1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bình luận quy định của pháp luật Dân sự trong vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm.

14 240 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 96,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm là một quyền con người cơ bản được hầu khắp mọi quốc gia tôn trọng và bảo hộ. Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó. Pháp luật nước ta đã quy định nhiều biện pháp khác nhau để đảm bảo quyền này cho mỗi cá nhân, trong đó có những quy định của luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm. Đây là một biện pháp có ý nghĩa thiết thực và vai trò quan trọng giúp ý thức bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho cá nhân lan tỏa sâu rộng trong xã hội. Dưới đây, em xin trình bày những hiểu biết, đánh giá của mình về quy định của pháp luật Dân sự trong vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU Tr.2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Tr.2

I - Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm

của cá nhân bị xâm phạm trong Luật Dân sự Tr.2

1 Khái niệm, bản chất và cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm Tr.2

2 Những quy định của pháp luật Dân sự hiện hành về trách nhiệm bồi thường

thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm Tr.4

II - Đánh giá những qui định của pháp luật Dân sự hiện hành về trách nhiệm

bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm Tr.9

1 Về xác định hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm Tr.9

2 Về xác định mức bồi thường Tr.11 KẾT LUẬN Tr.13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tr.14

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm là một quyền con người cơ bản được hầu khắp mọi quốc gia tôn trọng và bảo hộ Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó Pháp luật nước ta đã quy định nhiều biện pháp khác nhau để đảm bảo quyền này cho mỗi cá nhân, trong đó có những quy định của luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm Đây là một biện pháp có ý nghĩa thiết thực và vai trò quan trọng giúp ý thức bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho cá nhân lan tỏa sâu rộng trong xã hội Dưới đây, em xin trình bày những hiểu biết, đánh giá của mình về quy định của pháp luật Dân sự trong vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh

dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm

Bài viết không tránh khỏi thiếu sót, mong thầy cô thông cảm và góp ý, chỉ bảo cho em Em xin chân thành cảm ơn!

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I - Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm trong Luật Dân sự.

1 Khái niệm, bản chất và cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm.

* Khái niệm, bản chất:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân

bị xâm phạm là một loại trách nhiệm pháp lý, trong đó người có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác trái pháp luật thì phải bồi thường những thiệt hại do chính hành vi của mình gây ra Trách nhiệm bồi thường này là hậu quả pháp lý bất lợi phát sinh từ hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác mà chủ thể bắt buộc phải thực hiện

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân

bị xâm phạm là một trong những trường hợp của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Giữa người gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại không có

Trang 3

mối quan hệ hợp đồng với nhau nhưng giữa các chủ thể vẫn phát sinh trách nhiệm bồi thường Bởi danh dự, nhân phẩm của cá nhân là quyền nhân thân bất khả xâm phạm được pháp luật bảo hộ Bất kỳ hành vi xâm phạm nào cũng

là trái với quy định của pháp luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những biện pháp pháp luật quy định nhằm đảm bảo quyền, lợi ích cho

cá nhân bị xâm phạm quyền nhân thân cơ bản và quan trọng này

* Cơ sở pháp lý:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân

bị xâm phạm xuất phát trên cơ sở pháp luật công nhận và bảo hộ quyền bất khả xâm phạm về danh dự, nhân phẩm của cá nhân

Kế thừa quy định của các bản hiến pháp trước về quyền nhân thân của

cá nhân, Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối

xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm…”

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm của cá nhân được quy định cụ thể hơn trong các văn bản pháp luật của nhiều ngành luật khác nhau tạo thành một hệ thống các quy định về quyền được bảo

vệ danh dự, nhân phẩm; trong đó có thể nói pháp luật Dân sự quy định đầy

đủ, chi tiết hơn cả Bộ luật Dân sự đã dành hẳn một điều luật riêng biệt để ghi

nhận “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.” (Điều 37)

Cũng như những ngành luật khác, Luật Dân sự sử dụng những biện pháp riêng của mình góp phần bảo vệ danh dự, nhân phẩm của cá nhân Vì quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cũng là quyền nhân thân nên biện pháp dân sự được dùng để bảo vệ cũng được áp dụng theo Điều 25 Bộ luật Dân sự Cụ thể như sau:

“1 Tự mình cải chính;

Trang 4

2 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3 Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.”

Bồi thường thiệt hại là một biện pháp quan trọng và thiết thực trong những biện pháp pháp luật Dân sự sử dụng để đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về danh dự, nhân phẩm cho cá nhân

2 Những quy định của pháp luật Dân sự hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm.

Là một trường hợp trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thương thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm cũng dựa trên các quy định chung, cơ bản về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như căn cứ xác định trách nhiệm, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường, thời hiệu yêu cầu bồi thường (quy định từ Điều

604, 605, 606, 607 BLDS) Ngoài ra, vấn đề xác định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định riêng tại Điều 611 BLDS Cụ thể như sau:

* Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Được quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự, cụ thể:

“1 Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín,… của cá nhân, … mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2 Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường

cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.”

Cũng theo hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 thì trách nhiệm bồi thường này chỉ phát sinh khi có đầy đủ các căn

Trang 5

cứ sau:

- Phải có thiệt hại xảy ra gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần;

- Phải có hành vi trái pháp luật: là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động trái với các quy định của pháp luật;

- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại;

- Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại

Trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi mà pháp luật quy định vẫn phải bồi thường là trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải có trách nhiệm bồi thường Với quy định này pháp luật đã dự liệu các trường hợp gây

ra thiệt hại dù không có lỗi vẫn phải bồi thường nhằm đảm bảo quyền, lợi ích

hợp pháp của cá nhân

* Nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

Điều 605 Bộ luật Dân sự quy định ba nguyên tắc bồi thường thiệt hại:

- Thứ nhất: “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên

có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy đinh khác”.

Bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời” là nguyên tắc được thể hiện đầu tiên

trong các nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nguyên tắc này đảm bảo người có hành vi gây thiệt hại phải bồi thường tương xứng với toàn

Trang 6

bộ thiệt hại đã gây ra và bồi thường kịp thời, càng nhanh càng tốt để khắc phục hậu quả Pháp luật khuyến khích các bên đương sự tự thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường Tuy nhiên sự thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội

- Thứ hai: “Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”.

Đây là nguyên tắc thể hiện tính nhân văn của pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, để giảm mức bồi thường thiệt hại thì người gây ra thiệt hại phải thỏa mãn đủ hai điều kiện là có lỗi vô ý và thiệt hại gây ra quá lớn so với khả năng kinh tế của mình

- Thứ ba: “Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước cơ thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường”.

Với nguyên tắc trên thì người gây thiệt hại hoặc người bị thiệt hại có thể yêu cầu thay đổi mức bồi thường khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế Cụ thể là trong trường hợp mức bồi thường quá thấp gây bất lợi cho người bị thiệt hại để khắc phục hậu quả gây ra hoặc mức bồi thường quá cao làm ành hưởng lợi ích của người gây ra thiệt hại

Nguyên tắc trên đã dự liệu các quy định của pháp luật không thay đổi kịp theo sự thay đổi của thực tế Bởi pháp luật mang tính ổn định, tuy không bất biến nhưng cũng không thể thay đổi từng giờ, từng ngày như sự phát triển của kinh tế, xã hội

* Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân:

Xác định năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân là một vấn đề quan

Trang 7

trọng trong xác định đúng trách nhiệm bồi thường của người gây ra thiệt hại Căn cứ vào độ tuổi, tình trạng tài sản, và khả năng bồi thường thiệt hại của cá nhân, Điều 606 Bộ luật Dân sự quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:

- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ phải tự bồi thường;

- Người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản

đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 621 của Bộ luật Dân sự

- Người từ 15 tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại mà

có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hội không có tài sản hoặc không

đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường

Việc quy định người chưa thành niên dưới mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha mẹ thì cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đã dựa trên nguyên tắc quy định rằng các chủ thể này phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi Bởi người dưới mười lăm tuổi thì trình độ nhận thức và khả năng điều khiển hành vi còn nhiều hạn chế nên cha, mẹ phải có trách nhiệm bồi thường toàn

bộ thiệt hại do con mình đã gây ra trừ trường hợp tài sản của cha mẹ không đủ

để bồi thường mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản riêng đó để bồi thường

Trang 8

phần còn thiếu.

* Xác định thiệt hại:

Điều 611 xác định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm:

“1 Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm: a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2 Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác

để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”

Như vậy, hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân có thể gây ra thiệt hại về vật chất và tinh thần, và người gây thiệt hại sẽ phải bồi thường cả hai khoản này Cần lưu ý rằng danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là các yếu tố gắn liền với nhân thân chủ thể nên không thể trị giá được thành tiền Trách nhiệm bồi thường thiệt hại này cũng chỉ có ý nghĩa phần nào khắc phục, khôi phục tình trạng ban đầu trước khi có hành vi gây thiệt hại và

bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị hại

* Thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại:

Điều 607 BLDS quy định: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường

thiệt hại là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, … bị xâm phạm.”

