1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử

60 287 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 666,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như: Luận án Phó tiến sĩ của Đặng Văn Hồ, “Tạo biểu tượng vềhoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh qua dạy học lịch sử lớp 12 trường THPT”;Luận văn Nguyễn Thị Hoài Thanh, “Quá trình tạo biể

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục đào tạo nhằm sự đáp ứng các yêu cầu của xã hội về con người.Trong toàn bộ sự vận động đổi mới của xã hội, đổi mới giáo dục là một yêu cầu tấtyếu Nền giáo dục nước ta đang thực hiện một sự đổi mới mạnh mẽ toàn diện nhằmthực hiện mục tiêu mà UNESCO đã đề xướng: “Học để biết, học để làm, học đểchung sống, học để tự khẳng định mình” Lịch sử cũng như những môn học khácgóp phần vào hình thành các mục tiêu giáo dục, đào tạo Mặt khác, bản thân lịch sử

xã hội loài người và bộ môn lịch sử có nhiều ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ vàđào tạo cho họ một thế giới quan khoa học Qua học tập lịch sử, tầm nhìn của họcsinh đối với cuộc sống quá khứ, hiện tại và tương lai được mở rộng

Để có thể làm tốt được nhiệm vụ này, bộ môn lịch sử phải cung cấp cho họcsinh những tri thức cần thiết về quá trình phát triển hợp qui luật của lịch sử dân tộc

và thế giới Do điều kiện học tập của học sinh không thể trực tiếp “trực quan sinhđộng” các sự kiện xảy ra trong quá khứ Vì vậy, quá trình dạy học lịch sử phải tiếnhành trên cơ sở tài liệu và sự kiện để hình thành những hình ảnh, những sự kiện,nhân vật lịch sử, điều kiện lịch sử được phản ánh trong óc học sinh với những nétchung nhất, điển hình nhất, đó là các biểu tượng lịch sử Trên cơ sở đó hình thànhnên khái niệm nêu qui luật và rút ra bài học lịch sử

Trong các loại biểu tượng thì biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiện đóngmột vai trò quan trọng Nó giúp học sinh ghi nhớ sự kiện chính xác hơn, đồng thờitạo điều kiện cho HS hiểu biết nhiều hơn về kiến thức xã hội Tạo biểu tượng về địađiểm của sự kiện góp phần làm rõ mối quan hệ giữa các sự kiện với địa điểm xảy ra

sự kiện Mối quan hệ đó có thể là tất yếu, có thể là ngẫu nhiên… Nhưng không cómột sự kiện lịch sử nào lại không xảy ra ở một địa điểm nhất định Trong dạy họclịch sử, không xác định được địa điểm của sự kiện, thời gian của sự kiện thì sự kiện

đó trở thành vô nghĩa, đồng nghĩa với HS không thể nhận thức được bản chất của sựkiện lịch sử

Tuy nhiên, trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay GV rất ítkhi chú ý đến việc tạo biểu tượng cho HS nói chung và tạo biểu tượng về địa điểmdiễn ra sự kiện nói riêng Điều đó đã dẫn đến việc HS nắm kiến thức về địa điểm

Trang 3

còn rất mơ hồ, mông lung, tình trạng nhầm lẫn giữa các địa điểm diễn ra sự kiệnkhá phổ biến Do đó, việc tạo biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiện trong DHLS ởtrường THPT quan trọng và cần thiết

Lịch sử dân tộc đã trải qua nhiều thăng trầm với nhiều sự kiện tiêu biểu Mỗimột sự kiện lại diễn ra ở một địa điểm khác nhau Mỗi địa điểm đều có những đặcđiểm riêng nó có tác động đến quá trình diễn ra sự kiện, kết quả, ý nghĩa của sựkiện.Vì vậy, GV cần phải cung cấp tài liệu – sự kiện để tạo biểu tượng về địa điểmdiễn ra sự kiện cho HS

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950 – 1954 có rất nhiều sự kiện quan trọng gắnvới những địa danh lịch sử nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

và can thiệp Mĩ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước Một giai đoạn lịch sửquan trọng cần phải giáo dục cho học sinh nhận thức đúng, đầy đủ về những sự kiện

đã diễn ra góp phần làm rõ thêm lịch sử dân tộc

Chính vì những lý do trên và thực tiễn việc dạy học lịch sử ở trường THPT,

tôi chọn vấn đề: “Tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch

sử giai đoạn 1950 – 1954 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc tạo biểu tượng nói chung và tạo biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiệnnói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm, đã có nhiều đề tàinghiên cứu đến vấn đề này

Thứ nhất, tài liệu nước ngoài Đairi.N.G đã có nhiều tác phẩm đề ra nhữngnguyên tắc, biện pháp trong DHLS ở trường THPT như “Những yêu cầu đối vớimột giờ học lịch sử”, “Những vấn đề cần nắm vững của giờ học”… Đặc biệt, trong

cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” tác giả đã khẳng định: “Tính cụ thể,

tính hình ảnh là những sự kiện có giá trị lớn lao, chúng cho phép hình dung lại quá khứ chỉ bằng những chi tiết cụ thể, dễ nhìn mới giúp hình thành ở học sinh niềm tin vững chắc” [18, tr.12]

Hay M.N.Sacđacốp trong “Tư duy học sinh” (tập 1) do Phan Ngọc Liên,Phạm Hồng Việt, Dương Đức Niệm dịch, đã có nhiều nội dung nói về mối quan hệgiữa biểu tượng tư duy, mối quan hệ giữa hiện tượng và khái niệm trong tư duy họcsinh Những công trình này tuy chưa đề cập đến lý luận tạo biểu tượng về địa điểm

Trang 4

diễn ra sự kiện, nhưng là cơ sở lý luận cho chúng tôi xác định được ý nghĩa của việctạo biểu tượng đối với sự hình thành tri thức lịch sử của HS.

Thứ hai, tài liệu trong nước Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử”

do Phan Ngọc Liên (chủ biên), xuất bản năm 2003 đã giành một phần trình bày vềbiểu tượng và tạo biểu tượng với nội dung: vai trò, ý nghĩa của việc tạo biểu tượngtrong học tập lịch sử ở trường phổ thông, phân loại biểu tượng, những biện pháp sưphạm cơ bản cho việc tạo biểu tượng Tác giả đã góp phần nâng cao nhận thức lýluận của bộ môn và định hướng nghiệp vụ cho GV, sinh viên giảng dạy bộ môn lịch

sử ở trường phổ thông

Ngoài ra một số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ cũng đã đi vàotìm hiểu vấn đề tạo biểu tượng nói chung và tạo biểu tượng về địa điểm diễn ra sựkiện nói riêng

Hầu hết các luận văn, khóa luận đều nghiên cứu vấn đề tạo biểu tượng vềnhan vật lịch sử Như: Luận án Phó tiến sĩ của Đặng Văn Hồ, “Tạo biểu tượng vềhoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh qua dạy học lịch sử lớp 12 trường THPT”;Luận văn Nguyễn Thị Hoài Thanh, “Quá trình tạo biểu tượng các nhân vật lịch sửtrong dạy học lịch sử dân tộc (1945-1954) ở trường THPT (Ban nâng cao)”; ĐặngThanh Tú, “Tạo biểu tượng một số nhân vật lịch sử Việt Nam (1858-1918) qua dạyhọc lịch sử dân tộc lớp 11 trường THPT chuyên ban (ban KHXH)”;

Đối với vấn đề tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện đã có khóa luận tốtnghiệp của Nguyễn Thị Huế, “Tạo biểu tượng về địa điểm của sự kiện trong dạyhọc lịch sử Việt Nam bài “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chốngthực dân Pháp (1946-1950)” ở lớp 12, trường trung học phổ thông (Chương trìnhChuẩn)”

Bên cạnh đó, Nguyễn Đức Cương đã có bài “Tạo biểu tượng về địa điểm của sựkiện trên cơ sở hướng dẫn học sinh tự học trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông”,tại hội thảo khoa học quốc gia nghiên cứu giảng dạy lịch sử trong bối cảnh hội nhậpquốc tế và phát triển kĩ năng tự học cho học sinh Bài viết đã đề cấp đến những kháiniệm cơ bản và một số biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng về địa điểm

Tóm lại, các tác phẩm đã đề cập đến các hình thức, biện pháp sư phạm tạobiểu tượng về nhân vật lịch sử hay tạo biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiện Đó lànhững tài liệu tham khảo giúp chúng tôi xác định nguyên tắc chung, con đường và

Trang 5

biện pháp để tạo biểu tượng nói chung và tạo biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiệnnói riêng.

