I XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC THỂ HIỆN QUYỀN LÀ CHỦ VÀ LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN1. Nhà nước của dân Nhà nước của dân+ Hiến pháp 1946: Điều thứ 1Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà.Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Điều thứ 20Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo Điều thứ 41 và 61. Điều thứ 21Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70. Điều thứ 32Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý.Cách thức phúc quyết sẽ do luật định. Điều thứ 70Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.+ Trong Hiến pháp năm 1959 Điều 4Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thống qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều 6Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Điều 8Lực lượng vũ trang của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn và an ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hoà bình của nhân dân. Nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước+ Có quyền lựa chọn đại biểu > Bầu đại biểu: cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh. Đây là thuộc về chế độ dân chủ đại diện bên cạnh chế độ dân chủ trực tiếp.+ Có quyền giám sát và kiểm tra các vị đại biểu > Có quyền bãi miễn: Quyền làm chủ và đồng thời cũng là quyền kiểm soát của nhân dân thể hiện ở chỗ nhân dân có quyền bãi miễn những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nào nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, muốn bảo đảm được tính chất nhân dân của Nhà nước phải xác định được và thực hiện được trách nhiệm của cử tri và đại biểu do cử tri bầu ra. Cử tri và đại biểu cử tri bầu ra phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau do bản chất của cơ chế này quy định. Và khi không hoàn thành nhiệm vụ với tư cách là người đại biểu của cử tri thì cử tri có quyền bãi miễn tư cách đại biểu. Dân là chủ, dân làm chủ:+ Nhân dân có những quyền, nghĩa vụ gì? Quyền cơ bản của công dân: Là quyền được ghi nhận trong Hiến pháp, nói đến sự đảm bảo của nhà nước về những nhu cầu, đòi hỏi thiết yếu của công nhân. Nhà nước tạo điều kiện đảm bảo công dân thực hiện quyền lợi của mình. Nghĩa vụ cơ bản của công dân: Là sự đòi hỏi của nhà nước đối với công dân nhằm để tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền lợi. Nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi trong Hiến pháp. Công dân có các nghĩa vụ cơ bản như trung thành với Tổ Quốc, bảo vệ Tổ Quốc, tuân theo Hiến pháp, Pháp luật, tham gia bảo vệ An ninh, Quốc gia, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành quy tắc công cộng …=> Quyền và nghĩa vụ của công dân nói đến mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân. Chỉ có những người nào là công dân mới được hưởng các quyền và phải làm những nghĩa vụ cơ bản đó. Các quyền và nghĩa vụ khác của công dân cũng được quy định trong hệ thống Pháp luật. + Cách thức tổ chức quyền, nghĩa vụ của nhân dân: Hồ Chí Minh quan niệm dân chủ có nghĩa là dân là chủ”. Mở rộng theo ý đó, Hồ Chí Minh còn cho rằng: Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước do nhân dân làm chủ. Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ3. Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Dân là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân.. Điều này có ý nghĩa thực tế nhắc nhở những người lãnh đạo, những người đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải là đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân: cậy thế với dân, quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân. Một nhà nước như thế là một nhà nước tiến bộ trong bước đường phát triển của nhân loại. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh khai sinh ngày 291945 chính là Nhà nước tiến bộ chưa từng có trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam bởi vì Nhà nước đó là Nhà nước của dân, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước.2. Nhà nước do dân Do dân lập nên: thông qua hoạt động bầu cử+ Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước VNDCCH. Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm xây dựng và bảo vệ Nhà nước dân chủ cộng hòa, toàn thể nhân dân từ Nam chí Bắc đã tham gia bỏ phiếu bầu nên những đại biểu đầu tiên.+ 2 – 3 1946: Quốc hội khóa I họp kỳ đầu tiên. Các đại biểu Quốc hội từ khắp các tỉnh đã về họp tại thủ đô Hà Nội. Các ĐBQH thay mặt nhân dân bầu ra Chủ tịch nước > CP+ Ở các địa phương, nhân dân bầu ra các đại biểu HĐND (trực tiếp), sau đó các đại biểu này thay mặt nhân dân bầu ra UBND (dân bầu gián tiếp) Nhà nước do nhân dân ủng hộ, giúp đỡ hoạt động: Một số biểu hiện chính+ Khi nhà nước đưa ra chính sách gì, nhân dân thực hiện:●Kêu gọi tổng khởi nghĩa: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã tiến hành cuốc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng tám thành công.●Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ 148, một ngày sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc. Từ ngày 14 đến 18, tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hội An.●Ngày 178, ở Hà Nội, tổng hội viên chức chính quyền bù nhìn tổ chức một cuộc mittinh lớn tại Quảng trường nhà hát thành phố, có hàng vạn người tham gia để ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Sáng ngày 198, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh. ●Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng toả đi khắp nơi, cả nước vùng dậy đấu tranh giành chính quyền và liên tiếp giành thắng lợi.
