1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chương 1 CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

39 262 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 74,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINHI. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH1. Cơ sở khách quana) Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Pháp xâm lược Việt Nam+ Phân tích giai đoạn 1858 – 1945 Triều đình đầu hàng Nhân dân ra sức chống Pháp+ Phong trào chống Pháp theo khuynh hướng phong kiến Phong trào Cần vương: Người khởi xướng, năm, năm lãnh đạo bị bắt, kết quả, có đạt được mục tiêu không? Khởi nghĩa nông dân Yên Thế: Người khởi xướng, năm, năm lãnh đạo bị bắt, kết quả, có đạt được mục tiêu không?> Kết luận: Tại sao thất bại? Cần….+ Khuynh hướng dân chủ tư sản: Khai thác thuộc địa lần 1: Chủ trương khai thác, mục tiêu khai thác Khai thác thuộc địa lần 2: Chủ trương khai thác, mục tiêu khai thác> Khai thác các ngành nghề không cạnh tranh với Pháp, khai thác tài nguyên thiên nhiên và lao động Việt Nam> Tác động của nó: ...+ Tư tưởng mới xuất hiện: tân thư, tân văn và những ảnh hưởng của tào lưu cải cách mới Duy tân Minh trị ở Nhật Bản, cải cách ở Trung Quốc.+ Tiếp thu tư tưởng mới, con người mới > khuynh hướng mới VD: Chủ trương của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh. Kết quả?➔Kết luận: Phong trào yêu nước của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi cần phải đi theo một con đường mới.➔Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nướcb) Tiền đề tư tưởng – lý luận Gía trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam+ Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết đặc sắc và cao quý Lịch sử lâu đời: 4000 năm dựng nước và giữ nước… Nhiều giá trị: truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất, tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kết cộng đồng, ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn, thử thách, là trí thông minh, tài sáng tạo, quý trọng hiền tài, khiêm tốn tiếp thi tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho văn hoá dân tộc,…> Chủ nghĩa yêu nước đóng vai trò quan trọng. Phân tích: ●Truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam●Tạo nên một sức mạnh to lớn cho dân tộc, biểu hiện ở: Giúp cho chúng ta giữ được độc lập về mặt lãnh thổBảo tồn, phát triển được nền văn hóa, tạo được bản sắc văn hóa riêng (lấy các sự kiện, các triều đại lịch sử ra để chứng minh)+ HCM đã tiếp thu được những giá trị tư tưởng ấy > thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, hình thành tư tưởng của riêng mình.“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước.” Tinh hoa văn hóa nhân loại+ Văn hoá phương Đông: (2 ý) Người đã tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, và tư tưởng tiến bộ khác của văn hoá phương Đông. Nho giáo:• Các mặt tích cực: là học thuyết về đạo đức và phép ứng xử, triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, đó là ước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, hòa đồng, là triết lý nhân sinh; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học. Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại. • Tiêu cực: Hồ Chí Minh cũng phê phán Nho giáo có những tư tưởng tiêu cực như bảo vệ chế độ phong kiến, phân chia đẳng cấp (quân tử và tiểu nhân), trọng nam khinh nữ. • Hồ Chí Minh tiếp thu được mặt tích cực và khắc phục được hạn chế của Nho giáo để xây dựng tư tưởng của mình.✓Tu dưỡng đạo đức, đề cao giáo dục, diệt giặc dốt.✓Khắc phục hạn chế: Sự bình đẳng về mặt giới tính. Đây là sự tiến bộ về mặt chính trị. Trước khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã có những tuyên bố như nam nữ bình quyền. Sau khi giành được chính quyền, cuộc Tổng tuyển cử 1946: Phụ nữ Việt Nam được đi bỏ phiếu, lá phiếu của họ bằng với lá phiếu của nam giới. Phật giáo:• Tích cực: Tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân; là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm việc thiện; là tinh thần bình đẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp; là việc đề cao lao động, chống lười biếng…• Hạn chế: Tư tưởng lánh đời, thế giới quan duy tâm chủ quan, hướng con người tới xuất gia tu hành làm hạn chế tính tích cực xã hội của con người. • Hồ Chí Minh đã tiếp thu được những mặt tích cực và khắc phục được hạn chế của Phật giáo. Đó là sống giản di, ăn chay, làm việc thiên và luôn khoan dung với mọi người; không lánh đời trong tình cảnh mất nước. Chủ nghĩa “tam dân” của Tôn Trung Sơn: những điều phù hợp với điều kiện của cách mạng nước ta là Tư tưởng dân chủ tiến bộ “ dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”.=> Hồ Chí Minh là nhà mác xít tỉnh táo và sáng suốt, biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng văn hoá phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp của cách mạng Việt Nam.+ Văn hoá phương Tây: Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng phương Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳng trong “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Đại cách mạng Pháp 1791; tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ 1776. Trước khi ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Đạo Công giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ Chí Minh quan niệm Tôn giáo là văn hoá. Điểm tích cực nhất của Công giáo là lòng nhân ái, là tấm gương nhân từ của Chúa hi sinh vì sự nghiệp cứu rỗi con người.=> Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông Tây để phục vụ cho cách mạng Việt Nam. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại” Chủ nghĩa Mác Lênin+ Chủ nghĩa Mác Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh, là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tư tưởng của Người góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác Lênin ở thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập, tự do. Người khẳng định: “Chủ nghĩa Mác Lênin đối với chúng ta… là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội…”. + Trên cơ sở tiếp thu Chủ nghĩa Mác Lênin, Người đã vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác Lênin ở nước ta để tạo nên tư tưởng của mình+ Người tự hoàn thiện vốn văn hoá, vốn chính trị, vốn sống thực tiễn phong phú, nhờ đó Bác đã tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin như một lẽ tự nhiên “tất yếu khách quan và hợp với quy luật”. Chủ nghĩa Mác Lênin là bộ phận văn hoá đặc sắc nhất của nhân loại: tinh tuý nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất và khoa học nhất+ Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác Lênin là tìm con đường giải phóng cho dân tộc, tức là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Việt Nam chứ không phải từ nhu cầu tư duy.+ Người vận dụng chủ nghĩa Mác Lênin theo phương pháp mác xít và theo tinh thần phương Đông, không sách vở, không kinh viện, không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giải pháp riêng, cụ thể cho cách mạng Việt Nam. => Chủ nghĩa Mác Lênin là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Vai trò của chủ nghĩa Mác Lênin đối với tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ: Quyết định bản chất thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác Lênin ở Việt Nam, là tư tưởng Việt Nam thời hiện đại.2. Nhân tố chủ quan Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh:+ Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, có óc phê phán tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cách mạng ltrong nước và trên thế giới. + Hồ Chí Minh có sự khổ công học tập, rèn luyện chiếm lĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, vốn kinh nghiệm đấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để tiếp cận với chủ nghĩa Mác Lênin với tư cách là học thuyết về cách mạng của giai cấp vô sản.+ Hồ Chí Minh có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng; một trái tim yêu thương nhân dân, thương người cùng khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Bác Hồ từ một người tìm đường cứu nước đã trở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo. Tấm lòng yêu nước thương dân và đức hi sinh cao nhất cho lợi ích dân tộc và lợi ích nhân dân + Thứ nhất, đó là tấm gương trọn đời phấn đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và vì nhân loại. Ngay từ thủa thiếu thời, Hồ Chí Minh đã xác định một cách rõ ràng mục tiêu phấn đấu cho cả cuộc đời mình là vì nước, vì dân. Trên con đường thực hiện mục tiêu đó, Người đã chấp nhận sự hi sinh, không quản gian nguy, kiên định, dũng cảm và sáng suốt vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện bằng được mục tiêu đó.+ Thứ hai, là tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục tiêu cách mạng. Cuộc đời Người là một chuỗi năm tháng đấu tranh vô cùng gian khổ. Vượt qua bao khó khăn, Người kiên trì mục tiêu của cuộc sống, bảo vệ chân lý, giữ vững quan điểm; khí phách, bình tĩnh, chủ động vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Người tự răn mình: “Muốn nên sự nghiệp lớn, tinh thần phải càng cao”.+ Thứ ba, là tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Hồ Chí Minh có tình thương yêu bao la với tất cả mọi kiếp người. Người luôn tin ở con người, tin tưởng vào trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nguyện làm “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.+ Thứ tư, Hồ Chí Minh là tấm gương của một con người nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực vì con người. Với tình yêu thương bao la, Người dành tình thương yêu cho tất cả, chia sẽ với mọi người những nỗi đau. Người nói: Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi.+ Thứ năm, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường. Hồ Chí Minh thật sự cần, kiệm, giản dị, coi khinh sự xa hoa, không ưa chuộng những nghi thức trang trọng; những phẩm chất này được biểu hiện chính trong cuộc sống hàng ngày của Người, tạo thành phong cách sống của một vị lãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam. Suốt đời, Người sống trong sạch, vì dân, vì nước, vì con người, không mưu cầu chút lợi ích riêng tư nào cho mình cả.⇨Những đức tính cao cả ấy chung đúc lại đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên cao thượng tuyệt vời. Nhưng cũng chính từ sự kết hợp của những đức tính đó, Người là tấm gương cụ thể, gần gũi mà mọi người đều có thể học tập và làm theo.II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH1.Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước Tiểu sử Hồ Chí Minh:+ Tên: Theo cuốn sách của Bảo tàng Hồ Chí Minh “Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, đưa ra con số thống kê: có 169 tên chính thức, bí danh, bút danh của Hồ Chí Minh, và nêu lên 17 bút danh, bí danh khác đang nghi là của Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu thêm. Còn nhà sưu tầm Bá Ngọc trong cuốn sách của mình “Hồ Chí Minh – Những tên gọi đi cùng năm tháng”, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, thống kê Hồ Chí Minh có 174 tên ; trong đó có 78 tên chính thức, bí danh và 96 bút danh. Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Sinh Côn), 1890: là tên lúc sinh thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh do ông ngoại là Hoàng Xuân Đường đặt cho. “Anh nho Sắc chớp chớp mắt, môi hé nở nụ cười: Côn... ấy là tích lòai cá hóa chim bằng, phải không thưa cha? Chính vậy đó. Theo mong ước của tôi thì... thằng bé sẽ có chí vùng vẫy bốn bể, dù gặp truân chuyên chìm nổi, nhưng ắt thành công. Cho nên tự Tất Thành.” (theo Búp sen xanh, Sơn Tùng) Nguyễn Tất Thành, 1901: Tháng 5 1901, ông Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu. Khoảng tháng 9 1901, ông chuyển về sống ở quê nội xã Kim Liên. Theo tục lệ, ông Nguyễn Sinh Sắc được làng Kim Liên đón về và được làng cấp đất công, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà. Nhân dịp này ông Nguyễn Sinh Sắc làm “lễ vào làng” cho hai con trai với tên mới: Nguyễn Tấn Đạt (Sinh Khiêm), Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung). Thành Đạt là mong muốn của người cha hy vọng vào hai con. Nguyễn Ái Quốc, 1919: Người lấy tên là Nguyễn Ái Quốc với ý nghĩa tên là một người yêu nước. Cái tên này thể hiện tư tưởng đề cao chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, coi đó là một nguồn gốc làm nên sức mạnh để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Hồ Chí Minh, 1942: Để đánh lạc hướng khi hoạt động tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh. Ý nghĩa cái tên Hồ Chí Minh của Bác:“Trong chữ Hán: Hồ là Cổ và Nguyệt, Chí là Sĩ và Tâm, Minh là Nhật và Nguyệt, theo từ điển tích cổ có ý nghĩa là:1. Trăng ngày xưa (cổ nguyệt) thì có thể chiếu sáng ngày nay.2. Nhưng người xưa thì không thể biết chuyện của ngày nay. Chuyện ngày nay do người đang sống ở thời nay quyết định.3. Những người yêu nước (sĩ tâm) phải biết chọn con đường đúng mà đi (Minh).Tên của Bác có ý nghĩa kêu gọi tất cả các tầng lớp tập hợp lại một lòng vì dân tộc, vì sự nghiệp chống Pháp.” Theo Ý nghĩa cái tên Hồ Chí Minh của Bác?, trang Hỏi đáp khoa học kỹ thuật, Cổng thông tin điện tử Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc+ Ngày sinh: Theo bài viết của cố tiến sỹ linh mục Nguyễn Đình Thi, nguyên Chủ tịch Hội Huynh đệ Á Âu, Hội Huynh đệ Việt nam tại Pháp:“Sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, 60 năm nhìn lại, Năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh: • Căn cứ theo lá thư người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Hồ Chí Minh) tại Marseille ngày 15 9 1919 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris, thì phía dưới lá thư ký: Nguyễn Tất Thành; Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung Quốc (theo William J.Duiker, Hồ Chí Minh, New York 2000, bản dịch tiếng việt khổ A4, tr.31).• Theo tài liệu của Ông Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp, thì lại khác. Tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chủ tịch lại khai là sinh ngày 15.01.1894• Còn người anh trai Nguyễn Sinh Khiêm và người chị gái Nguyễn Thị Thanh, khi bị cảnh sát Trung kỳ hỏi cung vào năm 1920, thì người anh cho biết Nguyễn Sinh Cung sinh năm 1891, còn người chị gái lại khai vào khoảng 1893.• Theo giấy khai sinh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894 (theo Daniel Hemery, Hồ Chí Minh, Từ Đông Dương đến Việt Nam, Lê Toàn dịch, NXB Phụ nữ 2004, tr.90 91)• Năm 1946, Hồ Chủ tịch công nhận năm 1890 là năm sinh: Cuối cùng, bốn năm đó (1891, 1892, 1893, 1894) đều bị phủ nhận, và năm 1890 được Hồ Chí Minh công nhận chính thức là năm sinh của mình khi đồng ý cho tổ chức lần đầu tiên lễ sinh nhật của mình vào ngày 19 5 1946. Đây là một sự kiện mới. Và từ năm 1946 trở đi, các tài liệu về Hồ Chí Minh cho biết Hồ Chí Minh đã lấy năm đó để tính tuổi của mình. Ngày sinh của Hồ Chủ tịch: Nhưng tại sao là ngày 19 tháng 5 chứ không phải ngày 15 01 1894 như Nguyễn Tất Thành đã khai tại Ty cảnh sát Paris năm 1920? • Trả lời câu hỏi đó, ông Hémery đã đưa ra giả thuyết: Sở dĩ lấy ngày 19 5 là để kỷ niệm ngày thành lập Việt Minh 19 5 1941 (D. Hémery, sdd, t.90). Thiết nghĩ rằng giả thuyết đó không đúng vì ngày thành lập Mặt trận Việt Minh là một biến cố quan trọng thực, nhưng không phải là lý do chính. • Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tập hồi ký “Chiến đấu vòng vây” cũng công nhận “Ngày thành lập Việt Minh 19 5 1941 trùng với ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đây là một sự “trùng hợp” chứ không phải lấy ngày thành lập Việt Minh làm ngày sinh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn thêm: “Ngày sinh Hồ Chủ tịch được công bố lân đầu tiên vào năm 1946” (Võ Nguyên Giáp, tổng hợp hồi ký, NXB Quân Đội Nhân dân, Hà Nội 2006, t.378). • Trong lá thư ngày 19 5 1948 gửi Quốc Hội và Chính phủ, các đoàn thể, bộ đội, đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài để cám ơn, Hồ Chí Minh đề nghị lấy một ngày khác. Hồ Chủ tịch viết:“Tôi thiết ngĩ rằng tuy tuổi tác chúng ta có kẻ nhiều, người ít, nhưng tôi và toàn thể đồng bào có một ngày sinh nhật chung: ấy là ngày cách mạng giải phóng thành công tháng tám năm 1945”(TS. Trần Viết Hoàn, sdd, t.13)• Nhìn lại các sự kiện mấy ngày đó mới thấy hết ý nghĩa của ngày 19 5 1946. Ngày 13 5 hội nghị Đà Lạt kết thúc không đem lại kết quả gì vì đại biểu Pháp không thành thực. Mặc dù Thiery D’Argenlieu tìm cách cản trở nhưng Hồ Chủ tịch quyết định phải lên đường ngày 31 tháng 5 như đã dự kiến qua cuộc gặp gỡ tại vịnh Hạ Long. Thời gian quá gấp rút phải cho phía Pháp biết quyết tâm của Việt Nam. Chỉ trong hai ngày 16,17, Hồ Chí Minh đã nắm lại thế chủ động, quyết định lấy ngày sinh của mình làm phương tiện đấu tranh ngoại giao.+ Ngày mất: theo báo điện tử VnExpress, 30082014. • Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 291969, nhưng do trùng ngày Quốc khánh nên Bộ Chính trị lúc bấy giờ thông báo là ngày 39. Hai mươi năm sau, toàn văn di chúc và ngày mất của Bác mới được công bố. • Dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất và chuẩn bị 100 năm ngày sinh của Bác, Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VI thấy trách nhiệm phải thông báo về ngày mất và di chúc của Người. Thông tin được công bố trong thông báo của Bộ Chính trị số 151 ngày 1981989. Gia đình:+ Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, gần gũi với nhân dân. Gia đình nhà nho: trí thức,có học Yêu nước: Luôn ấp ủ nguyện vọng và chí hướng cức nước Gần gũi với nhân dân, từ đó thấu hiểu được những khổ cực, vất vả, những mong muốn nguyện vong của người dân để phục vụ và vì lợi ích của dân.+ Cha, mẹ, anh, chị: Theo Quê hương và gia đình Hồ Chí Minh, Trang thông tin điện tử Khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học, đại học Thái Nguyên, 14012014.“ Thân phụ của Người là ông Nguyễn Sinh Sắc, còn gọi là Huy (1862 1929), con của một gia đình nông dân nghèo, chất phác. Cha, mẹ mất sớm, tuổi thơ chịu cảnh mồ côi, phải vất vả lao động kiếm sống và có ý chí học hành. Là một cậu bé hiền lành, thông minh, ham học. Nguyễn Sinh Huy được nhà nho Hoàng Xuân Đường cảm cảnh nhận làm con nuôi và cho học hành tử tế. Chẳng bao lâu chàng thanh niên Nguyễn Sinh Sắc đã tham dự kỳ thi Hương và đỗ cử nhân tại trường thi Nghệ An (1894) và được người cha nuôi cũng là thầy giáo gả con gái của mình là Hoàng Thị Loan làm vợ. Được gia đình và người vợ trẻ động viên, cùng với ý chí của mình, ông cử Sắc đã tiếp tục tham dự các kỳ thi Hội của Triều đình nhưng không đỗ, đến kỳ thi Hội lần thứ 3 ông mới đỗ Phó Bảng (1901). Với phẩm chất liêm khiết của một nhà nho, trong cuộc sống cụ Sắc luôn dạy dỗ con cái luôn có ý thức lao động, học tập để hiểu “đạo lý làm người”. Sau khi đỗ Phó Bảng (1901), bị Triều đình phong kiến thúc ép nhiều lần, buộc cụ phải ra làm quan, nhưng bất hợp tác với bọn tay sai đế quốc. Với quan điểm của mình cụ Sắc thường nói “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (nghĩa là: Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn). Vốn có lòng yêu nước, khẳng khái, cụ thường chống đối bọn quan trường và thực dân Pháp xâm lược. Vì vậy, sau một thời gian làm quan rất ngắn, cụ bị chúng cách chức. Cụ vào Nam Bộ làm thầy thuốc giúp dân nghèo, sống cuộc đời thanh bạch cho đến lúc qua đời (1929), được nhân dân mến mộ và thương tiếc. Thi hài và lăng mộ yên nghỉ của cụ hiện nằm tại tỉnh Đồng Tháp Thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị Loan (1868 1901), một người phụ nữ hiền hậu, đảm đang, yêu chồng thương con hết mực, chịu khó lao động, bà làm ruộng và dệt vải để nuôi dạy con cái. Bằng lao động, bằng cả tấm lòng yêu chồng, thương con, bà Hoàng Thị Loan đã hy sinh tất cả vì chồng con và chính bà đã vun đắp nên cuộc đời sự nghiệp đẹp đẽ cho cả gia đình. Nhưng cũng vì cuộc sống cơ cực, lao động vất vả, quá sức, ngặt nghèo, thiếu thốn... Bà đã trút hơi thở cuối cùng vào một ngày ảm đạm trên Kinh thành Huế ở cái tuổi 33 (10021901) để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình, người thân, bà con lối xóm. Khi Bà qua đời, không có người thân bên cạnh, chỉ có cậu Cung (Bác Hồ) tuổi mới lên 10 và em bé Xin đang khát sữa. Được bà con, bạn bè đùm bọc, giúp đỡ, thi hài Bà Loan được đưa lên an táng tại núi Tam Tầng, xứ Huế. Chị cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bà Nguyễn Thị Thanh (1884 1954) còn gọi là Bạch Liên và anh cả của Người là Nguyễn Sinh Khiêm, tức Nguyễn Tất Đạt (1888 1950). Cả hai người đều có chí hướng tiến bộ, yêu nước, thương người và tích cực tham gia các phong trào chống Pháp, đã nhiều lần bị thực dân Pháp kết án tù đày.Nhưng nhờ sự giáo dục của gia đình, cả bà Thanh và ông Cả Khiêm đều không màng danh lợi, hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp cứu dân, cứu nước, trở thành tấm gương đáng kính cho bà con nhân dân về sự cao cả, nghĩa khí và lòng vị tha.” Quê hương: Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra tại quê ngoại là làng Hoàng Trù (còn gọi là làng Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Quê hương của Người là một vùng đất nghèo của huyện Nam Đàn Nghệ An. Người dân ở đây luôn phải sống trong cảnh nghèo khổ, thường xuyên phải chèo chống với thiên tai khắc nghiệt, quanh năm ruộng đất khô cằn, mới nắng đã hạn, mới mưa đã lũ, mất mùa thường xuyên, cuộc sống vất vả, lam lũ đã in đậm trong tiềm thức của người dân Nam Đàn nói riêng, xứ Nghệ nói chung. Những khó khăn vất vả ấy đọng lại trong câu ca dao:Làng Sen đóng khố thay quầnÍt cơm, nhiều cháo tảo tần quanh năm.Mặc dù, điều kiện tự nhiên hết sức khắc nghiệt nhưng người dân xứ Nghệ rất giàu truyền thống văn hoá và đánh giặc, giữ nước. Nơi đây hội tụ nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn với tên tuổi chiến công của các bậc anh hùng dân tộc, nêu cao chí khí chống ngoại xâm từ bao đời nay. Kim Liên và Hoàng Trù là một miền quê giàu cảnh sắc, với một nền văn hoá dân gian đa dạng và phong phú. Biết bao làn điệu dân ca nơi đây đã đi vào lòng người , đậm đà bản sắc dân tộc như: hát ví dặm, đò đưa, hát phường vải... Trải qua biết bao biến động, thăng trầm của lịch sử, truyền thống văn hoá đặc sắc của miền quê Kim Liên vẫn không ngừng toả sáng, tự hào. Tình hình đất nước+ Chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, phản động,.. không mở ra khả năng cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Không phát huy được những thế mạnh của dân tộc và đất nước, chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây.+ Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và Hiệp định Patơnốt (1884) được ký kết, xã hội Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến, thừa nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam. + Cuối thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần vương” do các văn thân, sỹ phu lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại. Hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời trước các nhiệm vụ lịch sử.+ Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp xã hội sâu sắc. Tạo tiền đề bên trong cho phong trào đấu tranh giải phóng đân tộc đầu thế kỷ XX.+ Đầu thế kỷ XX, các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước nhưng đều thất bại (Chủ trương cầu viện, dùng vũ trang khôi phục độc lập của Phan Bội Châu; Chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” khai thông dân trí, nâng cao dân trí,.. trên cơ sở đó mà dần dần tính chuyện giải phóng của Phan Chu Trinh; Khởi nghĩa nặng cốt cách phong kiến của Hoàng Hoa Thám). Phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn đi đến thắng lợi, phải đi theo con đường mới. Bối cảnh thời đại (quốc tế): Khi con thuyền Việt Nam còn lênh đênh chưa rõ bờ bến phải đi tới thì lịch sử thế giới trong giai đoạn này cũng đang có những biến chuyển to lớn.Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độc quyền, đã xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toàn thế giới. Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa.Có một thực tế lịch sử là trong quá trình xâm lược và thống trị của chủ nghĩa thực dân tại các nước nhược tiểu ở châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ latinh, sự bóc lột phong kiến trước kia vẫn được duy trì, và bao trùm lên nó là sự bóc lột tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia, đã xuất hiện thêm các giai cấp. tầng lớp xã hội mới.2. Thời kỳ 1911 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Thời kỳ hoạt động trên nhiều địa bàn khác nhau: Hơn 30 nước, khắp 4 châu lục, từ những nước thuộc địa đến những nước tư bản + Ngày 3 6 1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba xin làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville), một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của hãng Năm Sao đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn đi Mácxây (Marseille), Pháp.+ Ngày 5 6 1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin, từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.+ Theo hành trình của tàu, Nguyễn Tất Thành đã dừng chân ở cảng Mácxây, cảng Lơ Havơrơ (Le Havre) của Pháp. Không dừng lại ở Pháp, năm 1912, Nguyễn Tất Thành làm thuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni đi vòng quanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng của một số nước như Tây Ban Nha, BồĐào Nha, Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông… Nguyễn Tất Thành theo con tàu tiếp tục đi qua Máctiních (Martinique) (Trung Mỹ), Urugoay và Áchentina (Nam Mỹ) và dừng lại ở nước Mỹ cuối năm 1912. Khoảng đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ, sau đó sang Anh. Giữa lúc cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra ác liệt, tình hình Đông Dương đang có những biến động, vào khoảng cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Anh trở lại Pháp để có điều kiện trực tiếp hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp. Chịu đựng gian khổ khảo sát thực tiễn và học tập+ Những ngày đầu tiên trên đất Pháp, được chứng kiến ở Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam, anh nhận thấy có những người Pháp trên đất Pháp tốt và lịch sự hơn những tên thực dân Pháp ở Đông Dương.+ Ở Châu Phi năm 1912, đến đâu anh cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Cảnh tượng đó làm cho Nguyễn Tất Thành rất đau xót. Anh liên tưởng một cách tự nhiên đến số phận của người dân Việt Nam, đồng bào khốn khổ của anh. Họ cũng là nạn nhân của sự hung ác, vô nhân đạo của bọn thực dân. Những sự việc như vậy diễn ra khắp nơi trên đường anh đi qua, tạo nên ở anh mối đồng cảm sâu sắc với số phận chung của nhân dân các nước thuộc địa. + Tại Mỹ cuối năm 1912, anh có dịp tìm hiểu cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mỹ với bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch sử. Anh vừa đi làm thuê để kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống của những người lao động Mỹ. Nguyễn Tất Thành đã tranh thủ lúc rỗi rãi đi xem xét nhiều nơi, từ những khu phố hoa lệ nổi tiếng thế giới với những ngôi nhà cao chọc trời ở Niu Oóc đến những ngôi nhà ổ chuột ở khu Háclem.Dừng chân ở nước Mỹ không lâu nhưng Nguyễn Tất Thành đã sớm nhận ra bộ mặt thật của đế quốc Hoa Kỳ. Đằng sau khẩu hiệu cộng hòa dân chủ của giai cấp tư sản Mỹ là những thủ đoạn bóc lột nhân dân lao động rất tàn bạo. Anh cảm thông sâu sắc với đời sống của người dân lao động da đen và rất căm giận bọn phân biệt chủng tộc, hành hình người da đen một cách man rợ. + Đến nước Anh, để kiếm tiền sinh sống, anh nhận cào tuyết cho một trường học, rồi làm thợ đốt lò. Công việc hết sức nặng nhọc, nhưng sau mỗi ngày anh đều tranh thủ thời gian học tiếng Anh.Tại Anh, Nguyễn Tất Thành đã hăng hái tham dự những cuộc diễn thuyết ngoài trời của nhiều nhà chính trị và triết học, tham gia Hội những người lao động hải ngoại, ủng hộ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân Airơlen. + Tại Pháp: Thời gian đầu khi tới Pari, chưa có giấy tờ hợp pháp, Nguyễn Tất Thành được các đồng chí trong Ban đón tiếp những người lao động nhập cư của Đảng Xã hội Pháp giúp đỡ. Trong khi chờ các đồng chí tìm cho giấy tờ quân dịch hợp pháp, anh phải sống ẩn náu, hạn chế đi lại để tránh sự kiểm tra của cảnh sát. Cuộc sống của anh lúc đó gặp rất nhiều khó khăn. Vừa hoạt động chính trị, vừa phải kiếm sống một cách chật vật, khi thì làm thuê cho một hiệu ảnh, khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa, nhưng anh vẫn kiên trì, hăng say học tập và hoạt động. Anh thường xuyên gặp gỡ với những người Việt Nam ở Pháp, có tư tưởng và khuynh hướng tiến bộ như Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường. Nguyễn Ái Quốc từng bước tham gia vào cuộc đấu tranh của phong trào công nhân và lao động Pháp. Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi được hỏi vì sao vào Đảng, anh trả lời: Vì đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái Ngày 18 6 1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp Hội nghị ở Vécxây (Versailles) (Pháp). Thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây. Dưới bản Yêu sách Nguyễn Tất Thành ký tên: Nguyễn Ái Quốc. Đây là lần đầu tiên tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện. Nguyễn Ái Quốc tới lâu đài Vécxây gửi bản Yêu sách cho văn phòng Hội nghị, sau đó lần lượt gửi bảnYêu sách đến các đoàn đại biểu các nước Đồng minh dự hội nghị. Hầu hết các đoàn đại biểu đều có thư trả lời Nguyễn Ái Quốc.Bản Yêu sách phản ánh nguyện vọng của nhân dân Việt Nam không được hội nghị xem xét. Đối với dư luận Pháp, Yêu sách cũng không có tiếng vang như mong muốn, nhưng lại tác động mạnh mẽ đến người Việt Nam trong nước và nước ngoài. Từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh, Nguyễn Ái Quốc thấy cần phải học viết báo để tố cáo tội ác của thực dân Pháp. Phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội ở Pháp đã đưa anh đến với hoạt động báo chí. Trong hai năm 1919 1920, Nguyễn Ái Quốc đã viết 5 bài báo. Bài đầu tiên là Vấn đề bản xứ, đăng trên báo Nhân đạo (L Humanité), ngày 2 8 1919.=> Khát vọng của Người là đấu tranh giải phóng dân tộc, nhưng làm thế nào và đi theo hướng nào để đạt được mục đích đó, Nguyễn Ái Quốc vẫn còn đang tìm kiếm. Tìm thấy con đường cứu nước: Báo Nhân đạo, ngày 16 và 17 7 1920 đã đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Tên đầu bài có liên quan đến vấn đề thuộc địa lập tức thu hút sự chú ý của Nguyễn Ái Quốc. Luận cương của Lênin đã chỉ cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Từ bản Luận cương của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy phương hướng và đường lối cơ bản của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, trong đó có cách mạng Việt Nam. Niềm tin ấy là cơ sở tư tưởng để Nguyễn Ái Quốc vững bước đi theo con đường cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác Lênin. Quyết tâm đi theo con đường của Lênin vĩ đại, Nguyễn Ái Quốc xin gia nhập Uỷ ban Quốc tế III, do một số đồng chí trong Đảng Xã hội Pháp lập ra, nhằm tuyên truyền vận động gia nhập Quốc tế III.=> Như vậy, từ năm 1911 đến năm 1920, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc khảo sát, nghiên cứu để lựa chọn con đường giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ của bọn thực dân, phong kiến. Người đã vượt qua ba đại dương, bốn châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ. Trải qua những tháng năm lao động kiếm sống, thâm nhập đời sống thực tế của những người lao động nhiều nước trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc thấy rõ cảnh bất công, tàn bạo của xã hội tư bản, anh vô cùng xúc động trước đời sống khổ cực của giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước. Đến một số nước thuộc địa châu Phi, Người thấy rõ ở đâu người dân mất nước cũng khổ cực như nhau. Bước đầu anh rút ra kết luận quan trọng là: ở đâu chủ nghĩa tư bản cũng tàn ác và vô nhân đạo, ở đâu nhân dân lao động cũng bị áp bức, bóc lột rất dã man; các dân tộc thuộc địa đều có một kẻ thù chung là bọn đế quốc thực dân. Anh nhận rõ giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước đều là bạn, chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là kẻ thù. Sau này anh đã khái quát thành một chân lý: Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản , “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” .Sự lựa chọn và hành động của Nguyễn Ái Quốc phù hợp với trào lưu tiến hóa của lịch sử, chuyển từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, đã kéo theo cả một lớp người Việt Nam yêu nước chân chính đi theo chủ nghĩa Mác Lênin. Từ đó chủ nghĩa Mác Lênin bắt đầu thâm nhập vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, cách mạng Việt Nam từ đây có một phương hướng mới.3. Thời kỳ 1921 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam. Thời kỳ hoạt động trên nhiều địa bàn khác nhau (về mặt chính trị): Từ Pháp (nước tư bản) sang Liên Xô(nước xã hội chủ nghĩa), tiếp tục Chủ nghĩa Mác Lênin và nhìn thấy tư tưởng của mình. Sau đó người quay về nước tìm cách truyền bá tư tưởng và tiếp tục hoạt đông ở Trung Quốc, Thái Lan. Thời kỳ hoạt động sôi nổi tích cực và thu được nhiều thành tựu:+ Hoạt động sôi nổi về mặt thực tiễn: Tham gia và thành lập rất nhiều tổ chức 1921 1923: Nguyễn Ái Quốc hoạt động với cương vị Trưởng tiểu ban Đông Dương trong Ban nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp; tham dự Đại hội I, II của đảng này, phê bình Đảng chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề thuộc địa; Thành lập Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản báo Le Paria nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam, mục đích của báo là đấu tranh “giải phóng con người”. Tư tưởng về giải phóng con người xuất hiện từ rất sớm và sâu sắc ở Nguyễn Ái Quốc. 1923 1924: Người sang Liện Xô tham dự Hội nghị Quốc tế nông dân, tận mắt chứng kiến những thành tựu về mọi mặt của nhân dân Liên Xô. Năm 1924, Người tham dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản và các Đại hội Quốc tế thanh niên, Quốc tế Cứu tế đỏ, Quốc tế Công hội đỏ. Thời gian ở Liên Xô tuy ngắn nhưng những thành tựu về kinh tế xã hội trên đất nước này đã để lại trong Người những ấn tượng sâu sắc. 1924 1927: Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu thực hiện một số nhiệm vụ do Đoàn chủ tịch Quốc tế nông dân giao phó.Khoảng giữa 1925, Người sáng lập “Hội Việt Nam cách mạng thanh niên”, ra báo Thanh niên, mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Năm 1925, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được xuất bản tại Pa ri. Năm 1927, Bác xuất bản tác phẩm “Đường Kách Mệnh”. 