Như vậy, việc tạo biểu tượng đã được đề cập đến trong nhiều tác phẩm Tuynhiên, việc xác định nội dung, cách thức và con đường tạo biểu tượng về địa điểmdiễn ra sự kiện tương ứng với lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950-1954 trong SGK lớp

12, chương trình Chuẩn thì vẫn chưa có công trình nào giải quyết một cách triệt để

Đó chính là nhiệm vụ mà chúng tôi cần tiếp tục giải quyết trong khóa luận

Trên cơ sở tiếp thu, học hỏi kết quả nghiên cứu của những người đi trước,chúng tôi hi vọng sẽ đóng góp một phần trong việc hình thành một hệ thống cơ sở

lý luận phù hợp, và đề xuất một số biện pháp sư phạm nhằm nâng cao chất lượngDHLS ở trường THPT

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: quá trình tạo biểu tượng về địa điểm của sự kiệntrong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950 -1954 ở trường THPT (Chương trìnhChuẩn)

- Phạm vi nghiên cứu: nội dung nghiên cứu của đề tài được giới hạn trongquá trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950 – 1954 ở trường THPT (Chương trìnhChuẩn)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu: đề tài xác định được những nội dung, con đường và

biện pháp sư phạm cần thiết để tạo biểu tượng về địa điểm của sự kiện trong giaiđoạn 1950 – 1954 có hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việt Nam

ở trường THPT trên tất cả các mặt giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Điều tra xã hội học để tìm hiểu về tình hình tạo biểu tượng và biểu tượng vềđịa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT

- Nghiên cứu chương trình, nội dung lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950 – 1954(Chương trình Chuẩn) để xác định mức độ, nội dung, ý nghĩa các biểu tượng về địađiểm của sự kiện lịch sử

- Đề xuất các con đường, hình thức và biện pháp sư phạm để tạo biểu tượng

về địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950 – 1954 ở trường THPT

Trang 6

(Chương trình Chuẩn) nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học lịch sử ở trường phổthông.

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài theonguyên tắc từ điểm suy ra diện, rút ra kết luận khái quát

5 Giả thuyết khoa học

Nếu coi trọng đúng mức, có hiệu quả việc tạo biểu tượng – biểu tượng về địađiểm của sự kiện theo các nguyên tắc và biện pháp của khóa luận đề xuất, sẽ gópphần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, hoàn thiện vốn kiến thức phổ thông, pháthuy tính tích cực của học sinh, tạo phong cách học tập năng động, sáng tạo, hiệuquả cao theo yêu cầu mục tiêu đào tạo (nhận thức, thái độ, kĩ năng) góp phần tíchcực đổi mới hình thức và phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở phương pháp luận của đề tài là quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về lí luận giáo dục, đặc biệtquan điểm về giáo dục lịch sử thông qua nghiên cứu và giảng dạy lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

+ Điều tra xã hội học, quan sát, thăm dò ý kiến về thực tiễn dạy học môn lịch

sử ở trường THPT

+ Nghiên cứu tài liệu giáo dục học, tâm lí học, lịch sử giáo dục, lịch sử dântộc…

+ Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài

7 Đóng góp của khóa luận

- Thứ nhất chứng minh tính cần thiết và tính khả thi của việc tạo biểu tượng,biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử Việt Nam, đặc biệt làtrong giai đoạn 1950 – 1954 trường THPT (Chương trình Chuẩn)

- Thứ hai đề xuất được nguyên tắc chung và biện pháp sư phạm khi tạo biểutượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử nói chung, dạy học lịch sửViệt Nam 1950-1954 nói riêng theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh,nhằm đảm bảo nguyên tắc giáo dục của Đảng và Nhà nước đề ra

Trang 7

- Thứ ba với hệ thống cơ sở lý luận cùng những biện pháp sư phạm đưa ra đểtạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch

sử hiện nay ở trường phổ thông

8 Bố cục của khóa luận.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm

3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng và biểu tượng

về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT (Chương trìnhChuẩn)

Chương 2: Nội dung biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạy họclịch sử Việt Nam giai đoạn 1950 -1954 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)

Chương 3: Biện pháp tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra sự kiện trong dạyhọc lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950-1954 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn)

Trang 8

NỘI DUNGChương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA ĐIỂM XẢY RA SỰ KIỆN TRONG DẠY HỌC LỊCH

SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

1.1 Cơ sở lý luận của việc tạo biểu tượng và biểu tượng về địa điểm trong dạy học lịch sử ở trường THPT

1.1.1 Quan niệm về địa điểm của sự kiện lịch sử

* Quan niệm về địa điểm của sự kiện trong dạy học lịch sử

- Địa điểm lịch sử:

Trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên đã định nghĩa: “Địa điểm

là nơi cụ thể trong quan hệ với hoạt động tiến hành của sự việc xảy ra tại đó

một nơi chốn cụ thể Vậy, “địa điểm lịch sử” là gì?

Ở đây ta nhận thấy rằng “địa” là đất, “điểm” là một vị trí xác định Như vậy,

“địa điểm lịch sử” là một vùng đất xác định, một nơi chốn cụ thể, nơi diễn ra sựkiện, hiện tượng lịch sử, mà ở đó có điều kiện tự nhiên, xã hội nhất định

Ví dụ: Khi dạy mục IV.2 Chiến dịch biên giới thu đông 1950 GV giảng đến

sự kiện chúng ta mai phục, chặn đánh địch trên Đường số 4 gây cho địch nhiều tổnthất Trong trường hợp này, GV có thể giới thiệu thêm về địa điểm Đường số 4:

“Đường số 4, con đường huyết mạch của Liên khu Biên giới Đông Bắc, được khởi

công xây dựng từ năm 1911, dài 340 km, mặt đường rộng 4m, chạy từ Mũi Ngọc (Móng Cái) đi qua một số thị xã, thị trấn: Tiên Yên, Đình Lập, Lạng Sơn, Na Sầm, Thất Khê, Đông Khê, Cao Bằng Sau khi chạy dọc ven biển tới Tiên Yên, đường đi vào rừng núi, đèo cao, vực thẳm, có nhiều sông suối cắt ngang Dọc đường Pháp đóng hơn 80 vị trí, nhưng chỉ kiểm soát được những điểm chính” [23, tr.157-158]

Qua đó, chúng ta có thể thấy Đường số 4 đóng một vị trí rất quan trọng, chiến thắng

Trang 9

ở Đường số 4 đã góp phần đưa đến thắng lợi chiến dịch Biên giới thu đông 1950.Vậy khi GV cung cấp cho HS thông tin về Đường số 4, HS sẽ hiểu được vị trí quantrọng của tuyến đường này, và lí giải được vì sao ta chủ động mai phục địch tại đây.Tại vị trí Đường số 4 đã khiến hai cánh quân từ Thất Khê xuống và từ Cao Bằng lêncủa địch không thể gặp được nhau Cùng với đó, cuộc hành quân của địch lên TháiNguyên cũng bị ta đánh bại Như vậy, HS có thể đưa ra kết luận rằng Đường số 4góp phần đưa chiến dịch Biên giới thu đông 1950 đi đến thắng lợi.

tố quan trọng trong một sự kiện hay hiện tượng lịch sử

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: “Không gian, space là khoảng không

bao trùm mọi vật xung quanh con người” [28, tr.521]

Hay có tác giả cho rằng: “Không gian được xem là khoảng cách từ nơi này

với nơi khác Nói đến sự khác biệt về mặt không gian xảy ra các sự kiện khác nhau

ở những nơi khác nhau” [11, tr.8]

Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về không gian, nhưng tất cả đềukhẳng định rằng “không gian là khoảng không gồm có mọi vật và con người” Từđây, có thể rút ra rằng: “Không gian lịch sử là khoảng không gồm có mọi vật và conngười… có liên quan ít nhiều đến sự kiện lịch sử đã xảy ra”.[2, tr.10]

Ví dụ: Trong lịch sử Việt Nam 1950-1954 ghi nhận sự đóng góp không nhỏ về

người và của của nhân dân Liên khu III Vậy Liên khu III bao gồm những tỉnh nào?

Liên khu III được thành lập như thế nào? GV cần cung cấp thêm tài liệu cho HS.

“Ngày 25 tháng 11 năm 1948, Chính phủ ra sắc lệnh thành lập Liên khu III gồm 12 tỉnh: Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình và Hòa Bình Đây là sự hợp nhất các lên khu 2, 3 và 11 Diện tích liên khu khoảng 16.000 km 2 Phía đông giáp với biển Đông Phía bắc và tây bắc giáp với các tỉnh trung du: Quảng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ Phía tây và tây nam giáp Sơn La, Thanh Hóa”.[5, tr.178]

Trang 10

Vậy, Liên khu III là một không gian rộng lớn, bao gồm nhiều tỉnh đượcthành lập trong kháng chiến chống Pháp.

Qua tìm hiểu về địa điểm lịch sử và không gian lịch sử có thể thấy rằng, nộihàm của hai khái niệm đều nói đến một nơi chốn, một khoảng không gian nơi cócon người, có mọi vật (bao gồm điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội), đồngthời là nơi có ít nhiều liên quan đến sự kiện lịch sử đã diễn ra Như vậy, trongnghiên cứu lịch sử có thể khẳng định rằng, không gian lịch sử và địa điểm lịch sửxét về bản chất là một, sự khác nhau chỉ ở tên gọi mà thôi

- Địa danh lịch sử:

“Địa danh” là một từ xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ toponynme, tức là “tên

gọi của các địa phương hay là tên gọi địa lý” [1, tr.3]

Cũng có tác giả cho rằng: “Địa danh, place name, tên các vùng miền, địa

phương” [28, tr.379]

Theo thuật ngữ lịch sử phổ thông thì: “Địa danh là tên gọi của một địa

phương, một quốc gia, một châu lục Địa danh thường phản ánh quá trình hình thành các yếu tố địa lý xã hội lịch sử của một vùng, lãnh thổ” [16, tr.58]

Địa danh có rất nhiều, và được chia làm nhiều loại khác nhau PGS Lê TrungHoa đã chia địa danh làm 4 loại, căn cứ vào điều kiện tự nhiên và không tự nhiên:địa danh chỉ địa hình tự nhiên, địa danh chỉ các công trình xây dựng, địa danh hànhchính, địa danh vùng “Địa danh lịch sử” có thể thuộc một trong bốn nhóm địa danhtrên Tuy nhiên, trong tất cả các loại địa danh không phải địa danh nào cũng là địadanh lịch sử Chỉ có những vùng đất trực tiếp gắn với các sự kiện, biến cố trong lịch

sử nhân loại, dân tộc và địa phương thì vùng đất đó mới là địa danh lịch sử

Ví dụ: Nếu nói đến tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ ở khu di tích chiếntrường Điện Biên Phủ, thì đây chỉ được coi là địa danh văn hóa, địa danh chỉ mộtcông trình tưởng niệm Tuy nhiên, khi đề cập đến Điện Biên Phủ, là chúng ta đangnói đến địa danh lịch sử Nơi đã diễn ra trận quyết chiến chiến lược của quân và dân

ta với thực dân Pháp Địa danh này gắn liền với lịch sử dân tộc trong một giai đoạndài từ 1950-1954 Như vậy, thực chất chúng ta đang nhắc đến 2 địa danh trên cùngmột không gian xác định, nhưng hai địa danh đều mang hai ý nghĩa khác nhau Nóthể hiện được rằng một địa danh chưa chắc đã là một địa danh lịch sử

Trang 11

Như vậy, địa danh lịch sử là tên gọi một địa điểm hay các vùng miền, địaphương xảy ra sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đó, mà ở đó có những điều kiện tựnhiên, xã hội nhất định, con người nhận thức được để thực hiện ý đồ của mình.

- Mối quan hệ giữa địa điểm lịch sử - không gian lịch sử - địa danh lịch sử.

Xét về nội hàm khái niệm, địa điểm lịch sử, không gian lịch sử, địa danh lịch

sử đều nói đến nơi xảy ra sự kiện lịch sử Cụ thể hơn, địa điểm lịch sử đề cập đếnmột vùng đất nơi xảy ra sự kiện lịch sử nào đó; Không gian lịch sử đề cập đếnkhoảng không gian vũ trụ, nơi xảy ra sự kiện lịch sử; Địa danh lịch sử chỉ thuần túy

là nơi xảy ra sự kiện lịch sử

Xét ở góc độ khác nhau có những cái nhìn khác nhau, địa điểm lịch sử là địađiểm xảy ra sự kiện có thể là một địa điểm (địa danh cụ thể - được xác định trên bảnđồ) nhưng cũng có thể địa điểm xảy ra sự kiện ở một vùng đất nào đó (không gianrộng) Như vậy có thể thấy địa điểm lịch sử khái quát hơn, qui mô hơn so với địadanh lịch sử hay không gian lịch sử Theo quan điểm của chúng tôi, trong DHLSthống nhất sử dụng khái niệm “địa điểm lịch sử” là hợp lý hơn cả

* Phân loại địa điểm của sự kiện lịch sử

Trong dạy học lịch sử, GV không thể cung cấp mọi kiến thức cho HS mà chỉ

có thể giúp các em nắm vững những kiến thức cơ bản của bài học Kiến thức cơ bảntức là kiến thức tối ưu, cần thiết cho việc hiểu biết của HS về lịch sử thế giới và lịch

sử dân tộc Một trong những kiến thức đó là địa điểm lịch sử - nơi đã diễn ra sự kiệnlịch sử Do đó, GV cần làm rõ cho HS hiểu những kiến thức về địa điểm lịch sử

Dựa vào ý nghĩa địa điểm của sự kiện và khả năng nhận thức của HS, có thểphân loại địa điểm lịch sử ở ba mức độ:

- Địa điểm cần biết: Theo như khái niệm về địa danh lịch sử thì đây là tên

gọi của một vùng miền, địa phương xảy ra sự kiện lịch sử Do đó, với những “địađiểm cần biết” nghĩa là HS chỉ cần biết sự kiện xảy ra ở đâu, kiến thức cơ bản cầncung cấp cho học sinh, học sinh phải nghiên cứu không phải ở địa điểm xảy ra sựkiện mà là nội dung sự kiện Ví dụ như Hiệp định Giơnevơ năm 1954, địa điểm diễn

ra ở Giơnevơ thủ đô Thụy Sĩ, học sinh chỉ cần biết Những nội dung cần phải nắmvững chính là: bối cảnh Hội nghị, nội dung Hội nghị (những điều khoản của Hiệpđịnh) có ảnh hưởng, tác động như thế nào đối với sự phát triển của lịch sử Việt Namnói riêng, của Đông Dương nói chung

Trang 12

- Địa điểm phải hiểu: như đã trình bày ở khái niệm, địa điểm lịch sử là nơi

chốn cụ thể xảy ra một sự việc nào đó Vậy trong quá trình nghiên cứu và giảng dạylịch sử, nếu không xác định được địa điểm của sự kiện thì sự kiện đó trở nên mơ hồ.Bởi tách sự kiện ra khỏi địa điểm – bối cảnh nơi xảy ra sự kiện thì không thể nắm

được bản chất, ý nghĩa của sự kiện Ví dụ Căn cứ địa Việt Bắc: “Căn cứ địa Việt

Bắc mà trung tâm là khu tam giác Thái Nguyên – Bắc Cạn – Tuyên Quang có một

vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường chính Bắc Bộ và thông thương với bên ngoài Việt Bắc có vùng rừng núi hiểm trở, che mắt và cản trở hoạt động của địch, tạo thuận lợi cho hoạt động của ta, đặc biệt là ở giai đoạn đầu kháng chiến tương quan so sánh lực lượng ta còn yếu hơn địch Việt Bắc là vùng kinh tế tự cấp

tự túc khá phong phú, đồng bào các dân tộc ở đây vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng, được rèn luyện và thử thách từ rất sớm” [8, tr.6] Là những điều kiện cơ

bản để Đảng và Bác Hồ chọn nơi đây làm căn cứ địa CM – hình ảnh nước Việt Namthu nhỏ

Tuy nhiên tùy thuộc vào nội dung của bài, từng sự kiện và khả năng nhậnthức của học sinh để xác định kiến thức về địa điểm đó cần biết hay cần nhớnhiều…

- Địa điểm phải hiểu để vận dụng vào nhận thức lịch sử: trong dạy học lịch

sử, yêu cầu nhận thức lịch sử của học sinh không chỉ dừng lại ở biết mà cần phảihiểu và vận dụng Lịch sử mang tính hệ thống (tính lôgic lịch sử), mỗi sự kiện, hiệntượng đều có liên quan với nhau, các địa điểm lịch sử diễn ra sự kiện cũng có mốiquan hệ mật thiết với nhau Do đó, quá trình lên lớp của GV cần phải làm cho HSthấy mối quan hệ đó trong tiến trình lịch sử, để từ đó HS ghi nhớ và vận dụng vàonhững bài học, sự kiện tiếp theo có liên quan

Ví dụ: Khi dạy mục III.1 của bài 18, sách giáo khoa Lịch sử lớp 12, giảng vềchiến dịch Việt Bắc thu đông 1947, giáo viên phải giúp học sinh hiểu vì sao Phápchọn tấn công lên Việt Bắc Giáo viên phải giúp học sinh tìm hiểu về các mặt: Vị tríđịa lý, địa hình, điều kiện kinh tế xã hội, từ đó giúp HS rút ra được Pháp tấn cônglên Việt Bắc với âm mưu: tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, phá tan căn

cứ địa Việt Bắc, tiếu diệt quân chủ lực của ta, nhanh chóng kết thúc chiến tranh

Khi tìm hiểu về chiến dịch Việt Bắc thu-đông 1947, HS phải nhớ lại nhữngkiến thức về Căn cứ địa Việt Bắc đã được GV cung cấp ở bài trước, căn cứ địa Việt

Trang 13

Bắc là cái nôi của Cách mạng tháng Tám, là nơi được Đảng và Bác Hồ tin cậy chọnlàm căn cứ địa cách mạng – hình ảnh nước Việt Nam thu nhỏ Từ đó lý giải đượcPháp chọn đây làm điểm tấn công đầu tiên sau khi chiếm các đô thị.