Trang 1I - XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC THỂ HIỆN QUYỀN LÀ CHỦ VÀ LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN
1 Nhà nước của dân
- Nhà nước của dân
+ Hiến pháp 1946:
* Điều thứ 1
Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà
Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo Điều thứ 20
Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo Điều thứ 41 và 61
* Điều thứ 21
Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70
* Điều thứ 32
Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý
Cách thức phúc quyết sẽ do luật định
* Điều thứ 70
Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu
b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi
Trang 2c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết
+ Trong Hiến pháp năm 1959
* Điều 4
Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thống qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ
* Điều 6
Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân
Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân * Điều 8
Lực lượng vũ trang của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là của nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn và an ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hoà bình của nhân dân
- Nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước
+ Có quyền lựa chọn đại biểu -> Bầu đại biểu: cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh Đây là thuộc về chế độ dân chủ đại diện bên cạnh chế độ dân chủ trực tiếp + Có quyền giám sát và kiểm tra các vị đại biểu -> Có quyền bãi miễn: Quyền làm chủ và đồng thời cũng là quyền kiểm soát của nhân dân thể hiện ở chỗ
Trang 3nhân dân có quyền bãi miễn những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nào nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân Theo Hồ Chí Minh, muốn bảo đảm được tính chất nhân dân của Nhà nước phải xác định được và thực hiện được trách nhiệm của cử tri và đại biểu do cử tri bầu ra Cử tri và đại biểu cử tri bầu ra phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau do bản chất của cơ chế này quy định Và khi không hoàn thành nhiệm vụ với tư cách là người đại biểu của cử tri thì cử tri có quyền bãi miễn tư cách đại biểu
- Dân là chủ, dân làm chủ:
+ Nhân dân có những quyền, nghĩa vụ gì?
* Quyền cơ bản của công dân: Là quyền được ghi nhận trong Hiến pháp, nói đến sự đảm bảo của nhà nước về những nhu cầu, đòi hỏi thiết yếu của công nhân Nhà nước tạo điều kiện đảm bảo công dân thực hiện quyền lợi của mình Nghĩa vụ cơ bản của công dân: Là sự đòi hỏi của nhà nước đối với công dân nhằm để tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền lợi
* Nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi trong Hiến pháp Công dân có các nghĩa vụ cơ bản như trung thành với Tổ Quốc, bảo vệ Tổ Quốc, tuân theo Hiến pháp, Pháp luật, tham gia bảo vệ An ninh, Quốc gia, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bí mật quốc gia, chấp hành quy tắc công cộng …
=> Quyền và nghĩa vụ của công dân nói đến mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân Chỉ có những người nào là công dân mới được hưởng các quyền và phải làm những nghĩa vụ cơ bản đó Các quyền và nghĩa vụ khác của công dân cũng được quy định trong hệ thống Pháp luật
+ Cách thức tổ chức quyền, nghĩa vụ của nhân dân: Hồ Chí Minh quan niệm dân chủ có nghĩa là "dân là chủ” Mở rộng theo ý đó, Hồ Chí Minh còn cho rằng: "Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước do nhân dân làm chủ" "Chế độ
Trang 4ta là chế độ dân chủ Tức là nhân dân làm chủ"[3] "Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ" Dân là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân Điều này có ý nghĩa thực tế nhắc nhở những người lãnh đạo, những người đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải là đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân: "cậy thế" với dân, "quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân" Một nhà nước như thế là một nhà nước tiến bộ trong bước đường phát triển của nhân loại Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh khai sinh ngày 2-9-1945 chính là Nhà nước tiến bộ chưa từng có trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam bởi vì Nhà nước đó là Nhà nước của dân, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước
2 Nhà nước do dân
- Do dân lập nên: thông qua hoạt động bầu cử
+ Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước VNDCCH Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm xây dựng và bảo vệ Nhà nước dân chủ cộng hòa, toàn thể nhân dân từ Nam chí Bắc đã tham gia bỏ phiếu bầu nên những đại biểu đầu tiên
+ 2 – 3 - 1946: Quốc hội khóa I họp kỳ đầu tiên Các đại biểu Quốc hội từ khắp các tỉnh đã về họp tại thủ đô Hà Nội Các ĐBQH thay mặt nhân dân bầu ra Chủ tịch nước -> CP
+ Ở các địa phương, nhân dân bầu ra các đại biểu HĐND (trực tiếp), sau đó các đại biểu này thay mặt nhân dân bầu ra UBND (dân bầu gián tiếp)
- Nhà nước do nhân dân ủng hộ, giúp đỡ hoạt động: Một số biểu hiện chính + Khi nhà nước đưa ra chính sách gì, nhân dân thực hiện:
Trang 5● Kêu gọi tổng khởi nghĩa: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã tiến hành cuốc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng tám thành công
● Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ 14/8, một ngày sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc Từ ngày 14 đến 18, tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Giang, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hội An
● Ngày 17/8, ở Hà Nội, tổng hội viên chức chính quyền bù nhìn tổ chức một cuộc mittinh lớn tại Quảng trường nhà hát thành phố, có hàng vạn người tham gia để ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim Sáng ngày 19/8, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thành phố để dự mittinh
● Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng toả đi khắp nơi, cả nước vùng dậy đấu tranh giành chính quyền và liên tiếp giành thắng lợi
* Kêu gọi xoá đói:
● Ngày 11/6/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời Kêu gọi thi đua ái quốc trước quốc dân, đồng bào Người đã chỉ rõ “Mục đích của thi đua ái quốc là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “cách làm là dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân, để gây hạnh phúc cho dân”
“Vì vậy, bổn phận mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh…”, “bất kỳ già, trẻ, trai, gái, bất kỳ giàu nghèo, lớn, nhỏ đều cần phải trở nên chiến sĩ đấu tranh trên một mặt trận Quân sự, kinh
tế, chính trị , văn hoá…”, “ Chúng ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc…”,
“Thực hiện dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”
● Thực hiện Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua
Trang 6ái quốc đã phát triển rộng khắp các vùng miền và thu hút tầng tầng, lớp lớp nhân dân tham gia Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược các phong trào thi đua lớn như: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “Bình dân học vụ”, “Hũ gạo kháng chiến”… đã cuốn hút, cổ vũ, động viên đồng bào và chiến sĩ cả nước hăng say lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm chống giặc đói; Thi đua học tập xoá nạn mù chữ, chống giắc dốt và dũng cảm ngoan cường trong chiến đấu diệt giặc ngoại xâm làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu
● Phát huy truyền thống lịch sử Điện Biên năm xưa, trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Mỹ xâm lược, các phong trào thi đua tiếp tục được duy trì và nở rộ trên khắp các lĩnh vực, các vùng miền trong cả nước Các phong trào thi đua tiêu biểu như: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”; “Sóng Duyên hải” trong sản xuất công nghiệp; “Gió Đại phong” trong sản xuất nông nghiệp; “Cờ Ba nhất” trong quân đội; “Trống Bắc lý” trong giáo dục; “Thanh niên Ba sắn sàng”; “Phụ
