, ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ IV trước công nguyên Thuật ngữ logic được xuất phát từ từ logos trong tiếng Hy
Trang 8Lạp với ý nghĩa là tư tưởng, lập luận, trí tuệ Thuật ngữ logic được nhìn nhận từ hai góc độ sau :
- Logic khách quan : là logic của sự vật, của cái tồn tại bên ngoài con người Đây là logic của sự vận động, biến đổi không ngừng của sự vật trong thế giới khách quan Có nghĩa là, ở góc độ này logic đã được đồng nhất với quy luật
sự vật Mà quy luật sự vật mang tính tất yếu, chính vì vậy mà logic cũng là cái bất biến, tất yếu của thế giới khách quan Ví dụ như các quy luật sinh tử, quy luật về nước chảy chỗ trũng … là logic sự vật, logic khách quan
- Logic chủ quan : đây là logic tồn tại bên trong con người, là logic của tư duy Như vậy logic chủ quan được đồng nhất với quy luật tư duy, đồng nhất với quá trình con người nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan Nhìn cả hai cách quan niệm về logic trên ta thấy rằng nguồn gốc ra đời của logic chủ quan chính là từ logic khách quan Từ sự nhìn nhận logic khách quan mà trong con người hình thành nên logic chủ quan Bởi vì chúng ta đều biết, tư duy ra đời là để phản ánh đúng sự vật và quy luật vận động của sự vật
Như vậy, có thể nói ngắn gọn logic học là ngành khoa học nghiên cứu về
tư duy và về những suy luận đúng đắn Con đường nhận thức thế giới khách quan của con người được thực hiện qua hai giai đoạn : nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính hay tư duy trừu tượng Nhận thức cảm tính cho ta tri thức về các sự vật riêng lẻ và các thuộc tính của chúng Tư duy trừu tượng cho ta hình ảnh đầy đủ, sâu sắc và chính xác hơn về thế giới khách quan luôn vận động và biến đổi Tư duy tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là : khái niệm và phán đoán Đây cũng chính là hai đơn vị cơ bản của logic học Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy phản ánh những thuộc tính bản chất, khác biệt của sự vật riêng lẻ hay lớp sự vật đồng nhất, phân biệt sự vật này với sự vật khác
Phán đoán là hình thức cơ bản của tư duy dưới dạng khẳng định hoặc phủ định, thể hiện nhận thức của người về thế giới khách quan Một phán đoán sẽ có một và chỉ một trong hai giá trị hoặc đúng hoặc sai Các khái niệm và phán đoán này trong logic được miêu tả, được hình thức hoá thông qua một hệ thống các ký hiệu, biểu thức logic
Ngoài ra, mỗi một hệ thống logic lại có những quy tắc và phép toán riêng Tất cả tạo nên một hệ thống các ký hiệu nhân tạo để mô hình hoá tư tưởng và con đường đi tới một tư duy đúng đắn, một nhận thức chân thực về thế giới Gọi là hệ thống ký hiệu nhân tạo vì để phục vụ cho nghiên cứu của mình logic học đã sáng tạo ra chúng Và thông qua hệ thống ký hiệu này logic học đã phân tích về mặt lý thuyết kết cấu cũng như quá trình của tư tưởng trong việc nhận thức và phản ánh thế giới khách quan Trong thực tiễn tư duy, các tư tưởng có thể có nội dung khác nhau nhưng lại có hình thức logic giống nhau
Trang 9Hình thức logic của một tư tưởng là cấu trúc của tư tưởng đó, là phương thức liên kết các yếu tố cấu thành tư tưởng đó với nhau Hình thức logic của một tư tưởng xác định là sự phản ánh cấu trúc của các mối liên hệ, quan hệ giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các thuộc tính của chúng
Hệ thống ký hiệu hay hệ thống ngôn ngữ nhân tạo này là công cụ nghiên cứu tư duy của một ngành khoa học độc lập đó là logic học hình thức Chúng ta biết rằng, tư duy là quá trình mang tính phổ quát đối với mọi dân tộc, chính điều này giúp con người trên trái đất này
có thể hiểu được nhau mặc dù có thể nói những ngôn ngữ khác nhau Để có được một tư duy đúng đắn thì quá trình tư duy cũng như các yếu tố cấu thành của tư duy phải tuân theo những quy luật logic hình thức cơ bản sau :
- Luật đồng nhất : Trong một thời gian, không gian xác định và với những quan hệ xác định, sự phản ánh về sự vật phải đồng nhất với chính nó Khái niệm đồng nhất ở đây được hiểu theo 3 khía cạnh :
+ Đồng nhất về mặt phản ánh : Có nghĩa là sự vật tồn tại như thế nào thì tư duy phải phản ánh về nó đúng như vậy