1928 1929: Thái Lan Tháng 21930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì hội nghị hợp nhất và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người trực tiếp thảo văn kiện “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Điều lệ vắn tắt” và “Chương trình vắn tắt” của Đảng. Những tác phẩm lý luận chủ yếu của Người thời kỳ này như Báo cáo Trung kỳ, Nam kỳ và Bắc kỳ; Bản án chế độ thực dân Pháp; Đường Kách mệnh; Cương lĩnh đầu tiên của Đảng;… cho thấy những luận điểm về cách mạng Việt Nam được hình thành cơ bản. + Về hoạt động lý luận: Người viết báo, sách, truyện, thơ, kịch, tham luận, giảng dạy. 3 tác phẩm đóng vai trò quan trọng từ đầu và xuyên suốt là: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925): Tố cáo tội ác của thực dân Pháp Đường cách mệnh (1927) Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt) (21930): Toàn bộ hệ thống Tư tưởng Hồ Chí Minh cơ bản được phác thảo ra Những tác phẩm có tính chất lý luận nói trên chứa đựng những nội dung căn bản sau đây :• Bản chất của chủ nghĩa thực dân là ăn cướp và giết người. Vì vậy, chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.• Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con đường cách mạng vô sản và là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân.• Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ khăng khít với nhau, nhưng không phụ thuộc vào nhau. Cách mạng giải phóng dân tộc có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc. Ở đây, Nguyễn Ái Quốc muốn nhấn mạnh vai trò tích cực, chủ động của các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân.• Cách mạng thuộc địa trước hết là một cuộc dân tộc cách mệnh, đánh đuổi bọn ngoại xâm, giành độc lập, tự do.• Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, bị đế quốc, phong kiến bóc lột nặng nề. Vì vậy, cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành được thắng lợi cần phải thu phục, lôi cuôn được nòng dân đi theo, cẩn xây dựng khối công nông liên minh làm động lực cho cách mạng. Đồng thời, cần phải thu hút, tập hợp rộng rãi các giai tầng xã hội khác vào trận tuyến đấu tranh chung của dân tộc.• Cách mạng muốn thành công trước hết cần phải có Đảng lãnh đạo. Đảng phải theo chủ nghĩa Mác Lênin và phải có một đội ngũ cán bộ sẵn sàng hy sinh, chiến đấu vì lý tưởng của Đảng, vì lợi ích và sự tồn vong của dân tộc, vì lý tưởng giải phóng giai cấp công nhân và nhân loại.• Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải việc của một vài người. Vì vậy, cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng đấu tranh từ thấp lên cao. Đây là quan điểm cơ bản đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc về nghệ thuật vận động quần chúng và tiến hành đấu tranh cách mạng.4. Thời kỳ 1930 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Gặp thử thách+ 1930: Từ ngày 3 đến 7 2 1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Từ đây, con đường cách mạng cơ bản của cách mạng Việt Nam được hình thành. Nguyễn Ái Quốc yêu cầu Đảng trực thuộc trực tiếp Quốc tế Công sản. Đây là một yêu cầu khôn ngoan vì có rất nhiều cấp trung gian.+ Quốc tế Cộng sản bị chi phối nặng bởi khuynh hướng tả. Phong trào Cộng sản Quốc tế đề cao đấu tranh giai cấp: Ở các nước thuộc địa là sự đấu tranh giữa giai cấp vô sản, nông dân và tư sản; ở các nước tư bản là giữa giai cấp tư sản với nhau mà không quá đề cập đến vấn đề chống đế quốc. Khướng này đã trực tiếp tác động vào phong trào cách mạng Việt Nam. Trong khi đó trong Cương lĩnh của Hồ Chí Minh có điểm khác: Khác với Quốc tế công sản thì một phần tiểu địa chủ, tư bản An Nam lại là lực lượng cách mạng. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng họp từ ngày 14 đến ngày 31 10 1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc) theo sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản cho rằng, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản đầu năm 1930 vì chưa nhận thức đúng nên đặt tên Đảng sai và quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương ; chỉ trích và phê phán đường lối của Nguyễn Ái Quốc đưa ra trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã phạm những sai lầm chính trị rất nguy hiểm, vì chỉ lo đến việc phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu. Do đó Ban Chấp hành Trung ương đã ra nghị quyết thủ tiêu Chánh cương, Sách lược của Đảng và phải dựa vào các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, chính sách và kế hoạch của Đảnglàm căn bổn mà chỉnh đốn nội bộ, làm cho Đảng Bônsêvích hóa . Kiên trì giữ vũng lập trường cách mạng và vượt qua thử thách: Trên cơ sở xác định chính xác con đường cần phải đi của cách mạng Việt nam. Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, về cách mạng giai phóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện tả khuynh và biệt phái trong Đảng. + Tháng 7 1935. Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đã phê phán khuynh hướng tả trong phong trào cộng sản quốc tế, chủ trương mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất vì hòa bình, chống chủ nghĩa phátxít Đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc. Đại hội VII bác bỏ luận điểm tả khuynh trước đây về chủ trương làm cách mạng công nông, thành lập chính phủ Xôviết... Sự chuyển hướng đấu tranh của Quốc tế Cộng sản đã chứng tỏ quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng Việt Nam, về mặt trận dân tộc thống nhất, về việc tập trung mũi nhọn và chống chủ nghĩa đế quốc là hoàn toàn đúng đắn. Trên quan điểm đó năm 1936. Đảng ta đã đề ra chính sách mới, phê phán những biểu hiện tả khuynh, cô độc, biệt phái trước đây.+ Được Quốc tế Cộng sản chấp thuận, Nguyễn Ái Quốc từ Mátxcơva về Trung Quốc (tháng 10 1938). Tại đây Người đã có những quan điểm chỉ đạo sát hợp gửi cho các đồng chí lãnh đạo trong nước. + Ngày 28 1 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc. + Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám (từ ngày 10 đến ngày 19 5 1941) họp tại Pác Bó (Cao Bằng) dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã vượt qua về mặt lý luận, quan điểm, tư tưởng.+ Những quan điểm và đường lối đúng đắn, sáng tạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa ra và thông qua trong Hội nghị này có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta, dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã vượt qua về mặt thực tiễn.⇨Thực tiễn đã chứng minh quan điểm của Người là đúng.⇨Hồ Chí Minh là một thiên tài về chính trị.5. Thời kỳ 1945 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện. Bối cảnh lịch sử:+ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (từ sau ngày 2 – 9 – 1945 đến trước ngày 19 – 12 – 1946) Những thuận lợi●Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời. Đảng và nhân dân Việt Nam có bộ máy chính quyền nhà nước làm cộng cụ để xây dựng và bảo vệ đất nước.●Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng, được hưởng những thành quả của cách mạng, nên có quyết tâm bảo vệ chế độ mới.●Đảng đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh dạn dày kinh nghiệm lãnh đạo, đã trở thành đảng cầm quyền, là trung tâm đoàn kết toàn dân trong công cuộc đấu tranh để xây dựng và bảo vệ chế độ cộng hoà dân chủ.●Hệ thống xã hội chủ nghĩa hình thành, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, phong trào đấu tranh vì hoà bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản chủ nghĩa. Những khó khăn• Giặc ngoại xâm và nội phản:✓ Quân đội các nước đế quốc, dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật Bản, lũ lượt kéo vào Việt Nam.✓Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc có gần 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc. Theo sau Trung Hoa Dân quốc là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) với âm mưu xúc tiến thành lập một chính phủ bù nhìn. Dã tâm của chúng là tiêu diệt Đảng Cộng sản, phá tan Việt Minh, lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của nhân dân Việt Nam.✓Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam có hơn 1 vạn quân Anh kéo vào, tạo điều kiện cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.✓Ngoài ra còn quân Nhật đang chờ để giải giáp. Một bộ phận theo lệnh đế quốc Anh đánh lại lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho quân Pháp mở rộng chiếm đóng Nam Bộ.⇨Chưa bao giờ trên đất nước Việt Nam lại có nhiều loại kẻ thù đế quốc cùng xuất hiện một lúc như vậy.• Về chính trị:✓Chính quyền cách mạng còn non trẻ, chưa được củng cố. Đảng và nhân dân Việt Nam chưa có kinh nghiệm giữ chính quyền.✓Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chưa nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Cách mạng Việt Nam ở trong tình thế bị bao vây, cô lập.• Về kinh tế:✓ Nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 chưa được khắc phục. Nạn lụt lớn, làm vỡ đê ở 9 tỉnh Bắc Bộ, tiếp theo đó là hạn hán kéo dài làm cho hơn một nửa diện tích ruộng đất không thể cày cấy được.✓Ngân sách Nhà nước hầu như trống rỗng, Chính quyền cách mạng chưa quản lí được ngân hàng Đông Dương. Trong khi đó quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại tiền của Trung Quốc đã mất giá, càng làm cho nền tài chính thêm rối loạn.• Về văn hoá, xã hội:✓Tàn dư văn hoá lạc hậu do chế độ thực dân phong kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân số bị mù chữ.✓Các tệ nạn xã hội cũ như mê tín dị đoan, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút ngày đêm hoành hành.=> Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đứng trước tình thế hiểm nghèo. Vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”. Kháng chiến chống Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ+ Ngày 2391945, được sự giúp sức của quân Anh, thực dân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Uỷ ban Nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần hai.+ Ngay khi thực dân Pháp trở lại xâm lược, nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn cùng nhân dân Nam Bộ đứng lên kháng chiến.+ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân cả nước hướng về “Thành đồng tổ quốc”, đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp muốn mở rộng chiến tranh ra cả nước. Các đoàn quân “Nam tiến” sát cánh cùng nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến. Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân quốc: Đảng và Chính phủ chủ trương hoà hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc, tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù. Hoà hoãn với Pháp+ Chính phủ Pháp và Chính phủ Trung Hoa Dân quốc kí Hiệp ước Hoa – Pháp (tháng 21946), thoả thuận việc quân Pháp ra Bắc thay quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Hiệp ước trên đặt nhân dân Việt Nam trước sự lựa chọn: hoặc phải đánh hai kẻ thù (cả Pháp và Trung Hoa dân quốc); hoặc là hoà hoãn, nhân

