1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

tim hieu lich su viet nam lao

11 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 89,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường THCS Hiệp HưngHọ và tên: Lý Hồng Sổ Chức vụ: Nhân viên bảo vệ Cách đây 45 năm, ngày 5-9-1962 đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Ðảng, hai nư

Trang 1

Trường THCS Hiệp Hưng

Họ và tên: Lý Hồng Sổ

Chức vụ: Nhân viên bảo vệ

Cách đây 45 năm, ngày 5-9-1962 đã đánh dấu một mốc son chói lọi trong quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Ðảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam - Lào, mãi mãi khắc sâu trong tâm trí của hàng triệu người Lào, người Việt Nam, bởi cũng năm này, sau những thắng lợi giòn giã trên mặt trận quân sự và ngoại giao, Hiệp định

Giơ-ne-vơ năm 1962 về Lào đã được ký kết, hai nước đã nhất trí thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới, củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ Việt Nam - Lào Vận mệnh của hai nước, hai dân tộc chúng ta càng gắn bó khăng khít nhau, nhân dân hai nước đã trở thành những người bạn chiến đấu "chia ngọt sẻ bùi", "đồng cam cộng khổ", những người đồng chí, anh em thân thiết trên cùng trận tuyến

Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, đấu tranh giải phóng dân tộc và giành độc lập của mỗi nước, sự phối hợp, giúp đỡ vô tư, chí tình giữa hai nước, hai dân tộc chúng ta là nhân tố quan trọng làm nên thắng lợi của cách mạng mỗi nước Ðã có biết bao tấm gương chiến đấu, hy sinh của hàng triệu người con Lào và Việt Nam, nhiều người ngã xuống, vì độc lập, tự do của mỗi nước, vì tình hữu nghị, đoàn kết chiến đấu Việt Nam - Lào Sự hy sinh cao đẹp và vô cùng to lớn

đó trở thành sức mạnh vô song, nguồn động lực lớn lao, góp phần đưa cách mạng hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975

Nhìn lại chặng đường phát triển quan hệ hai nước trong 45 năm qua và 30 năm ký kết Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào, chúng ta có quyền tự hào khẳng định, tình đoàn kết đặc biệt thủy chung và sự hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào đã và đang tiếp tục được củng cố, đổi mới và phát triển sâu rộng hơn, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển của mỗi nước Trong từng bước tiến của hai nước, hai dân tộc hôm nay, đều có sự đóng góp tích cực của hai bên làm cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào ngày càng keo sơn, bền chặt và không ngừng đơm hoa kết trái Nội dung hợp tác ngày càng thực chất, sâu rộng, hiệu quả hơn và không ngừng phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực

Chúng ta vui mừng nhận thấy, quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước đã có những

4 Quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1976 đến nay Ý nghĩa và tầm quan trọng của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (được

ký kết ngày 18 / 7 / 1977 )

Trang 2

60% so với năm 2005 Tính đến tháng 6-2007, đã có 76 dự án đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam và Lào, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 555 triệu USD Chúng ta

nỗ lực phấn đấu để đến năm 2010, kim ngạch thương mại hai chiều đạt một tỷ USD Trong đầu tư trực tiếp, chúng ta đang nỗ lực, cùng nhau mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực năng lượng, khai khoáng, phát triển nông nghiệp, dịch vụ cho tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai nước

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, Việt Nam sẽ tập trung hỗ trợ xây dựng các tuyến đường nối các địa phương của Lào với các cảng biển, các trung tâm kinh tế của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để Lào mở rộng giao thương với quốc tế Quan hệ hợp tác về an ninh, quốc phòng, văn hóa, thông tin, thể thao, y tế, ngày càng được củng

cố và phát triển Ðặc biệt, trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, Việt Nam sẽ tiếp nhận nhiều hơn số học sinh, nghiên cứu sinh của Lào sang học tập và nghiên cứu tại Việt Nam

