Tư vấn pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo môi trường pháp lý an toàn, tin cậy cho hoạt động của đời sống – xã hội. Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, tư vấn viên thực hiện chức năng tư vấn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống được pháp luật điều chỉnh, giúp khách hàng soạn thảo các văn bản pháp lý, hướng dẫn khách hàng những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ khi thực hiện các giao dịch và cách xử sự theo đúng pháp luật. Có nhiều hình thức để thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật, trong đó có tư vấn pháp luật bằng lời nói. Vì nhiều lý do khác nhau đây là một kỹ năng quan trọng đối với tư vấn viên. Để tìm hiểu rõ hơn về kỹ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói, nhóm chúng em xin chọn đề tài số 6: “Luận bàn kỹ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói (lấy các vụ việc thực tiễn để minh họa)”.
Trang 1MỤC LỤC
I Khái quát về kĩ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói. 1
c Đối tượng thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật. 2
2 Khái niệm kĩ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói. 3
II Luận bàn về kỹ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói. 3
1 Kĩ năng tiếp đối tượng và nghe đối tượng trình bày. 3
2 Kỹ năng yêu cầu đối tượng cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan
đến vụ việc.
5
4 Kĩ năng đưa ra lời tư vấn và định hướng cho đối tượng. 7
A Đặt vấn đề.
Tư vấn pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo môi trường pháp
lý an toàn, tin cậy cho hoạt động của đời sống – xã hội Trong lĩnh vực tư vấn pháp luật, tư vấn viên thực hiện chức năng tư vấn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống được pháp luật điều chỉnh, giúp khách hàng soạn thảo các văn bản pháp lý, hướng dẫn khách hàng những vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ khi thực hiện các giao dịch và cách xử sự theo đúng pháp luật Có nhiều hình thức để thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật, trong đó có tư vấn pháp luật bằng lời nói Vì nhiều lý do khác nhau đây là một kỹ năng quan trọng đối với tư vấn viên Để tìm hiểu rõ hơn về kỹ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói, nhóm chúng em xin
chọn đề tài số 6: “Luận bàn kỹ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói (lấy các vụ việc thực tiễn để minh họa)”.
Trang 2B Giải quyết vấn đề
I Khái quát về kĩ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói.
1 Kĩ năng tư vấn pháp luật.
a Khái niệm “tư vấn pháp luật”.
Có rất nhiều cách định nghĩa về tư vấn pháp luật:
Theo Từ điển Luật học, tư vấn pháp luật là việc người có chuyên môn về pháp luật được hỏi ý kiến để tham khảo khi giải quyết, quyết định công việc
Điều 28 Luật Luật sư 2006 định nghĩa: “Tư vấn pháp luật là việc đưa ra hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ” Như vậy, tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử
đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp khách hàng thực hiện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ
Điều 28 Luật trợ giúp pháp lí định nghĩa: “Tư vấn pháp luật là việc người trợ giúp pháp lí hướng dẫn giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp các thông tin pháp luật giúp soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lí”.
Dù còn có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về tư vấn pháp luật, tuy nhiên,
từ góc độ lý luận và thực tiễn, tư vấn pháp luật được hiểu là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài xử sự đúng pháp luật; cung cấp dịch vụ pháp
lý giúp cho các cá nhân, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Hoạt động này không chỉ bao gồm việc chuyển tải nội dung của một điều luật, một văn bản pháp luật, hoặc cung cấp thông tin về những quy định pháp luật có liên quan mà còn là việc
sử dụng kiến thức pháp luật và kinh nghiệm của các chuyên gia pháp luật Như vậy, người thực hiện tư vấn phải sử dụng lao động trí óc của mình để đưa ra một lời khuyên, giúp khách hàng có một hướng giải quyết đúng đắn
b Khái niệm “kĩ năng tư vấn pháp luật”.