Trang 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1 Cơ sở khách quan

a) Bối cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

- Pháp xâm lược Việt Nam

+ Phân tích giai đoạn 1858 – 1945

- Triều đình đầu hàng

- Nhân dân ra sức chống Pháp

+ Phong trào chống Pháp theo khuynh hướng phong kiến

* Phong trào Cần vương: Người khởi xướng, năm, năm lãnh đạo

bị bắt, kết quả, có đạt được mục tiêu không?

* Khởi nghĩa nông dân Yên Thế: Người khởi xướng, năm, nămlãnh đạo bị bắt, kết quả, có đạt được mục tiêu không?

-> Kết luận: Tại sao thất bại? Cần…

+ Khuynh hướng dân chủ tư sản:

* Khai thác thuộc địa lần 1: Chủ trương khai thác, mục tiêu khaithác

* Khai thác thuộc địa lần 2: Chủ trương khai thác, mục tiêu khaithác

-> Khai thác các ngành nghề không cạnh tranh với Pháp, khaithác tài nguyên thiên nhiên và lao động Việt Nam

Trang 2

-> Tác động của nó:

+ Tư tưởng mới xuất hiện: tân thư, tân văn và những ảnh hưởngcủa tào lưu cải cách mới Duy tân Minh trị ở Nhật Bản, cải cách ởTrung Quốc

+ Tiếp thu tư tưởng mới, con người mới -> khuynh hướng mới VD: Chủ trương của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh Kếtquả?