Trước khi BLDS 2005 ra đời, Bộ luật Tố tụng dân sự (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2005) có quy định về thời hiệu khởi kiện đối với các

Trang 9

tranh chấp dân sự Do đó, khi xác định thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại cần lưu ý:

- Đối với những trường hợp bồi thường phát sinh kể từ ngày 1/1/2005 (ngày

Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực), thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích bị xâm phạm

- Đối với những trường hợp phát sinh trước ngày 1/1/2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm, kể từ ngày 1/1/2005

II - Đánh giá những qui định của pháp luật Dân sự hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị xâm phạm.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm của cá nhân

đã được pháp luật quan tâm bảo vệ đúng mức; thể hiện ở những quy định ghi nhận và xác định rõ ràng trách nhiệm này trong BLDS cùng các văn bản luật chuyên ngành, văn bản hướng dẫn thi hành khác, Tuy nhiên, đây là một vấn

đề không đơn giản khi liên quan đến một phạm trù trừu tượng và có ý nghĩa tinh thần cao như danh dự, nhân phẩm Bởi vậy, quy định của pháp luật còn không ít những thiếu sót, hạn chế, gây khó khăn cho việc áp dụng Dưới đây

là một số điểm pháp luật cần hoàn thiện hơn nữa

1 Về xác định hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm.

Hiện nay, pháp luật chưa có quy định chung, cụ thể về căn cứ xác định hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm Điều này gây khó khăn rất lớn cho việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm Có thể dẫn ra một ví dụ như sau: Vụ việc

ca sỹ Phương Thanh kiện blogger Cogaidolong (Lê Nguyễn Hương Trà) vì hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của Phương Thanh Ngày 16/10/2007, ca sỹ Phương Thanh đã khởi kiện blogger Cogaidolong (Lê Nguyễn Hương Trà) trước Tòa án nhân dân quận Tân Bình (TP HCM) vì blogger đã xúc phạm danh dự của Phương Thanh Theo Phương Thanh, bài viết về liveshow “Mưa” vầ bài viết “Chuyện của … Cờ” trên blog của Hương

Trang 10

Trà viết về cô với nội dung “sai sự thật, xúc phạm tới danh dự, hạ uy tín” Ca

sỹ Phương Thanh cho rằng trong bài viết “Mưa”, Hương Trà viết “bảo vệ mở rộng cửa cho khán giả nhào vào Ghế trống đày ” là không đúng sự thật, hơn nữa hạ uy tín của một ca sỹ tên tuổi như cô Blogger Hương Trà lại cho rằng bài viết là đúng sự thật, vì tối đó trời mưa rất lớn, nơi biểu diễn không có mái che nên khán giả bị ướt, bảo vệ phải mở cửa cho khán giả vào tránh mưa chứ không phải để miễn mua vé Còn bài viết “Chuyện của …Cờ” không phải viết

về Phương Thanh mà viết theo lối phóng tác Về vụ việc này, có những quan điểm khác nhau xoay quanhvaans đề mấu chốt: blogger Hương Trà có xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tíncuar ca sỹ Phương Thanh hay không Đây cũng chính là khó khăn dẫn đến vụ việc kéo dài

Danh dự, nhân phẩm là những khái niệm có tính trừu tượng danh dự là

sự đánh giá của xã hội đối với một cá nhân về các mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người đó Danh dự của một con người được hình thành từ những hành động và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó có được qua những năm tháng của cuộc đời và được xã hội đánh giá theo những tiêu chuẩn và nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa Danh

dự của một cá nhân bao gồm các yếu tố sau:

- Lòng tự trọng: tức là sự tự đánh giá mình, tự ý thức về giá trị, vị trí của mình trong xã hội (chà đạp lên lòng tự trọng của người khác chính là xúc phạm đến danh dự của người đó)

- Uy tín: chính là giá trị về mặt đạo đức và tài năng được công nhận ở một cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn của mình tới mức mà mọi người trong một tổ chức, một dân tộc cảm phục tôn kính và tự nguyện nghe theo Trong danh dự có uy tín, phá hoại uy tín cũng chính là phá hoại danh dự

Ngoài ra có thể hiểu danh dự bao gồm cả nhân phẩm Nhân phẩm là phẩm giá con người, là giá trị tinh thần của một cá nhân với tính cách là một con người Chà đạp lên nhân phẩm của người khác cũng là xúc phạm đến danh dự người

đó Nếu danh dự được hình thành qua nhiều năm tháng của cuộc đời và được

Ngày đăng: 05/04/2018, 19:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w