1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tìm hiểu lịch sử việt nam dành cho hướng dẫn viên du lịch

74 862 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 511,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông tự xưng làTriệu Việt Vương, đến năm 571 một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đãcướp ngôi Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 30năm đến khi nhà Tù

Trang 1

TÌM HIỂU LỊCH SỬ VIỆT NAM

DÀNH CHO HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH

Trang 2

Tìm hiểu lịch sử Việt Nam dành cho hướng dẫn viên du lịch

Thưa quý vị , Lịch sử Việt Nam nếu tính từ lúc có mặt con người sinh sống thì đã cóhàng vạn năm trước công nguyên, còn tính từ khi nhà nước được hình thành thì mớikhoảng từ hơn bốn ngàn năm lịch sử dân tộc việt nam chúng ta đã trãi qua những thời

kỳ từ dựng nước đến giử nước thời kỳ hào hùng của các anh hung dân tộc, công laocủa các vị vua hùng, từ thời đại hồng bang, văn lang, từ triệu, đinh ,lý ,trần bao đờigây nền độc lập cùng hán đường , tống , nguyên mổi bên hùng cứ một phương, tuymạnh yếu từng lúc khác nhau, nhưng hào kiệt đời nào củng có hôm nay trên conđường thiên lý nam bắc ,hướng dẩn viên xin được khái quát lịch sử các triều đại lịch

sử phong kiến việt nam nước ta Để chúng ta xứng đáng với câu nói “ dân ta phải biết

sử ta, cho tròn gốc tích nước nhà việt nam” để đưa quý vị di ngược trở về dòng chảycủa lịch sử văn hóa Việt Nam Hôm nay hướng dẩn viên xin được mạn phép đưaquý vị trở về những ngày tháng hào hùng ấy để chúng ta có một cái nhìn tổng quát vềlịch sử hào hùng của một dân tộc, anh hùng buất khuất chống lại sự xâm lăng trước kẻthù kính thưa quý vị mở đầu bài nói hôm nay xin được trở về với một truyền thuyết

mà ông cha ta, đã xem truyền thuyết đó như một lời giãi thích về nguồn cội, thiêngliêng và cao quý của dân tộc Việt Nam Đó là nguồn cội gắn với truyền thuyết LạcLong Quân và Âu Cơ Cha Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ một người là rồng, một người

là tiên đã kết hợp với nhau đẻ xinh ra một cái bọc một trăm trứng, và từ 100 trứng đó

nở ra 100 người con Rồi sau đó 50 người con theo mẹ lên non, 50 người con theo chaxuống đồng bằng người con trai đầu được tôn lên làm vua cai trị vùng đất mà đượcgọi là nhà nước đầu tiên, đầu tiên của dân tộc Việt Nam chúng ta đó là nhà nước VănLang và theo nhiều tài liệu lịch sử thì nhà nước Văn Lang được thành lập vào năm

2879 tcn đây là một mốc lịch sử mà còn rất nhiều người tranh cải giống như làtruyền thuyết Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ vậy và chúng ta tạm chấp nhận mốc lịch

sử này đẻ chúng ta có một truyền thuyết đẻ giải thích về nguồn cội hào hùng của dântộc Việt Nam , là con rồng cháu tiên Nhà nước Văn Lang, tồn tại và trải qua 18 đờivua hùng, đến khoảng năm 257 tcn thì Thục Phán, thủ lĩnh của bộ tộc Âu Việt, làmột trong những bộ tộc của Bách Việt ở phía bắc Văn Lang đã cùng vua Hùng Vươngthứ 18 đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tần Sau khi thắng quân Tần, Vua Hùng đãnhường ngôi cho Thục Phán, sát nhập lãnh thổ của người Âu Việt và Lạc Việt lập nênnước Âu Lạc, đóng đô tại Cổ Loa, thuộc huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay Ông tựxưng là An Dương Vương nhà nước Âu Lạc được tồn tại từ năm 257 tcn đến khoảngnăm 111 tcn Cuối thời Tần, Triệu Đà (người nước Triệu - thời Chiến Quốc) là quan

úy quận Nam Hải (Quảng Đông ngày nay) nhân khi nhà Tần rối loạn sau cái chếtcủaTần Thủy Hoàng (210 TCN) đã cát cứ quận Nam Hải ,sau đó ông đem quân thôntính sát nhập các vương quốc Mân Việt, và lúc này là Triệu Đà đã dùng quan hệ hônnhân với truyền thuyết là Trọng Thủy Mỵ Châu cướp ngôi nhà Âu Lạc và lập nênnhà nước Nam Việt với kinh đô Phiên Ngung tại Quảng Châu vào năm 207 TCN, vànhà nước này đánh dấu thời kỳ đên tối 1000 năm bắc thuộc nước Việt Nam Nhưngvới một dân tộc hào hùng buất khuất thì không bao giờ chấp nhận làm nô lệ dù sứcyếu, dù thô sơ,nhưng khí thế ngút trời minh chứng qua những cuộc khởi nghĩa vangdanh muôn cỏi, được đánh dấu bằng cuộc khởi nghĩa bà Trưng, hai chi em Bà Trưng( Trưng Trắc , Trưng Nhị ) năm 40 và đã lập được nhà nước trong ba năm ( 40-43) dù

Trang 3

của dân tộc Việt Nam Sau hai bà trưng đến các cuộc khởi nghĩa khác ví dụ: bà triệu

248 , mai thúc loan Năm 541, Lý Bí nổi dậy khởi nghĩa, đã đánh đuổi được thứ sửTiêu Tư nhà Lương, sau 3 lần đánh bại quân Lương những năm kế tiếp, Và đỉnhđiểm là sự thành lập nhà nước vào năm 544 của Lý Bôn (Lý Bí) tự xưng đế tức là LýNam Đế, lập ra nước Vạn Xuân Dù Đến năm Năm 545, nhà Lương cử Trần BáTiên và Dương Phiêu sang đánh nước Vạn Xuân, Lý Nam Đế bị thua trận, giao lạibinh quyền cho Triệu Quang Phục Sau khi Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục đánhđuổi được quân Lương vào năm 550, bảo vệ được nước Vạn Xuân Ông tự xưng làTriệu Việt Vương, đến năm 571 một người cháu của Lý Nam Đế là Lý Phật Tử đãcướp ngôi Triệu Việt Vương, tiếp tục giữ được sự độc lập cho người Việt thêm 30năm đến khi nhà Tùy sang đánh năm 602, dân tộc tiếp tục bị giặc phương bắc đô hộ.Các triều đại này cố gắng đồng hóa dân tộc Việt Nam theo tộc Hán, mặc dù ngườiViệt chịu nhiều ảnh hưởng về tổ chức thể chế chính trị, xã hội, văn hóa của TrungQuốc, nhưng người Việt Nam vẫn giữ được nhiều bản chất nền tảng văn hóa dân tộcvốn có của mình sau một nghìn năm đô hộ nhưng đến năm 938 mốc son chói lọi củalịch sử lại một lần nữa dược đưa lên tầm cao mới, bằng một trận đánh lịch sử BạchĐằng do một vị tướng tài người Việt , Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán để lập ra triều đại nhà ngô Nhà Ngô tồn tại vỏn vẹn trong 29 năm, truyền được ba đời vua, từNgô Quyền, Ngô Sương Xí, Ngô Sương Nhậm Năm 944, Ngô Quyền mất, em vợ

là Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô, xưng Dương Bình Vương Các nơi khôngchịu thuần phục, nhiều thủ lĩnh nổi lên cát cứ các vùng thường đem quân đánh lẫnnhau Quý tộc nhà Ngô, các tướng nhà Ngô cùng các thủ lĩnh địa phương đều nổi dậychiếm cứ một vùng Bắt đầu từ đó hình thành thế mà sử sách gọi là loạn 12 sứ quân

Từ 966 hình thành đầy đủ 12 sứ quân chiếm giữ các địa phương:

1. Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Triệu Sơn - Thanh Hóa)

2. Ngô Nhật Khánh tự xưng là Ngô Lãm Công, giữ Đường Lâm (Sơn Tây, HàNội)

3. Đỗ Cảnh Thạc tự xưng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, HàNội)

4. Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu (Hưng Yên)

5. Kiều Công Hãn tự xưng Kiều Tam Chế, giữ Phong Châu - Bạch Hạc (Việt Lâm Thao, Phú Thọ)

Trì-6. Nguyễn Khoan tự xưng Nguyễn Thái Bình, giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, VĩnhPhúc)

7. Nguyễn Siêu tự xưng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, HàNội)

8. Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công, giữ Tiên Du (Bắc Ninh)

9. Kiều Thuận tự xưng là Kiều Lệnh Công, giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê (Phú Thọ)

10.Lý Khuê tự xưng là Lý Lãng, giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh)

11.Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải Khẩu - Kỳ Bố (Thái Bình)

12.Lã Đường tự xưng là Lã Tá Công, giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên)

Loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm (944-968)

Trang 4

Và người ta nói rằng, thời thế tạo anh hùng, lúc này có một vị anh hùng đứng lên, vịanh hùng đó mang tên Đinh Bộ Lĩnh ngưới đã khuất phục được quần hùng dẹp đượcloạn 12 sứ quân thống nhất đất nước năm 968 và đặt tên nước là Đại Cồ Việt để sánhngang hàng với đất nước đại Tống ở phương bắc Quốc hiệu Đại Cồ Việt tồn tại 86năm kể từ khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất giang sơn, lên ngôi hoàng đế năm 968 cho đếnđời vua Lý Thái Tông năm 1054 Đại Cồ Việt là nhà nước phong kiến tập quyền đầutiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam sau một thời gian dài bị Bắc thuộc Đại Cồ Việt làquốc hiệu được dùng trong 8 đời vua của 3 triều Đinh, Tiền Lê, Lý, với quãng thờigian dài 86 năm (từ 968 - 1054) Đến năm Giáp Ngọ, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảothứ 6 (1054), vua Lý Thánh Tông mới đặt lại quốc hiệu là Đại Việt kinh đô của Đại

Cồ Việt lúc này đặt ở cố đô Hoa Lư , Ninh Bình ngày nay Đến năm 980 lúc này Đinh

Bộ Lĩnh đã băng hà và con của người là Đinh Toàn hay còn gọi là Đinh Phế Đế mớivừa tròn 6 tuổi thôi,nên chưa có tiếp quản được triều chính Và cùng lúc đó Giặcphương bắc cụ thể là giặc tống xâm lược nước ta Và thái hậu Dương Vân Nga đã làmmột việc, mà hậu thế có người phê phán, mà củng có người tán thành rất ất nhiệt liệt

về một hành động rất dủng cảm đem giang sơn nhà chồng vì quốc gia dân tộc đã

hy sinh nhưng toan tính riêng tư cho gia tộc của mình đem hoàng bào khoát lên vaitướng quân thập đạo Lê Hoàn để khai sinh ra nhà Tiền Lê năm 980 Thống nhất 3quân, chống quân lại quân tàu Chiến tranh Tống-Việt năm 981 là một cuộc chiếntranh giữa Đại Tống thời Tống Thái Tông và Đại Cồ Việt thời Lê Đại Hành diễn ra từtháng 1 đến tháng 4 năm 981 trên lãnh thổ Đại Cồ Việt Kết quả, quân và dân Đại CồViệt đã đánh bại quân đội Đại Tống Sau cuộc chiến này, năm 986, hoàng đế Đại Tốngchấp nhận nhà Tiền Lê và ban chế phong cho Lê Đại Hành Vì việc không sớm lậpngười kế vị để sau này dẫn đến việc tranh giành quyền bính giữa các con Đây chính

là nguyên nhân trực tiếp làm cho nhà Tiền Lê nhanh chóng sụp đổ.Ông ở ngôi vua 24năm, thọ 65 tuổi (941 - 1005), băng hà ở điện Trường Xuân nhà Tiền Lê kéo dài đếnnăm 1009 với bạo chúa Lê Long Đỉnh kéo dài 5 năm( 1004-1009) người ăn chơi vô

độ làm cho đất nước ta suy kiệt và lúc này triều thần đã tôn một người anh hùng củadân tộc một người con ưu tú Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế để viết nên một triềuđại được xem là có công phát triển rực rở đất nước ta triều đại nhà Lý Và được phânbiệt với triều đại của nhà Lý Bôn( Lý Bí) trước nên người ta mới gọi triều đại này làhậu Lý năm 1009 Và triều đại nhà Lý đã phát triển rực rở đất nước ta qua một việc ,

mà ngày nay chúng ta có một sự kiện trọng thể đó là 1000 năm Thăng Long Hà Nội

đó là việc dời đô từ cố đô Hoa Lư về thành Đại La lúc bấy giờ và có tên là ThăngLong Thăng Long nghĩa là đất rồng bay lên, đất địa linh nhân kiệt và đó là một quyếtđịnh hoàn toàn chính sác Đây là một thời kỳ thịnh trị của đất nước ta, vì đã lập ranhiều triều chính, kỷ cương, văn hóa , như một nhà nước thật sự trong thời gian nàychiến tranh củng thường xảy ra, nhà lý phải đánh tống, đặc biệt nổi danh là lý thườngkiệt, cầm quân phá tống bình chiêm, khiến nhước nhà bền vững một thời gian.lýthường kiệt có một bài thơ rất nổi tiếng :

Trang 5

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Tạm dịchSông núi nước Nam Đế Nam ởRành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạmChúng bay sẽ bị đánh tơi bờiBài thơ này có tác dụng khích lệ tinh thần chiến đấu của quân Đại Việt, tạo ra lòng tinrằng họ đang được thần linh giúp đỡ, đồng thời làm hoang mang quân nhà Tống Khiquân nhà Tống đã lâm vào thế yếu Lý Thường Kiệt đã chủ động giảng hòa để quan hệTống-Việt sau đó có thể trở lại bình thường

Nhà Lý trị vị từ năm 1009 đến năm 1225, lần đầu tiên nhà Lý đã giữ vững được chínhquyền một cách lâu dài đến hơn hai trăm năm, khác với các vương triều cũ trước đóchỉ tồn tại hơn vài chục năm, ngoài ra nhà Lý còn bảo toàn và mở rộng lãnh thổ củamình Trong nước, mặc dù các vua đều sùng bái đạo Phật, nhưng ảnh hưởng của Nhogiáo đã bắt đầu lớn dần, với việc mở các trường đại học đầu tiên là Văn miếu (1070)

và Quốc tử giám (1076), và các khoa thi để chọn người hiền tài không có nguồn gốcxuất thân là quý tộc ra giúp nước nhà lý trải qua 9 vị vua : Lý Công Uẩn (Lý thái tổ),

lý phật mã (lý thái tông),lý nhật tôn( lý thánh tông), lý càn đức(lý nhân tông) , lýdương hoán( lý thần tông), lý thiên tộ( lý anh tông), lý long trát( lý cao tông), lýhạo( lý huệ tông), lý phật kim (lý chiêu hoàng) và vua nhà Lý , đó là Lý Huệ Tông đãlàm một việc, mà sau này người ta coi là rất điên rồ nhưng có lẻ chúng ta phải thôngcảm cho vị vua cuối cùng của triều Lý này, bởi vì ông không có con trai chỉ có haingười con gái, cuối cùng ông đã quyết định truyền ngôi lại cho người con gái thứ hai

là Lý Chiêu Hoàng năm 1225 Chuyện gì đến củng sẻ đến, thay triều đổi vị là mộtđiều tất nhiên Trần Thủ Độ vị quan triêu đại nhà Lý, đã sắp sếp để cháu mình là TrầnCảnh lấy Lý Chiêu Hoàng Để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh năm

1226 Viết tiếp lịch sử của triều đại nhà Lý hào hùng thì nhà Trần không hề thua kém,

và thậm chí còn hơn cả sự tuyệt vời khi ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông đế chế

đã gần như khuất phục gần toàn bộ châu Âu và một phần châu Á nhưng khi đến vớiđất nước Đại Việt thì họ đã phải 3 lần khuất phục vào năm 1258- 1287-1288 ba cuộcchiến tranh khốc liệt nhất trong lịch sử nước ta Và triều đại nhà Trần đã xinh ra mộtngười được coi là phật sống là phật hoàng Trần Nhân Tông, khia sinh ra thiền pháiTrúc Lâm Yên Tử về kinh tế, văn hóa, chính trị dưới thời nhà trần phát triển rực rở.ngoài ra còn có danhtuowngs nổi tiếng với ba lần lảnh đạo nghĩa quân đánh giặcnguyên đó là hưng đạo vương trần quốc tuấn nhưng vì rút kinh nghiệm từ nà lý mấtngôi từ hôn nhân, nên triều đại nhà trần đã đi vào một vết xe đổ, đó là không cho concháu kêt hôn với người ngoại tộc dẩn đến năm 1400 Hồ Quý Ly lúc bấy giờ là một vịquan của triều đại nhà Trần đã lọi dụng các quan hệ trong hôn nhân chằng chịt, phứctạp đẻ cướp ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ năm 1400, ông đổi tên đất nước ta là ĐạiNgu Và triều đại nhà Hồ được tồn tại vỏn ven trong 7 năm, và triều đại này khôngphải không có công đau quý vị kính thưa quý vị triều đại nhà Hồ củng có công rất lớn, những cải cách trong triều đại nhà Hồ rất thiết thực và đây là triều đại đầu tiên củađất nước ta có tiền giấy, khi sua chúng ta chỉ có tiền đồng không có tiền giấy, và đếntriều đại nhà hồ chúng ta mới có tiền giấy là một dân tộc luôn luôn bị đàn áp bởi giặcphương bắc, một lần nữa đã phải hung chiệu một tai kiếp, 1407 nhà minh xâm lược

Trang 6

đất nước ta, đô hộ đất nước ta trong vòng hai mươi năm từ (1407-1427) Như đã nói,mảnh đất này không thiếu những nhân kiệt, và trong thời loạn lạc đã có những anhhùng đúng vào thời điểm này đất nước ta đã sinh ra một người con, một người anhhùng vang danh lổi lạc, lê lợi người đã 10 năm chống giặc Minh đến năm 1427 với

sự góp sức của danh nhân văn hóa thế giới la nguyễn trãi , quét sạch bọn giặc minh rakhỏi đất nước ta thành lập nên nhà hậu lê Nhà Hậu Lê bắt đầu từ năm 1428 , kéo dàiđến tận năm 1788 là một trong những triều đại cai trị đất nước ta lâu nhất trong cáctriều đại phong kiến lịch sử dân tộc việt nam Mặc dù trong tiều đại nhà Lê có nhữngcuộc chính biến, có những cược phân chia quyền lực , vidu: nam Bắc Triều, TrịnhNguyễn phân tranh kéo dài gần 200 năm ( 1627-1771) Bắt nguồn từ thời kỳ Nam-Bắctriều Sau khi vua Lê Túc Tông mất năm 1504, các vua kế vị đều là những hôn quânhoặc yếu ớt Đến năm 1527, quyền thần Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê CungHoàng rồi sáng lập nhà Mạc Chiến tranh Lê-Mạc (1533-1677) là cuộc nội chiếngiữa nhà Mạc và nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam đây là thời kỳ Phù Lê DiệtMạc.Nhà Lê trung hưng được tái lập vài năm sau đó với sự giúp đỡ của Nguyễn Kim,một tướng cũ và giành được sự kiểm soát khu vực từ Thanh Hóa vào Bình Định Saukhi Nguyễn Kim chết, người con rể là Trịnh Kiểm đã dành quyền bính, 60 năm kế tiếpTrịnh Kiểm và các con cháu của ông đã giành được chiến thắng trước nhà Mạc vàonăm 1592 và mở đầu cho thời kỳ đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam, thời

kỳ vua Lê chúa Trịnh

Sự mâu thuẫn giữa hai người cận thần của nhà Lê trung hưng là Trịnh Kiểm

và Nguyễn Hoàng đã bắt đầu cho sự phân chia đất nước ra thành hai lãnh thổ, haichính quyền riêng biệt là Đàng Ngoài và Đàng Trong với sông Gianh (Quảng Bình)làm biên giới Các con cháu của Trịnh Kiểm lần lượt kế tiếp nhau nắm quyền ở ĐàngNgoài được gọi là các chúa Trịnh, các con cháu của Nguyễn Hoàng kế tiếp nhau cầmquyền ở Đàng Trong được gọi là các chúa Nguyễn, các vua Lê chỉ có danh vị hoàng

đế của Đại Việt trên danh nghĩa

đến năm 1788 vua Lê Chiêu Thống đã làm một việc mà hậu nhân than oán đó là “cỏngrắn cắn gà nhà” Cầu viện quân Thanh vào giày xéo đất nước Cuối năm 1788, vuaThanh đương thời là Càn Long sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy hơn

29 vạn quân, huy động từ Lưỡng Quảng, Vân Nam và Quý Châu hộ tống Lê ChiêuThống về Việt Nam với danh nghĩa phù Lê, vào chiếm đóng Thăng Long và như đảnói, đất nước này không thiếu những anh hùng, và thậm chí phải khẳng định đất nướcnày là đất nước đã sinh ra những anh hùng, đất nước này đã sinh ra một người conphải được gọi là “bách chiến bách thắng” trong cuộc đời cầm quân chưa bao giờ biếtthua một trận mạc nào đó là hoàng đế Quan Trung (nguyển huệ) Nghe tin báo, ngày

25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Bắc Bình vương NguyễnHuệ xuất quân tiến ra Bắc Hà Với lý do vua Lê đã bỏ nước và rước giặc về, để códanh nghĩa chính thống, Nguyễn Huệ đả tế trời tại núi bân , núi bân ngày nay thuộcđịa phận Thừa Thuyên Huế Lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quan Trung , lập ranhà Tây Sơn ổn định bắc hà, và đóng đô tại Phú Xuân Ngày 20 tháng Chạp năm MậuThân (15 tháng 1 năm 1789), đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, NinhBình Sau khi xem xét tình hình, Quang Trung nói với toàn quân rằng chỉ trong 10ngày sẽ quét sạch quân Thanh

Trang 7

Sớm hơn cả dự kiến, chỉ trong vòng 6 ngày kể từ đêm 30 Tết âm lịch, quân Tây Sơn

đã đánh tan 29 vạn quân Thanh bằng hàng loạt trận đánh tập kích, mai phục, thần tốc

và chớp nhoáng mà trận Ngọc Hồi - Đống Đa là tiêu biểu Trưa mồng 5 Tết Kỷ Dậu

- 1789, quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long

Nguyễn Huệ (1753–1792), còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế, vua QuangTrung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn sau Thái ĐứcHoàng đế Nguyễn Nhạc Ông là một trong những chỉ huy quân sự tài giỏi nhấttrong lịch sử Việt Nam với những trận đánh trong nội chiến và chống ngoại xâm chưathất bại lần nào Thành tựu của ông để lại có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử Việt Nam

Ba anh em Tây Sơn, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ, được gọi là "Tây Sơntam kiệt".với tên gọi Anh em Tây Sơn Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế,đóng đô ở Quy Nhơn

Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định

Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất từ đèo Hải Vân trở raBắc

, là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổi tiếng lật đổ nhà Hậu Lê cùng vớihai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía Bắc và Nguyễn ở phía Nam Thêm vào đó,Nguyễn Huệ còn là người đánh bại cuộc xâm lược nước Đại Việt ở phía Nam củanước Xiêm La, và ở phía Bắc của nước Đại Thanh Do có nhiều công lao với đấtnước, Quang Trung Hoàng đế được xem là anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.Sau một thời gian dài chinh chiến và cai trị, Nhưng thật bất hạnh cho dân tộc ViệtNam khi hoàng đế Quan Trung Nguyễn Huệ lâm bệnh và qua đời đột ngột ở tuổi 40(1792) Cái chết của ông dẫn đến sự suy yếu nhanh chóng và sụp đổ của nhà Tây Sơn.Những người kế thừa của Nguyễn Huệ không thể tiếp tục những kế hoạch ông đã đề

ra để cai trị Việt Nam và chống lại sự trỗi dậy mạnh mẽ của Nguyễn Ánh, người thừa

kế còn sót lại của các chúa Nguyễn Nguyễn Ánh là dòng dỏi của 9 chúa triều Nguyễn

đã tiêu diệt triều đại Tây Sơn lập ra triều đại nhà nguyển 1802 và đặt lại quốc hiệuViệt Nam năm 1804 13 triêu vua gồm: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức,Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Hàm Nghi, Duy Tân , Khải Định, BảoĐại đến ngày 30-8-1945 tại Ngọ Môn, Huế, hoàng đế Bảo Đại, đã trao lai ấn kiếmcho Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, kết thúc triều đại phong kiến Việt Nam Đó là mộtbài nói của hướng dẩn sẻ đưa quý vị đi với dòng chảy của lịch sử Việt Nam nước ta,

đẻ quý vị có một tự hào tự hào về dân tộc hiên ngang, buất khuất, bao lần bị áp bức

đô hộ nhưng không bao giờ chiệu khuất phục

Trang 8

CHUYÊN ĐỀ PHẬT GIÁO

KHÁI LƯỢC HỆ THỐNG PHẬT GIÁO TẠI VIỆT NAM

Hệ thống Phật Giáo ở Việt Nam gồm 3 phần: Phần thứ nhất là Giáo Hội Phật GiáoViệt Nam, phần thứ hai là các tôn giáo dựa chủ yếu vào giáo lý Phật Giáo và phần thứ

ba là các tôn giáo chịu ảnh hưởng bới giáo lý của Phật Giáo

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM:

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập năm 1981 dựa trên sự thống nhất giữagiáo hội Phật Giáo Việt Nam hoạt động ở miền Bắc trước năm 1975 và Giáo Hội PhậtGiáo Việt Nam Thông Nhất hoạt động ở miền Nam trước năm 1975 Đây là Giáo HộiDuy Nhất được nhà nước công nhận và có thành viên trong UBMTTQVN đại diệncho Phật Giáo Việt Nam trong Mặt Trận Tổ Quốc Hiện Tại Giáo Hội quản lý 4 hệphái chính là Bắc Tông, Nam Tông, Khất Sĩ và Hoa Tông

Tu sĩ ngày thường mặc áo nâu hoặc lam, đôi khi mặc áo màu vàng nhạt, khi hành lễtrên Phật điện sẽ mặc áo màu vàng Áo có tay và cổ chéo như kiểu áo Trung Hoa

Tu sĩ có nam và nữ, nam gọi là tăng, nữ gọi là ni

Hệ phái này có 3 dòng là Tịnh Độ Tông, Thiền Tông và Mật Tông

Thiền Tông hiện có nhiều trí thức tu học, có cả tu sĩ trí thức lẫn phật tử trí thức,chuyên thiền định, Phật giáo gọi là Thiền Na Tịnh Độ Tông được nhiều quần chúng

tu học hơn, còn Mật Tông có thêm yếu tố bùa chú, họ gọi là năng lượng hay năng lựcsiêu nhiên

Phật Giáo Nam Tông

Phật Giáo Nam Tông còn được gọi là Phật Giáo Nguyên Thuỷ, Phật Giáo Theraveda,Phật Giáo Nam Truyền, Phật Giáo Tiểu Thừa

Hệ phái này được ăn động vật nhưng gọi là Tam Tịnh Nhục tức là không ăn thịtnhững con vật mà mình nghe tiếng kêu khóc khi chết, nhìn thấy cảnh giết chết convật, hay tơ tưởng về thịt động vật, ngoài ra cũng không ăn thịt những động vật ăn xácchết như kên kên, quạ, linh cẩu Mỗi ngày ăn một bữa chính duy nhất trước 12 giờtrưa

Hệ phái này chỉ có Nam tu sĩ xuất gia mà không có nữ tu sĩ

Chỉ thờ duy nhất đức Phật Thích Ca

Trang 9

Trang phục màu vàng đậm, không mặc áo mà dùng y quấn, để trần một vai, khi đihành lễ trên Phật điện thì dùng tà áo phía sau che phần vai để trần lại.