Là người đồng chí, anh em thân thiết của Ðảng NDCM Lào và nhân dân các bộ tộc Lào, Ðảng CS Việt Nam và nhân dân Việt Nam vô cùng tự hào, phấn khởi nhận thấy, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Ðảng NDCM Lào, nhân dân các bộ tộc Lào anh em đã phát huy truyền thống anh hùng, quật cường của đất nước Triệu Voi, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, giành thắng lợi to lớn về mọi mặt, ngày càng nâng cao vai trò và vị thế của Lào ở khu vực và trên thế giới Ðảng

CS Việt Nam và nhân dân Việt Nam chia vui với Ðảng NDCM Lào và nhân dân các

bộ tộc Lào anh em về những thắng lợi vẻ vang đó và chân thành chúc nhân dân các

bộ tộc Lào anh em, dưới sự lãnh đạo của Ðảng NDCM Lào, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Chummaly Saynhasone kính mến, tiếp tục giành được những thành tựu to lớn hơn nữa, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội lần thứ VIII của Ðảng NDCM Lào và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2020, xây dựng thành công đất nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và phồn vinh Dưới sự lãnh đạo của Ðảng CS Việt Nam, sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, nhân dân Việt Nam đã giành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Kinh tế - xã hội phát triển với nhịp độ cao, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, quốc phòng, an ninh được giữ vững, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới đang ngày càng được nâng cao Phát huy những thành tựu đó, nhân dân Việt Nam đang ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội Ðảng lần thứ X, hướng tới mục tiêu năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh"

Trang 3

Ðạt được những thành tựu to lớn hôm nay, Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước đây cũng như hiện nay và mãi mãi sau này, đều in đậm dấu ấn về sự sẻ chia, ủng hộ hết lòng và sự giúp đỡ quý báu của Ðảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào anh em Nhân dịp ngày lễ kỷ niệm trọng đại này, chúng tôi xin gửi đến Ðảng, Nhà nước và nhân dân các bộ tộc Lào anh em lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam về sự ủng hộ chí tình và sự giúp đỡ to lớn đó

Trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, trước những thời cơ và thách thức đối với cả hai nước, hơn bao giờ hết, chúng ta lại càng cần phải tăng cường và củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, thủy chung trong sáng đã được đúc kết trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu:

"Việt - Lào hai nước chúng ta,

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long"

Trên tinh thần đó, hai Ðảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước chúng ta quyết tâm cùng nhau mãi mãi duy trì và phát triển mối quan hệ thủy chung, trong sáng - tài sản

vô giá của hai dân tộc cho muôn đời con cháu mai sau, như lời Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản từng nói "Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào - Việt

sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông"

Giai đoạn 1975-1985: Hợp tác toàn diện Việt Nam-Lào

Sau năm 1975, quan hệ Việt Lào bước sang một trang hoàn toàn mới Từ liên minh chiến đấu sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia có độc lập chủ quyền Tuy nhiên, sau thắng lợi kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam và Lào đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài 30 năm

Thách thức:

Đặc biệt là hậu quả thống trị của chủ nghĩa thực dân mới Nền kinh tế của Việt Nam

và Lào về cơ bản còn hết sức lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào nước ngoài Điểm xuất phát của hai nước đều từ nền kinh tế nông nghiệp có trình độ canh tác, năng suất và sản lượng rất thấp Tư duy lãnh đạo kinh tế còn mang nặng tính tập trung bao cấp từ thời chiến tranh…

Trong khi đó, các thế lực thù địch trong nước và bên ngoài cấu kết, tìm cách chia rẽ gây khó khăn, trở ngại không nhỏ cho mối quan hệ giữa hai nước

Thuận lợi:

Trang 4

Đây là thời kỳ mà Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành Đảng cầm quyền ở mỗi nước Do vậy, cả hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp đã từng gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược Xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và hợp tác toàn diện

về chính trị, quốc phòng an ninh, kinh tế, văn hoá, giáo dục…

Đây chính là đặc điểm quan trọng nhất, dẫn tới sự thay đổi về chất trong nội dung, phương thức và các nguyên tắc quan hệ Việt Lào Nâng quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước lên tầm cao mới