nữ Ba đảm đang”… khẩu hiệu hành động nhà nhà thi đua, người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua, tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng giặc Mỹ xâm lược đã động viên cổ vũ huy động cả sức người, sức của cho chiến trường và sức mạnh thần kỳ của cả dân tộc Việt Nam đã được khơi dậy, cả dân tộc đã đoàn kết đứng lên đánh Mỹ và Thắng Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa đất nước bước sang kỷ nguyên mới, cả nước cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
* Kêu gọi kháng chiến: Ngày 20/12/1946, tại Hang Trầm (Chương Mỹ, Hà Đông), Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của
Trang 7Hồ Chủ tịch “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng súc tích, giản dị, đanh thép, có sức cổ vũ, động viên và tổ chức lực lượng kháng chiến vô cùng mạnh mẽ Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, tình thế hết sức hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”, từng câu từng chữ trong lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác nhanh chóng thấm nhuần sâu sắc vào tâm khảm nhân dân ta, khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, kiên cường của nhân dân Việt Nam; là hiệu lệnh làm sục sôi khí thế đấu tranh bằng sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ của người Việt Nam với mọi thứ vũ khí có sẵn, với một ý chí “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một thái độ dứt khoát và kiên định: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”
=> Nhân dân ủng hộ bằng cách tham gia
+ Nhân dân đóng góp tài chính, tiền của, vật chất cho Nhà nước hoạt động
* HCM kêu gọi tuần lễ vàng:
● Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương tổ chức “Tuần Lễ Vàng” động viên nhân dân tình nguyện ủng hộ xây dựng “Quỹ Độc Lập”
● “Tuần Lễ Vàng” đã thu được nhiều kết quả to lớn Chỉ trong 1 tuần, từ ngày 17-24/9/1945, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước đã ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” khá nhiều vàng, bạc, tiền Đông Dương Ở nơi cực Bắc của Tổ quốc, Vua Mèo Vương Chí Xình (Đồng Văn, Hà Giang) đã ủng hộ 9 cân vàng và 2,2 triệu đồng bạc trắng Tại cố đô Huế, Nam Phương Hoàng Hậu – vợ của cựu hoàng Bảo Đại (khi
đó là cố vấn Vĩnh Thuỵ) đã ủng hộ hàng chục chiếc nhẫn, hoa tai, vòng vàng quý, nêu gương cho nhân dân Huế ủng hộ 420 lạng vàng Bà Thềm -Công chúa Chăm (Ninh Thuận) ủng hộ 1 mũ, 1 quả na, 1 quả khế, 1 nải
Trang 8chuối tất cả đều bằng vàng và cả chiếc mục vàng của dòng họ vua Chăm Có thể nói, thông qua tuyên truyền, “Tuần lễ Vàng” đã nhận được sự ủng hộ sôi nổi trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam Không chỉ có người giàu mà gần như mỗi gia đình dù ít, dù nhiều cũng tham gia ủng
hộ xây dựng “Quỹ Độc Lập”, người đôi bông tai, nhà 1 - 2 con bò…
● Kết quả là“chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã quyên góp được 20 triệu tiền đồng và 370 kilôgam vàng”
=> Những kết quả thu được từ “Tuần Lễ Vàng” cuối mùa thu Ất Dậu 1945 không chỉ có ý nghĩa to lớn về tài chính mà còn mang ý nghĩa chính trị sâu sắc Lượng tiền, vàng mà nhân dân cả nước ủng hộ cho “Quỹ Độc Lập” là tiền đề tài chính quan trọng giúp Đảng và Chính quyền cách mạng tháo gỡ tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”, tạo thế và lực để giải quyết từng bước các nhiệm vụ cách mạng tiếp theo
+ HCM kêu gọi nhân dân phê bình, đóng góp ý: Người nêu rõ quyền của dân, Nhà nước do dân tạo ra và nhân dân tham gia quản lý là ở chỗ:
* Toàn bộ công dân bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan duy nhất có quyền lập pháp
* Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng Chính phủ nay gọi là Chính phủ)
* Hội đồng Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, thực hiện các nghị quyết của Quốc hội và chấp hành pháp luật
* Mọi công việc của bộ máy nhà nước trong việc quản lý xã hội đều thực hiện ý chí của dân (thông qua Quốc hội do dân bầu ra)
3 Nhà nước vì dân
Trang 9- Toàn bộ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ một lợi ích nào khác
- HCM yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phải như thế nào?