Một cách khái quát, kỹ năng là khả năng (năng lực) sử dụng và vận dụng tri thức về một lĩnh vực nào đó vào hoạt động nghề nghiệp trong cuộc sống bằng kinh nghiệm thực tiễn thông qua những thao tác thành thạo như một thói quen nhằm đạt được mục tiêu đề ra Kĩ năng tư vấn pháp luật là khả năng của người thực hiện tư vấn vận dụng kiến thức pháp luật, đạo đức xã hội và kinh nghiệm cuộc sống để hướng dẫn, giải đáp, đưa ra ý kiến, cung cấp thông tin pháp luật, giúp soạn thảo văn bản liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý nhằm giúp cho người được tư vấn biết cách xử sự hoặc giải quyết những vấn đề vướng mắc pháp luật
Trang 3của mình phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
c Đối tượng thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật.
Hoạt động tư vấn pháp luật hiện nay được thực hiện theo hai mô hình sau đây:
- Thứ nhất, tư vấn pháp luật của luật sư theo quy định của Luật luật sư năm 2006 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007);
- Thứ hai, tư vấn pháp luật do các tổ chức đoàn thể xã hội thực hiện Hoạt động tư vấn pháp luật này mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận, khác với hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư (có tính chất hoạt động nghề nghiệp độc lập, có thu phí dịch vụ) và hoạt động trợ giúp pháp lý của Nhà nước (giúp đỡ pháp lý miễn phí, mọi chi phí liên quan do nhà nước chi trả) Để thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật cho thành viên của tổ chức mình và các đối tượng khác theo luật định, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội -nghề nghiệp thành lập Trung tâm tư vấn pháp luật và duy trì hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải về tài chính
d Các loại kỹ năng tư vấn pháp luật.
+ Kỹ năng tiếp xúc khách hàng;
+ Kỹ năng tìm hiểu yêu cầu của khách hàng;
+ Kỹ năng thỏa thuận, soạn thảo và ký kết hợp đồng dịch vụ;
+ Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ;
+ Kỹ năng tìm hiểu, khai thác thông tin;
+ Kỹ năng phân tích, đánh giá vụ việc;
+ Kỹ năng TVPL bằng lời nói hoặc văn bản;
+ Ngoài ra còn có một số kỹ năng khác như kỹ năng đại diện ngoài tố tụng; kỹ năng duy trì quan hệ với khách hàng
2 Khái niệm kĩ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói.
Tư vấn bằng pháp luật bằng lời nói là một trong những kĩ năng tư vấn pháp luật, hiểu đơn giản là người tư vấn phải trả lời, tư vấn yêu cầu của đối tượng cần tư vấn dưới hình thức lời nói, điệu bộ, cử chỉ trực tiếp chứ không phải hình thức văn bản, chữ viết Hình thức này thường được áp dụng đối với các vụ việc có tính chất đơn giản, đối tượng cần tư vấn thường gặp gỡ trực tiếp sư để trình bày vụ việc của họ và người có vai trò tư vấn sẽ giúp họ để tìm giải pháp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp một cách nhanh chóng và hiệu quả
Trang 4II Luận bàn về kỹ năng tư vấn pháp luật bằng lời nói.
Thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý cho thấy tư vấn bằng miệng là một trong những phương thức trợ giúp pháp lý phổ biến nhất Sau khi nghe đối tượng trực tiếp trình bày về diễn biến vụ việc hoặc những vướng mắc của mình và nghiên cứu tài liệu (nếu có), người tư vấn trực tiếp giải đáp những vướng mắc đó cho đối tượng mà không cần thời gian để điều tra, xác minh vụ việc cụ thể Tuy nhiên, hoạt động tư vấn pháp luật là một hoạt động trí tuệ,
đa dạng và phức tạp, đòi hỏi một quá trình lao động trí óc Do đó, khi tư vấn trực tiếp bằng
miệng cho đối tượng, người tư vấn cần thiết phải thực hiện tốt một số kỹ năng sau:
1 Kĩ năng tiếp đối tượng và nghe đối tượng trình bày.
Phần lớn đối tượng đều trực tiếp đến gặp người tư vấn hoặc gọi điện thoại để trình bày
về nội dung vụ việc, vấn đề vướng mắc và đưa ra yêu cầu tư vấn Trong giai đoạn này, người
tư vấn phải kết hợp các kỹ năng: thụ lý hồ sơ, nghe, nói, đặt câu hỏi,… để thu nhận được những thông tin chính xác, trung thực về vụ việc (vướng mắc pháp luật) của đối tượng, đồng thời cố gắng hiểu biết về tâm lý của từng loại đối tượng để có thái độ ứng xử, giao tiếp phù hợp Khi tiếp xúc với bất cứ loại đối tượng nào, người tư vấn đều phải khiêm tốn, thể hiện thái độ đúng mực và tôn trọng đối tượng để xây dựng niềm tin của đối tượng
Học giả người Trung Quốc Chuang Tzu đã từng nói: “Việc nghe bằng tai là một chuyện, việc nghe hiểu là một chuyện khác Nhưng việc lắng nghe không chỉ giới hạn của cơ quan thính giác (tai) hay bộ óc, vì nó đòi hỏi sự tham gia của tất cả các giác quan và khi các giác quan bắt đầu tham gia thì tất cả sẽ được lắng nghe Có một điều mà có thể trước đây bạn chưa hiểu rõ, đó là chưa bao giờ bạn thực sự lắng nghe” Thông thường, lần đầu tiên
tiếp xúc với một vụ việc có tính chất phức tạp, người tư vấn chưa thể hiểu biết hết về các tình tiết của vụ việc, chưa nắm bắt một cách chắc chắn bản chất của vụ việc Trong khi đó, đối tượng thường có tâm lý là người nghe cũng đã nắm được nội dung vụ việc như chính bản thân mình, nên đối tượng thường trình bày theo ý chủ quan và có thể bỏ qua nhiều chi tiết mà
họ cho là không cần thiết hoặc không cung cấp những bằng chứng không có lợi cho họ Vì vậy, người tư vấn cần nghiên cứu đặt ra những câu hỏi đơn giản để làm rõ những tình tiết có liên quan đến bản chất của vụ việc và gợi ý để đối tượng trình bày đúng bản chất vụ việc, lưu
ý đối tượng trình bày vấn đề một cách vô tư, khách quan, không thiên vị, chủ quan Người tư vấn chỉ có thể đưa ra lời khuyên chính xác, đầy đủ và đúng pháp luật nếu như đối tượng trình
Trang 5bày vấn đề một cách trung thực và khách quan Ngược lại, lời tư vấn đưa ra có thể không chính xác nếu đối tượng trình bày thiên vị, không trung thực
“Đặt câu hỏi”được hiểu là việc đưa ra các thông điệp nhất định tác động đến người khác để họ cung cấp những thông tin cần thiết Trong tư vấn pháp luật, đặt câu hỏi giúp cho người tư vấn thu được thông tin đầy đủ và chính xác về sự việc và hiểu được yêu cầu của khách hàng Vì vậy, trước khi đặt câu hỏi, người tư vấn phải xác định được đầy đủ các nội dung cần hỏi Hành vi này giúp họ hình dung được cần phải đặt các câu hỏi về vấn đề nào, trình tự tìm hiểu về các vấn đề đó Như vậy, xác định nội dung các vấn đề cần hỏi không chỉ cho phép người tư vấn tìm hiểu đủ và chính xác thông tin, mà còn tạo ra những điều kiện để
họ có thể nhìn nhận và đánh giá vấn đề theo một trình tự logic Có nhiều loại câu hỏi được sử dụng trong tư vấn pháp luật Kỹ năng đặt câu hỏi thể hiện ở hành vi sử dụng câu hỏi phù hợp điều kiện và mục đích Khi cần thu thập được nhiều thông tin để hiểu khái quát vấn đề thì luật sư có thể sử dụng “câu hỏi mở” “Câu hỏi mở” là câu hỏi gợi ra câu trả lời theo bất kỳ độ dài nào Trong trường hợp cần thu được thông tin chính xác, cụ thể thì luật sư có thể sử dụng
“câu hỏi đóng” “Câu hỏi đóng” là câu hỏi gợi ra câu trả lời “có”hoặc “không”hoặc một từ cụ thể như "đúng”, “sai”, “chính xác”, “không chính xác”
Hành vi đặt câu hỏi khi thu thập thông tin giúp luật sư thông qua các câu hỏi tổ chức