Năm 1976, Việt Nam và Lào đã đạt được thỏa thuận quan trọng trong vòng hai tháng rút toàn bộ quân đội và chuyên gia Việt Nam về nước Bắt đầu xúc tiến việc hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước

Ngày 30/4/1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ra Nghị quyêt

về tăng cường giúp đỡ và hợp tác với Lào trong giai đoạn mới Nghị quyết xác định: việc tăng cường đoàn kết, giúp đỡ, hợp tác đối với Lào là một trong những nhiệm vụ quốc tế hàng đầu của Đảng và nhân dân Việt Nam Cũng là vì lợi ích thiết thân của cách mạng Việt Nam

Ngoại giao Việt – Lào:

Từ ngày 15-18/7/1977, Đoàn đại biểu cao cấp Đảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm hữu nghị chính thức Lào Hai bên đã trao đổi ý kiến về các vấn đề quốc tế quan trọng mà hai bên cùng quan tâm Cũng như các vấn đề nhằm phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước Trên cơ sở đáp ứng nguyện vọng thiết tha và lợi ích sống còn của hai dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng CNXH

Hai nước đã chính thức ký kết nhiều Hiệp ước Tuyên bố chung Việt Nam – Lào ký ngày 11-2-1976 Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam ký ngày 18/7/1977 Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam ký cùng ngày 18/7/1977 Tuyên bố chung tăng cường sự tin cậy và hợp tác lâu dài giữa hai nước

Việc ký kết ngày 18/7/1977 Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác và Hiệp định hoạch định biên giới quốc gia có ý nghĩa quan trọng Hiệp ước làm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tăng cường và mở rộng mối quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào trong thời kỳ mới Tạo cơ sở để ký hàng loạt các thoả thuận hợp tác sau này giữa hai nước

Hoạt động hợp tác:

Thành quả mười năm hợp tác toàn diện quan hệ Việt Lào, Lào – Việt Nam (1976 -1985) có ý nghĩa hết sức quan trọng Quan hệ Việt Lào về hợp tác kinh tế, văn hóa,

Trang 5

khoa học kỹ thuật giữa hai nước dần thay đổi Từ viện trợ không hoàn lại và cho vay

là chủ yếu sang giảm dần viện trợ và cho vay Bước đầu đẩy mạnh hợp tác sản xuất kinh doanh bình đẳng cùng có lợi

Thời gian này, Lào đề ra công thức hợp tác: Tài nguyên Lào, lao động kỹ thuật Việt Nam, vốn hợp tác hoặc vay của nước thứ ba Trong hợp tác đã chuyển dần từ hợp tác từng vụ việc theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước Lào sang hợp tác theo chương trình, kế hoạch được ký kết giữa hai Chính phủ

Kết quả quan hệ Việt Lào giai đoạn 1975 – 1985:

Từ 1976 – 1981, trao đổi hàng hoá chính ngạch được bắt đầu theo phương thức bao cấp bằng ngân sách nhà nước mỗi bên Hiệp định thương mại Việt Nam – Lào 5 năm (1981 – 1985) được ký kết, kèm theo nghị định thư thương mại hàng năm, đã tạo hành lang pháp lý cho việc trao đổi buôn bán giữa hai nước…

Về biên giới, sau 8 năm tiến hành, đến ngày 24/1/1986, việc phân vạch và cắm mốc trên thực địa toàn tuyến biên giới Việt – Lào dài hơn 2000 km đã hoàn thành

Với những thành tựu to lớn đạt được sau chặng đường 10 năm (1976 -1985) thế và lực của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày càng được củng cố vững chắc Đây cũng chính là cơ sở vững chắc để quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào không ngừng được củng cố và tăng cường trong giai đoạn đổi mới tiếp theo Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc, do chủ quan, nóng vội, duy ý chí và sự yếu kém của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp (vốn có tác dụng trong thời chiến), đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Sản xuất đình đốn, lạm phát phi mã (774,7% năm 1986) Đời sống nhân dân hết sức khó khăn, trong khi đất nước rơi vào tình thế bị bao vây, cấm vận nặng nề