Hệ phái này có 2 nhánh là Phật Giáo Nam Tông của người Việt và Phật Giáo NamTông của người Khmer (thường được gọi là Phật Giáo Khmer), khi cạo đầu thì cạoluôn cả chân mày

Phật Giáo Nam Tông Khmer có 2 nhóm nhỏ là Mahanikay và Thommayut

Mahanikay có nghĩa là phái lớn do các tầng lớp bình dân theo nhiều hơn, tu sĩ đượcgiữ tiền, khi đi hành khất thì lót vải dưới bình bát, đọc kinh ít ê a hơn Thomaut

Thommayut (có nghĩa là làm đúng theo Phật pháp) do các tầng lớp quý tộc Khmerthành lập, tu sĩ Thommayut không được giữ tiền, đi khất thực không lót vải dưới bìnhbát và đọc kinh ê a hơn Mahanykay Toàn Miền Nam có 18 chùa Thommayut ở AnGiang, còn lại là chùa Mahanikay

Phật Giáo Khất Sĩ

Phật Giáo Khất Sĩ do Tổ Sư Minh Đăng Quang quê ở Vĩnh Long sáng lập vào năm

1944 sau khi ông đi tu học ở Campuchia về

Hệ phái này mang tôn chỉ “nối truyền thích ca chánh pháp” Cơ sở tôn giáo không gọi

là chùa mà gọi là tịnh xá

Kiến trúc tịnh xá có một đặc trưng là bửu điện mang biểu tượng hoa sen tám cánh vàhình tượng ngọn đèn chân lý

Hệ phái này có cả nam và nữ tu sĩ, họ ăn chay như Phật Giáo Bắc Truyền nhưng chỉ

ăn một bữa trước 12 giờ như Phật Giáo Nam Truyền và ăn mặc cũng tương đối giốngPhật Giáo Nam Truyền

Chánh điện cũng chỉ thờ Phật Thích Ca

Phật Giáo Hoa Tông

Phật Giáo Hoa Tông do người Hoa lập ra ở Việt Nam, gọi là Phật Giáo Hoa Tông đểphân biệt với các hệ phái Phật Giáo khác ở Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975

Hệ phái này được thành lập từ những năm 1945 do các danh tăng như Diên Sanh, ĐứcBổn, Bổn Quả, Thống Lương, Thanh Thuyền sáng lập ra

Hệ phái này thờ các tượng Phật, Bồ Tát, Chư Thiên được bọc trong kính trong để giữcho tượng được sạch Tu sĩ mặc áo đen và mặc quần bó kín cổ chân lại Có tục đốtliều trên đỉnh đầu khi xuất gia, lễ quy y và lễ thọ giới không được tổ chức cùng lúcnhư người Việt mà sáng quy y, chiều thọ giới Đã xuất gia thì không được hoàn tục vàphải thọ rất nhiều giới

Ngoài các tượng Phật thì còn thờ một số tượng như Ngọc Hoàng Thượng Đế, Hộ PhápThiên Tôn được gọi là Hộ Pháp Già Lam tức là Quan Thánh Đế Quân (Quan Công –Quan Vân Trường, một nhân vật trong văn hoá Trung Hoa)

Trang 10

CÁC TÔN GIÁO DỰA VÀO GIÁO LÝ CỦA PHẬT GIÁO LÀ CHỦ YẾU:

Bửu Sơn Kỳ Hương

Là tôn giáo ra đời nằm 1849 ở An Giang do ông Đoàn Văn Huyên, có sách gọi làĐoàn Minh Thuyên, Đoàn Minh Huyên sáng lập tại chùa Tây An (núi Sam, ChâuĐốc, An Giang), sau này ông được gọi là Phật Thầy Tây An

Dựa theo giáo ly Đạo Phật nhưng không dùng kinh Phật, chủ trương học phật tunhân, theo Tứ Đại Trọng Ân là ân đất nước, ân tổ tiên cha mẹ, ân tam bảo và ân đồngbào nhân loại

Tứ Ân Hiếu Nghĩa

Tứ Ân Hiếu Nghĩa chịu nhiều từ tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương, vì ông Ngô Lợi –Người sáng lâp ra đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là học trò của ông Đoàn Văn Huyên Tôngiáo này ra đời vào năm 1867 tại đình làng An Định, An Giang, cũng theo Tứ ĐạiTrọng Ân nhưng đề cao ân tổ tiên cha mẹ nên gọi là tôn giáo thờ ông bà

Phật Giáo Hoà Hảo

Được thành lập năm 1939 do ông Huỳnh Phú Sổ lập ra tại làng Hoà Hảo, An Giang.Chủ trương học Phật tu Nhân, cũng như Bửu Sơn Kỳ Hương và Tứ Ân Hiếu nghĩa,tôn giáo này dựa vào giáo lý Phật Giáo những không đọc kinh phật mà đọc sấm giảnggồm những bài thơ dạy đạo (chủ yếu theo thể thơ lục bát và song thất lục bát), khôngthờ hình tượng mà thờ một tấm vải màu nâu đất nên được gọi là đạo thờ trần dà

Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội

Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội là một dòng tu theo Phật Giáo, hệ phái tịnh độ nhưng chủtrương không tu xuất gia mà tu cư sĩ, do đó nên không có tăng, ni (tu sĩ xuất gia) màchỉ có tín đồ, tín đồ công cử ra người đại diện quản lý cơ sở thờ tự

Phái này mặc áo dài đăn, huy hiểu hình chữ Hưng cách điệu tròn

Điện thờ cũng gọi là chùa, tiếng Hán gọi là Tự, thờ tượng các Phật và Bồ Tát Chùathường bắt đầu bằng chữ Hưng như Hưng Đức Tự, Hưng Sơn Tự, Hưng Long Tự…Dòng tu này có một đặc trưng là làm thuốc nam từ thiện rất nhiều, mỗi một chùa làmột phòng khám chữa bệnh bằng thuốc nam

Bốn tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Phật Giáo Hoà Hảo và Tịnh Độ

Cư Sĩ Phật Hội là bốn tôn giáo nội sinh dựa vào giáo lý Phật Giáo và do người Việtthành lập, chỉ có Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm là dòng tu do người Hoa thành lập và dựavào giáo lý Phật Giáo mà thôi

Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm

Minh Nguyệt Cư Sĩ Lâm là một dòng tu Phật Giáo của người Hoa nhưng không nằmtrong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đây là dòng tu cư sĩ, tức là tu tại gia Tịnh xá thờQuán Thế Âm Bồ Tát

Dòng tu này có ban hộ niệm dùng để tụng đọc kinh khi có người quá vãng theo nhucầu của những người theo Phật Giáo Hoa Tông qua đời Dòng tu này có nhiều tính

Trang 11

CÁC TÔN GIÁO CHỊU ẢNH HƯỞNG BỞI GIÁO LÝ PHẬT GIÁO

Cao Đài

Cao Đài là tôn giáo nội sinh, ra đời năm 1926 tại chùa Gò Kén, Tây Ninh, bởi mộtnhóm những trí thức tiểu tư sản như Ngô Văn Chiêu (Ngô Minh Chiêu), Phạm CôngTắc, Lê Văn Trung, Cao Hoài Sang, Cao Quỳnh Cư…Tôn giáo này hiện nay có tất cả

11 hệ phái được nhà nước công nhận

Đạo Cao Đài thờ chủ yếu là Ngọc Hoàng Thượng Đế thông qua hình tượng thiên nhãn(gồm hai loại là con mắt trái và tâm nhãn), và Diêu Trì Kim Mẫu nhưng vẫn mượngiáo lý Phật Giáo ở một vài điểm như:

Một số bài kinh của Phật Giáo Bắc Tông như chú vãng sanh, chịu ảnh hưởng của hocthuyết luân hồi, nhân quả, các thuật ngữ triết học của Đạo Phật Tuy nhiên, Đạo CaoĐài chịu ảnh hưởng nhiều hơn của Đạo Giáo và Khổng Giáo, và đây là tôn giáo ra đờidựa trên hiện tượng Tam Giáo Đồng Nguyên, trong Tam Giáo Đồng Nguyên có PhậtGiáo cho nên cũng xét Cao Đài là tôn giáo có sự ảnh hưởng của Phật Giáo, có sự ảnhhưởng của Đạo Giáo và cũng có sự ảnh hưởng của Nho Giáo

Minh Lý Thánh Hội (Tam Tông Miếu hay Minh Lý Đạo)

Minh Lý Đạo hay còn gọi là Tam Tông Miếu, trước năm 1920 được gọi là một trongNgũ Chi Minh Đạo gồm Minh Sư, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân và Minh Đường.Minh Lý Đạo dựa trên Minh Sư Đạo và Việt hoá thành

Minh Lý Đạo thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Diêu Trì Kim Mẫu và Tam Giáo Tổ Sư(Phật Thích Ca đại diện cho Phật Giáo, Thái Thượng Lão Quân đại diện cho Đạo Giáo

và Không Tử đại diện cho Nho Giáo) và nhiều vị khác như Quan Âm Bồ Tát, VânHương Thánh Mẫu hay Thái Bạch Kim Tinh

Minh Lý Đạo cũng giống Cao Đài ở chổ là có mượn một số bài kinh Phật Giáo BắcTruyền, học thuyết luân hồi, nhân quả và những thuật ngữ triết học Phật Giáo, nhưngkhác Cao Đài ở chổ không thờ thông qua hình tượng thiên nhãn hay tượng cốt mà thờbài vị Nam tín đồ mặc áo dài đen, khăn đóng đen, chứ không mặc áo dài trắng (đốivới tín đồ) hay mặc áo dài theo 3 màu đỏ vàng xanh (đối với chức sắc) như Cao Đài.Minh Lý Đạo được công nhận tư cách hành đạo vào năm 2011 với tên gọi là Minh LýThánh Hội Cơ sở thờ tự được gọi là Miếu Hiện tại, trung ương của Minh Lý Đạo làTam Tông Miếu nằm tại số 82 Cao Thắng, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

Cho nên, Minh Lý Đạo cũng thuộc hiện tượng Tam Giáo Đồng Nguyên và có chịu sựảnh hưởng của giáo lý Phật Giáo

Minh Sư Đạo (hay Phật Đường Minh Sư)

Minh Sư Đạo hay còn gọi là Phật Đường Minh Sư là một trong năm nhánh tôn giáo cómặt ở Việt Nam thế kỷ XX như Minh Lý, Minh Đường, Minh Thiện, Minh Tân vàMinh Sư

Minh Sư cũng giống như Minh Lý vì có cùng nguồn gốc phát triển là Tam Giáo ĐồngNguyên, đối tượng thờ của Minh Sư cũng giống Minh Lý hoàn toàn, nhưng lại là hai

tổ chức tôn giáo độc lập Minh Sư có nguồn gốc từ những người Hoa theo Tam Giáo

Trang 12

Cơ sở thờ tự của Minh Sư được gọi là Điện (nếu lớn) và Đường (nếu như nhỏ), hiệnnay Minh Sư đang thu hẹp lần, một số quy nhập vào Phật Giáo hoặc một số quy nhậpvào Minh Lý nhưng Minh Sư vẫn được nhà nước công nhận.

Chùa Phước Hải ở 73 Mai Thị Lựu, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh trước đây là củaĐạo Minh Sư và có tên là Ngọc Hoàng Điện, sau này được Giáo Hội Phật Giáo ViệtNam quản lý và gọi là Phước Hải Tự nhưng không thay đổi đối tượng thờ cúng

Hiện tượng Tam Giáo Đồng Nguyên:

Hiện tượng Tam Giáo Đồng Nguyên là một hiện tượng tổng hợp các hệ thống triếthọc, các hệ thống giáo lý của 3 tôn giáo là Nho Giáo, Đạo Giáo và Phật Giáo lại vớinhau Hiện tượng này khá phổ biến ở Việt Nam từ thời Lý Trần

Theo đó, những ngôi chùa (Phật Giáo) vẫn sử dụng thuât bói toán (Nho Giáo) hay một

số nơi còn bào chết thuốc trường sinh (Đạo Giáo) Quá trình Tam Giáo Đồng Nguyênđến ngày nay vẫn còn tồn tại, nhưng do Đạo Quán ở Việt Nam ngày nay không cònnhiều và theo thói quen thì gọi là Chùa như chùa Quán Thánh như thật ra đó là ĐạoQuán của Đạo Giáo cho nên sự thể hiện Tam Giáo Đồng Nguyên của Đạo Giáo đốivới Phật Giáo hay Nho Giáo cũng khó có thể nhận biết được Nho Giáo cũng vậy, chonên biểu hiện của hiện tượng Tam Giáo Đồng Quy ở Việt Nam hiện nay chủ yếu đượcthể hiện nhiều ở Phật Giáo dưới cấp độ tôn giáo

Ví dụ: Có nhiều chùa thờ Ngọc Hoàng, mà Ngọc Hoàng là một vì thần của Đạo Giáo,điều đó chứng tỏ sự tổ hợp của Đạo Giáo trong Phật Giáo, hay việc các nhà sư coingày giờ, bói toán (bói toán ngày giờ có nguồn gốc từ bói cỏ thi, sau đó bói kinh dịchcủa Nho giáo - từ bộ Kinh Dịch trong Ngũ Kinh, một hệ thống triết học trở thành công

cụ để bói toán) cũng chứng tỏ mượn Nho Giáo vào Phật Giáo, và đó là một phần củaTam Giáo Đồng Nguyên, ngoài ra cũng có một vài tôn giáo dựa vào hiện tượng TamGiáo Đồng Nguyên như Cao Đài hay Minh Lý Đạo, Minh Sư…

Trang 13

da và đồng cảm với nổi khổ của muôn dân là những nguyên nhân dẫn đến sự hìnhthành một tôn giáo mới.

Tại một vương quốc nhỏ ở phía Bắc An Độ, có một sự kiện xảy ra làm thay đổi toànthể thế giới, hoàng hậu MaDa, vợ của vua Tịnh Phạn trong lúc ngủ đã có một giấc mơtuyệt diệu Bà thấy một luồng ánh sáng trắng từ bầu trời chiếu xuống thân thể mình,theo luồng ánh sáng này là một con voi chiến, thân hình trắng xoá với 6 chiếc ngà.Luồng ánh sáng và con voi này cuối cùng nhập vào thân bà và bà đã thọ thai

Theo phong tục An Độ thời đó, người phụ nữ khi sinh phải về nhà cha mẹ ruột củamình Biết ngày sinh sắp đến, hoàng hậu MaDa cùng một số người hầu bắt đầuchuyến hồi hương Trên đường trở về, hoàng hậu trở dạ Biết mình sắp sinh con nên

bà bảo mọi người dừng lại nghỉ ngơi Họ dừng chân tại vườn Lâm Tì Ni, hoàng hậuvào trong khu vườn tìm chỗ thích hợp để sinh con Truyền thuyết kể lại rằng ngay cảđộng vật và thực vật dường như cũng muốn giúp đỡ cho hoàng hậu trong việc sinh nở

Có một nhánh cây rũ xuống, hoàng hậu đưa tay phải lên nắm lấy nó Sau khi chào đời,thái tử vùng dậy bước đi bảy bước, mỗi bước có một bông sen hiện ra đỡ lấy bànchân Đến bước thứ bảy, thái tử chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất nói rằng:

“Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” tức là trên có trời, dưới có đất, duy có ta làquý hơn cả) Ngay dưới cổ phía trước ngực của thái tử lại có dấu chữ vạn tỏ rằng ngài

là người cao quý siêu nhân Vì lẽ đó về sau hoa sen và dấu chữ vạn được dùng làmbiểu tượng của đạo phật Vua và hoàng hậu đã quyết định đặt tên cho thái tử là TấtĐạt Đa nghĩa là người đem đến tốt lành Sau khi sinh thái tử được 7 ngày thì hoànghậu MaDa từ trần Trước khi qua đời hoàng hậu đã dặn dò người em của mình là Ma

Ha Ba Xà Ba Đề chăm sóc cho thái tử Thaí tử lớn lên trở thành một cậu trai thôngminh, xinh đẹp và nhân từ Thái tử ngày càng trưởng thành, lòng nhân ái càng bộc lộ

rõ, song vua cha lại buồn rầu Vua cha cùng các quan bàn với nhau là sẽ kén vợ chothái tử Và người cuối cùng đựơc chọn chính là công chúa Da Du Đà La, con gái củavua nước lân cận

Thời gian trôi qua, Da Du Đà La đã hạ sinh một bé trai là La hầu La Sống trong cungđiện lâu ngày Tất Đạt Đa muốn ra ngoài dạo chơi để xem cuộc sống bên ngoài như thếnào Qua những lần xuất cung, những cảnh tượng sanh, lão, bệnh, tử đã làm cho thái

tử suy nghĩ rất nhiều Và trong một lần xuất cung sau đó, thái tử gặp một tu sĩ và từđây ngài càng muốn đi tìm con đường giải thoát mọi sự khổ đau cho con người Vào một buổi tối thái tử cùng với người hầu của mình là Xa Nặc và con ngựa KiềnTrắc đã rời khỏi cung điện Trước khi chia tay Thái tử đã rút gươm cắt tóc trao lại cho

Xa Nặc với các đồ trang sức bảo đem về cho Da Du Đà La

Trang 14

Thái tử tìm gặp những người tu hành lâu năm để học hỏi, nhưng những điều thu đượckhông làm ông thoả mãn Ông rủ 5 người bạn đến vùng núi Tuyết Sơn tu khổ hạnhsuốt 6 năm ròng mà chẳng ích lợi gì Thấy mình đã tu sai đường, ngài liền ăn uốngcho lại sức rồi tìm đến một gốc cây Pipal lớn, lấy cỏ làm nệm ngồi tập trung suy nghĩ.Sau một thời gian (tương truyền là 49 ngày đêm) tư tưởng ngài liền đã trở nên sáng rõ,ngài đã hiểu ra quy luật của cuộc đời, nỗi khổ của chúng sanh, thấy được điều mà bấylâu tìm kiếm.

Ngài liền đi tìm 5 người bạn đã cùng tu khổ hạnh trứơc đây để giác ngộ cho họ, rồicùng với họ trong súôt 40 năm còn lại đi khắp vùng lưu vực sông Hằng để truyền bánhững tư tưởng của mình, ngài đựơc gọi là Buddha ( nghĩa là Bậc giác ngộ, phiên âmtiếng Việt là Bụt, Phật ) Cây Pipal nơi ngài đã ngồi tu luyện, được gọi là cây Bodhi(Bồ Đề) và trở thành biểu tượng cho sự giác ngộ

Sau khi truyền xong đạo Phật cho chúng sinh, Đức Phật nhập cõi Niết Bàn Tươngtruyền năm 544 trứơc công nguyên, thọ 80 tuổi Khi biết mình bệnh nặng, Đức Phật

đã truyền cho đệ tử trải y cho Ngài nằm trên Thạch bàn giữa hai hàng cây Long Thọ.Ngài chậm rãi giảng giải những trang kinh Phật cuối cùng cho các vị Tùy khưu rồi từ

từ viên tịch, nhập cõi Niết Bàn

Khi Đức Phật nhập Niết Bàn, thi hài của Ngài được đưa về hỏa táng tạiCauthina Sau khi hỏa táng thi thể Ngài chỉ còn lại vài mảnh xương gọi là Xá Lợi VuaMalla để tất cả Xá Lợi vào một cái hộp bằng vàng và cung nghinh về Hoàng cung đểchia cho các nước đem về thờ

Sau khi đức Phật tạ thế, do sự bất đồng ý kiến trong việc giải thích kinh Phật, các đệ

tử của ngài đã chai ra làm hai phái :

Phái các vị trưởng lão, gọi là Thượng Toạ theo xu hứơng bảo thủ, chủ trương bám sátkinh điển, giữ nghiêm giáo luật, Phật tử phải tự giác ngộ cho bản thân mình, chỉ thờPhật Thích Ca và chỉ tu đến bậc La Hán

Số tăng chúng còn lại không chịu nghe theo, họ lập ra phái Đại Chúng chủ trươngkhông cố chấp theo kinh điển, khoan dung độ lượng trong thực hiện giáo luật, thu nạptất cả những ai muốn qui y, giác ngộ, giải thoát cho nhiều ngừơi, thờ nhiều Phật, và tuqua các bậc La Hán, Bồ Tát đến Phật

Tại các lần đại hội thứ 3-4, phái Đại Chúng soạn ra kinh sách riêng, tự xưng là ĐạiThừa, nghĩa là Cổ xe lớn (chở được nhiều người) và gọi phái Thượng Toạ là TiểuThừa nghãi là cổ xe nhỏ (chở được ít ngừơi) Do danh từ Tiều Thừa ngụ ý chê baikhông đúng, khiến nhiều ngừơi hiểu lầm nên tại Hội Nghị Phật giáo quốc tế họp tạiNépal năm 1956, các vị lãnh đạo Phật giáo thế giới đề nghị thay danh từ Tiểu thừabằng “Phật Giáo Nguyên Thủy” Hiện nay thì ngừơi ta đã thay Tiểu Thừa thành NamTông và Đại Thừa thành Bắc Tông để tránh sự kì thị và hiểu lầm

Thực chất của đạo Phật là một học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát Đức Phật từngnói : “ Ta chỉ dạy một điều : Khổ và khổ diệt ” Cốt lõi của học thuyết này là Tứ Diệu

Đế (bốn chân lý kì diệu) hay Tứ thánh đế (bốn chân lý thánh), đó là :

Khổ đế là chân lý về bản chất của nỗi khổ Khổ là gì ? Đó là trạng thái buồn phiền phổbiến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi nguyện vọng không được thoả mãn

Trang 15

Nhân đế hay tập đế là chân lý về nguyên nhân của nỗi khổ Đó là do ái dục (hammuốn) và vô minh (kém sáng suốt) Dục vọng thể hiện thành hành động gọi là nghiệp(karma) , hành động xấu khiến con người phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo),thành ra cứ lẩm quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được.

Diệt đế là chân lý về cảnh giới diệt khổ Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi nguyên nhângây ra khổ bị loại trừ Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (Nirvana, nghĩa đen là “không ham muốn, dập tắt ”) Đó là thế giới của sự giác ngộ và giải thoát

Đạo đế là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ Con đường diệt khổ, giải thoát và giácngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), tư tưởng (định) và khai sáng trí tuệ (tuệ) Bamôn học này được cụ thể hoá trong khái niệm bát chánh đạo (tám nẻo đường chânchính) Đó là : chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh niệm, chánh định, chánhkiến, chánh tư duy, chánh tinh tấn

Thứ tự của các hạng người trong xã hội Ấn Độ

1. Bà-la-môn (Brahman) gồm những Giáo-sĩ, những người giữ quyền thống-trịtinh-thần, phụ-trách về lễ-nghi, cúng bái Họ tự nhận mình là hạng cao-thượng,sinh từ lỗ miệng Phạm Thiên(Brahma) thay Phạm-Thiên cầm cương lãnh đạotinh-thần dân-tộc, nên có quyền ưu-tiên được tôn-kính, và an-hưởng cuộc đờisung-sướng nhất

2 Sát-đế-ly là hàng vua chúa quý-phái, tự cho mình sinh từ cánh tay Phạm-Thiên,thay mặt cho Phạm-Thiên nắm giữ quyền-hành thống-trị dân-chúng

3 Vệ-Xa là nhữnh hàng thương-gia chủ-điền, tin mình sinh ra từ bắp vế Thiên, có nhiệm-vụ đảm-đương về kinh-tế trong nước (mua bán, trồng-trọt, thuhuê-lợi cho quốc-gia )

Phạm-4 Thu-Đà-La là hàng Hà-tiện, nô-lệ tinh mình sinh từ gót chân Phạm-Thiên, nênthủ-phận làm khổ-sai suốt đời cho các giai-cấp trên

5 Ba-ri-a giống người cùng khổ, bị coi như sống ngoài lề xã-hội loài người, bịcác giai-cấp trên đối-xử như thú-vật, vô cùng khổ nhục, tối tăm

Trang 16

Dòng thiền thứ nhất ở Việt Nam do Tì-ni-đa-lưu-chi lập ra năm 580 ở chùaPháp Vân (Thuận Thành, Bắc Ninh)

Dòng thiền thứ hai do Vô Ngôn Thông (quê ở Quảng Châu) lập ra năm 820 ởchùa Kiến Sơ (Phù Đổng, Bắc Ninh)

Dòng thiền thứ ba do nhà sư Thảo Đường (người Trung Quốc) lập ra Ông vốn

là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành, được vua Lí Thánh Tông (1025 – 1072) giải phóng

và cho mở đạo trường tại chùa Khai Quốc (Thăng Long) năm 1069

Thời Trần có vua Trần Nhân Tông , sau khi rời ngôi 6 năm đã xuất gia lên tu ởnúi Yên Tử (Quảng Ninh) và tại đây lập ra Thiền Phái Trúc lâm Với việc lập ra pháiTrúc Lâm, Trần Nhân Tông đã thống nhất các thiền phái tồn tại trứơc đó và toàn bộgiáo hội Phật giáo về một mối

1.2.2 Tịnh Độ Tông

Tịnh độ tông hay Tịnh thổ tông có khi được gọi là Liên tông là một trường pháiđược lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam do Cao tăng TrungQuốc Huệ Viễn sáng lập

Ba bộ kinh quan trọng của Tịnh Độ tông là:

1. Vô Lượng Thọ kinh

1.4.3 Tinh xá Phật giáo Khất Sĩ

Hệ phái Khất sĩ do tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập từ năm 1944 hiện nay, hệphái có hơn 2000 tăng ni xuất gia tu học tại 400 ngôi tịnh xá, tịnh thất ở các tỉnh miềnTrung và miền Nam Ngôi chùa của hệ phái được tổ sư Minh Đăng Quang gọi là tịnh

xá, tức là nơi trú xứ an tịnh, trong sạch

Danh hiệu của ngôi tịnh xá đều có chữ ngọc đứng trước Y của vị tổ sư muốnkhuyên dạy đệ tử luôn tinh tấn tu học để có được phẩm chất quý như ngọc, hiển lộđược ngọc trong tâm mình

Ngày thống nhất giáo hội phật giáo ở viêt nam?

Trang 17

Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Phật giáo lớn nhất và là đại diện cho Phật giáotại Việt Nam Giáo hội được thành lập vào ngày 7 tháng 11 năm 1981 tại tùnglâm Quán Sứ, Hà Nội, trên cơ sở hợp nhất tất cả tổ chức Phật giáo trong nước.

Những người lãnh đạo?

Hiện nay chức danh Pháp chủ dùng để gọi người lãnh đạo cao nhất của Giáo hội Phậtgiáo Việt Nam Pháp chủ là người đứng đầu Hội đồng Chứng minh, thay mặt Hộiđồng Chứng minh ban hành các Giáo chỉ, các văn bản quan trọng nhất, đại diện choGiáo hội trong các hoạt động đối ngoại

Ngôi vị Pháp chủ chỉ do Đại hội Phật giáo toàn quốc suy cử một vị Hòa thượng, và tại

vị đến suốt đời Trên thực tế, ngôi vị này chỉ có vai trò đại diện chứ không trực tiếptham gia điều hành, và không có thực quyền quyết định

Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có ba vị Phápchủ

 Đức Đệ nhất Pháp chủ: Hòa thượng Thích Đức Nhuận (1981 - 1993)

 Đức Đệ nhị Pháp chủ: Hòa thượng Thích Tâm Tịch (1993 - 2005)

 Đức Đệ tam Pháp chủ: Hòa thượng Thích Phổ Tuệ (2007 đến nay)

1.4 Kiến Trúc Ngôi Chùa Việt Nam Ngày Nay

Ơ miền Bắc : thường gặp kiểu chữ Đinh, Công, Tam, Nội Công Ngoại Quốc

Ơ miền Trung : đặc biệt là ở Huế, chùa thường được xây dựng kiểu chữ Môn,

chữ Khẩu

Ơ miền Nam : chùa Tứ trụ, chữ Nhị, chữ Tam

Vì sao phật giáo lại được người dân chap nhận?

Lý thuyết của đạo phật thì cho rằng đời là bể khổ, con ngườ rang buộc trong kiếp luânhồi, muốn thoát khỏi cảnh ấy con ngườ phải diệt dục, phải diệt lòng ham muốn đẻ tiếntới cỏi niết bàn Lý thuyết ấy phù hợp với tâm trạng của người việt đang ở trong hoàncảnh bị đô hộ

Đời sống văn hóa của nhân dân ta và Phật giáo rất gần gũi, các nhà sư thì nhân dân ta

có thiện cảm đặc biệt với họ bởi họ mang những nét gần như giống với nhân dân: Đầutóc cạo trọc; tấm áo cà sa giống với áo vá của người nghèo; mán ăn đạm bạc; đi thì đi

bộ chân trần…nhà sư lo nỗi lo của dân, chân thành chia sẻ mọi khó khăn của dân Sư

là chỗ dựa tin cậy và chắc chắn của cả xã hội rộng lớn đương thời Đằng sau nghi lễ

vả nhang khói trong bàn thờ gia đình mỗi người dân là cái tình người đang sống vàngười đã qua đời, niềm thành tín của thế hệ đi sau đối với thế hệ đi trước và điều nàyđược nhà Phật cổ vũ và giúp đỡ cho nhân dân; đối với cha ông nhà dân và nhà Phật

Trang 18

nhau ở sự sẵn lòng bọc cưu mang; đối với những người cô quả hoặc sa cơ, nhà Phật vànhà dân gặp nhau ở chỗ từ tâm giúp đỡ.