và điều khiển hành vi và quá trình tư duy của khách hàng theo những nội dung thông tin cần làm sáng tỏ Nếu khách hàng trình bày lan man thì nên đặt câu hỏi đóng để họ trả lời cụ thể, còn với khách hàng “nói ít”thì lại nên đặt nhiều câu hỏi mở để kích thích họ cung cấp nhiều thông tin hơn
Việc sử dụng ngôn ngữ và biểu cảm phi ngôn ngữ cũng có ý nghĩa quan trọng Khi tiếp nhận câu hỏi, người được hỏi sẽ thông qua cách thể hiện ngôn ngữ, biểu cảm nét mặt và
cử chỉ phi ngôn ngữ để thông dịch câu hỏi và ý nghĩa của nó Vì vậy, việc sử dụng các biểu cảm ngôn ngữ và 2 phi ngôn ngữ khi đặt câu hỏi thường có tác dụng gây chú ý đặc biệt đến nội dung trọng tâm của câu hỏi, đặc biệt là các câu hỏi dài
Ưu điểm:
_Với đối tượng cần tư vấn:
+ Tạo cơ hội, điều kiện, môi trường đối thoại cởi mở, thoải mái để đối tượng diễn đạt hết suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của họ; khuyến khích được đối tượng nói hết những gì cần nói _ Với người tư vấn:
Trang 6+ Giúp tư vấn viên tóm lược các nội dung mang tính bản chất của vụ việc một cách chính xác, khẳng định lại với đối tượng yêu cầu tư vấn và thống nhất quan điểm về những nội dung cần tư vấn đồng thời vạch được kế hoạch cho các bước tiếp theo của tư vấn pháp luật
+ Giúp người tư vấn nắm được thông tin nào quan trọng, thông tin nào hỗ trợ và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định, cho phép phân loại vụ việc cần tư vấn, tìm kiếm các văn bản pháp luật tương ứng, các tài liệu có liên quan để giải quyết
+ Giúp tư vấn viên nhận định về một khách hàng
Nhược điểm:
+ Trong thực tế của quá trình tư vấn, một số tư vấn viên còn thiếu sự kiên nhẫn, thiếu thái độ nghiêm túc khi lắng nghe khách hàng, phán xét, đưa ra nhận xét, đặt ra những giả định, chỉnh
lý, lên lớp về mặt đạo lý; áp đặt ý tưởng, kinh nghiệm của mình cho đối tượng, đưa ra lời khuyên khi đối tượng không yêu cầu; để cho cảm xúc của người nói tác động quá mạnh đến tình cảm của mình hoặc chỉ nghe nửa vời đã vội vàng kết luận, khiến cho tư vấn viên hiểu sai lệch về nội dung vụ việc, dẫn đến giải quyết không tốt yêu cầu của khách hàng
+ Từ thái độ của tư vấn viên mà có thể khách hàng không cảm nhận được sự chia sẻ của mình được quan tâm nên dễ hụt hẫng
2 Kỹ năng yêu cầu đối tượng cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc.
Để đưa ra lời khuyên (tư vấn) chính xác, đúng pháp luật, cảm hóa, thuyết phục được đối tượng thì người tư vấn phải đề nghị đối tượng nói rõ yêu cầu tư vấn, nếu tư vấn giải quyết một vụ việc thì phải yêu cầu đối tượng cung cấp đầy đủ các tài liệu (nếu có) phản ánh nội dung và diễn biến của vụ việc tranh chấp
Trong thực tiễn, người tư vấn khó có thể đưa ra những lời tư vấn chính xác nếu chỉ nghe đối tượng trình bày Đối với những yêu cầu tư vấn đơn giản, rõ ràng, sau khi nghe đối tượng trình bày, người tư vấn có thể phân tích, giải thích, hướng dẫn được ngay cho đối tượng, song đối với những vụ việc phức tạp, đã diễn ra trong một thời gian dài, vụ việc đã được một số cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân can thiệp hoặc giúp đỡ giải quyết, nhưng đối tượng vẫn không hài lòng và tiếp tục khiếu kiện thì phải yêu cầu đối tượng cung cấp các chứng cứ và tài liệu (nếu có) liên quan đến nội dung và diễn biến vụ việc (thông thường người tư vấn chỉ nhận bản sao chụp các giấy tờ, tài liệu đó sau khi đã đối chiếu với bản chính) Trong trường hợp cần thiết, người tư vấn phải tự mình tìm hiểu, thu thập chứng cứ, gặp gỡ các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã từng tham gia giải quyết, gặp người làm chứng, nghe họ trình bày về diễn biến và nội dung vụ việc mà họ biết được Chỉ có như vậy thì