Như vậy, phải căn cứ vào ý nghĩa địa điểm của sự kiện, mức độ nhận thứccủa học sinh để xác định được mục đích, yêu cầu cần đạt được khi dạy kiến thức vềđịa điểm của sự kiện trong dạy học lịch sử Nói cách khác, xác định được mức độkiến thức về địa điểm của sự kiện trong dạy học lịch sử có ý nghĩa rất lớn, giúp chongười dạy lựa chọn kiến thức và các hình thức, biện pháp sư phạm phù hợp để tiếnhành bài giảng đạt hiệu quả cao

* Đặc điểm của địa điểm xảy ra sự kiện lịch sử

So với các yếu tố khác của sự kiện như: thời gian, nhân vật, diễn biến, kếtquả… thì địa điểm của sự kiện là yếu tố duy nhất còn lại (vật chất không mất đi).Địa điểm xảy ra sự kiện là một phần của thế giới vật chất – nó có tính phức tạp và

có sự vận động thay đổi theo quy luật tự nhiên, đồng thời cũng có sự thay đổi bởicon người (do con người tác động vào tự nhiên)

Vậy, địa điểm còn tồn tại ở đây chính là còn xác định được cả vị trí và nhữngdấu vết còn sót lại Ví dụ: Điện Biên Phủ, cầu Hiền Lương, Dinh Độc lập, Quảngtrường Ba Đình… Đây chính là nguồn kiến thức tư liệu gốc cần khai thác phục vụcho dạy học lịch sử

Về mặt nhận thức, địa điểm – nơi xảy ra sự kiện luôn luôn tồn tại, không hềmất đi, bởi đã được xác định về mặt vị trí địa lý Tuy nhiên, trong thực tế, địa điểmcòn tồn tại nhưng những dấu tích của địa điểm đó đôi khi không còn gì do quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội làm biến dạng, thay đổi mà không thể nhận ra được địađiểm đó ở đâu Như vậy, chúng ta xem xét địa điểm của sự kiện trên các mặt sau:

- Địa điểm của sự kiện gắn liền với sự lựa chọn của con người

Con người sinh sống và hoạt động có ý thức trong môi trường không gianthời gian với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Mối quan hệ giữa conngười với tự nhiên là mối quan hệ biện chứng không thể tách rời Mọi sự kiện hiệntượng lịch sử của xã hội loài người diễn ra ở đâu đều có sự tham gia trực tiếp vàgián tiếp của con người Nếu không có con người tham gia vào những sự kiện đó thìkhông thể là sự kiện lịch sử của xã hội loài người

Trang 14

Chúng ta thường đặt câu hỏi sự kiện lịch sử đã diễn ra ở đâu? Vì sao nó diễn

ra ở nơi này mà không phải nơi khác? (chính là địa điểm xảy ra sự kiện) Con ngườiphải nhận thức được môi trường, bối cảnh, chọn lựa địa điểm để thực hiện mục đíchcủa mình cho có hiệu quả

- Địa điểm có thể quan sát được (đến tận nơi)

Về nhận thức, địa điểm xảy ra sự kiện đều có thể đến được Ví dụ như nướcNhật – nơi Mĩ ném xuống hai quả bom nguyên tử trong chiến tranh thế giới thứ hainăm 1945 Đây là địa điểm có thể đến được, nhưng chúng ta đang vận dụng vàotrong dạy học lịch sử Vậy thầy trò ở trường THPT có thể đến đây tận mắt chứngkiến những hậu quả để lại được hay không?

Để xem xét vấn đề này, chúng ta cần phải xem xét địa điểm đó xảy ra ở đâu?Khoảng cách từ trường tới địa điểm lịch sử đó bao xa, để xác định được tính khả thicủa việc đưa học sinh đến học tập tại địa điểm của các sự kiện

Ví dụ: Với các địa điểm tại Kinh thành Huế, đồn Mang Cá, trường QuốcHọc… thì học sinh ở thành phố Huế có điều kiện thuận lợi đến tận nơi để học tập

Với các địa điểm trong chiến trường Điện Biên Phủ bao gồm: Đồi A1, hầm

Đờ Cát, sở chỉ huy của ta… thì những học sinh ở địa bàn Điện Biên Phủ có điềukiện thuận lợi đến tận nơi để học tập, làm cho bài học trở nên hấp dẫn, sinh độnghơn, hiệu quả hơn

- Địa điểm xảy ra sự kiện có thể mô hình hóa theo qui ước

Địa điểm còn tồn tại, đã đến thì cũng có thể quan sát được Tuy nhiên, ở đâynhững địa điểm không còn nữa thì sẽ như thế nào?

GV sẽ tiến hành cho HS quan sát gián tiếp, tức là dựa trên những đồ dùng

mô hình hóa như sa bàn, lược đồ, bản đồ, tranh ảnh… giúp HS có cái nhìn cụ thểhơn về địa điểm diễn ra sự kiện

Ví dụ: Sa bàn về chiến thắng Điện Biên Phủ ở bảo tàng, hay tranh ảnh vềhầm Đờ cát ở Điện Biên Phủ… Dù không được quan sát trực tiếp nhưng bằng hìnhảnh, mô hình cũng phần nào giúp cho bài học trở nên sinh động hơn

Việc xác định những yếu tố trên của địa điểm giúp cho giáo viên lựa chọncác hình thức và phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp tạo biểu tượng về địađiểm của sự kiện lịch sử để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông

Trang 15

1.1.2 Biểu tượng và biểu tượng về địa điểm của sự kiện lịch sử qua dạy học lịch sử ở trường THPT

* Biểu tượng:

Theo các nhà Tâm lí học, trong quá trình tri giác thế giới bên ngoài, conngười phản ánh sự vật và hiện tượng xung quanh mình dưới dạng hình ảnh của cácvật thể đó Các hình ảnh này được phản ánh và lưu giữ một thời gian đáng kể trong

ý thức con người Hình ảnh đó là biểu tượng

Trong Từ điển Tâm lí học (Vũ Dũng – Nxb KHXH – 2000) đã định nghĩa:

“Biểu tượng là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương lai”.[3, tr.20]

Như vậy, biểu tượng được hình thành trên cơ sở những hình ảnh được lưu lạitrong vỏ não do cảm giác, tri giác phản ánh trực tiếp các sự vật, hiện tượng Điều

này chứng tỏ “Biểu tượng là những tri giác được tích lũy lại, là sản phẩm tổng hợp

của các sự vật, hiện tượng” [29, tr.63]

Cũng như hình ảnh tri giác, các hình ảnh của vật thể được giữ lại trong biểutượng luôn mang tính trực quan, cụ thể, chúng phản ánh mặt bên ngoài của sự vật,hiện tượng Nhưng trong trường hợp riêng lẻ, biểu tượng có thể phản ánh cả nhữngmặt bên trong của sự vật, hiện tượng, những sự vật mà các cơ quan thụ cảm khôngtri giác trực tiếp, chỉ đạt được nhờ tư duy

Nhìn chung, thông qua hoạt động (có sự tổ chức của thầy, có sự hỗ trợ củabạn bè) học sinh sẽ có được biểu tượng cụ thể về các sự vật, hiện tượng có trong bài

học Như vậy, việc tạo biểu tượng lịch sử cho HS cũng có những điểm riêng: “Biểu

tượng chỉ có được nhờ sự tổ chức của thầy, sự nỗ lực bản thân, sự hỗ trợ của bạn

bè và các phương tiện dạy học” [16, tr.24]

Từ nhận thức chung về biểu tượng, chúng ta có thể hiểu rằng: Biểu tượng là

hình ảnh của sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, được hình thành trên cơ

sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó, được giữ lại trong ý thức Biểu

tượng không phải hoàn toàn là thực tế, bởi vì nó xây dựng lại thực tế sau khi đã trigiác

Trang 16

* Biểu tượng lịch sử:

Lịch sử đã diễn ra và không lặp lại, các sự kiện lịch sử không thể dựng lạitrong phòng thí nghiệm Vì vậy, con người không thể “trực quan sinh động” cácbiến cố, hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ, mà không phải thông qua các nguồn sửliệu để tái tạo bức tranh lịch sử đúng như nó tồn tại trên những nét chủ yếu nhất.Các nguồn sử liệu trở thành đối tượng tri giác trong nhận thức lịch sử Sử liệu càngphong phú chính xác bao nhiêu thì con người càng có cơ sở để nhận thức lịch sửsinh động, đúng đắn bấy nhiêu Do vậy nhận thức lịch sử là quá trình nhận thứcmang tính đặc thù

Do đặc điểm của nhận thức lịch sử, việc học tập lịch sử không bắt đầu từ trựcquan sinh động mà từ việc nắm sự kiện và tạo biểu tượng lịch sử Tuy vậy, việc họctập lịch sử cũng tuân thủ quy luật chung của quá trình nhận thức qua hai giai đoạnnhận thức cảm tính và lý tính Có thể nói tạo biểu tượng là giai đoạn nhận thứ cảmtính của quá trình học tập lịch sử

Biểu tượng lịch sử không chỉ nảy sinh từ những tri giác đối với sự kiện có thật

mà còn trên cơ sở tiếp xúc với các nguồn sử liệu là những “mảnh quá khứ” còn lưu lại

để làm chỗ dựa cho việc tái tạo quá khứ lịch sử Vì vậy, biểu tượng lịch sử là “biểu

tượng của trí tưởng tượng” [20, tr.74-75], nhưng đây là dạng tưởng tượng tái tạo.

Do đó, “Biểu tượng lịch sử là hình ảnh những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều

kiện địa lý… được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất” [13, tr.189] Biểu tượng lịch sử là một dạng đặc biệt của nhận thức thế giới

khách quan Tính đặc biệt của biểu tượng lịch sử được qui định bởi đặc trưng củanhận thức lịch sử: sự kiện là hiện thực khách quan, chỉ diễn ra một lần và để lại dấuvết một cách riêng lẻ Để có được biểu tượng lịch sử, con người không thể trực tiếptri giác sự kiện hiện thực, mà phải trên cơ sở phương pháp khoa học (sưu tầm tưliệu, xử lý phán đoán, mô phỏng sự kiện…) để tái tạo sự kiện lịch sử, phản ánh lịch

sử gần giống với hiện thực khách quan

* Biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiện:

Trên cơ sở khái niệm về biểu tượng lịch sử nêu trên, các nhà phương pháp đãphân loại biểu tượng lịch sử, với các loại biểu tượng cơ bản đó là: Biểu tượng vềkhông gian, biểu tượng về thời gian, biểu tượng về nền văn hóa vật chất, biểu tượng

về nhân vật lịch sử Trong đó, biểu tượng về không gian hay nói cách khác là biểu

Trang 17

tượng về địa điểm diễn ra sự kiện đóng một vai trò quan trọng trong dạy học lịch sử.Biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiện bên cạnh những nét chung với biểu tượnglịch sử, nó còn có những nét riêng để tạo bức tranh trọn vẹn của lịch sử quá khứ.

Như chúng ta đã biết, bất cứ một sự kiện lịch sử nào đều diễn ra ở một địađiểm, không gian xác định Từ đó có thể khẳng định rằng: Biểu tượng về địa điểmdiễn ra sự kiện là hình ảnh về điều kiện địa lý Nó tái hiện lại địa điểm diễn ra sựkiện trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất

Do đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng: “Biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiện

lịch sử là hình ảnh về địa điểm – không gian lịch sử, nơi xảy ra sự kiện, có mối liên hệ với những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý, những yếu tố kinh tế, xã hội… được phản ánh trong óc học sinh những nét chung nhất, khái quát nhất”.[2, tr.12]

1.1.3 Ý nghĩa của việc tạo biểu tượng và biểu tượng về địa điểm diễn ra

sự kiện trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Những nhà nghiên cứu đã nêu rõ vai trò, ý nghĩa của biểu tượng nói chung,biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiện nói riêng trong quá trình học tập lịch sử của

HS trên các mặt tư duy, cảm xúc, khát vọng, ý chí, hành động Không tạo biểutượng thì hình ảnh lịch sử mà học sinh thu nhận được sẽ nghèo nàn, hiểu biết lịch sửkhông sâu sắc, không phát triển tư duy, không có cơ sở hình thành khái niệm – giaiđoạn nhận thức lí tính của việc học tập lịch sử

Do đó, việc tạo biểu tượng về địa điểm diễn ra sự kiện nói riêng và tạo biểutượng nói chung rất quan trọng đối với dạy học lịch sử ở trường phổ thông

- Về nhận thức: Việc tạo biểu tượng lịch sử có ý nghĩa giáo dục quan trọngđối với học sinh Trong quá trình học tập lịch sử, học sinh có thể không trực tiếp tri

giác, quan sát hiện thực quá khứ, nhưng vẫn phải tuân theo qui luật nhận thức: “Từ

trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”.

[11, tr.179]

Trực quan sinh động trong học tập lịch sử là tạo biểu tượng lịch sử Bởi vìtrên cơ sở nắm vững các sự kiện lịch sử, dựa vào những phương tiện trực quan vàcác nguồn kiến thức khác, sử dụng các biện pháp sư phạm có hiệu quả, giáo viên tạocho học sinh các biểu tượng cụ thể, trên cơ sở đó hình thành khái niệm, nêu qui luật

và rút ra bài học kinh nghiệm cho lịch sử hiện tại

Trang 18

Ví dụ: Khi dạy mục II.1 Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954bài 20, SGK lớp 12 (Chương trình Chuẩn), GV kết hợp thuyết trình với “Lược đồhình thái chiến trường trong đông-xuân 1953-1954” để tạo biểu tượng cho HS vềnhững địa điểm mở các chiến dịch Từ đó, giúp HS hiểu vai trò, ý nghĩa các chiếndịch của ta nhằm phân tán lực lượng của địch trong giai đoạn này.

Việc tạo biểu tượng trong DHLS giúp HS dễ nhớ, dễ khắc sâu kiến thức lịch sử.Trong một thời lượng có hạn với nhiều đơn vị kiến thức cần hình thành ở các em, nhiềulúc GV chỉ áp dụng biện pháp sư phạm là thông báo Bởi vậy, trong quá trình dạy học,việc GV sử dụng phương pháp tạo biểu tượng sẽ rất thuận lợi, vừa đa dạng hóa phươngpháp dạy học, vừa nhấn mạnh thêm kiến thức học sinh cần ghi nhớ

- Về thái độ:

Bộ môn lịch sử có ưu thế giáo dục hơn bất cứ bộ môn nào khác bởi đặc trưngcủa nó Việc tạo biểu tượng lịch sử có ý nghĩa giáo dục đối với học sinh, vì chỉthông qua những hình ảnh cụ thể, sinh động có sức gợi cảm mới tác động mạnh mẽđến tư tưởng tình cảm của các em Khi nhận thức về hiện thức quá khứ, HS không

chỉ tri giác (nghe, nhìn, biết…) mà còn có những “rung động”, “rạo rực”, “xao

xuyến” Những hiện tượng tâm lý đó thể hiện sự “nhập thân vào lịch sử” biểu thị

thái độ của HS đối với những gì mà các em nhận thức được

Ví dụ: Khi dạy về Chiến dịch lịch Điên Biên Phủ, GV cung cấp cho HS kiếnthức về địa hình, điều kiện tự nhiên… ở Điện Biên Phủ và những khó khăn vềtương quan lực lượng của ta so với địch, những khó khăn về vận chuyển lương thực,

vũ khí… vào lòng chảo Điện Biên Phủ Từ đó, hình thành ở HS suy nghĩ: tronghoàn cảnh khó khăn như vậy nhưng quân và dân ta không ngại hi sinh, gian khổchiến đấu giành thắng lợi HS thêm trân trọng, tự hào về chiến thắng của cha ông

Việc tạo biểu tượng đúng phương pháp sẽ có tác dụng tăng thêm hứng thútrong việc học tập, trong nhận thức của HS Khi tiếp xúc với các biểu tượng về địađiểm của sự kiện giúp cho việc tiếp thu kiến thức của HS bớt khô khan, được

“mềm” hóa rất nhiều mà không khí giờ học trở nên nhẹ nhàng, hứng thú HS sẽ hiểukiến thức lịch sử sâu sắc hơn, phong phú hơn Đồng thời, về mặt thái độ, các em sẽthấy yêu quê hương đất nước hơn, quí trọng những hi sinh của các anh hùng đã ngã

xuống… “Nó góp phần hinh thành xu hướng cộng sản trong cá nhân học sinh”.[20,

tr.77]

Trang 19

- Về kỹ năng:

Biểu tượng nói chung và biểu tượng lịch sử nói riêng là một trong nhữngphương tiện quan trọng làm cho hoạt động trí tuệ của học sinh không ngừng pháttriển Biểu tượng lịch sử không chỉ khôi phục lại diện mạo lịch sử dưới dạng cảmtính, mà còn dùng để phân tích, khái quát, giải thích các hiện tượng lịch sử Biểutượng lịch sử là phương tiện kích thích sự phát triển trí tưởng tượng ở học sinh

Việc tạo biểu tượng dựa trên các kĩ năng so sánh, phân tích, đối chiếu… sẽ

có tác dụng kích thích học sinh phải động não, góp phần rèn luyện kĩ năng, pháttriển tư duy trong học tập, giúp các em hiểu được bản chất sự kiện, hiểu được mốiquan hệ giữa các sự kiện trong một bài, một chương, giữa các giai đoạn trong lịch

sử Từ đó, rút ra ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi (hoặc thất bại), bài học kinhnghiệm và qui luật lịch sử