Những điểm giống và khác nhau giũa đại thừa và tiễu thừa ?

 Đại thừa truyền bá theo đường lục địa,thường dung chử phạn còn tiểu thừatruyền bá theo đường thủy

 Đường đi của đại thừa truyền bá xa xôi, rộng lớn, gặp nhiều núi non hiểm trởnhư hi mã lap sơn sa mạc gô bi, tây tạng…nên giáo lý nhà phật bị biến đổinhiều, theo giai đoạn và từng địa phương Trái lại tiểu thừa truyền bá trênmột quảng đường tương đối ngắn nên giáo lý nhà phật còn giữ được phầnlớn những dấu ấn nguyên thủy của nó

Trang 19

Trong hàng Thanh Văn đệ tử của đức Phật Thích Ca, Xá Lợi Phất được coi là người có trí tuệ bậc nhất Ngài xuất thân trong

một gia đình Bà-la-môn, thân phụ Đề xá là một luận sư nổi danhtrong giáo đoàn Bà-la-môn

Thân mẫu khi mang thai Ngài, trí tuệ vượt trội hơn mọi phụ nữtầm thường

Đến tuổi trưởng thành Ngài từ giã quê hương phụ mẫu, lênđường tìm sư học đạo Trên bước đường vân du, Ngài gặp vị Tỳ-kheo A Thị Thuyết, là một trong năm vị Tỳ-kheo đầu tiên quy yPhật, dạy cho bài kệ:

Các pháp do nhân duyên sanh

Các pháp do nhân duyên diệt

Ngài ngộ được bài kệ và cùng người bạn chí thân đó là Mục Kiền Liên quy y theoPhật từ đó

Xá Lợi Phất là người có công lớn trong việc truyền bá Đạo Phật từ phường nam vềphương bắc

2 Tôn giả Mục Kiền Liên - Thần thông bậc nhất

Mục Kiền Liên là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “phục lai căn,”còn dịch là “thái thúc thị” Tên của Tôn giả là “Câu Luật Đà”, vốn

là tên của một loại cây Sự chào đời của Tôn giả cũng có một nhânduyên như Tôn giả Đại Ca Diếp vậy Tôn giả Đại Ca Diếp là docha mẹ cầu khẩn dưới cây mà sinh ra; thì Tôn giả Mục Kiền Liêncũng vậy, cũng do cha mẹ cầu tự dưới cây Câu Luật Đà mà sinh ra,cho nên lấy tên của cây nầy đặt tên cho con

Mẹ của Tôn giả Mục Kiền Liên tuy cầu Thần linh, nhưng không tinPhật, không tin Pháp, không tin Tăng Bà chẳng những không tinTam bảo, lại còn hủy báng, phá hoại Tam bảo, nói nào là Tam bảo không tốt, nào làkhông đáng để tin theo…, cho nên sau khi chết, bà liền bị đọa vào địa ngục Đợi đếnsau khi Tôn giả Mục Liên chứng quả vị La Hán, đắc được lục thông, Tôn giả liền quansát khắp các cõi giới để tìm mẹ; vừa nhìn đã thấy bà đã bị đọa vào địa ngục Vì Tôngiả đã khai mở được Phật nhãn, Pháp nhãn, huệ nhãn, đắc được ngũ nhãn lục thông,nên nhìn thấy được mẹ mình đang chịu khổ nơi địa ngục, cơm cũng không có mà ăn;thế là Tôn giả liền đi xin một bát cơm để mang đến cho mẹ

Vào đến địa ngục, Tôn giả dâng bát cơm cho mẹ Bà mẹ của Tôn giả lúc còn sanh tiền

vì tâm tham quá nặng nề, cho nên dù bị đọa làm ngạ quỷ nhưng vẫn không dứt bỏđược tâm tham Bà một tay đỡ lấy bát, dùng vạt áo của tay kia che lại, rồi vội vàngchạy đến chỗ không có các ngạ quỷ, đem bát cơm ra len lén ăn một mình Vì sao bàphải che bát cơm lại? Vì bà sợ các ngạ quỷ khác đến giành giật, nào ngờ cơm vừa đưađến miệng thì liền hóa thành lửa Đây là lý do gì? Đây là vì nghiệp chướng của bà quánặng nề, nghiệp tội quá sâu dày, cho nên dù là thức ăn có ngon đến mấy, bà cũngkhông thể ăn được!

Trang 20

Tôn giả Mục Liên tuy là thần thông đệ nhất, nhưng bây giờ thì hết cách, không cònchú để niệm, không thể thi triển thần thông, không còn cách nào khác— đành đi tìm

sư phụ thôi: “Những khả năng đệ tử học được, đến nơi đó đều trở nên vô dụng!” Thế

là Tôn giả trở về tinh xá Kỳ Hoàn, tìm đến Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thưa rằng: “

Mẹ của con bị đọa vào địa ngục, con mang cơm đến cho mẹ, nhưng mẹ vừa bốc ăn thìcơm liền hóa thành lửa Xin Phật hãy nói cho con biết nên làm thế nào? Đức Thế Tôn

từ bi, xin hãy cứu mẹ của con!”

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni liền đưa ra một phương cách giúp Tôn giả cứu mẹ, đó làcách gì? Phật bảo: “Vì mẹ của ông hủy báng Tam bảo, tội nghiệp quá nặng; bây giờsức của một mình ông không thể nào giải cứu được đâu Muốn cứu được mẹ ông thìvào ngày rằm tháng bảy, là ngày chư Phật hoan hỷ, cũng là lúc chư Tăng tự tứ, ônghãy thiết lễ Vu lan bồn, đây là lễ cúng “giải đảo huyền” (giải cứu cái khổ bị treongược) Trước tiên, ông hãy cúng dường mười phương Tăng; khi mười phương Tăngchưa thọ dụng những thức ăn này thì ông cũng chưa được dùng Ông trước hết là phảicúng Phật, Pháp và Tăng, sau đó mới có thể thọ dụng những phẩm vật dâng cúng Vàongày này, ông thiết trai cúng dường Tam bảo thì mẹ của ông sẽ lìa khổ được vui!”

Thế là Tôn giả Mục Kiền Liên y theo phương cách này, thiết bày pháp hội Vu lan, lễcúng Vu lan bồn Cho nên mỗi năm đến ngày này, các chùa đều tổ chức pháp hội Vulan bồn, siêu độ cho cha mẹ trong bảy đời quá khứ và cha mẹ hiện đời Có người hỏirằng: “Cha mẹ của tôi hiện còn tại thế, vậy tôi nên làm gì?” Cha mẹ hiện đời vẫn cònsống thì hãy siêu độ cho cha mẹ trong bảy đời đã qua; siêu độ cho cha mẹ trong quákhứ thì cha mẹ hiện đời cũng sẽ được tăng thêm phước báu, kéo dài tuổi thọ

3 Tôn giả Ma Ha Ca Diếp - Hạnh Đầu đà bậc nhất

Tôn giả Đại Ca Diếp là con của nhà hào phú trưởng giả dòng

Bà-la-môn tên Ni Câu Lư Đà Kiệt Ba Tiếng đồn tài sản của phụ thânNgài có thể sánh với vua Tần Bà Sa La đương thời Ngày mẫu thânTôn giả lâm bồn, chính là lúc bà đang dạo chơi trong đình viện,bỗng cảm thấy mệt mỏi, bà đến ngồi dưới bóng cây đại thọ Tất-bát-

la nghỉ ngơi Lúc ấy chẳng biết thiên y từ đâu bay tới, và Đại CaDiếp cất tiếng khóc chào đời

Ngài được tôn xưng là Đầu-đà đệ nhứt, thường đứng hầu bên taytrái Đức Phật

Sau khi Đức Phật nhập Niết-Bàn, Ngài hội họp Tăng-chúng, gồmnhững vị đại đức thông hiểu kinh luật, tại nước Ma-kiệt-Đà, thành Vương-xá, núi Kỳ-xà-Quật để kết tập kinh, luật, luận Hội nghị nầy là lần kết tập đầu tiên Ngài là vị Tổ

sư thứ nhất được Đức Phật truyền y bát, cầm đầu Tăng chúng và truyền bá giáo pháp.Ngài lại tượng trưng cho hạnh ly dục hoàn toàn của đạo Phật Vì là vị Tổ đầu tiênđược đức Phật truyền y bát, nối truyền giáo pháp, nên cũng gọi Ngài là vị Tổ-sư Thiềntông thứ nhất

4 Tôn giả Tu Bồ Đề - Giải không đệ nhất

Trang 21

Tu Bồ Đề là vị đệ tử Giải Không Đệ Nhất (am hiểu tínhkhông) của Phật Thích Ca Ngay vừa chào đời, tất cả tàibảo, dụng cụ trong nhà Tôn giả bỗng nhiên biến mất, khôngthấy một cái nào Người trong nhà đều lo sợ, vội mời thầyxem tướng đến bói một quẻ Tướng sư gieo quẻ rồi nói:

- Đây là một hỷ sự, trong nhà sanh quý tử Tiền bạc, bảo vậttrong nhà đều trống rỗng ngay khi cậu bé chào đời đó làngười Giải không đệ nhất Chúng ta nên đặt tên cho cậu bé

là Không Sanh! Điều này rất đại cát lợi, tương lai chú bé sẽkhông bị danh văn lợi dưỡng thế gian ràng buộc, gọi chú là Thiện Cát cũng tốt

Mặc dầu sanh trưởng trong gia đình giàu có và rất được cha mẹ cưng chiều, nhưng từnhỏ Tu Bồ Đề đã không nô lệ vào tiền tài báu vật Cha mẹ cho đồng nào, thì cậu đem

bố thí cho những người nghèo khổ Lạ lùng là khi đi đường mà gặp kẻ hành khất áokhông kín thân thì cậu liền cởi áo của mình mà cho họ, chỉ mặc vỏn vẹn quần cụt vềnhà

5 Tôn giả A Nan Đà - Đa văn đệ nhất

Tôn giả A Nan (Ananda) là một trong mười vị đệ tử lớn của đứcPhật, người được mệnh danh là rất uyên thâm trong nhiều lĩnh vực

và có trí nhớ siêu phàm (đa văn đệ nhất) Với những đức tính đặcbiệt, tôn giả A Nan được đại chúng thời bấy giờ đề cử làm thị giảcho đức Phật và được đức Phật hoan hỷ chấp thuận Tôn giả A Nan

đã luôn theo sát đức Thế Tôn trong suốt hơn 25 năm cuối, luôn tậntụy trong việc chăm sóc đức Phật; ghi nhớ tất cả những gì mà đứcPhật dạy bảo; luôn đem đến niềm an lạc cho mọi người, như chính

ý nghĩa của tên Ngài Ananda: an lành và hạnh phúc

A Nan sinh trưởng trong một gia đình truyền thống Kshatriya (chiến sĩ giai cấp nắmquyền hành thống trị đất nước Ấn Ðộ thời bấy giờ), con của vua Amitodana VuaAmitodana là em ruột của vua Suddhodana (Tịnh Phạn Vương - phụ thân của đứcPhật) Trong quan hệ dòng họ, A Nan là em chú bác ruột với đức Phật Ngày đức Phậttrở về Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) để thăm vua cha và thân quyến lần đầu tiên sau khithành đạo, trong số vương tôn công tử ra nghinh đón Ngài có chàng trai trẻ thuộc dòng

họ vua chúa Ananda, lập tức A Nan bị thu hút bởi cốt cách uy nghi và thanh cao củađức Phật Sau đó, A Nan cùng với sáu vương tử khác đã đến xin đức Phật cho phépđược gia nhập Tăng đoàn, đi theo con đường mà đức Thế Tôn đang đi

Với trí thông minh có sẵn, sau khi trở thành một tu sĩ, Tôn giả A Nan đã tiếp thu giáo

lý của đức Phật trọn vẹn như nước thấm vào cát Nhân một hôm nghe Trưởng lãoPunna thuyết pháp, Ngài chứng đắc được quả thánh Dự Lưu (Sotàpatti - Tu đà hoàn) cấp độ đầu tiên trong 4 cấp độ giải thoát (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán)

Ba tháng sau khi đức Phật nhập diệt, vào đêm trước Ðại hội kết tập kinh điển lần thứ I

Trang 22

gồm 500 vị A la hán do Tôn giả trưởng lão Ðại Ca Diếp (Maha Kasyapa) chủ tọa, với

nỗ lực thiền quán vượt bực, Tôn giả đã chứng đắc A la hán

6 Tôn giả Ca Chiên Diên - Nghị luận đệ nhất

Tôn giả Ca Chiên Diên vốn tên gọi là Na-la-đà, con thứ hai củaquốc sư Ca Chiên Diên Ca Chiên Diên là họ, về sau Tôn giả nổitiếng nên mọi người dùng họ để thay tên gọi Tôn giả Ca ChiênDiên rất giỏi biện luận, không kể người đó là Bà-la-môn quyền uyđến đâu, khi gặp mặt, Tôn giả chỉ dùng vài lời ngắn gọn đều khiến

kẻ vấn nạn phải vui vẻ khâm phục

7 Tôn giả Phú Lâu Na - Thuyết pháp đệ nhất Tôn giả Phú Lâu Na vốn được gọi là "Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử".

Phú Lâu Na chỉ là tiếng gọi tắt Danh hiệu Ngài dài như thế chính làbiểu hiện cho Tôn giả khi thuyết pháp cũng trường mãn vô cùng Danhxưng của Ngài được dịch sang tiếng Trung Hoa là "Mãn Từ Tử"

8 Tôn giả A Na Luật - Thiên nhãn đệ nhất

A Na Luật sanh trong dòng dõi vua chúa, vốn là em của Thái tử

Sĩ Đạt Ta Sau ngày Tịnh Phạn Vương băng hà, đại tướng Ma HaNam lên nối ngôi, là anh ruột của A Na Luật Tuổi thơ của A NaLuật, vốn là một đứa trẻ thiên tư hoạt bát, rất thông minh mẫn tiệp,đối với âm nhạc, kỹ thuậ dường như có tài đặc biệt Năm bảy, támtuổi thường ca hát trước đông người, làm những điệu bộ khôi hàikhiến ai nấy đều bậc cười Đó là một chú bé được mọi người yêumến

9 Tôn giả Ưu Bà Ly - Trì giới đệ nhất

Trang 23

Từ nhỏ Ưu Ba Ly đã không được hưởng quyền lợi về học

vấn Người của dòng Thủ Đà La mà muốn học tập pháp điển

Mã Nổ của Bà-la-môn là một vọng tưởng hão huyền Đến tuổi

trưởng thành, Tôn giả được xuất giatheo Phật Mùa hạ trong năm Ưu Ba

Ly xuất gia, đang khi chúng Tăng cửhành lễ an cư, Ưu Ba Ly đã tinh tấn tuđạo và khai ngộ Do đó, Tôn giả đãthành một bậc thượng thủ trong Tăngđoàn, được sự cung kính của haichúng tại gia, xuất gia Việc ấy cũnglàm nhiều người kinh ngạc Một ngườithuộc dòng Thủ Đà La thấp hèn màcăn cơ mẫn tuệ đến như vậy, đó khôngnhững làm rạng rỡ cho dòng Thủ Đà La, mà cũng làm vẻvang cho tinh thần bình đẳng của Phật Giáo

Là vị giữ giới đệ nhất, Tôn giả luôn luôn quan tâm đến cácvấn đề pháp chế, nhưng quan trọng nhất vẫn là vấn đề phátăng và hòa tăng

10 Tôn giả La Hầu La - Mật hạnh đệ nhất

Đức Phật khi còn là Thái tử của vương thành Ca Tỳ La, đã kết hôn với công chúa

Da Du Đà La thành Câu Lợi Vào năm thái tử và công chúa mười chín tuổi, sanh hạ

La Hầu La Thái tử rất vui mừng, nhưng đó không phải là sự vui mừng tình thườngngười đời sanh con Vì thái tử đã nhiều lần xin vua cha xuất gia, đều không được chấpthuận Vua Tịnh Phạn có nói "Trừ phi có được đứa cháu đích tôn thì mới cho phépthái tử xuất gia" Hiện tại thái tử đã có La Hầu La như ý phụ vương, nguyện vọng xuấtgia sẽ thành được, bảo sao thái tử không vui mừng

Khi La Hầu La được 7 ngày tuổi, Thái tử Sĩ Đạt Ta xuất thành tầm đạo và trong suốtmười năm theo đó, La Hầu La chưa một lần nhìn thấy mặt cha

Khi Phật thành đạo, Ngài trở về thành Ca Tỳ La Da Du Đà La bảo con rằng: " Conhãy theo phụ thân xin tài sản đi, cha con có những châu báu mà chúng ta chưa đượcthấy." Không bao lầu sau, La Hầu La được xuất gia theo Phật và trở thành vị Sa Diđầu tiên trong Tăng đoàn, dưới sự dìu dắt trực tiếp của Tôn giả Xá Lợi Phất

Tôn giả La Hầu La được gọi là mật hạnh, nghĩa là trong ba ngàn oai nghi, tám muôn

tế hạnh, La-hầu-la đều biết hết, đều có thể làm hết Nghĩ đến hồi ban đầu, La-hầu-latheo Phật xin gia tài, đến khi Tôn giả chứng ngộ là đã được đức Phật trao cho pháp tài

vô tận Nghĩ đến thuở còn Sadi nhỏ tuổi gia nhập Tăng đoàn, đã làm bận lòng đứcPhật không biết bao nhiêu, hiện tại Tôn giả đã xa lìa mọi dục lạc thế gian, đạt đượcniềm vui chơn chánh của pháp mầu Thật là vinh hạnh cho Tôn giả

Cổng tam quan mang ý niệm "ba cách nhìn" của phật giáo gồm có "hữu quan",

"không quan" và "trung quan Giải thích thứ hai là tam quan là cửa của tam bảo

Trang 24

Thuyết khác thì cho rằng tam quan là "tam giải thoát môn" của thiền tông gồm cửaKhông, cửa Vô tác và cửa Vô tướng (Vô nguyện)

“Thí như ngôi thành có 3 cửa, một thân người không thể cùng một lúc vào cả 3 cửa,chỉ có thể vào 1 cửa mà thôi Thật tướng các pháp là Thành Niết Bàn Thành có 3 cửa:Không, Vô Tướng, Vô Tác”

bánh xe luân chuyển đạo lý nhà Phật gọi là Pháp luân với tám căm biểu tượng

Trung đạo Vòng ngoài có bốn núm biểu tượng cho Tứ Diệu Đế Trên bốn cột củaTam quan là bốn búp sen biểu tượng cho sự trong sạch, tinh khiết, thanh cao của nhàPhật

An cư kiết hạ là pháp tu hành của người xuất gia trong ba tháng hạ (bắt đầu từ

ngày Đản sinh của Đức Phật Thích Ca 15/4 âm lịch cho đến ngày Lễ Vu Lan

15/7 âm lịch) Đây là truyền thống có giá trị rất thiết yếu trong Phật giáo.

Trong ba tháng ấy, Tăng chúng tập họp trong một ngôi chùa để chuyên lo tu học vàtinh tấn đạo nghiệp Người xuất gia phải cấm túc tại một nơi (nếu có duyên sự quantrọng mới được phép rời khỏi nơi an cư trong vòng 7 ngày Nếu đi qua ngày thứ 8,mặt trời mọc lên thì phạm tội ác an cư kiết hạ là vào mùa Hạ vì hay mưa gió nêncũng là mùa sinh sản các loại sâu bọ

An cư kiết hạ là dịp thọ tuổi của chúng Tăng

Người đời lấy năm sinh mà kể tuổi còn đối với người xuất gia trong đạo Phật lấy sốkiết hạ làm tuổi Một người chưa kiết hạ là xem như chưa sinh ra thì chưa có tuổi nào.Người kiết hạ 2 lần thì được hai tuổi và ngày rằm tháng bảy là ngày thọ tuổi củangười xuất gia

"NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT" NGHĨA LÀ GÌ?

: Nam Mô A Di Đà Phật có nghĩa như sau:

Nam Mô: Có 6 nghĩa : kính lễ, quy y, phụng thờ, cứu ngã, độ ngã, quy mạng.A: Có nghĩa là Vô, Không

Di Đà: Nghĩa là lượng

Phật: Người giác ngộ

A Di Ðà là dịch âm chữ Amita Hán dịch nghĩa là Vô lượng Thọ và Vô lượngQuang Vô lượng Thọ nghĩa là tuổi sống lâu không có số lượng; Vô lượng Quang,

là Ngài có hào quang sáng suốt không lường

Vậy Nam mô A Di Đà Phật là: Kính lễ đấng giác ngộ vô lượng, cũng có nghĩalà: Con quay về nương tựa vào đấng giác ngộ vô lượng

Tại sao lúc đản sanh thái tử Tất-đạt-đa không đi 1, 2, 3 bước hay 8, 9 bước mà lại

Trang 25

Theo quan niệm triết học phương Đông, số 7 là con số biểu trưng cho sự hoàn hảonhiếp thâu cả vũ trụ Nó được xác lập trên 7 nguyên lý của thời gian và không gian.Con số 7 tiêu biểu cho không gian có 4 là: Đông, Tây, Nam, Bắc và thời gian có 3 là:quá khứ, hiện tại và vị lai.

toàn thể vũ trụ nhân sinh từ vật nhỏ như vi trần đến vật to lớn như núi Tu Di, tất cảkhông ngoài con số 7:

- Thất đại: địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức

- Thất thánh tài: tín, tấn, giới, tàm quý, văn, xả, huệ

- Thất chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, thức-xoa-ma-na, sa di, sa di ni, ưu bà tắc, ưu bàdi

- Thất Phật: Phật Tỳ-bà-thi, Phật Thi-khí, Phật Tỳ-xá-phù, Phật Câu-lưu-tôn, PhậtCâu-na-hàm Mâu-ni, Phật Ca-diếp và Phật Thích-ca

- Thất thánh quả: Tu-đà-hoàn, tư-đà-hàm, a-na-hàm, A-la-hán, Duyên giác, Bồ-tát vàPhật

Vậy, con số 7 tượng trưng cho sự sinh hóa cả vũ trụ, ngay cả sự sống chết của conngười như lập đàn Dược sư thất bảo để cầu an hay tổ chức thất thất trai tuần để cầusiêu cũng dùng đến nó Vì thế, con số 7 mang ý nghĩa rất quan trọng đối với sự hìnhthành và phát triển của nhân sinh quan, vũ trụ quan qua tầm nhìn Phật giáo

DỨC PHẬT THÍCH CA ĐÃ VƯỢT QUA HẾT SÁU CỎI:

Sau khi qua đời, "Hồn" hay Thân trung ấm sẽ chuyển vào một trong 6 cõi tùy theoNghiệp mà khi còn sống đã tạo nên Dưới đây là tính cách của 6 cõi mà kinh sách gọi

là Lục Đạo:

1 Cõi Trời (chư thiên, thần tiên có phép thuật, hình dáng oai nghiêm hơn con người):

Là nơi thanh thoát an vui Những người khi sống làm điều phước thiện tốt lành cũngnhư những đời trước đó đã tạo phước đức, tu niệm chân chánh thì khi chết sẽ vào nơiđây

2 Cõi Người (ta bà hay gọi là thế giới loài người):

Là nơi dành cho những ai mà Nghiệp tạo ra trước khi chết được xem là nghiệp lành Sau khi chết tùy theo nghiệp lực đã tạo lúc sống là lành hay ác mà có thể được tái sinhtrở lại làm người hay sinh lên cõi Trời hoặc bị đọa vào các cõi dưới

3 Cõi ATULA (hình dáng không oai nghiêm bằng cõi trời nhưng cũng có phépthuật):

Đây là nơi hiện diện của những linh hồn của những con người mà khi còn sốngthường kiêu hãnh vì được nhiều người kính nể do có công tu hành, học hỏi, luyện tập,

cố gắng - Tuy nhiên họ lại là người tham danh lợi, thích tiếng khen, tự đắc, huênhhoang Ví dụ như người tu hành tới cấp cao nhưng lại Tham - Sân - Si, thích tán tụngcông đức, mỗi bước đi có lọng tàng che, chung quanh đầy kẻ hầu người hạ, thích đượcmọi người bái lạy, tôn xưng Những tánh cách ấy đã tạo thành Nghiệp Dù họ là

Trang 26

người có công với đạo pháp, xây nhiều nơi tu tập cho mọi người nhưng không gột rửađược lòng tham luyến sân si, còn tức giận, nóng nảy được khen thì vui, bị chê thì nổigiận, hay phân biệt giàu nghèo sang hèn Kinh Sách xưa gọi họ là Người không cóphước báu lớn - Vì thế mà khi qua đời phải đọa vào cõi A Tu La

4) Cõi Địa Ngục (cõi âm, cũng là nơi chịu sự trừng phạt, đọa đày, cực hình): Cõi này có màu sắc tối mờ hắc ám ghê sợ Đây là nơi dành cho những linh hồn mà lúccòn sống là những kẻ đại gian ác, vô lương tâm, những kẻ chuyên tàn sát, khủng bố,những kẻ gây tai họa đau thương nghiệt ngả cho vô số đồng loại

5 Cõi Súc Sinh ( thế giới động vật):

Đây là cõi giới của những loài động vật, chúng chỉ biết sống theo bản năng chớ không

có lý trí Những kẻ lúc sống ở thế gian chuyên chạy theo vật chất, ham muốn xácthân, những kẻ chuyên mua bán các loại cần sa, bạch phiến, hút xách, chứa chấp,chiêu dụ, bắt cóc đàn bà con gái hãm hiếp hay bắt làm đĩ điếm, làm việc đại gian đại

ác –

6 Cõi Ngạ Quỷ (nơi bị đọa làm quỷ đói chịu vô lượng khổ):

Đây là cõi giới của những linh hồn mà khi còn sống đã rất tham lam, gian manh xảoquyệt, hối lộ tham nhũng, vơ vét của công giết người, cướp của nhất là của từ thiệnlàm của riêng mình, đặc điều vu khống cho người vô tù rồi ăn hối lộ thả ra hay tựkhảo người để đoạt tình, đoạt tiền của thấy người đói khát mà lòng không mảy maythương xót còn đánh đập xua đuổi Màu sắc nơi cõi nga quỷ là màu đỏ bầm dữ tợn.Cõi này là cõi thê thảm nhất, khổ cực nhất trong 6 cõi Địa Tạng Bồ Tát thường ghéqua cõi này để bố thí, cứu khổ cứu nạn mong luân chuyển nghiệp chướng cho nhữngsinh linh tội lỗi, lầm lạc có cơ hội hồi hướng chuyển sang cõi khác

TƯỢNG DI LẶC MIỆNG CƯỜI BỤNG BỰ

Cuộc đời phật di lăc: Di-lặc nghĩa là Từ Thị "người có lòng từ", cũng có tên khác

là Vô Năng Thắng , phiên âm Hán-Việt là A-dật-đa, là một vị Bồ Tát và cũng là

vị Phật cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái Đất cha của di lặc là tu phạn ma, mẹ là phạn

ma bề đạt là một người bà la môn quý tộc ở nuocs nam thiên trúc.sau khi bà phạn ma

bề đạt có man thai tính tình trở nên hiền hòa từ bi cho nên sau khi sinh con ra đặt là “

kẻ từ bi” cho đến hiện tại thì di lặc mới chỉ là bồ tát chứ chưa thành phật.trong bộ “thụ tam thế” di lặc là phật tương lai, người xẻ thay thế cho phật tổ thích ca mâu ni chonên coi là phật miệng cười, bụng bự , nếu chúng ta để ý thấy tư thế kiểu ngồi nàykhông câu nệ lể tiết, vì sao như vây? Bụng lớn bao dung, bao dung những việc trongthiên hạ khó lòng bao dung nổi,mở miệng thì cười cười những kẻ dáng cười trongnhân gian

Trang 27

I A-la-hán là gì?

A-la-hán gọi tắt là La-hán, nghĩa là “Bậc đáng được tôn kính”, hay còn gọi là “Tôngiả” ý nói bậc đầy đủ cả tánh đức và trí tuệ

La-hán có ba nghĩa:

1 Sát tặc: Bậc đã diệt trừ sạch bọn giặc phiền não tham, sân, si… làm phương hại đến

sự thanh tịnh an lạc của nội tâm và gây cản trở chúng ta tu hành

2 Ứng cúng: A-la-hán là bậc đáng được mọi người tôn kính cúng dường

3 Bất sanh: A-la-hán đã tận trừ tất cả phiền não lậu hoặc, không còn gây tạo ácnghiệp, do đó, không còn chuyển kiếp đầu thai thọ khổ luân hồi

Có 18 vị la hán “ thập bát la hán” con so 18 này muốn đề cập tới 18 giới, tượng trưngcho 6 căn, 6 giới, 6 thần vượt thoát được nó là đã chứng A La Hán

Lục căn là sáu giác quan của con người để nhận biết sự vật.