Trên cơ sở phân tích một cách khoa học tình hình thế giới với thái độ nhìn thẳng vào

sự thật, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã phân tích một cách khách quan những sai lầm, khuyết điểm và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng và đi đến quyết định lịch sử là tiến hành đổi mới đất nước một cách toàn diện, trước hết là đổi mới

về kinh tế

Về đối ngoại, Đại hội VI nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là " tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và

" cần hòa bình để phát triển kinh tế" Nghị quyết của Đại hội VI và các nghị quyết của Trung ương đã chuyển hướng chính sách ngoại giao, chủ trương đẩy mạnh và

mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính

trị-xã hội khác nhau, thi hành chính sách hữu nghị, hợp tác, tồn tại hòa bình để phát triển, phù hợp với lợi ích của nhân dân ta và xu thế phát triển chung của thế giới

Trang 6

Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở theo đường lối đổi mới của Đảng, nhiệm vụ hàng đầu của ngoại giao lúc này là phải phá cho được "tảng băng" bao vây, cấm vận Muốn vậy, cần tìm một giải pháp cho “vấn đề Cam-pu-chia” mà các bên có thể chấp nhận được Sau 30 năm chiến tranh, lợi ích tối cao của ta là tạo lập một môi trường hòa bình và ổn định, trước hết là với các nước láng giềng để tập trung phát triển kinh

tế và hàn gắn các vết thương chiến tranh Do đó, việc bình thường hóa quan hệ với các nước láng giềng, trước hết là với Trung Quốc, là một yêu cầu chiến lược cấp thiết Trên tinh thần đó, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chính thức tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước

Trải qua nhiều vòng đàm phán, với sự cố gắng của hai bên, quan hệ Việt Nam -Trung Quốc đã chính thức được bình thường hóa vào năm 1991 trên cơ sở 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình Quan hệ giữa hai Đảng cũng đã được phục hồi trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

Trong quan hệ với các nước ASEAN, qua các cuộc đối thoại và tiếp xúc song phương và đa phương với ta, các nước ASEAN nhận thấy giữa ta và họ có những lợi ích chung trong việc xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, hữu nghị và hợp tác Tất cả các yếu tố trên đã thúc đẩy các nước ASEAN thấy cần đẩy mạnh hơn quá trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và tách dần khỏi chính sách của một số nước lớn tiếp tục bao vây cấm vận ta Các chuyến thăm của các nhà lãnh đạo các nước ASEAN tới Việt Nam và các chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt (năm 1991, 1992) và của Tổng Bí thư Đỗ Mười (năm 1993) tới Thái Lan, Xin-ga-po đã làm cho các bên hiểu biết lẫn nhau hơn Quan hệ Việt Nam với các nước ASEAN được xem như đã hoàn toàn trở lại bình thường đồng thời với việc ký kết Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia

Thực hiện đổi mới trong chính sách đối ngoại, ta luôn luôn coi trọng việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ Đại hội VI của Đảng đã khẳng định: "Chính phủ ta tiếp tục bàn bạc với Mỹ giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Mỹ vì lợi ích của hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á" Các nghị quyết của Bộ Chính trị cũng khẳng định: Cần có chính sách toàn diện đối với

Mỹ nhằm tranh thủ dư luận nhân dân Mỹ và thế giới tạo thuận lợi cho chiến lược của

ta tập trung vào việc giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế Chúng ta đã giải quyết vấn đề POW/MIA (tù binh và người Mỹ mất tích) và một số vấn đề nhân đạo khác theo đúng lộ trình Mỹ cũng bắt đầu nới lỏng một số hạn chế trong chính sách cấm vận đối với ta

Nhìn lại chặng đường đầu tiên của công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động bắt đầu

từ Đại hội VI có thể thấy đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn Chỉ trong vòng chưa

Trang 7

đầy 4 năm thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở theo tư duy mới, đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng và sự bao vây cấm vận của các lực lượng thù địch, giải tỏa những bế tắc trong quan hệ với các nước láng giềng (ngoài Đông Dương) và hầu hết với các nước lớn, các tổ chức khu vực và liên khu vực Quan hệ giữa nước ta với các nước ASEAN được khai thông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc Việt Nam gia nhập ASEAN và hội nhập khu vực sau đó Đặc biệt quan trọng là việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và từng bước cải thiện quan hệ với Mỹ tiến đến việc bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước

Đây là bước đột phá cực kỳ quan trọng về mặt ngoại giao, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới về mặt kinh tế nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược của nhân dân ta sau 30 năm chiến tranh là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

Tiếp tục đổi mới về tư duy đối ngoại

Trong thập niên 90 của thế kỷ XX đã diễn ra những biến động to lớn do sự tan rã của Liên Xô, sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và cuộc khủng hoảng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Những biến động này diễn ra vào lúc

ta chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và các lực lượng thù địch lợi dụng sự sụp

đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tăng cường chiến tranh tâm lý chống Việt Nam Tình hình phức tạp mới trên thế giới không những đòi hỏi ngoại giao Việt Nam phải thật tỉnh táo theo phương châm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy là "Dĩ bất biến ứng vạn biến" mà cần tiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại, nhất là trong cách tiếp cận với các đối tượng khác nhau trong quan hệ quốc tế Trên tinh thần đó, trong "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" và "Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000" tiếp tục khẳng định mục tiêu chiến lược nhất quán là "tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội"; đồng thời trong chính sách đối ngoại đã

có thêm một bước đổi mới theo hướng cởi mở hơn là "tiếp tục đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" (thay cho chính sách "thêm bạn bớt thù" trước đây) Thực hiện Nghị quyết của Đại hội VII, ngoại giao Việt Nam đã tỏ ra năng động và sáng tạo hơn, đẩy mạnh các hoạt động nhằm góp phần vào việc phá vỡ thế bao vây

cô lập, tranh thủ thiết lập quan hệ với tất cả các nước, trước hết là các nước lớn, mở rộng quan hệ đối với tất cả các khu vực trên thế giới, các tổ chức quốc tế nhằm tạo điều kiện cho bước đầu hội nhập

Trang 8

Trong chương trình nghị sự dày đặc đó, tất nhiên cần phải có sự ưu tiên, trong đó bình thường hóa quan hệ với Mỹ và đàm phán để gia nhập ASEAN là hai ưu tiên hàng đầu vì sẽ có tác dụng thúc đẩy việc mở rộng quan hệ với các nước cũng như các tổ chức quốc tế khác Mặt khác, Mỹ và ASEAN cũng có lợi ích trong việc xích lại gần Việt Nam Với Mỹ là tái lập một thế cân bằng giữa các nước lớn ở Đông Nam Á và tạo điều kiện cho các công ty Mỹ vào Việt Nam để kinh doanh sau này Với ASEAN là tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện giấc mơ của các nhà sáng lập tổ chức này là xây dựng ASEAN thành một tổ chức khu vực mạnh bao gồm tất

cả các nước Đông Nam Á Việc Việt Nam tích cực góp phần giải quyết vấn đề Cam-pu-chia và giúp Mỹ giải quyết vấn đề POW/MIA đã tạo điều kiện thuận lợi cho ta trong các cuộc đàm phán với Mỹ nhằm bình thường hóa Kết quả là ngày 3-2-1994

Mỹ tuyên bố bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam và ngày 11-7-1995 Tổng thống B.Clin-tơn tuyên bố bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận, chính thức đặt dấu mốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam

Việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ đã giúp ta khai thông quan hệ với Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc, gia nhập Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á -Thái Bình Dương (APEC) và các tổ chức quốc tế khác Quan hệ giữa ta với các nước bạn bè cũ ở Đông Âu được xác định lại trên cơ sở mới