Như vậy, việc tạo biểu tượng đã góp phần vào việc khôi phục lại bức tranhlịch sử cho học sinh Đồng thời, là cơ sở vững chắc để học sinh lĩnh hội và hiểu sâusắc bản chất sự kiện, nêu qui luật, rút ra bài học lịch sử, góp phần bồi dưỡng tưtưởng, tình cảm, đạo đức cách mạng, hoàn thiện nhân cách và phát triển năng lực tưduy lịch sử cho học sinh

1.2 Thực tiễn của việc tạo biểu tượng và biểu tượng về địa điểm của sự kiện lịch sử trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông

Để tăng tính hiện thực đồng thời tạo cơ sở vững chắc khi thực hiện đề tài,chúng tôi đã tiến hành khảo sát và điều tra thực tiễn ở một số trường THPT Phươngpháp khảo sát là đưa ra một số câu hỏi đối với các giáo viên trực tiếp giảng dạy lịch

sử, và tham khảo ý kiến của học sinh về ý nghĩa và thực trạng của việc tạo biểutượng về địa điểm của sự kiện trong dạy học lịch sử nói chung và trong dạy học lịch

sử giai đoạn 1950-1954 nói riêng

1.2.1 Đối với giáo viên

Chúng tôi xây dựng câu hỏi để thăm dò ý kiến của GV dạy bộ môn lịch sử ởtrường THPT Đông Hà, THPT Lê Lợi, THPT Phan Chu Trinh (Quảng Trị), THPTĐào Duy Từ, THPT Đồng Hới (Đồng Hới – Quảng Bình) với nội dung sau:

- Tìm hiểu GV có thường xuyên tiến hành tạo biểu tượng về địa điểm diễn ra

sự kiện trong DHLS Việt Nam giai đoạn 1950-1954 hay không, GV đã tiến hành tạobiểu tượng ở mức độ nào

Trang 20

- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của GV trong quá trình tạo biểutượng về địa điểm diễn ra sự kiện, đồng thời tìm ra hướng khắc phục để nâng caochất lượng dạy học lịch sử.

- Tìm hiểu những biện pháp sư phạm do GV đề xuất nhằm nâng cao hiệu quảviệc tạo biểu tượng trong dạy học lịch sử

Qua xử lý phiếu trả lời, tổng hợp ý kiến thu được qua trao đổi chúng tôi thuđược kết quả như sau:

Đại bộ phận GV giảng dạy lịch sử đều nhận thức được tầm quan trọng củaviệc tạo biểu tượng Tuy nhiên, giữa nhận thức và hành động lại khác xa nhau Thực

tế việc tạo biểu tượng còn rất nhiều bất cập Đa số cán bộ giáo viên đều giảng dạytheo phương pháp cũ – “thầy đọc trò chép” GV phổ thông chỉ sử dụng SGK và sáchgiáo viên, trong khi đó các tài liệu bên ngoài thiếu trầm trọng.Vì thế nhiều GV trongdạy học đã rơi vào tình trạng đọc lại SGK Mặt khác, do khó khăn về thời gian dạyhọc trên lớp, thiếu thiết bị, phương tiện dạy học nên việc tạo biểu tượng cho họcsinh, hay dạy học phát huy tính tích cực của HS rất hạn chế

Với thực tế như vậy, hệ quả tất yếu làm cho bài học khô khan, không gâyhứng thú đối với HS Tình trạng này đòi hỏi phải khắc phục với nhận thức đúng đắn

và những biện pháp sư phạm có hiệu quả

1.2.2 Đối với học sinh

Chúng tôi xây dựng hệ thống câu hỏi để điều tra với những nội dung cụ thể:

- Tìm hiểu hứng thú của HS đối với môn lịch sử ở trường phổ thông Đồngthời, nắm bắt được điều kiện học tập lịch sử ở trường THPT hiện nay

- Tìm hiểu phương pháp học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950-1954 của họcsinh và thái độ của HS đối với lịch sử Việt Nam giai đoạn này

- Học sinh đã ghi nhớ những địa điểm lịch sử nào ở giai đoạn 1950-1954? Vìsao các em nhớ được các địa điểm đó?

Qua xử lý phiếu trả lời, tổng hợp các ý kiến, chúng tôi rút ra được:

Đa số học sinh đều cho rằng môn lịch sử khô khan, kiến thức về những thời

kỳ đã quá xa xôi, khó tưởng tượng mà các thầy cô chỉ thuyết minh bằng lời nói thìrất khó khăn trong việc tiếp thu…

Hệ quả là HS chưa nắm được các sự kiện, cũng như địa điểm lịch sử diễn ra

sự kiện ở lịch sử Việt Nam (1950-1954) một cách bền vững Dẫn đến tình trạng HS

Trang 21

nhầm lẫn giữa các địa điểm diễn ra sự kiện, HS chưa lí giải được vì sao sự kiện lạixảy ra ở địa điểm này mà không phải là địa điểm khác Do đó, HS chưa hiểu đượcsâu sắc nội dung lịch sử Việt Nam giai đoạn này.

Qua công tác điều tra và xử lí số liệu chúng tôi rút ra một số kết luận kháiquát sau:

Việc tạo biểu tượng lịch sử nói chung, và tạo biểu tượng về địa điểm xảy ra

sự kiện trong dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950-1954 nói riêng ở trườngTHPT, đã được nhiều GV nhận thức được tầm quan trọng nó Song trên thực tế thìvẫn chưa thực hiện có hiệu quả, chưa phát huy được tính tích cực của HS Trong đó

có nhiều nguyên nhân cả về phía người dạy và người học

Về phía người dạy chưa thật sự đổi mới về phương pháp dạy học, nhất làchưa đưa ra được các biện pháp sư phạm hợp lý để tạo biểu tượng về địa điểm lịch

Trang 22

Chương 2 NỘI DUNG BIỂU TƯỢNG VỀ ĐỊA ĐIỂM XẢY RA SỰ KIỆN TRONG

DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1950 – 1954

Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

2.1 Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950–1954

Trong nội dung chương trình dạy học lịch sử bậc học phổ thông nói chung vàcấp học trung học phổ thông nói riêng thì lịch sử dân tộc đóng một vai trò rất quan

trọng Việc học lịch sử dân tộc không chỉ dừng lại ở “biết” mà còn phải “hiểu”.

Trong chương trình lịch sử Việt Nam ở cấp trung học phổ thông, thì nội dung

đó được phản ánh trọn vẹn trong năm chương ở phần hai SGK lịch sử lớp 12: “Lịch

sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 2000” Mỗi chương đóng một vai trò quan trọngkhác nhau, khái quát những chặng đường cách mạng của dân tộc ta do Đảng cộngsản Việt Nam lãnh đạo

Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950-1954 được thể hiện ở hai bài 19 và 20,SGK lớp 12 (Chương trình Chuẩn) Nội dung chính của lịch sử Việt Nam giai đoạnnày được trình bày cụ thể:

Được Mĩ viện trợ, Pháp đã kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương,tập trung lực lượng phòng ngự và bình định vùng tạm chiếm, nhất là ở vùng đồngbằng Bắc Bộ, đồng thời chuẩn bị mở các cuộc phản công với hi vọng giành lạiquyền chủ động chiến lược đã bị mất ở chiến trường Bắc Bộ Ngày 6 – 12 – 1950,chính phủ Pháp đã cử Đại tường Đờ Lát Đơ Tátxi nhi sang làm tổng chỉ huy quânđội viễn chinh, kiêm cao ủy Pháp ở Đông Dương Đơ Lát đã cho tập trung phần lớncác tiểu đoàn cơ động chiến thuật thuộc lực lượng chiếm đóng ở Bắc Bộ, xây dựngđược 7 binh đoàn cơ động chiến lược (GM) và 4 tiểu đoàn dù bố trí ở các tỉnh phíaBắc đồng bằng Bắc Bộ Cuối năm 1951, Pháp đã đưa tổng quân số lên 338.000 tên,đến năm 1953 là 465.000 tên

Về phía ta, trong thời gian này quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đãđạt được nhiều thành tựu trên mọi mặt Giai đoạn này đánh dấu sự lớn mạnh củanền dân chủ cộng hòa

Trang 23

- Về chính trị, vào đầu năm 1951, Đảng cộng sản Đông Dương đã họp ởVinh Quang, Chiêm Hóa (Tuyên Quang), từ ngày 11 đến 19 tháng 2 năm 1951 Đạihội đã thảo luận và thông qua Báo cáo chính trị do chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày,báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do Trường Chinh đọc, thông qua Tuyên ngôn,Chính cương và Điều lệ mới của Đảng Đại hội đã quyết định tách Đảng Cộng sảnĐông Dương để thành lập ở Việt Nam, Lào, Campuchia mỗi nước một đảng Mác-Lênin riêng biệt Ở Việt Nam, Đại hội đã quyết định thành lập Đảng Lao động ViệtNam và cho ra hoạt động công khai Đại hội Đại biểu lần thứ hai của Đảng là một

sự kiện lịch sử trọng đại đánh dấu bước trưởng thành về tư tưởng, đường lối chínhtrị của Đảng

Tiếp theo Đại hội Đảng, Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt

đã họp từ ngày 3 đến ngày 7-3-1951 Đại hội đã quyết định thống nhất Việt Minh vàLiên Việt thành Mặt trận liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận ViệtMinh), thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ của Mặt trận

- Về kinh tế, kháng chiến càng phát triển, yêu cầu về kinh tế tài chính càngcao Vì vậy, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách và biện phápmới toàn diện và có hiệu quả cao hơn trước Về mặt ruộng đất, đến năm 1953, theo

số liệu điều tra trong 3035 xã đã trải qua cải cách ruộng đất thì nông dân đã sử dụngđến 70,7% tổng số ruộng đất Ngành công nghiệp quốc phòng vẫn tiếp tục giữ vữngsản xuất Từ năm 1951-1953, từ Liên khu IV trở ra, chúng ta đã sản xuất được 1.310tấn vũ khí đạn dược Chính sách thuế mới được ban hành, góp phần đảm bảo nguồnchi tiêu của nhà nước… Thắng lợi của nhiệm vụ kinh tế, tài chính của nước ViệtNam dân chủ cộng hòa là thắng lợi của sự nghiệp xây dựng nền kinh tế khángchiến, một nền kinh tế độc lập và tự chủ

- Về đời sống văn hóa, giáo dục, y tế, văn hóa văn nghệ đã có một bước pháttriển mạnh mẽ, góp phần đắc lực vào sự nghiệp giáo dục, động viên tinh thần yêunước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nêu cao ý chí chiến đấu vì độc lập thốngnhất Công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân được coi trọng Bệnh viện, bệnh xá,phòng y tế được xây dựng khắp nơi; phong trào “ba sạch” và “bốn diệt” được đôngđảo quần chúng tham gia Đời sống vật chất và tinh thần trong vùng tự do và căn cứ

du kích được ổn định và cải tiến rõ rệt

Trang 24

- Đấu tranh trên mặt trận quân sự: Sau chiến dịch Biên giới, ta nhanh chóngchấn chỉnh đội ngũ, mở một loạt cuộc tiến công nhằm tiêu diệt sinh lực địch, pháttriển chiến tranh du kích, phá kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng củađịch, giữ vững quyền chủ động chiến lược của ta trên chiến trường chính Đó là cácchiến dịch tiến công địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ Cục diện chiến tranh ở ViệtNam và trên toàn cõi Đông Dương đã chuyển biến mạnh mẽ, có lợi hơn cho quân vàdân Việt Nam, Lào và Campuchia, bất lợi cho thực dân Pháp và can thiệp Mĩ.

Mùa hè năm 1953, chính phủ Pháp triệu hồi tướng Xa-lăng về nước và cửNava sang làm chỉ huy các lực lượng quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương Nava

đã vạch ra một kế hoạch chiến lược hi vọng trong vòng 18 tháng phải giành đượcmột thắng lợi quyết định về quân sự để làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có

“danh dự” cho Pháp Kế hoạch quân sự Nava là một kế hoạch dựa trên sự nỗ lựccao nhất của Chính phủ Pháp và sự viện trợ lớn nhất của Mĩ, với một số quân đôngnhất, một khối quân cơ động chiến lược mạnh nhất và một số phương tiện chiếntranh nhiều nhất, kế hoạch tiến công với quyết tâm “chuyển bại thành thắng” củachúng Chính phủ Pháp đặt nhiều hi vọng vào kế hoạch tác chiến chiến lược này

Nava đã tập trung mọi cố gắng xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn

cứ điểm mạnh nhất Đông Dương Trong khi đó, quân và dân ta đã dốc sức người,sức của và tinh thần chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ

Chiến dịch Điện Biên Phủ được diễn ra thành 3 đợt: đợt 1, bắt đầu từ 13-2,đợt 2 bắt đầu ngày 30-3, đợt 3, bắt đầu từ ngày 1-5 và đến ngày 7-5-1954 thì kếtthúc Trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã toàn thắng

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lượcĐông-Xuân 1953-1954 của quân và dân Việt Nam, đánh bại kế hoạch quân sự Navalàm sụp đổ niềm hi vọng của các giới quân sự và chính trị ở Pháp,làm xoay chuyểncục diện chiến tranh, tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh ngoại giao thắng lợi ở Giơnevơ

- Đấu tranh trên mặt trận ngoại giao: Phối hợp với cuộc tiến công chiến lượcĐông-Xuân 1953-1954, Đảng, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã mởcuộc tiến công trên mặt trận ngoại giao

Ngày 8-5-1954, Hội nghị quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương đãkhai mạc tại Giơnevơ Tham dự hội nghị có đại diện 9 nước Với tư thế đại diện cho

Trang 25

một dân tộc vừa mới tạo nên chiến công Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, tại diễnđàn hội nghị, Phạm Văn Đồng đã tuyên bố lập trường của chính phủ Việt Nam dânchủ cộng hòa về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương phải là một giải pháp toàn bộ

về chính trị và quân sự trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toànvẹn lãnh thổ của từng nước ở Đông Dương Trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23phiên họp hẹp, ngày 31-7-1954 các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào vàCampuchia lần lượt được kí kết

Tóm lại, lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950-1954 có rất nhiều sự kiện quantrọng gắn liền với những địa điểm lịch sử, địa danh lịch sử nổi tiếng trong cuộckháng chiến chống Pháp và can thiệp Mĩ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đấtnước của nhân dân ta cần phải giáo dục cho HS

2.2 Nội dung kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn 1950-1954 ở trường THPT (Chương trình Chuẩn) học sinh cần nắm theo chuẩn kiến thức kĩ năng

và giảm tải của bộ GDĐT

* Thực dân Pháp đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Đông Dương

- Mĩ can thiệp vào cuộc chiến tranh:

+ Mĩ kí với Pháp Hiệp định phòng thủ chung Đông Dương (12/1950), tăngcường viện trợ cho Pháo và tay sai, từng bước thay chân Pháp ở Đông Dương

+ Tháng 9/1951, Mĩ kí với Bảo Đại Hiệp ước kinh tế Việt-Mĩ nhắm trực tiếpràng buộc Chính phủ Bảo Đại vào Mĩ

- Kế hoạch Đờlát Đơ Tátxinhi:

+ Cuối năm 1950, Pháp đề ra kế hoạch ĐờLát Đơ Tátxinhi nhằm nhanhchóng kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh

+ Nội dung kế hoạch: xây dựng lực lượng cơ động chiến lược, xây dựngphòng tuyến công sự bằng xi măng cốt sắt (boongke), lập vành đai trắng, đánh pháhậu phương của ta

+ Kế hoạch Đờlát Đơ Tátxinhi đẩy cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dươnglên một quy mô lớn, cuộc kháng chiến của ta ở vùng sau lưng địch trở nên khókhăn, phức tạp hơn

* Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2/1951)

- Nội dung đại hội:

Trang 26

+ Đại hội thông qua báo cáo chính trị của chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng kếtkinh nghiệm đấu tranh trong chặng đường đã qua.

+ Đại hội thông qua báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” của Tổng bí thưTrường Chinh, nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn

đế quốc xâm lược, giành độc lập, xóa bỏ những tàn tích phong kiến, thực hiện

“người cày có ruộng” phát triển chế độ dân chủ nhân dân

+ Đại hội quyết định tách Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở mỗinước một đảng Mác-Lênin riêng, có cương lĩnh phù hợp Ở Việt Nam, đại hội quyếtđịnh đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam

+ Thông qua Tuyên ngôn, Chính cương, Điều lệ mới… Bầu Ban chấp hànhTrung ương mới Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, Trường Chinh làmTổng Bí thư

- Ý nghĩa của Đại hội:

+ Đại hội toàn quốc lần II của Đảng đánh dấu bước phát triển mới, bướctrưởng thành của Đảng ta, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với kháng chiến

+ Đây là “Đại hội kháng chiến thắng lợi”

* Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt

+ Thủ công và công nghiệp đáp ứng được những yêu cầu về công cụ sản xuất

và những mặt hàng thiết yếu về thuốc men, quân trang, quân dụng

+ Đầu năm 1953, ta thực hiện triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất ở vùng

tự do Thái Nguyên, Thanh Hóa

- Về văn hóa, giáo dục, y tế:

+ Tiến hành cuộc cải cách giáo dục, đến năm 1952 có trên 1 triệu học sinhphổ thông, khoảng 14 triệu người thoát nạn mù chữ