Lục trần: trần là bụi chỉ cỏi trần lục trần là sáu cảnh diển ra dưới cỏi trần trước lục

căn.làm cho lục căn sinh ra lục thức

Trang 28

5, súc dục

6,pháp dục

Trang 29

Vạy thì mắt thấy , tai nghe, mũi ngữi, miệng nếm,

Cần phải chủ cái tâm, tâm thanh tịnh, định cái trí, trí phải tự nhiên Hể có lục dục là cólục trần, mà hể có lục trần thì mới sinh ra lục tặc, có lục tặc thì hại lục thức, lục căn ,lục thần, mới sinh ra lục đạo

CÁCH BÀY TRÍ TƯỢNG PHẬT TRONG CHÙA:

bộ tượng “ ngủ phương phật đông tây nam bắc trung ương” hay “ ngũ trí như lai”

Vị trí: 5 pho tượng phật xếp hang ngang

chính giữu là phật pháp thân, tức là phật tỳ lô giá na

Pho thứ nhất bên trái là phật nam phương bảo sinh, tượng trưng cho phúc đức.Pho thứ hai bên trái là phật đông phương a súc, tượng trưng cho tiinhs giácngộ

Pho thứ nhất bên phải là phật a di đà Tượng trưng cho trí tuệ

Pho thứ hai bên phải là phật bắc phương bất không thành tựu, tượng trưng cho

sự nghiệp

Bộ tượng “ bảy phật trong quá khứ”

vị trí: xắp sếp theo hang dọc

Trước phật thích ca mâu ni có sáu vị phật, phật tỳ bà thy, phật thi diệp, phật tỳ

xá bà, phật câu lưu tôn, phật câu na hàm, phật ca diếp,

Bộ tượng “ hoa nghiêm tam thánh”

Vị trí: đặt theo hang ngang có hai cách dặt:

- Đồ đệ a na ca diếp, đức phật thích ca, đồ đệ a nan

- Bên trái là bồ tát văn thù, chính giữa là phật thích ca mâu ni, bên phải là bồtát phổ hiền

Bộ tượng “ tam tôn a di đà” hay” tây phương tam thánh”.

Bên trái là quán thế âm, chính giữa là a di đà, bên phải là đại thế chí

Tượng “ tam thế phật”

là thờ ba vị Nhiên Đăng Cổ Phật (đại diện cho Phật quá khứ), Phật Thích

ca và Phật Di Lặc (được xem là đại diện cho Phật vị lai)

Trang 30

Bộ tượng “ đông phương tam thánh” hay “ ba pho dược sư”.

Cách bài trí: hang ngang

Bên trái nhật quang, bên phải là nguyệt quang, chinh giữa la phật dược sư.Nhật quang bồ tát còn gọi là nhật quan biên chiếu đồ, tư thế đang đứng, toànthân đỏ tươi, tay cầm vầng mặt trời hoạt bong hoa chu xích.nguyệt quang bồ tát haynguyệt quang biên chiếu bồ tát đang trong tư thế đứng, toàn thân màu trắng, tay cầmvầng mặt trăng

Bộ tượng “ tam phật đồng điện”

Cách bài trí: theo hang ngang “ hoành tam thế”

Bên trái là phật a di đà( thế giới cực lạc ở tây phương)

Bên phải là phật dược sư( thế giới lưu ly ở đông phương tỉnh tổ)

Chính giữu là phật thích ca mâu ni( thế giới ta bà)

“ thụ tam thế” theo hang dọc.

Phật nhiên đăng, phật thích ca, phật di lăc

Bộ tượng “ tam thân phật”

Bên trái phật lô xá nha( báo thân), chính giữa phật tỳ lư giá na(pháp thân), bênphải phật thích ca mâu ni( ứng thân)

Bộ tượng “ ngũ tử hí di lặc”

Sáu đứa trẻ vui quanh phật di lặc

Bộ tương “thích ca tam tôn”

Bên trái bồ tát phổ hiền, bên phải bồ tát van thù, chính giữa phật thích ca

Bộ tượng di lạc tam tôn

Bên trái có đức hoa lâm bồ tát,bên phải có đại diệu tướng bồ tát

Ý nghĩa tượng Niêm hoa vi tiếu cầm hoa mỉm cười

Hôm nọ, trên núi Linh Thứu trước mặt đông đảo đại chúng, Đức Thế Tôn khôngtuyên thuyết pháp thoại như mọi ngày, mà lặng lẽ đưa lên một cành hoa Đại chúngngơ ngác chẳng ai hiểu gì, duy chỉ có đại trưởng lão Ma-ha Ca-diếp phá nhan mỉmcười Đức Phật liền tuyên bố với các thầy tì kheo: “Ta có chính pháp vô thượng traocho Ma-ha Ca-diếp Ca-diếp là chỗ nương tựa lớn cho các thầy tì kheo, cũng như Như

Trang 31

(niêm hoa) và ngài Ca-diếp mỉm cười (vi tiếu) là biểu thị cho pháp môn lấy tâm truyềntâm, một pháp môn siêu ngôn ngữ, siêu văn tự

Quan Âm nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh chữ thế trong tên

nhà vua Đường là Lý Thế Dân nên gọi là Quan Âm hoặc Quán Âm, là tên của BồTát Quán Thế Âm tại Trung Quốc, Việt Nam và các nước lân cận Phật tử TrungQuốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ Tát Phổ Hiền Địa Tạng và Văn-thù-sư-lợi Đó là bốn vị Đại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc

Quan Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạnlửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm Qua

Quan Âm Thị Kính

Một sự tích được phổ biến tại Việt Nam là Quan Âm Thị Kính, kể rằng ngài đã đầu

thai và tu hành 9 kiếp Trong kiếp thứ 10, ngài được đầu thai làm một con gái trongmột gia đình họ Mãng ở nước Cao Ly (ở bán đảo Triều Tiên ngày nay), và được đặttên là Thị Kính

Thị Kính được gả cho Thiện Sĩ của gia đình họ Sùng Khi ở nhà chồng, Thị Kính giữphận làm dâu, tôn kính phụng dưỡng bố mẹ chồng Một hôm, khi Thiện Sĩ đang ngủsau khi đọc sách, Thị Kính thấy ở cầm của chồng mình có mọc sợi râu Thị Kính đangmay vá nên cằm một con dao nhíp trong tay và sẵn tiện cắt đứt sợi râu Thiện Sĩ giậtmình thức giấc, thấy vợ đang cầm dao gần cổ, tưởng rằng Thị Kính đang định giếtmình nên la lên

Sau khi Thị Kính kể lể đầu đuôi, cha mẹ chồng vẫn ngờ rằng Thị Kính có âm mưugiết chồng, bắt Thiện Sĩ phải bỏ vợ Thị Kính phải trở về nhà cha mẹ mình, quyết địnhxuất gia đi tu Bà cải trang thành một người nam giới, trốn nhà đến chùa xin đi tu, lấypháp danh là Kỉnh Tâm

Tuy là gái giả trai, Kính Tâm có tướng mạo đẹp đẽ, cho nên có nhiều tín nữ ngưỡng

mộ Thị Mầu, con của một trưởng giả giàu có, trêu ghẹo Kính Tâm, nhưng khôngđược đáp lại Thị Mầu lại có thai với người đầy tớ Khi bị tra hỏi, Thị Mầu khai rằngKính Tâm là cha của thai nhi Kính Tâm tuy kêu oan nhưng không dám tiết lộ ra bímật của mình Sau đó, Kính Tâm phải tu ở ngoài cổng chùa để chùa không bị tiếngtăm

Thị Mầu sinh ra được một đứa con trai, đem đứa nhỏ đến chùa gửi cho Kính Tâm.Kính Tâm vì tính thương người, nhận đứa trẻ vào nuôi dưỡng Khi đứa trẻ lên 3 tuổithì Kính Tâm bị bệnh nặng Biết mình sắp chết, Kính Tâm dặn dò đứa trẻ đưa thư cho

sư cụ của chùa và cho ông bà họ Mãng

Sau khi đọc rõ sự tình, sư cụ kêu người khám xét thi thể Kính Tâm, mới biết rằngKính Tâm là gái giả trai Thị Mầu xấu hổ, đành phải tự tử Thiện Sĩ ăn năn, bèn đi tu,sau này biến thành một con chim

Quan Âm Bồ Tát (Thị Kính sau khi chết) cũng cứu độ đứa con nuôi, con ruột của ThịMầu, đem về Nam Hải, để làm người hầu

Do đó, người ta họa hình Quan Thế Âm Bồ Tát đội mũ ni xanh, mặc áo tràng trắng,ngự trên tòa sen, bên tay mặt có con chim mỏ ngậm xâu chuỗi bồ đề, bên dưới có đứatrẻ bận khôi giáp chắp tay đứng hầu

Trang 32

QUAN ÂM DIỆU THIỆN

Truyền thuyết Quan Âm Diệu Thiện được truyền miệng trong dân gian Việt Nam qualối truyện thơ Bài thơ viết theo thể lục bát nói về một vị công chúa đã xuất gia ở ViệtNam để độ hoá cho vua cha có nhiều tội ác Sự tích này cũng có một dị bản lưu hành ởTrung Hoa

Vị công chúa này, nguyên ở nước Hùng Lâm thuộc Ấn Độ, là người con gái thứ bacủa một vị vua Trước khi sinh công chúa Diệu Thiện thì nhà vua rất mong có hoàng

tử nên đã cầu xin rất nhiều nhưng đứa con chào đời lại là một công chúa Điều này đãlàm cho nhà vua sinh lòng oán hận

Khác hẳn hai người chị, nàng công chúa này lớn lên chỉ say mê kinh kệ và có lòngquy y Phật Vì cự tuyệt việc lấy chồng nên cô bị giam hãm phía sau hoàng cung.Không thuyết phục được con mình hoàn tục, vua giả vờ cho phép con tu ở chùa BạchTước rồi ngầm ra lệnh cho các sư sãi phải tìm cách thuyết phục cho công chúa hoàntục Nếu không sẽ giết hết các sư sãi trong chùa Nhưng mọi cách đều không lung lạcđược ý quyết của công chúa

Giận con, vua ra lệnh đốt chùa để giết cô công chúa nhưng trời bỗng có mưa dập tắtlửa Chưa hết giận, vua bèn hạ lệnh xử chém, thì trời bỗng giông tố, tạo ra sét đánhvăng búa của đao phủ thủ Vua tức giận ra lệnh xử giảo công chúa nhưng ngay lúc đóxuất hiện một con cọp trắng xông ra cõng công chúa mang đến chùa Hương

Diệu Thiện tu hành ở đó và cảm hoá được muông thú

Trong khi đó, vua trong triều đột nhiên bị chứng bệnh hủi không chữa được, dần dầnhai bàn tay bị rơi rụng và mắt trở nên mù Công chúa tu đã đến kì đắc đạo trở về thămphụ thân và đã hy sinh hai mắt cùng hai tay để cho cha Sau đó công chúa nhập NiếtBàn và cứu độ cha mẹ và hai chị cùng thành Phật

Trong truyện đã đề cao hai đặc tính của bồ tát, đó là nhân và hiếu Với trí huệ và giớihạnh thì hiếu có thể độ giúp cứu thoát được cha mẹ mình, cùng như nhân có thể độgiúp nhiều người thoát vòng mê lầm trở về với trí huệ

Sự tích cây nêu ngày Tết

Ngày ấy, không biết từ bao giờ và cũng không biết bằng cách gì, Quỷ chiếm đoạt tất

cả đất nước Người chỉ ăn nhờ ở đậu và làm rẽ ruộng đất của Quỷ Quỷ đối với ngườingày càng quá tay Chúng dần tăng số phải nộp lên gấp đôi và mỗi năm mỗi nhích lênmột ít Cuối cùng chúng bắt Người phải nộp theo một thể lệ đặc biệt do chúng nghĩ ra

là "ăn ngọn cho gốc" Người không chịu Chúng dùng áp lực bắt phải theo Vì thế,năm ấy sau vụ gặt, Người chỉ còn trơ những rạ là rạ Cảnh tượng xương bọc da thêthảm diễn ra khắp mọi nơi bên cạnh bọn Quỷ reo cười đắc ý

Phật từ phương Tây lại, có ý định giúp người chống lại sự bóc lột tàn nhẫn của Quỷ.Sau mùa đó, Phật bảo Người đừng trồng lúa mà cào đất thành luống trồng khoai lang.Người cứ y lời làm đúng như lời Phật dặn Quỷ không ngờ Người đã bắt đầu có mưu

kế chống lại mình nên cứ nêu đúng thể lệ như mùa trước: "Ăn ngọn cho gốc"

Trang 33

Mùa thu hoạch ấy, Quỷ rất hậm hực nhìn thấy những gánh khoai lang chạy về nhàNgười đổ thành từng đống lù lù, còn nhà mình chỉ toàn những dây và lá khoai lànhững thứ không nhai nổi Nhưng ác nỗi, thể lệ đã quy định, chúng đành cứng họngkhông chối cãi vào đâu được.