+ HCM yêu cầu đội ngũ cán bộ, công chức phải làm gì: theo quan điểm của Hồ Chí Minh, là từ Chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải "làm quan cách mạng" để "đè đầu cưỡi cổ nhân dân" Đối với chức vụ Chủ tịch nước của mình Hồ Chí Minh cũng quan niệm là do dân ủy thác cho và như vậy phải phục vụ nhân dân, tức
là làm đầy tớ cho dân
* Trong diễn ca “ 10 chính sách của Việt Minh”:
“Một là ích nước, hai là lợi dân
Nào là những kẻ chức viên,
Cải lương đãi ngộ cho yên tấm lòng.”
* Trong 10 điều thưởng, 10 điều phạt
“I THƯỞNG
5 Ai làm việc công một cách trong sạch, ngay thẳng sẽ được thưởng
6 Ai làm việc gì có lợi cho nước nhà, dân tộc và được dân chúng mến phục sẽ được thưởng
9 Ai liều mình về việc công sẽ được thưởng.”
+ HCM cấm đội ngũ cán bộ, công chức không được làm việc có hại cho nước, cho dân
* Trong 10 điều thưởng, 10 điều phạt
Trang 10“ II PHẠT
1 Thông với giặc, phản quốc sẽ bị xử tử
2 Trái quân lệnh sẽ bị xử tử
3 Ra trận tự ý rút lui sẽ bị xử tử
4 Tự ý phá hoại giao thông sẽ bị xử tử
5 Phá hoại quân khí sẽ bị xử tử
6 Để cho bộ đội hại dân sẽ bị xử tử
7 Vô cớ sát hại kiều dân ngoại quốc sẽ bị xử tử
8 Trộm cắp của công sẽ bị xử tử
9 Hãm hiếp, cướp bóc sẽ bị xử tử
10 Can tội bắt cóc, ám sát sẽ bị xử tử.”
II QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI TÍNH NHÂN DÂN VÀ TÍNH DÂN TỘC CỦA NHÀ NƯỚC
1 Về bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước
- Nhà nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với nhà nước là:
+ Đảng lãnh đạo bằng những chủ trương, đường lối, quan điểm để Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật, chính sách, kế hoạch
+ Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng hoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên của mình trong bộ máy, cơ quan Nhà nước
+ Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra
- Bản chất giai cấp còn thể hiện ở định hướng đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã
Trang 11hội Người đã xác định: “Bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân
theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”
- Bản chất giai cấp của nhà nước ta còn thể hiện ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản là nguyên tắc tập trung dân chủ.
+ Hồ Chí Minh chú ý đến tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tất cả cơ quan nhà nước, nhấn mạnh đến việc phát huy cao độ dân chủ, đồng thời phải phát huy cao độ tập trung
+ Người nói: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên Đồng thời, phải tập trung cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội”
2 Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân và tính dân tộc của Nhà nước
- Tính dân tộc và tính nhân dân:
+ Tính nhân dân của nhà nước ta biểu hiện tập trung ở chỗ đó là nhà nước của
dân, do dân, vì dân Tính nhân dân biểu hiện cụ thể trong cơ cấu tham chính, với sự có mặt rộng rãi của mọi giai cấp, tầng lớp trong xã hội, từ nông dân, công nhân, trí thức, phụ nữ, tôn giáo, dân tộc, kể cả công chức, quan lại cũ tiến
bộ, không phân biệt nguồn gốc, miễn là thành thật hợp tác, vì quyền lợi của dân tộc
+ Tính dân tộc
* Được thể hiện trước hết ở chỗ Nhà nước thay mặt nhân dân thực thi chủ quyền dân tộc, đấu tranh cho lợi ích của dân tộc, đấu tranh với mọi xu hướng
đi ngược lại lợi ích của dân tộc
* Tính dân tộc còn thể hiện sâu sắc ở chỗ, nguồn gốc sức mạnh của Nhà nước
ta là khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự