Hoặc sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ định trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được.. Trong từng
Trang 1III Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền.
Sức bền là khả năng của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt dộng nào
đó Hoặc sức bền là năng lực thực hiện một hoạt động với cường độ định trước, hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được
Trong từng hoạt động thì tính chất và cơ chế mệt mỏi khác nhau nên sức bền được chia ra làm 2 loại:
Sức bền chung: là sức bền trong hoạt động kéo dài với cường độ trung bình và
nó thu hút toàn bộ cơ trong cơ thể tham gia vào hoạt động
Sức bền chuyên môn: là sức bền đối với một hoạt động nhất định được chọn làm đối tượng chuyên sâu
Sức bền có liên quan chặt chẽ với thời gian hoạt động, cùng một bài tập có thể thực hiện với cường độ khác nhau Tương ứng với cường độ đó thời gian có thể giao động từ một tới vài giờ Vì vậy căn cứ vào thời gian hoạt động có thể chia sức bền thành các loại như sau: sức bền ưa khí; sức bền yếm khí; sức bền ưa khí và yếm khí
Sức bền ưa khí: là sức bền trong hoạt động từ 10 - 12phút (là hoạt động mà nguồn năng lượng do hệ hô hấp và hệ tuần hoàn đảm nhiệm)
Sức bền yếm khí: là sức bền hoạt động với thời gian ngắn khi hệ tuần hoàn và
hệ hô hấp chưa kịp bước vào hoạt động, với hoạt động từ 8’’ - 12’’
Sức bền ưa khí và yếm khí: là sức bền trong thời gian hoạt động từ 2 - 12phút (thời gian đầu do nguồn năng lượng yếm khí đảm nhiệm nhưng sau đó do nguồn năng lượng ưa khí đảm nhiệm, hệ tuần hoàn và hệ hô hấp hoạt động với công suất lớn để phân huỷ gluxit và lipit cung cấp cho cơ thể)
Trong giáo dục sức bền thì lượng vận động được xác định đầy đủ nhờ vào 5 thành phần sau:
1 Cường độ tuyệt đối của bài tâp.
Liên quan đến đặc điểm cung cấp năng lượng cho hoạt động Khi tốc độ di chuyển chậm sự tiêu hao năng lượng không lớn, lượng oxy hấp thụ trong hoạt động đáp ứng đủ nhu cầu thì hoạt động diễn ra trong điều kiện ổn định thực sự, những tốc độ như vậy gọi là tốc độ dưới mức tới hạn Tốc độ cao hơn tốc độ tới hạn gọi là tốc độ trên mức tới hạn, lúc này khả năng hấp thụ oxy của người tập cao thì tốc độ tới hạn càng cao, trong trường hợp này nhu cầu hấp thụ oxy của cơ thể
Trang 2vượt trên khả năng ưa khí của cơ thể và hoạt động diễn ra trong điều kiện nợ oxy
do nguồn cung cấp năng lượng yếm khí đảm nhiệm
2 Thời gian hoạt động.
Liên quan đến tốc độ chuyển động, thời gian hoạt động xác định là hoạt động
đó do nguồn cung cấp năng lượng nào đảm nhiệm Nếu hoạt động không quá từ 3 phút - 5 phút thì quá trình hô hấp không kịp đạt tới mức đầy đủ và hoạt động do nguồn cung cấp năng lượng yếm khí đảm nhiệm Vai trò lúc đầu là do phản ứng phân huỷ Glucôgen và sau là do phản ứng phân huỷ phốtphocreatin sẽ tăng lên vì thế để hoàn thành cơ chế tiêu glucôgen, người ta cần hoạt động kéo dài từ 20” - 2 phút
3 Thời gian nghỉ giữa quãng.
Có 3 loại quãng nghỉ:
- Quãng nghỉ ngắn: là quãng nghỉ mà lượng vận động sau được tiến hành khi
cơ thể chưa hồi phục lại đầy đủ nguồn năng lượng cho hoạt động
- Quãng nghỉ đủ: là quãng nghỉ mà lượng vận động sau được tiến hành vào lúc năng lực vận động đã trở về mức ban đầu
- Quãng nghỉ dài: là quãng nghỉ mà lượng vận động sau được tiến hành vào giai đoạn hồi phục vượt mức
4 Tính chất nghỉ ngơi.
Có 2 tính chất nghỉ ngơi là:
Nghỉ tích cực được dùng sau những bài tập có cường độ lớn
Nghỉ thụ động được dùng sau những hoạt động nhẹ nhàng hoặc lúc nghỉ cuối buổi tập
5 Số lần lặp lại.
Xác định mức độ tổng hợp của lượng vận động với cơ thể Trong hoạt động
ưa khí tăng số lần lặp lại làm cho hệ tuần hoàn và hệ hô hấp hoạt động đến mức tối
đa Trong hoạt động yếm khí tăng số lần lặp lại làm cho cơ thể thiếu oxy càng kiệt quệ, lúc này hoạt động sẽ bị dừng lại hoặc sẽ bị giảm đi một cách đột ngột