Sang mùa khác, Quỷ thay thể lệ mới là "Ăn gốc cho ngọn" Phật bảo người lại chuyểnsang trồng lúa Kết quả Quỷ lại hỏng ăn Những hạt lúa vàng theo người về nhà, còn

rạ phó mặc cho Quỷ Quỷ tức lộn ruột nên mùa sau chúng tuyên bố "Ăn cả gốc lẫnngọn" Lần này Quỷ nghĩ:

- Cho chúng nó muốn trồng gì thì trồng, đằng nào cũng không lọt khỏi tay chúng tao.Nhưng Phật đã bàn với Người thay đổi giống mới Phật trao cho Người hạt giống câyngô để gieo khắp mọi nơi mọi chỗ

Năm ấy có một lần nữa, Người sung sướng trông thấy công lao của mình không uổng.Trong nhà Người thóc ăn chưa hết thì từng gánh ngô đã tiến về chứa từng cót đầy ăm

ắp Về phần quỷ lại bị một vố cay chua, uất ức hàng mấy ngày liền Cuối cùng Quỷnhất định bắt Người phải trả tất cả ruộng đất không cho làm rẽ nữa Trong bụng chúngnghĩ:

- Thà không được cái gì cả, còn hơn là để cho chúng nó ăn một mình

Phật bảo Người điều đình với Quỷ cho tậu một miếng đất vừa bằng bóng một chiếc áo

cà sa Nghĩa là Người sẽ trồng một cây tre có mắc một chiếc áo cà sa trên ngọn, bóng

cà sa che bao nhiêu diện tích ở mặt đất thì là đất của Người sở hữu ở đó Ban đầu Quỷkhông thuận nhưng sau chúng nó suy tính thấy đất tậu ít mà giá rất hời bèn nhận lời:

- Ồ! Bằng chiếc áo cà sa có là bao nhiêu

Chúng nó nghĩ thế Hai bên làm tờ giao ước: Ngoài bóng tre là đất của Quỷ, trongbóng tre là đất của Người

Khi Người trồng xong cây tre, Phật đứng trên ngọn, tung áo cà sa bay toả ra thành mộtmiếng vải tròn Rồi Phật hoá phép làm cho cây tre cao vút mãi lên, đến tận trời Tựnhiên đất trời trở nên âm u: bóng của áo cà sa dần dần che kín khắp cả mặt đất BọnQuỷ không ngờ có sự phi thường như thế; mỗi lần bóng áo lấn dần vào đất của chúng,chúng phải dắt nhau lùi mãi lùi mãi Cuối cùng Quỷ không có đất ở nữa, phải chạy rabiển đông Vì thế người ta mới gọi là Quỷ Ðông

Tiếc vì đất đai hoa màu đều thuộc về tay Người, Quỷ rất hậm hực, cố chiêu tập binh

mã vào cướp lại Lần này Người phải chiến đấu với Quỷ rất gay go vì quân đội củaQuỷ có đủ một bầy ác thú như voi, ngựa, chó, ngao, bạch xà, hắc hổ, v.v rất hung

dữ Phật cầm gậy tầm xích đánh giúp Người làm quân của Quỷ không tiến lên được

Trang 34

Sau mấy trận bất lợi, Quỷ bèn cho quân đi dò xem Phật sợ gì Phật cho chúng biết là

sợ hoa quả, oản chuối và cơm nắm, trứng luộc Ðối lại Phật cũng dò hỏi và biết quâncủa Quỷ chỉ sợ độc có mấy thứ : máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột

Lần giáp chiến sau đó, quân của Quỷ đem không biết cơ man nào là hoa quả đến némPhật, Phật bảo Người nhặt làm lương ăn rồi đem máu chó vẩy khắp nơi Quân củaQuỷ thấy máu chó, sợ hoảng hồn bỏ chạy

Lần thứ hai, quân của Quỷ lại đem oản chuối vào ném quân Phật Phật bảo Người nhặtlàm lương ăn rồi giã tỏi phun vào quân địch Quân của Quỷ không chịu được mùi tỏi,nên cũng cắm đầu chạy biệt tích

Lần thứ ba, quân của Quỷ lại đem cơm nắm, trứng luộc vào ném quân Phật Người tha

hồ ăn và theo lời Phật dùng vôi bột vung vào Quỷ Người lại lấy lá dứa quất vàochúng Quỷ chạy không kịp, lại bị Phật bắt đày ra biển đông Ngày Quỷ già, Quỷ trẻ,Quỷ đực, Quỷ cái cuốn gói ra đi, bộ dạng của chúng vô cùng thiểu não Chúng rập đầusát đất cố xin Phật thương tình cho phép một năm được hai ba ngày vào đất liền thămphần mộ của tổ tiên cha ông ngày trước Phật thấy chúng khóc váng cả lên mới thươnghại hứa cho

Vì thế, hàng năm cứ đến ngày tết Nguyên Ðán là ngày Quỷ vào thăm đất liền, thìngười ta theo tục trồng nêu để cho Quỷ không dám bén mảng vào chỗ người đang ở.Trên nêu có khánh đất, mỗi khi gió rung thì có tiếng động phát ra để luôn nhắc bọnQuỷ nghe mà tránh Cũng trên đó có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hái để choQuỷ sợ Ngoài ra, người ta còn vẽ hình cung tên hướng mũi nhọn về phía đông và rắcvôi bột xuống đất vào những ngày Tết để cấm cửa Quỷ

Có câu ca dao:

Cành đa lá dứa treo kiêu (cao)

Vôi bột rắc ngõ chớ trêu mọi nhà

Quỷ vào thì Quỷ lại ra

Cành đa lá dứa thì ta cứa mồm

Ngày xưa người ta còn tin rằng những lúc cần đuổi quỷ như khi có dịch tễ chẳng hạn,thì treo một nắm lá dứa ở trước ngõ hay vẩy máu chó khắp nơi cho Quỷ khỏi quấy.Ðàn bà thường buộc tỏi vào giải yếm là cũng có một mục đích gần như vậy

THƯỢNG ĐẾ?

Trong tiếng Việt, Thượng đế là vị thần tối cao duy nhất cai quản tất cả Tuỳ vào tôngiáo có tin vào việc có sáng thế hay không, mà Thượng đế là đấng sáng thế hoặc chỉ là

Trang 35

 Thượng đế trong Đạo giáo Trung Quốc là Ngọc Hoàng, hay Thiên hoàngThượng đế

 Thượng đế trong Do Thái giáo là Jehovah

 Thượng đế trong Ki-tô giáo là Thiên Chúa (God, Deus, Dieu)

 Thượng đế trong Hồi giáo là Allah

 Thượng đế trong Ấn Độ giáo là Brahma (hoặc tập hợp cả Brahma, Vishnu,Shiva)

 Thượng đế trong đạo Cao Đài là Đức Chí Tôn (Đức Cao Đài)

 Thượng đế trong Phật giáo là Đế Thích

Ý nghĩa của lá cờ Phật Giáo

Cờ Phật Giáo, trước hết là biểu trưng tinh thần thống nhất của Phật tử trên toàn thếgiới Cờ Phật Giáo còn tượng trưng cho niềm Chánh tín và sự yêu chuộng hòa bìnhcủa mọi người con Phật

Ngoài ra, cờ Phật Giáo còn có ý nghĩa cắt bỏ quan niệm cố chấp các ranh giới địaphương, gia tăng niềm hăng hái đoàn kết để phụng sự cho Ðạo Pháp và dân tộc

Năm sắc theo chiều dọc: Xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam, tuợng trưng cho hào quangchư Phật

Năm sắc theo chiều ngang (tượng trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật Ý nghĩacủa màu sắc phân biệt là:

1.- Xanh đậm: Tượng trưng cho Ðịnh căn Màu xanh tượng trưng cho sự rộng lớn,sáng suốt

2.- Vàng lợt: Tượng trưng cho Niệm căn, vì có Chánh Niệm mới sanh Ðịnh và phátHuệ

3.- Ðỏ: Tượng trưng cho Tinh Tấn căn Có tinh tấn mới khắc phục được mọi trở ngại,nghịch cảnh

4.- Trắng: Tượng trưng cho Tín căn, niềm tin không lay chuyển, và có tín căn là cóNhân Duyên với chư Phật và nguồn gốc sanh ra muôn hạnh lành

5.- Da cam: Tượng trưng cho Huệ căn Khi có Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh đầy đủ thì Tuệ sẽphát sanh

Trang 36

6.- Màu tổng hợp: Tượng trưng cho tinh thần đoàn kết của Phật giáo đồ trên toàn thếgiới.

CHUYÊN ĐỀ NAM TIẾN

Nam tiến chỉ sự mở mang bờ cỏi và bành trướng lãnh thổ của người Việt về phương

nam trong lịch sử Việt Nam

nước Đại Việt đã được mở rộng từ Bắc vào Nam qua từng thời kỳ trong lịch sử Thời

kỳ đầu, lãnh thổ Đại Việt bao gồm khu vực châu thổ sông Hồng (Đồng bằng Bắc

bộ hiện nay) Do đặc điểm địa-chiến lược, trong tiến trình lịch sử các triều đại phongkiến Việt Nam mở rộng lãnh thổ sang phía Đông thì gặp biển, phía Tây thì bị các dãynúi hiểm trở của dãy Trường Sơn ngăn cản, phía Bắc là lãnh thổ của người khổng

lồ Hán, nên chỉ có thể lần lượt tấn công và xâm chiếm các nước lân bang ở phươngNam Hành trình Nam tiến kéo dài gần 700 năm, từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18 lãnhthổ Việt Nam về cơ bản được hình thành và tồn tại như hiện nay

Năm 1306, thuộc vào một giai đoạn Chiêm Thành và Đại Việt có mối giao hảo tốtđẹp, nhà Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Mân Đổi lại Chế Mân dâng đất cho Đại Việt gồm Châu Ô và Châu Rí Các vùng đất nàyđược vua Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hóa Châu, nay thuộc vùngnam Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, lãnh thổ Đại Việt phía nam tới Hải Vân Quan(đèo Hải Vân ngày nay)

Cuối thời nhà trần, đất nước chiêm thành đã sinh ra một danh tướng , làm cho ngườingười khiếp sợ, bách chiến bách thắng ,đó là chế bong nga Ông đã nhiều lần đánh lấylại những phần đất của người chăm pa, nhưng đến năm 1402 chế bồng nga mất

Những năm đầu thời kỳ nhà Hồ, từ 1400 đến 1403, nhà Hồ liên tục đem quân tấn côngChiêm Thành đẻ đánh và mở đất chiêm động cổ lủy( tức là từ triệu phong -quảng trịđến diện bàn –quảng nam)

Nhưng vùng đất này chưa yên Đến năm 1470 đất nước ta đã xuất hiện một vị vua,minh quân trong số tất cả những minh quân, chính là hoàn đế lê thánh tông Lúc nàyquan hệ giữa Đại Việt và Chiêm Thành trở nên căng thẳng, vua Lê Thánh Tông pháidanh tướng Đinh Liệt cầm 20 vạn quân đánh Chiêm Thành Năm 1471, quân Việt phátan kinh đô Vijaya (thuộc Bình Định ngày nay) Lê Thánh Tông đã sát nhập miền bắcChiêm Thành, từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông vào Đại Việt, đặt tên vùng đất mới

là thừa tuyên Quảng Nam

Quân đội nhà Lê còn tiến tới phía nam vùng đất Phú Yên ngày nay, Lê Thánh Tông đãcho khắc chữ vào vách đá trên đỉnh núi Thạch Bi (đá bia), ghi công mở đất và phân

Trang 37

định ranh giới xin lưu ý là vào năm 1471 đất của chúng tới phú yên khánh hòa ranhgiới là đèo cả

Nhưng vùng đất này còn nhiều chiến sự, có khi người chăm cai quản , có khi ngườiviệt cai quản đến Năm 1611 khi chúa nguyễn hoàng đã vào nam , ông đã đánh dứtđiểm để lấy luôn vùng đất này sát nhập chính thức vào lảnh thổ đại việt của đất nước

ta 1653 vua chăm là bà tấm, ban đêm xua quân quấy nhiễu biên cương Cai giử biêncương lúc bấy giờ là hùng ngọc hầu đã cho quân đánh tới tận tân an, lấy luôn vùng đấtkhathaura chính là vùng đất tỉnh khánh hòa ngày nay.để cho người chăm chỉ còn vùngđất phan rang và bình thuận

Năm 1693 với lý do vua nước Chiêm Thành là Bà Tranh muốn lấy lại vùng đất củacham pa và bỏ không tiến cống, Nguyễn Phúc Chu sai quan tổng binh là Nguyễn HữuCảnh đem binh đi đánh lấy luôn vùng đất còn lại phan rang ,bình thuận vào đại việt.Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm Thành làm Thuận Phủ, nay thuộc Bình Thuận.Tuy nhiên,

do sự kháng cự của người Champa và cũng cần tập trung cho việc khai pháđất Nam bộ của Chân Lạp nên qua năm 1697, chúa Nguyễn đổi Thuận Phủ ra làmThuận Thành Trấn (cái thành nghe lời), dành cho người Chăm cơ chế tự trị nhưng vẫnthuộc sự bảo hộ của chúa Nguyễn Đến năm 1832, vua Minh Mạng xóa bỏ cơ chế tựtrị trên và lập thành tỉnh Bình Thuận và người chăm đả trở thành thành phần 54 dântộc của đất nước ta

Nhưng tầm nhìn chiến lược đã mở đất trong phương nam từ rất lâu rồi thưa quý vị

1620 một quận chúa ngọc vạn , con chúa nguyễn phúc nguyên đã lấy vua chaychetta 2hoàng đế của vương quốc thủy chân lạp( miền tây và miền đông hiện nay) lục chânlạp( đât nước cam pu chia ) bây giờ Để lưu dan người việt từ vùng đất ngũ quảng tức

là vùng đất miền trung vào đây khai phá vùng đất phương nam.theo chân công chúangọc vạn

Năm 1623 chúa Nguyễn Phúc Nguyên nhân quan hệ hữu hảo với vua Chân Lạp CheyChetta II (cha vợ - con rể), đã mượn vùng đất Prey Nokor (Sài Gòn ngày nay) củaChân Lạp đặt trạm và quan chức thu thuế lưu dân Việt đang sinh sống xung quanh ởSài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa

Năm 1658, vua nước Chân Lạp mất, nội bộ nước Chân Lạp lục đục vì tranh giànhngôi Chúa Nguyễn Phúc Tần đã giúp một hoàng thân Chân Lạp làBatom Reachea lênngôi, đáp lại vị vua mới của Chân Lạp đã ký hiệp ước triều cống chúa Nguyễn hàngnăm và cho phép người Việt được làm chủ vùng đất đã khai hoang ở Sài Gòn, ĐồngNai, Bà Rịa

Năm 1679 có quan nhà Minh gồm Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến làTổng binh Trấn thủ đất Long môn (Quảng Tây - Trung Quốc), Trần Thượng Xuyên vàphó tướng Trần An Bình là tổng binh châu Cao, Lôi, Liêm (Quảng Đông - TrungQuốc) không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3000 người cùng 50 chiếc thuyền suôi vàonam để xin làm dân Đại Việt nhưng lúc này Chúa Nguyễn Phúc Tần đang rất phânvân, cho vào hay không cho vào Không cho vào bởi vì cấc chúa nguyễn lo ngại rằng

họ khác mình về văn hóa , khác mình về ngôn ngữ , khác mình về cách ăn mặc, phongtục khi cho họ vào có hòa nhập vào dân tộc việt dduocj hay không nhưng nếu khôngcho họ vào thì ông bà ta có câu “ chó dòn tường chó cắn” họ đã cùng đường, họ đang

có săn binh khi trong tay, nếu không cho họ vào thì họ xẻ đánh để được vào Và

Ngày đăng: 04/03/2015, 20:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w