Trang 7người tư vấn mới có thể hiểu biết được bản chất vụ việc, từ đó đưa ra lời tư vấn chính xác, đúng pháp luật, cảm hóa, thuyết phục được đối tượng nghe theo lời khuyên của mình
Ưu điểm: +Giúp người tư vấn hiểu biết được bản chất vụ việc, có thời gian nghiên cứu đánh
giá sự việc từ đó đưa ra lời tư vấn chính xác, đúng pháp luật, thuyết phục được khách hàng nghe theo lời tư vấn của mình
Nhược điểm: +Trong thực tiễn, có những vụ việc, đối tượng chỉ trình bày vụ việc một cách
chung chung, chưa muốn cung cấp cho người tư vấn những văn bản, chứng cứ mà họ cho rằng không có lợi cho mình Người tư vấn cần thuyết phục để họ cung cấp đầy đủ
+Nhiều trường hợp tài liệu cung cấp giả hoặc người tư vấn hiểu sai vấn đề làm ảnh hưởng đến giải pháp tư vấn đúng đắn khiến khách hàng thiếu tin tưởng
3 Kỹ năng tra cứu văn bản, tài liệu pháp luật.
Trong quá trình tư vấn pháp luật, người tư vấn phải giải đáp pháp luật, cung cấp thông tin pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đối tượng, đưa ra những lời khuyên về những vấn đề
có liên quan đến pháp luật, hướng dẫn đối tượng xử sự phù hợp với pháp luật, nhằm giúp đối tượng nâng cao ý thức pháp luật, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, trên cơ sở đó tự nguyện thực hiện pháp luật Để đưa ra lời tư vấn pháp luật chính xác, việc tra cứu tài liệu pháp luật trong quá trình tư vấn là điều kiện bắt buộc Nếu thấy cần thiết hoặc đối tượng yêu cầu thì người tư vấn có thể cung cấp cho đối tượng bản sao văn bản, tài liệu đó cùng với lời
tư vấn mà mà mình đưa ra Trong trường hợp không tìm thấy văn bản cần tìm hoặc nghi ngờ
về hiệu lực của văn bản đó (ví dụ văn bản đã bị huỷ bỏ và có một văn bản mới thay thế) thì người tư vấn có thể chưa đưa ra lời khuyên ngay mà hẹn đối tượng vào một dịp khác để khẳng định lại tính hợp pháp của văn bản pháp luật cần áp dụng Trường hợp vụ việc tư vấn
có liên quan đến lĩnh vực pháp luật mà người tư vấn chưa hiểu sâu thì nên gặp các nhà chuyên môn hay đồng nghiệp khác am hiểu sâu về lĩnh vực pháp luật đó để tham khảo ý kiến trước khi đưa ra lời tư vấn, tránh tình trạng mặc dù người tư vấn chưa nắm vững pháp luật nhưng vẫn thực hiện tư vấn, đưa ra những lời khuyên không chính xác, không đúng pháp luật, gây hậu quả xấu cho đối tượng
Ưu điểm: + Thứ nhất, kĩ năng tra cứu văn bản giúp chúng ta khẳng định với đối tượng rằng
người tư vấn đang thực hiện tư vấn theo pháp luật, trên cơ sở pháp luật chứ không phải theo cảm tính chủ quan, duy ý chí của mình;
+ Thứ hai, việc tra cứu tài liệu pháp luật có liên quan đến vụ việc tư vấn sẽ giúp người
tư vấn kiểm tra tính chính xác những tư duy và khẳng định chính thức những lời tư vấn của
Trang 8mình là đúng pháp luật vì trong thực tiễn, không phải bao giờ người tư vấn cũng có thể nhớ chính xác tất cả các quy định thuộc các lĩnh vực pháp luật khác nhau
Giúp khách hàng tin rằng tư vấn viên đang tư vấn theo đúng quy định và trình tự mà pháp luật quy định chứ không phải tư vấn theo cảm tính chủ quan của mình
Nhược điểm: +Do phải tra cứu tìm tài liệu, thông tin nên việc nay có thể gây mất thời gian
khiến cho khách hàng có suy nghĩ về phong cách làm việc của tư vấn viên không được chuyên nghiệp, không tin tưởng khó để ký hợp đồng
+Có những nguồn tài liệu tham khảo do không có đủ thời gian nghiên cứu, kiểm tra nên có thể dẫn đến trường hợp nhầm lẫn, hết giá trị áp dụng mà tư vấn sai cho khách hàng
4 Kĩ năng đưa ra lời tư vấn và định hướng cho đối tượng.
Đây là khâu cuối cùng của quá trình tư vấn thể hiện bằng việc người tư vấn đưa ra lời giải đáp, lời khuyên, giải pháp, phương án,… để trả lời các yêu cầu và những vấn đề vướng mắc của đối tượng
Nội dung tư vấn pháp luật gồm có:
+ Nêu được căn cứ pháp lý, nội dung các quy định của pháp luật có liên quan đến vấn đề yêu cầu tư vấn;
+ Giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật đối với từng hành vi, sự kiện trong một hoàn cảnh
cụ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội mà luật pháp cho phép hay ngăn cấm;
+ Từ đó đưa ra những lời khuyên, định hướng giúp đối tượng lựa chọn hành vi xử sự của mình cho phù hợp với pháp luật và thực hiện những giải pháp bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất Về thực chất, đưa ra những giải pháp và định hướng cho đối tượng là việc hướng dẫn đối tượng cách ứng xử (nên làm gì và không nên làm gì) trong thời gian tới để giải quyết tốt nhất những vấn đề mà đối tượng yêu cầu Việc đưa ra giải pháp mang tính định hướng sẽ tạo cơ hội cho đối tượng lựa chọn phương thức bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất
Khi tư vấn pháp luật, người thực hiện trợ giúp pháp lý nên khuyến khích, ủng hộ, động viên những hành vi tích cực, phù hợp với pháp luật Dĩ nhiên không phải lúc nào sau khi được tư vấn pháp luật, đối tượng cũng làm theo những lời khuyên mà người tư vấn đưa
ra Trong những trường hợp này, dù người thực hiện trợ giúp pháp lý có tư vấn pháp luật chính xác, có phân tích đầy đủ trên tất cả các phương diện và khía cạnh lợi hại đến đâu chăng nữa thì đối tượng vẫn có thể có những hành vi không phù hợp với pháp luật
Trang 9Ưu điểm: người tư vấn bằng khả năng của mình có thể phân tích các khả năng khác nhau có
thể xảy ra, hậu quả pháp lý của từng khả năng đó, các giải pháp có thể sử dụng để thay đổi tình thế, những cơ may thành công và rủi ro có thể gặp phải đối với từng giải pháp; đưa ra những lời khuyên, thuyết phục và hướng dẫn của người cần tư vấn lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội, tránh được những hậu quả pháp lý bất lợi, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng một cách tốt nhất
Nhược điểm: tư vấn viên định hướng sai trong việc đưa ra giải pháp khiến khách hàng bị
thiệt hại hoặc bị chịu trách nhiệm nặng hơn, khách hàng dễ quy trách nhiệm hoặc đòi bồi thường người tư vấn
+ Có thể sau khi người tư vấn đã đưa ra định hướng cho khách hàng thì khách hàng không thực hiện việc trả thù lao tư vấn
III Ví dụ minh họa.