➔ Kết luận: Phong trào yêu nước của nhân dân ta muốngiành được thắng lợi cần phải đi theo một con đường mới

➔ Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước

b) Tiền đề tư tưởng – lý luận

- Gía trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

+ Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nênnhững giá trị truyền thống hết đặc sắc và cao quý

* Lịch sử lâu đời: 4000 năm dựng nước và giữ nước…

* Nhiều giá trị: truyền thống yêu nước, kiên cường bất khuất,tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý thức cố kếtcộng đồng, ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn, thử thách, làtrí thông minh, tài sáng tạo, quý trọng hiền tài, khiêm tốn tiếpthi tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho văn hoá dân tộc,

-> Chủ nghĩa yêu nước đóng vai trò quan trọng Phân tích:

● Truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam

● Tạo nên một sức mạnh to lớn cho dân tộc, biểu hiện ở: Giúp cho chúng ta giữ được độc lập về mặt lãnh thổ

Trang 3

Bảo tồn, phát triển được nền văn hóa, tạo được bản sắcvăn hóa riêng (lấy các sự kiện, các triều đại lịch sử ra đểchứng minh)

+ HCM đã tiếp thu được những giá trị tư tưởng ấy -> thôi thúc

Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước, hình thành tư tưởng củariêng mình

“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyềnthống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâmlăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vôcùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn,

nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước.”

- Tinh hoa văn hóa nhân loại

+ Văn hoá phương Đông: (2 ý) Người đã tiếp thu tư tưởng củaNho giáo, Phật giáo, và tư tưởng tiến bộ khác của văn hoáphương Đông

* Nho giáo:

• Các mặt tích cực: là học thuyết về đạo đức và phép ứng xử,triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời, đó làước vọng về một xã hội bình trị, hòa mục, hòa đồng, là triết lýnhân sinh; tu thân dưỡng tính; đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ratruyền thống hiếu học Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so vớicác học thuyết cổ đại

• Tiêu cực: Hồ Chí Minh cũng phê phán Nho giáo có những tưtưởng tiêu cực như bảo vệ chế độ phong kiến, phân chia đẳngcấp (quân tử và tiểu nhân), trọng nam khinh nữ

Trang 4

• Hồ Chí Minh tiếp thu được mặt tích cực và khắc phục đượchạn chế của Nho giáo để xây dựng tư tưởng của mình.

✓ Tu dưỡng đạo đức, đề cao giáo dục, diệt giặc dốt

✓ Khắc phục hạn chế: Sự bình đẳng về mặt giới tính Đây là

sự tiến bộ về mặt chính trị Trước khi giành được chínhquyền, Hồ Chí Minh đã có những tuyên bố như nam nữbình quyền Sau khi giành được chính quyền, cuộc Tổngtuyển cử 1946: Phụ nữ Việt Nam được đi bỏ phiếu, lá phiếucủa họ bằng với lá phiếu của nam giới

* Phật giáo:

• Tích cực: Tư tưởng vị tha, từ bi bác ái, cứu khổ cứu nạn,thương người như thể thương thân; là nếp sống có đạo đức,trong sạch, giản dị, chăm lo làm việc thiện; là tinh thần bìnhđẳng, dân chủ, chống phân biệt đẳng cấp; là việc đề cao laođộng, chống lười biếng…

• Hạn chế: Tư tưởng lánh đời, thế giới quan duy tâm chủ quan,hướng con người tới xuất gia tu hành làm hạn chế tính tích cực

xã hội của con người

• Hồ Chí Minh đã tiếp thu được những mặt tích cực và khắcphục được hạn chế của Phật giáo Đó là sống giản di, ăn chay,làm việc thiên và luôn khoan dung với mọi người; không lánhđời trong tình cảnh mất nước

* Chủ nghĩa “tam dân” của Tôn Trung Sơn: những điều phù hợpvới điều kiện của cách mạng nước ta là Tư tưởng dân chủ tiến

bộ - “ dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc”

Trang 5

=> Hồ Chí Minh là nhà mác - xít tỉnh táo và sáng suốt, biết khaithác những yếu tố tích cực của tư tưởng văn hoá phương Đông

để phục vụ cho sự nghiệp của cách mạng Việt Nam

+ Văn hoá phương Tây:

* Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dânchủ và cách mạng phương Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳngtrong “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Đại cáchmạng Pháp 1791; tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự

do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong “Tuyên ngôn độc lập” của

Mỹ 1776 Trước khi ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từPháp: tự do, bình đẳng, bác ái

* Đạo Công giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ Chí Minhquan niệm Tôn giáo là văn hoá Điểm tích cực nhất của Cônggiáo là lòng nhân ái, là tấm gương nhân từ của Chúa hi sinh vì

sự nghiệp cứu rỗi con người

=> Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông Tây để phục vụ cho cách mạng Việt Nam Người dẫn lời củaLênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu háiđược những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”

- Lênin ở thời đại các dân tộc bị áp bức vùng lên giành độc lập,

tự do Người khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với chúng

Trang 6

ta… là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuốicùng, đi tới chủ nghĩa xã hội…”

+ Trên cơ sở tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã vận dụng

và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin ở nước ta để tạo nên tưtưởng của mình

+ Người tự hoàn thiện vốn văn hoá, vốn chính trị, vốn sống thựctiễn phong phú, nhờ đó Bác đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lêninnhư một lẽ tự nhiên “tất yếu khách quan và hợp với quy luật”.Chủ nghĩa Mác - Lênin là bộ phận văn hoá đặc sắc nhất củanhân loại: tinh tuý nhất, cách mạng nhất, triệt để nhất và khoahọc nhất

+ Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin là tìm conđường giải phóng cho dân tộc, tức là xuất phát từ nhu cầu thựctiễn Việt Nam chứ không phải từ nhu cầu tư duy

+ Người vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin theo phương phápmác - xít và theo tinh thần phương Đông, không sách vở, khôngkinh viện, không tìm kết luận có sẵn mà tự tìm ra giải phápriêng, cụ thể cho cách mạng Việt Nam

=> Chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tưtưởng Hồ Chí Minh Vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với tưtưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ: Quyết định bản chất thế giớiquan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết định phươngpháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ ChíMinh là chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam, là tư tưởng Việt Namthời hiện đại

2 Nhân tố chủ quan

Trang 7

- Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh:

+ Hồ Chí Minh có tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, có ócphê phán tinh tường và sáng suốt trong việc nghiên cứu,tìm hiểu các cuộc cách mạng ltrong nước và trên thế giới + Hồ Chí Minh có sự khổ công học tập, rèn luyện chiếmlĩnh vốn tri thức phong phú của nhân loại, vốn kinh nghiệmđấu tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong tràocông nhân quốc tế để tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lêninvới tư cách là học thuyết về cách mạng của giai cấp vôsản

+ Hồ Chí Minh có tâm hồn của một người yêu nước vĩ đại,một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành cách mạng; một trái timyêu thương nhân dân, thương người cùng khổ, sẵn sàngchịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ Quốc, vì hạnh phúccủa nhân dân Bác Hồ từ một người tìm đường cứu nước đãtrở thành người dẫn đường cho cả dân tộc đi theo

- Tấm lòng yêu nước thương dân và đức hi sinh cao nhất cho lợiích dân tộc và lợi ích nhân dân

+ Thứ nhất, đó là tấm gương trọn đời phấn đấu, hi sinh vì

sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giảiphóng con người và vì nhân loại Ngay từ thủa thiếu thời,

Hồ Chí Minh đã xác định một cách rõ ràng mục tiêu phấnđấu cho cả cuộc đời mình là vì nước, vì dân Trên conđường thực hiện mục tiêu đó, Người đã chấp nhận sự hisinh, không quản gian nguy, kiên định, dũng cảm và sángsuốt vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện bằngđược mục tiêu đó

Trang 8

+ Thứ hai, là tấm gương của ý chí và nghị lực tinh thần tolớn, vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt mục tiêucách mạng Cuộc đời Người là một chuỗi năm tháng đấutranh vô cùng gian khổ Vượt qua bao khó khăn, Ngườikiên trì mục tiêu của cuộc sống, bảo vệ chân lý, giữ vữngquan điểm; khí phách, bình tĩnh, chủ động vượt qua mọikhó khăn, thử thách Người tự răn mình: “Muốn nên sựnghiệp lớn, tinh thần phải càng cao”.

+ Thứ ba, là tấm gương tuyệt đối tin tưởng vào sức mạnhcủa nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân Hồ ChíMinh có tình thương yêu bao la với tất cả mọi kiếp người.Người luôn tin ở con người, tin tưởng vào trí tuệ và sứcmạnh của nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc,nguyện làm “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.+ Thứ tư, Hồ Chí Minh là tấm gương của một con ngườinhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu hết mực vì conngười Với tình yêu thương bao la, Người dành tình thươngyêu cho tất cả, chia sẽ với mọi người những nỗi đau Ngườinói: Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng

và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi giađình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi

+ Thứ năm, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là tấm gươngcần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trongsáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường HồChí Minh thật sự cần, kiệm, giản dị, coi khinh sự xa hoa,không ưa chuộng những nghi thức trang trọng; nhữngphẩm chất này được biểu hiện chính trong cuộc sống hàng

Trang 9

ngày của Người, tạo thành phong cách sống của một vịlãnh tụ vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam Suốt đời, Ngườisống trong sạch, vì dân, vì nước, vì con người, không mưucầu chút lợi ích riêng tư nào cho mình cả.

⇨ Những đức tính cao cả ấy chung đúc lại đã làm cho tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh trở nên cao thượng tuyệt vời.Nhưng cũng chính từ sự kết hợp của những đức tính đó,Người là tấm gương cụ thể, gần gũi mà mọi người đều cóthể học tập và làm theo

II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍMINH

1.Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chíhướng cứu nước

- Tiểu sử Hồ Chí Minh:

+ Tên: Theo cuốn sách của Bảo tàng Hồ Chí Minh “Những têngọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trịquốc gia, Hà Nội, 2001, đưa ra con số thống kê: có 169 tênchính thức, bí danh, bút danh của Hồ Chí Minh, và nêu lên 17bút danh, bí danh khác đang nghi là của Hồ Chí Minh cần đượcnghiên cứu thêm Còn nhà sưu tầm Bá Ngọc trong cuốn sáchcủa mình “Hồ Chí Minh – Những tên gọi đi cùng năm tháng”,NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, thống kê Hồ Chí Minh có

174 tên ; trong đó có 78 tên chính thức, bí danh và 96 bútdanh

Trang 10

* Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Sinh Côn), 1890: là tên lúc sinhthời của Chủ tịch Hồ Chí Minh do ông ngoại là Hoàng XuânĐường đặt cho

“Anh nho Sắc chớp chớp mắt, môi hé nở nụ cười:

- Côn ấy là tích lòai cá hóa chim bằng, phải không thưa cha?

- Chính vậy đó Theo mong ước của tôi thì thằng bé sẽ có chívùng vẫy bốn bể, dù gặp truân chuyên chìm nổi, nhưng ắt

thành công Cho nên tự Tất Thành.” (theo Búp sen xanh, Sơn

* Nguyễn Ái Quốc, 1919: Người lấy tên là Nguyễn Ái Quốc với ýnghĩa tên là một người yêu nước Cái tên này thể hiện tư tưởng

đề cao chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, coi đó là một nguồn gốclàm nên sức mạnh để dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thửthách

* Hồ Chí Minh, 1942: Để đánh lạc hướng khi hoạt động tại TrungQuốc, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh Ý nghĩa cáitên Hồ Chí Minh của Bác:

Trang 11

“Trong chữ Hán: Hồ là Cổ và Nguyệt, Chí là Sĩ và Tâm,Minh là Nhật và Nguyệt, theo từ điển tích cổ có ý nghĩa là:

1 Trăng ngày xưa (cổ nguyệt) thì có thể chiếu sáng ngàynay

2 Nhưng người xưa thì không thể biết chuyện của ngàynay Chuyện ngày nay do người đang sống ở thời nayquyết định

3 Những người yêu nước (sĩ tâm) phải biết chọn conđường đúng mà đi (Minh)

Tên của Bác có ý nghĩa kêu gọi tất cả các tầng lớp tập hợp

lại một lòng vì dân tộc, vì sự nghiệp chống Pháp.” Theo Ý

nghĩa cái tên Hồ Chí Minh của Bác?, trang Hỏi đáp khoa học kỹ thuật, Cổng thông tin điện tử Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Vĩnh Phúc

+ Ngày sinh: Theo bài viết của cố tiến sỹ - linh mục Nguyễn

Đình Thi, nguyên Chủ tịch Hội Huynh đệ Á - Âu, Hội Huynh đệ Việt nam tại Pháp:

“Sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, 60 năm nhìn lại,

* Năm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

• Căn cứ theo lá thư người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức

Hồ Chí Minh) tại Marseille ngày 15 - 9 - 1919 gửi tổng thốngPháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris, thì phía dưới láthư ký: Nguyễn Tất Thành; Sinh tại Vinh, 1892 con trai ôngNguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp vàTrung Quốc (theo William J.Duiker, Hồ Chí Minh, New York 2000,bản dịch tiếng việt khổ A4, tr.31)

Trang 12

• Theo tài liệu của Ông Daniel Hémery, dựa theo các nguồn củakho lưu trữ của chính phủ Pháp, thì lại khác Tại sở cảnh sátParis năm 1902, Hồ Chủ tịch lại khai là sinh ngày 15.01.1894

• Còn người anh trai Nguyễn Sinh Khiêm và người chị gáiNguyễn Thị Thanh, khi bị cảnh sát Trung kỳ hỏi cung vào năm

1920, thì người anh cho biết Nguyễn Sinh Cung sinh năm 1891,còn người chị gái lại khai vào khoảng 1893

• Theo giấy khai sinh được những người làm chứng ở Kim Liênxác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tứckhoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cungvào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm

1894 (theo Daniel Hemery, Hồ Chí Minh, Từ Đông Dương đếnViệt Nam, Lê Toàn dịch, NXB Phụ nữ 2004, tr.90 - 91)

• Năm 1946, Hồ Chủ tịch công nhận năm 1890 là năm sinh:Cuối cùng, bốn năm đó (1891, 1892, 1893, 1894) đều bị phủnhận, và năm 1890 được Hồ Chí Minh công nhận chính thức lànăm sinh của mình khi đồng ý cho tổ chức lần đầu tiên lễ sinhnhật của mình vào ngày 19 - 5 - 1946 Đây là một sự kiện mới

Và từ năm 1946 trở đi, các tài liệu về Hồ Chí Minh cho biết HồChí Minh đã lấy năm đó để tính tuổi của mình

* Ngày sinh của Hồ Chủ tịch: Nhưng tại sao là ngày 19 tháng 5chứ không phải ngày 15 - 01 - 1894 như Nguyễn Tất Thành đãkhai tại Ty cảnh sát Paris năm 1920?

• Trả lời câu hỏi đó, ông Hémery đã đưa ra giả thuyết: Sở dĩ lấyngày 19 - 5 là để kỷ niệm ngày thành lập Việt Minh 19 - 5 -

1941 (D Hémery, sdd, t.90) Thiết nghĩ rằng giả thuyết đó

Trang 13

không đúng vì ngày thành lập Mặt trận Việt Minh là một biến cốquan trọng thực, nhưng không phải là lý do chính

• Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tập hồi ký “Chiếnđấu vòng vây” cũng công nhận “Ngày thành lập Việt Minh 19 -

5 - 1941 trùng với ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh” Đây làmột sự “trùng hợp” chứ không phải lấy ngày thành lập ViệtMinh làm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn thêm:

“Ngày sinh Hồ Chủ tịch được công bố lân đầu tiên vào năm1946” (Võ Nguyên Giáp, tổng hợp hồi ký, NXB Quân Đội Nhândân, Hà Nội 2006, t.378)

• Trong lá thư ngày 19 - 5 - 1948 gửi Quốc Hội và Chính phủ,các đoàn thể, bộ đội, đồng bào trong nước và kiều bào ở nướcngoài để cám ơn, Hồ Chí Minh đề nghị lấy một ngày khác HồChủ tịch viết:“Tôi thiết ngĩ rằng tuy tuổi tác chúng ta có kẻnhiều, người ít, nhưng tôi và toàn thể đồng bào có một ngàysinh nhật chung: ấy là ngày cách mạng giải phóng thành côngtháng tám năm 1945”(TS Trần Viết Hoàn, sdd, t.13)

• Nhìn lại các sự kiện mấy ngày đó mới thấy hết ý nghĩa củangày 19 - 5 - 1946 Ngày 13 - 5 hội nghị Đà Lạt kết thúc khôngđem lại kết quả gì vì đại biểu Pháp không thành thực Mặc dùThiery D’Argenlieu tìm cách cản trở nhưng Hồ Chủ tịch quyếtđịnh phải lên đường ngày 31 tháng 5 như đã dự kiến qua cuộcgặp gỡ tại vịnh Hạ Long Thời gian quá gấp rút phải cho phíaPháp biết quyết tâm của Việt Nam Chỉ trong hai ngày 16,17,

Hồ Chí Minh đã nắm lại thế chủ động, quyết định lấy ngày sinhcủa mình làm phương tiện đấu tranh ngoại giao

+ Ngày mất: theo báo điện tử VnExpress, 30/08/2014

Trang 14

• Chủ tịch Hồ Chí Minh mất ngày 2/9/1969, nhưng do trùngngày Quốc khánh nên Bộ Chính trị lúc bấy giờ thông báo làngày 3/9 Hai mươi năm sau, toàn văn di chúc và ngày mất củaBác mới được công bố.