+ Đồng nhất về mặt ngôn ngữ : Tư duy phải đồng nhất với mặt diễn đạt, hay nói cách khác tư tưởng và ngôn ngữ phải nhất quán Tư duy biểu hiện như thế nào thì phải được diễn đạt bằng ngôn ngữ đúng như vậy
+ Đồng nhất với chính nó : Được hiểu là sự nhất quán trong tư duy Tư duy tái tạo phải đồng nhất với tư duy nguyên mẫu
- Luật cấm mâu thuẫn : Một ý nghĩ, một tư tưởng đã được định hình trong tư duy để phản ánh sự vật, hiện tượng ở một phẩm chất xác định thì đồng thời không được mang hai giá trị logic trái ngược nhau Có nghĩa là tư duy phải không được mâu thuẫn Trước cùng một sự vật với hai thuộc tính trái ngược nhau thì không thể xác nhận là cùng đúng Có hai loại mâu thuẫn :
+ Mâu thuẫn trực tiếp : không được khẳng định đồng thời phủ định sự vật ở một thuộc tính xác định
+ Mâu thuẫn gián tiếp : không được cho sự vật một thuộc tính nào đó
mà những hệ quả được suy ra từ thuộc tính đó lại phủ định chính thuộc tính đó
1.1.2 Sự giống nhau và khác nhau giữa hai hệ thống ký hiệu logic và
ngôn ngữ
C Mác đã từng nói “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” Mỗi
tư tưởng chỉ có thể xuất hiện và tồn tại trên cơ sở các chất liệu ngôn ngữ, biểu hiện trong các từ và câu Nhờ ngôn ngữ con người biểu thị, diễn đạt, củng cố
Trang 10các kết quả tư duy của mình, trao đổi tư tưởng với người khác, kế thừa và bổ sung tri thức của thế hệ trước
Logic học nghiên cứu các quy luật và hình thức của tư duy Tư duy lại được thể hiện thông qua ngôn ngữ Chính vì vậy không ai có thể phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa logic và ngôn ngữ Logic có thể là điểm tựa trong việc nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ tự nhiên giúp cho ngôn ngữ logic học hình thành và phát triển
Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt có chức năng là phương tiện giao tiếp và phương tiện để biểu đạt tư duy của con người Hệ thống ký hiệu logic lại có chức năng phân tích kết cấu và quá trình của tư duy trong việc nhận thức và phản ánh thế giới khách quan Rõ ràng là hai hệ thống ký hiệu này sẽ tồn tại những đặc điểm tương đồng và khác biệt Chúng ta cùng thử tiến hành so sánh hai hệ thống này
Sự giống nhau :
Xét về mặt ký hiệu, vì ngôn ngữ và logic là hai hệ thống ký hiệu nên chúng đều mang những đặc trưng chung của ký hiệu Đó là, chúng tồn tại và có giá trị trong hệ thống không phải là do những thuộc tính tự nhiên vốn có của nó
mà do chúng được người ta trao cho những thuộc tính để biểu thị một khái niệm hay tư tưởng nào đó Chính vì vậy, mỗi ký hiệu luôn có tính hai mặt : mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt Hai mặt này luôn kết hợp với nhau thành một tổng thể
và mối quan hệ giữa chúng là mang tính võ đoán Hay nói cách khác giữa hình thức bên ngoài và tư tưởng, khái niệm bên trong của chúng không có mối tương quan nào cả, mà hoàn toàn là do sự quy ước thói quen của một tập thể quy định
mà đôi khi chúng ta không giải thích được lý do
Xét về mặt đơn vị, logic chỉ có hai đơn vị cơ bản là khái niệm và phán đoán (hay mệnh đề) Trong khi đó ngôn ngữ, vì là một hệ thống ký hiệu đặc biệt nên nó gồm nhiều đơn vị và được chia thành nhiều cấp độ khác nhau Mỗi cấp
độ lại có một đơn vị cơ bản như : âm vị, hình vị, từ, câu …
Như chúng ta đã biết, trong logic học khái niệm là đơn vị cơ bản phản ánh các dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng; còn trong ngôn ngữ học khái niệm được biểu hiện thông qua các từ Hay có thể nói từ là cơ sở vật chất của khái niệm, không có từ thì không thể hình thành và sử dụng khái niệm Tương
tự như vậy, phán đoán trong logic nêu lên các thuộc tính của sự vật và mối quan
hệ giữa chúng; còn trong ngôn ngữ nó được biểu thị bằng câu Câu là hình thức vật chất của phán đoán, phán đoán không xuất hiện và tồn tại bên ngoài câu Sự thống nhất của phán đoán và câu là ở chỗ các thành phần cơ bản của chúng đều biểu thị đối tượng của tư tưởng là hiện thực khách quan Như vậy giữa logic và ngôn ngữ có những đơn vị cơ bản chung tương ứng Xét về mặt cú pháp, để liên kết hai phán đoán logic sử dụng các tác tử logic hay còn gọi là liên từ logic Chúng ta thấy rõ nhất là trong logic mệnh đề, các tác tử logic phủ định, tuyển, hội, kéo theo được dùng để nối một hoặc nhiều