Sau khi Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia được ký kết, "nút thắt" đầu tiên trong quan

hệ của ta với các nước đã được tháo gỡ, quá trình đàm phán giữa ta và các nước ASEAN về việc Việt Nam gia nhập ASEAN đã được đẩy nhanh Ngày 28-7-1995, chúng ta đã gia nhập ASEAN và trở thành thành viên chính thức thứ bảy của tổ chức này Sau khi gia nhập ASEAN, ta đã nhanh chóng tham gia Hiệp định Thương mại

tự do ASEAN (AFTA) thực hiện giảm thuế từ ngày 1-1-1996 đến 1-1-2006 và sau khi gia nhập ASEAN 3 năm ta đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEAN VI (tháng 12-1998) Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Hà Nội và Chương trình Hành động Hà Nội đã tạo dấu ấn đầu tiên của Việt Nam trong tổ chức khu vực này

Năm 1995 với 3 sự kiện quan trọng cùng diễn ra trong tháng 7 là ký Hiệp định khung với EU; thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và chính thức trở thành thành viên của ASEAN, đã trở thành năm đáng ghi nhớ nhất của ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới, tạo ra một hình ảnh mới về Việt Nam trên trường quốc tế Như vậy, nhờ sự điều chỉnh đúng đắn đường lối đối ngoại, trên cơ sở nhận thức sâu sắc những biến chuyển của thời cuộc, chúng ta đã đạt được thành tựu bước đầu quan trọng là phá bỏ sự bao vây cấm vận, gỡ bỏ những trở ngại trong quan hệ quốc tế và khu vực, khơi thông dòng chảy hội nhập, bước vào trường quốc tế với một tư cách,

vị thế và hình ảnh mới, tạo đà cho bước phát triển tiếp theo của ngoại giao Việt Nam trong 25 năm đổi mới

Trang 9

Thế giới thế kỷ XXI đa dạng và phức tạp, là nơi mà chúng ta phải cọ xát với đủ loại đối tượng để bảo vệ lợi ích quốc gia chân chính của mình Cọ xát không phải chỉ là đấu tranh mà còn có nghĩa là hợp tác Đấu tranh cũng nhằm mục đích cuối cùng là thúc đẩy hợp tác Trong quan hệ quốc tế ngày nay, kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp của mỗi quốc gia và vị thế của quốc gia đó trên thế giới, do

đó hợp tác là xu thế nổi trội Tiếp tục chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa và

đa phương hóa, Đảng ta chủ trương "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa " và "Việt Nam là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới" Hội nhập kinh

tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh; nhiều cơ hội song cũng đầy thách thức, vì vậy ta cần có kế hoạch và lộ trình thích hợp, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của các tổ chức quốc tế mà ta tham gia Sau hơn 11 năm chuẩn bị và đàm phán, tháng 11-2006 Việt Nam được kết nạp làm thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Việc gia nhập tổ chức quốc tế này là một cột mốc hết sức quan trọng, mở ra nhiều điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc phát triển kinh tế Đó là ta được hưởng sự đối xử bình đẳng trong quan hệ thương mại với 150 thành viên WTO, những hàng rào thuế quan phi WTO mà ta phải chịu trước đây đều được bãi bỏ tạo điều kiện cho ta tăng khả năng xuất khẩu Cơ hội để Việt Nam thu hút đầu tư của các nước cũng tăng lên Hiện nay

ta có quan hệ đầu tư với khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ

Đảng và Nhà nước ta với nội dung kinh tế phong phú đã tạo những bước đột phá lớn trong việc thiết lập khuôn khổ hợp tác kinh tế, đưa quan hệ giữa nước ta với các đối tác lên tầm cao mới; đồng thời làm cho thế giới có những đánh giá tích cực về triển vọng phát triển của kinh tế Việt Nam