• Dịp kỷ niệm 20 năm ngày mất và chuẩn bị 100 năm ngàysinh của Bác, Bộ Chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảngkhoá VI thấy trách nhiệm phải thông báo về ngày mất và dichúc của Người Thông tin được công bố trong thông báo của

* Yêu nước: Luôn ấp ủ nguyện vọng và chí hướng cức nước

* Gần gũi với nhân dân, từ đó thấu hiểu được những khổ cực,vất vả, những mong muốn nguyện vong của người dân để phục

vụ và vì lợi ích của dân

+ Cha, mẹ, anh, chị: Theo Quê hương và gia đình Hồ Chí Minh,

Trang thông tin điện tử Khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học,đại học Thái Nguyên, 14/01/2014

“* Thân phụ của Người là ông Nguyễn Sinh Sắc, còn gọi làHuy (1862 - 1929), con của một gia đình nông dân nghèo,chất phác Cha, mẹ mất sớm, tuổi thơ chịu cảnh mồ côi,phải vất vả lao động kiếm sống và có ý chí học hành Làmột cậu bé hiền lành, thông minh, ham học Nguyễn SinhHuy được nhà nho Hoàng Xuân Đường cảm cảnh nhận làm

Trang 15

con nuôi và cho học hành tử tế Chẳng bao lâu chàngthanh niên Nguyễn Sinh Sắc đã tham dự kỳ thi Hương và

đỗ cử nhân tại trường thi Nghệ An (1894) và được ngườicha nuôi cũng là thầy giáo gả con gái của mình là HoàngThị Loan làm vợ Được gia đình và người vợ trẻ động viên,cùng với ý chí của mình, ông cử Sắc đã tiếp tục tham dựcác kỳ thi Hội của Triều đình nhưng không đỗ, đến kỳ thiHội lần thứ 3 ông mới đỗ Phó Bảng (1901) Với phẩm chấtliêm khiết của một nhà nho, trong cuộc sống cụ Sắc luôndạy dỗ con cái luôn có ý thức lao động, học tập để hiểu

“đạo lý làm người” Sau khi đỗ Phó Bảng (1901), bị Triềuđình phong kiến thúc ép nhiều lần, buộc cụ phải ra làmquan, nhưng bất hợp tác với bọn tay sai đế quốc Với quanđiểm của mình cụ Sắc thường nói “Quan trường thị nô lệtrung chi nô lệ, hựu nô lệ” (nghĩa là: Quan trường là nô lệtrong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn) Vốn có lòngyêu nước, khẳng khái, cụ thường chống đối bọn quantrường và thực dân Pháp xâm lược Vì vậy, sau một thờigian làm quan rất ngắn, cụ bị chúng cách chức Cụ vàoNam Bộ làm thầy thuốc giúp dân nghèo, sống cuộc đờithanh bạch cho đến lúc qua đời (1929), được nhân dânmến mộ và thương tiếc Thi hài và lăng mộ yên nghỉ của

cụ hiện nằm tại tỉnh Đồng Tháp

* Thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bà Hoàng Thị Loan(1868 - 1901), một người phụ nữ hiền hậu, đảm đang, yêuchồng thương con hết mực, chịu khó lao động, bà làm ruộng vàdệt vải để nuôi dạy con cái Bằng lao động, bằng cả tấm lòngyêu chồng, thương con, bà Hoàng Thị Loan đã hy sinh tất cả vì

Trang 16

chồng con và chính bà đã vun đắp nên cuộc đời sự nghiệp đẹp

đẽ cho cả gia đình Nhưng cũng vì cuộc sống cơ cực, lao độngvất vả, quá sức, ngặt nghèo, thiếu thốn Bà đã trút hơi thởcuối cùng vào một ngày ảm đạm trên Kinh thành Huế ở cái tuổi

33 (10/02/1901) để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình,người thân, bà con lối xóm Khi Bà qua đời, không có người thânbên cạnh, chỉ có cậu Cung (Bác Hồ) tuổi mới lên 10 và em béXin đang khát sữa Được bà con, bạn bè đùm bọc, giúp đỡ, thihài Bà Loan được đưa lên an táng tại núi Tam Tầng, xứ Huế

* Chị cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bà Nguyễn Thị Thanh(1884 - 1954) còn gọi là Bạch Liên và anh cả của Người làNguyễn Sinh Khiêm, tức Nguyễn Tất Đạt (1888 - 1950) Cả haingười đều có chí hướng tiến bộ, yêu nước, thương người và tíchcực tham gia các phong trào chống Pháp, đã nhiều lần bị thựcdân Pháp kết án tù đày.Nhưng nhờ sự giáo dục của gia đình, cả

bà Thanh và ông Cả Khiêm đều không màng danh lợi, hy sinh

cả tuổi thanh xuân của mình cho sự nghiệp cứu dân, cứu nước,trở thành tấm gương đáng kính cho bà con nhân dân về sự cao

cả, nghĩa khí và lòng vị tha.”

- Quê hương: Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra tại quê ngoại là làngHoàng Trù (còn gọi là làng Trùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh,huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Kim Liên, huyện NamĐàn, tỉnh Nghệ An) Quê hương của Người là một vùng đấtnghèo của huyện Nam Đàn - Nghệ An Người dân ở đây luônphải sống trong cảnh nghèo khổ, thường xuyên phải chèochống với thiên tai khắc nghiệt, quanh năm ruộng đất khô cằn,mới nắng đã hạn, mới mưa đã lũ, mất mùa thường xuyên, cuộcsống vất vả, lam lũ đã in đậm trong tiềm thức của người dân

Trang 17

Nam Đàn nói riêng, xứ Nghệ nói chung Những khó khăn vất vả

ấy đọng lại trong câu ca dao:

Làng Sen đóng khố thay quần

Ít cơm, nhiều cháo tảo tần quanh năm.

Mặc dù, điều kiện tự nhiên hết sức khắc nghiệt nhưng ngườidân xứ Nghệ rất giàu truyền thống văn hoá và đánh giặc, giữnước Nơi đây hội tụ nhiều di tích lịch sử văn hoá gắn với têntuổi chiến công của các bậc anh hùng dân tộc, nêu cao chí khíchống ngoại xâm từ bao đời nay Kim Liên và Hoàng Trù là mộtmiền quê giàu cảnh sắc, với một nền văn hoá dân gian đa dạng

và phong phú Biết bao làn điệu dân ca nơi đây đã đi vào lòngngười , đậm đà bản sắc dân tộc như: hát ví dặm, đò đưa, hátphường vải Trải qua biết bao biến động, thăng trầm của lịch

sử, truyền thống văn hoá đặc sắc của miền quê Kim Liên vẫnkhông ngừng toả sáng, tự hào

- Tình hình đất nước

+ Chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đốingoại bảo thủ, phản động, không mở ra khả năng cho ViệtNam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới.Không phát huy được những thế mạnh của dân tộc và đất nước,chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phươngTây

+ Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và Hiệp địnhPatơnốt (1884) được ký kết, xã hội Việt Nam trở thành xã hộithuộc địa nửa phong kiến, thừa nhận nền bảo hộ của thực dânPháp trên toàn cõi Việt Nam

Trang 18

+ Cuối thế kỷ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu

“Cần vương” do các văn thân, sỹ phu lãnh đạo cuối cùng cũngthất bại Hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời trước các nhiệm vụlịch sử

+ Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam

đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp - xã hội sâusắc Tạo tiền đề bên trong cho phong trào đấu tranh giải phóngđân tộc đầu thế kỷ XX

+ Đầu thế kỷ XX, các phong trào vũ trang kháng chiến chốngPháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước nhưng đều thất bại (Chủtrương cầu viện, dùng vũ trang khôi phục độc lập của Phan BộiChâu; Chủ trương “ỷ Pháp cầu tiến bộ” khai thông dân trí, nângcao dân trí, trên cơ sở đó mà dần dần tính chuyện giải phóngcủa Phan Chu Trinh; Khởi nghĩa nặng cốt cách phong kiến củaHoàng Hoa Thám) Phong trào cứu nước của nhân dân ta muốn

đi đến thắng lợi, phải đi theo con đường mới

- Bối cảnh thời đại (quốc tế): Khi con thuyền Việt Nam còn lênhđênh chưa rõ bờ bến phải đi tới thì lịch sử thế giới trong giaiđoạn này cũng đang có những biến chuyển to lớn.Chủ nghĩa tưbản từ giai đoạn cạnh tranh tự do chuyển sang giai đoạn độcquyền, đã xác lập quyền thống trị của chúng trên phạm vi toànthế giới Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của cácdân tộc thuộc địa

Có một thực tế lịch sử là trong quá trình xâm lược và thống trịcủa chủ nghĩa thực dân tại các nước nhược tiểu ở châu Á, châuPhi và khu vực Mỹ - latinh, sự bóc lột phong kiến trước kia vẫnđược duy trì, và bao trùm lên nó là sự bóc lột tư bản chủ nghĩa

Trang 19

Bên cạnh các giai cấp cơ bản trước kia, đã xuất hiện thêm cácgiai cấp tầng lớp xã hội mới.

2 Thời kỳ 1911 - 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giảiphóng dân tộc

- Thời kỳ hoạt động trên nhiều địa bàn khác nhau: Hơn 30 nước,khắp 4 châu lục, từ những nước thuộc địa đến những nước tưbản

+ Ngày 3 - 6 - 1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Baxin làm phụ bếp trên tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin (AmiralLatouche Tréville), một tàu lớn vừa chở hàng vừa chởkhách của hãng Năm Sao đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn

đi Mácxây (Marseille), Pháp

+ Ngày 5 - 6 - 1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin,

từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là thànhphố Hồ Chí Minh), Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìmđường cứu nước

+ Theo hành trình của tàu, Nguyễn Tất Thành đã dừngchân ở cảng Mácxây, cảng Lơ Havơrơ (Le Havre) của Pháp.Không dừng lại ở Pháp, năm 1912, Nguyễn Tất Thành làmthuê cho một chiếc tàu của hãng Sácgiơ Rêuyni đi vòngquanh châu Phi, đã có dịp dừng lại ở những bến cảng củamột số nước như Tây Ban Nha, BồĐào Nha, Angiêri,Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông…Nguyễn Tất Thành theo con tàu tiếp tục đi qua Máctiních(Martinique) (Trung Mỹ), Urugoay và Áchentina (Nam Mỹ)

và dừng lại ở nước Mỹ cuối năm 1912 Khoảng đầu năm

1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Lơ Havơrơ,

Ngày đăng: 09/03/2018, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w