Ngày 15/8/2014, ông Lương Xuân Trường có đến Văn phòng Luật sư An Thái – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội xin ý kiến pháp lý về việc kháng cáo bản án sơ thẩm số 38/DSST ngày 10/8/2014 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Ngay sau tiếp xúc với ông Trường bên cạnh những câu chuyện ngoài lề, Luật sư Nguyễn Thanh Dương dẫn nhập trực tiếp vụ việc của khách hàng và ghi chép lại nội dung vụ việc theo yêu cầu của đương sự gồm những vấn đề chính được tóm lược lại như sau : Vào lúc 13h ngày 12/3/2014 ông Trường cùng một số anh em trong đội xây dựng đang phát tỉa hàng cây xanh bên đường thì bà Hiền đi qua có chủi bới và xúc phạm đến anh em trong đội xây dựng Trong lúc nóng nảy, không kiềm chế được mình, ông có tát bà Hiền một cái vào má trái và dùng dép tông định đánh vào miệng bà Hiền thì bà Hiền giơ tay lên đỡ được nên không để lại thương tích nào đáng tiếc Ngay sau thời điểm xảy ra xô xát, bà Hiền có đi bệnh viện kê khai nằm bệnh viện đợt hai nhưng không có tiền thuốc theo hóa đơn của bệnh viện nhằm tạo chứng từ giả để
vu oan cho ông Trường
Tại bản án sơ thẩm số 38/DSST ngày 10/8/2014 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội đã tuyên buộc ông Trường phải trả tiền cho bà Hiền là có căn cứ và buộc ông phải bồi thường cho bà Hiền những khoản chi phí sau đây :
- Tiền thuốc men + viện phí : 400.000 đồng
- Tiền giám định: 100.000 đồng
- Tiền xe đi bệnh viện: 250.000 đồng
Trang 10- Tiền thu nhập + tiền công chăm sóc (9 ngày bệnh viện): 200.000 X 9 = 1.800.000 đồng
- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe: 300.000 đồng
- Tổng cộng: 2.850.000 đồng
Tuy nhiên có một điểm đáng lưu ý được ông Trường ghi nhận lại, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã không xem xét khách quan, toàn diện theo sự trình bày của nguyên đơn là
bà Hiền và các tài liệu thể hiện Theo đó, bà Hiền nằm điều trị tại bệnh viện Bạch Mai từ ngày 1/2 đến ngày 10/2/2014 thì ra viện, thời gian nội trú là 9 ngày, đến ngày 7/2 bà Hiền đi giám định thương tật, Tại bản kết luận pháp y số 654/HĐGT kết luận bà Hiền bị đa chấn thương phần mềm, tỷ lệ thương tích là 5% Tòa án đã không xem xét bệnh án số 667 của bệnh viện xác định bà Hiền nhập viện lần hai từ ngày 13/2 đến ngày 21/2/2014 để điều trị thoái hóa cột sống thắt lưng L4
Không đồng tình với bản án sơ thẩm số 38/DSST ngày 10/8/2014 của Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, ông Trường xem xét yêu cầu tư vấn pháp luật kháng cáo bản án sơ thẩm và không chấp nhận mức bồi thường do bà Hiền đưa ra đối với ông
Sau khi nghe ông Trường thuật lại nội dung vụ việc:
Luật sư Dương yêu cầu ông Trường cung cấp những chứng cứ cần thiết để yêu cầu tòa
án cấp trên giải quyết vụ việc và chứng minh yêu cầu kháng án là hợp pháp và có căn cứ Cụ thể, qua trao đổi với đương sự, xác định quan hệ tranh chấp về bồi thường thiệt hại về sức khỏe do gây thương tích, cùng với một số chứng cứ ông Trường đã tự mình thu thập được gồm có: trích lục bản án sơ thẩm số 38/DSST ngày 10/8/2014, bản kết luận giám định pháp y
645 và bệnh án số 667 của bà Hiền Nhận thấy chứng cứ còn chưa đầy đủ, Luật sư gợi ý ông Trường thu thập thêm biên bản của công an nhân dân hoặc UBND với hành vi gây thương tích của ông, người làm chứng xung quanh nơi vụ việc xảy ra, cùng với đó là lời chứng theo kèm…
Tiếp theo, Luật sư hướng dẫn ông Trường làm đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời gian hạn định theo quy định của pháp luật TTDS là 15 ngày kể từ ngày bản án sơ thẩm được tuyên Khâu quan trọng khi cung cấp dịch vụ pháp lý, Luật sư đưa ra những đánh giá bước đầu về nội dung vụ việc Trình bày ý kiến của mình, nhận định đối với tranh chấp
về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thiệt hại xảy ra là kết quả trực tiếp, tất yếu của pháp luật Ở nước ta, yếu tố nhân quả được nêu tại khoản 1 Điều 604 BLDS
“Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm… mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Trong