Một nét mới khác của ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới là ngoại giao văn hóa được đẩy mạnh và nâng lên thành một trụ cột chính cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, tạo thành sức mạnh tổng hợp cho ngoại giao Việt Nam hiện đại Năm 2009 được lấy làm năm Ngoại giao văn hóa Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các bộ, ban, ngành và nhiều địa phương triển khai nhiều hoạt động văn hóa đối ngoại

đa dạng, phong phú, mang lại nhiều kết quả đáng khích lệ Nhiều hoạt động văn hóa đối ngoại được tổ chức trong và ngoài nước, góp phần quảng bá rộng rãi hình ảnh một nước Việt Nam hòa bình, phát triển và thân thiện với cộng đồng quốc tế

UNESCO đã ra Nghị quyết kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, trao giải thưởng cho Hà Nội là "Thành phố vì hòa bình" Nhiều di sản của đất nước, như quan

họ Bắc Ninh, Ca trù, Kho mộc bản triều Nguyễn và nhiều thắng cảnh, như Cù Lao Chàm, Mũi Cà Mau v.v đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Tháng 10-2009, Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Chấp hành UNESCO nhiệm

kỳ 2009 - 2013

Trang 10

Qua 25 năm thực hiện đổi mới trên mặt trận đối ngoại, ngoại giao phối hợp với các

cơ quan liên quan khác đã đạt được những thành tựu to lớn, ghi đậm dấu ấn của trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh trên thế giới

Một là, hình ảnh và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế đã được cải thiện Việt

Nam không những là đất nước hòa bình hữu nghị mà còn là một nước đã ra khỏi đói nghèo và đang trên con đường phát triển đầy ấn tượng, đồng thời là một thành viên

có trách nhiệm và được sự tín nhiệm của cộng đồng quốc tế Chúng ta đã hoàn thành xuất sắc trọng trách ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và đang hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2010

Hai là, đã làm công tác ngoại giao kinh tế, là thành viên của ủy ban quốc gia về hợp

tác kinh tế quốc tế, ngoại giao đã chủ động và tích cực tham gia công tác tham mưu

về chính sách kinh tế đối ngoại, nhất là kinh nghiệm của các nước về chính sách thị trường, chính sách đối tác và kinh nghiệm về hội nhập quốc tế, và luật chơi quốc tế

Đã tranh thủ được một số nước và các tổ chức quốc tế giúp ta công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại v.v

Ba là, ngoại giao đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ an ninh biên giới lãnh thổ.

Các hiệp định biên giới trên đất liền với Trung Quốc cũng như với Lào và Cam-pu-chia đã tạo cơ sở cho việc xây dựng một khu vực biên giới hòa bình và phát triển với các nước láng giềng

Bốn là, thế giới đã đánh giá cao những cố gắng của Việt Nam trong việc thúc đẩy và

bảo về quyền con người ở Việt Nam Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc đã chính thức thông qua Báo cáo quốc gia về tình hình thực hiện quyền con người ở Việt Nam và hoan nghênh các cố gắng của Việt Nam trong việc trao đổi, đối thoại cởi mở với nhiều nước về vấn đề này Với chính sách "người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam" và với tinh thần hòa hợp dân tộc, Nhà nước ta đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng hướng về Tổ quốc Hiện nay có khoảng 3,5 triệu người Việt Nam định cư

ở nước ngoài Lượng kiều hối gửi về nước hằng năm lên đến 5 - 7 tỉ USD

Về biên giới trên biển, ta đã hoàn thành và chuyển cho Liên hợp quốc Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa vượt qua 200 hải lý Ngoài ra, ta tiếp tục thảo luận với các nước ASEAN cũng như với các quốc gia đối tác để sớm thông qua Bộ Quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông có tính chất ràng buộc thay cho Tuyên bố về cách ứng xử (DOC) hiện nay Những cố gắng trên đã và sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo về chủ quyền và lợi ích quốc gia, cũng như củng cố môi trường hòa bình trong khu vực

Trong chặng đường 65 năm qua, nhất là trong gần 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cùng với sự phát triển của đất nước, những thành tựu đó của ngoại giao Việt

Ngày đăng: 25/03/2018, 20:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w