Trang 27

+ Văn nghệ sĩ hăng hái thâm nhập mọi mặt đời sống chiến đấu và sản xuất.+ Các hoạt động y tế được phát triển như vệ sinh, phòng bệnh, bài trừ mê tín,

dị đoan…

* Những chiến dịch tiến công giữ vững quyền chủ động trên chiến trường

(giảm tải theo qui định của bộ GDĐT)

* Âm mưu mới của Pháp – Mĩ ở Đông Dương Kế hoạch Nava

- Sau 8 năm tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, Pháp bị thiệt hại ngàycàng lớn, bị loại khỏi vòng chiến đấu 39 vạn quân, ngày càng lâm vào thế bị độngtrên chiến trường, vùng chiếm đóng bị thu hẹp, chiến phí tăng cao, chính trị, kinh tế,tài chính gặp khó khăn, bế tắc

- Mĩ ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương Được sựthỏa thuận của Mĩ, Pháp cử Nava sang làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở ĐôngDương Nava đề ra kế hoạch quân sự mới

- Kế hoạch Nava: Thời gian thực hiện là 18 tháng, chia làm 2 bước: Bước thứnhất, trong thu đông 1953 và xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc

và Nam Đông Dương, xây dựng đội quân cơ động chiến lược mạnh; Bước thứ hai,

từ thu đông 1954, chuyển lực lượng ra chiến trường Bắc Bộ, thực hiện tiến côngchiến lược cố gắng giàng thắng lợi quân sự quyết định, buộc ta phải đàm phán vớinhững điều kiện có lợi cho chúng

- Từ thu đông 1953, Nava tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn cơđộng, càn quét,bình định vùng chiếm đóng, mở cuộc tiến công lơn vào vùng tự doNinh Bình, Thanh Hóa

* Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ

- Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954

+ Chủ trương (kế hoạch) của ta: Tập trung lực lượng tấn công vào những vịtrí quan trọng mà địch tương đối yếu, nhưng lại quan trọng về chiến lược mà chúngkhông thể bỏ, nhằm tiêu diệt thêm nhiều sinh lực địch, giải phóng thêm đất đai; Chủđộng phân tán lực lượng, tạo điều kiện tiêu diệt chúng

+ Cuộc tiến công chiến lược: Tháng 12/1953, quân ta giải phóng thị xã LaiChâu, Pháp buộc phải điều quân tăng cường cho Điện Biên Phủ, biến nơi đây thànhnơi tập trung quân đông thứ hai của Pháp; Đầu tháng 12/1953, Liên quân Lào – VIệt

Trang 28

tấn công Trung Lào, giải phóng Thà Khẹt, uy hiếp Xavannakhét và Xênô, buộc địchphải tăng quân cho Xênô, đây thành nơi tập trung binh lực thứ ba của Pháp; tháng1/1954, liên quân Lào-Việt tấn công địch ở Thượng Lào, giải phóng lưu vực sôngNậm Hu và tình Phongxalì, buộc Pháp phải tăng quân cho Luông Phabang vàMường Sài, Luông Phabang là nơi tập trung quân thứ tư của Pháp; Tháng 2/1954, tagiải phóng thị xã Kon Tum, uy hiếp Plâycu, Pháp phải tăng cường lực lượng choPlâycu, Đây là nơi tập trung quân thứ 5 của Pháp Như vậy khối cơ động của Navađịnh tập trung ở Đồng bằng Bắc Bộ đã bị ta chủ động phân tán thành 5 nơi, ĐiệnBiên Phủ bị cô lập Kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản Tạo điều kiện cho ta giànhthắng lợi lớn ở Điện Biên Phủ.

+ Chiến dịch Điện Biên Phủ

•Âm mưu của Pháp: Trong quá trình triển khai kế hoạch Nava, Pháp – Mĩđánh giá Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất ĐôngDương, có thể trở thành căn cứ lục quân và không quân chiến lược lợi hại trongmưu đồ xâm lược Đông Dương và Đông Nam Á; Trong tình thế kế hoạch Nava bịphá sản, Pháp – Mĩ đã tập trung xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứđiểm mạnh nhất Đông Dương, biến thành trung tâm của kế hoạch Nava; Điện BiênPhủ được Pháp – Mĩ đánh giá là “pháo đài không thể công phá”, nhằm thu hút lựclượng ta vào đây để tiêu diệt; Pháp bố trí Điện Biên Phủ thành một hệ thống phòngngự kiên cố gồm 49 cứ điểm, 2 sân bay, chia thành 3 phân khu với 16.200 quân, đủcác binh chủng và phương tiện chiến tranh hiện đại

•Chủ trương của ta: Trung ương Đảng hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quânđịch ở Điện Biên Phủ; Ta chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược vớiPháp vì: Điện Biên Phủ chỉ tiếp tế được bằng đường hàng không khi đường bộ bị côlập; quân đội, hậu phương ta đang phát triển thuận lợi, có thể khắc phục được khókhăn về đường sá, vận tải, tiếp tế

•Diễn biến: Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong 3 đợt: Đợt 1 (13/3 –17/3) ta tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam và toàn bộ phân khu Bắc; Đợt 2 (30/3 –26/4) ta đồng loạt tấn công các cứ điểm phía Đông phân khu Trung tâm như các cứđiểm E1, D1, C1, A1… bao vây, chia cắt địch; Đợt 3 (1/5 – 7/5) quân ta đồng loạttấn công phân khu Trung tâm và phân khu Nam, 17h30 ngày 7/5/1954 tướng ĐờCaxtơri và toàn bộ tham mưu địch bị bắt Chiến dịch hoàn toàn thắng lợi

Trang 29

•Kết quả: Ta loại khỏi vòng chiến đấu 16200 tên địch, trong đó có 1 thiếutương, hạ 62 máy bay các loại, thu toàn bộ vũ khí và các phương tiện chiến tranh.

•Ý nghĩa: Đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, giáng đòn quyết định vào thựcdân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện thuậnlợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta giành thắng lợi

- Hiệp định Giơnevơ

+ Nội dung Hiệp định:

•Các nước tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản làđộc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam, Lào,Campuchia

•Các bên tham chiến ngừng bắn, lập lại hòa bình trên toàn Đông Dương

•Các bên tập chiến thực hiện tập kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực

•Cấm việc đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí nước ngoài vào cácnước

•Việt Nam: quân đội nhân dân Việt Nam và quân Pháp tập kết ở hai miềnNam – Bắc lấy vĩ tuyến 17 (dọc sông Bến Hải) làm giới tuyến quân sự tạm thời, tiếntới thống nhất bằng cuộc Tổng tuyển cử tự do trong cả nước sẽ tổ chức vào hai nămsau ngày kí hiệp định

+ Ý nghĩa: Hiệp định Giơnevơ đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống Pháp, buộc Pháp phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội vềnước; Mĩ thất bại trong âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh xâm lược ĐôngDương

- Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp:

+ Nguyên nhân thắng lợi: Có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu làchủ tịch Hồ Chí Minh, với đường lối chính trị, quân sự và đường lối kháng chiếnđúng đắn, sáng tạo; Có chính quyền dân chủ nhân dân, có Mặt trận dân tộc thốngnhất, có lực lượng vũ trang ba thứ quân, có hậu phương rộng lớn vững mạnh; Cóliên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, sự đồng tình, ủng hộ, giúp

đỡ của Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân và các nước khác

Trang 30

+ Ý nghĩa lịch sử: Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứtách thống trị thực dân của Pháp gần một thế kỉ trên đất nước ta; Miền Bắc được giảiphóng, chuyển sang giai đoạn cách mạng XHCN; Giáng một đòn nặng nề vào thamvọng xâm lược, âm mưu nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, góp phần làm tan rã hệthống thuộc địa của chúng; Cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc ở Á, Phi và khuvực Mĩ Latinh.

2.3 Địa điểm của sự kiện lịch sử giai đoạn 1950-1954 có thể tạo biểu tượng cho học sinh

Bài – Mục Địa điểm xảy ra

sự kiện

Sự kiện – Nội dung lịch

sử cơ bản liên quan đến

địa điểm

Mức độ nhận thức

- Từ ngày 11 đến ngày 2-1951, Đại hội đại biểulần thứ II của Đảng cộngsản Đông Dương họp ở xãVinh Quang

19 Địa điểmcần biết đểhiểu

và hơn 65 vạn tấn hoamàu

- Địa điểmcần biết

- Liên khu III, V

và Việt Bắc

- Tính đến năm 1952, ởcác liên khu: Việt Bắc, III,

IV và V đã có trên 1 triệuhọc sinh phổ thông

- Địa điểmcần biết

hoạch

Nava

- Trung Bộ,Nam ĐôngDương

- Trong thu đông 1953 vàxuân 1954 giữ thế phòngngự chiến lược ở Bắc Bộ,tiến công chiến lược đểbình định Trung Bộ vàNam Đông Dương

- Địa điểmcần biết

Ngày đăng: 25/03/2018, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w