CƠ SỞ SINH LÍ CỦA CẢM GIÁC, TRI GIÁC, CHÚ Ý Cảm giác có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống và trong hoạt động của con người, là nguồn gốc của quá trình nhận thức thế giới khách quan. Nếu không thông qua cảm giác thì chúng ta không thể nhận thức được một hình ảnh nào của vật chất cũng như một hình ảnh nào của vận động. Không thể có sự phát triển đầy đủ của các cá nhân nếu không có cảm giác nguồn gốc của những kiến thức của chúng ta về thế giới xung quanh và về chính bản thân con ng¬ười. Tri giác giúp con người phản ánh được tính tổng thể, trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng để điều chỉnh hành động và hình ảnh tri giác là nguồn tài liệu phong phú cho kinh nghiệm, hiểu biết, tạo cơ sở cho các hình thức phản ánh cao hơn. Chú ý đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, trong lao động và trong học tập của cá nhân. Kết quả của hoạt động lao động, hoạt động học tập phụ thuộc khá lớn vào năng lực chú ý của cá nhân. Thiếu sự chú ý thì mọi hoạt động hàng ngày, đặc biệt là đối với những hoạt động ít hấp dẫn đều không đạt kết quả tốt.
Trang 1CƠ SỞ SINH LÍ CỦA CẢM GIÁC, TRI GIÁC, CHÚ Ý
I Cơ sở sinh lý của cảm giác
1 Khái quát về cảm giác và cơ sở sinh lý của cảm giác
a Cảm giác là gì?
“Cảm giác là quá trình tâm lý đơn giản nhất, phản ánh những đặc tính
riêng lẻ, bề ngoài của các vật thể và các trạng thái bên trong cơ thể được nảy sinh do sự tác động trực tiếp của các tác nhân kích thích lên các cơ quan cảm giác của con người”.
+ Cảm giác bên ngoài: phản ánh những thuộc tính của sự vật, hiện tượng
bên ngoài cơ thể và do các bộ máy thụ cảm ở mặt ngoài cơ thể tiếp nhận tácđộng Cảm giác bên ngoài gồm : cảm giác nhìn, cảm giác nghe, cảm giácngửi, cảm giác nếm, cảm giác da
+ Cảm giác bên trong: phản ánh trạng thái cơ thể do các bộ máy thụ cảm
ở trong cơ thể tiếp nhận tác động Cảm giác bên trong gồm : cảm giác vậnđộng, cảm giác sờ mó, cảm giác thăng bằng, cảm giác rung, cảm giác cơ thể
Trang 2Thực ra, sự phõn chia ra cảm giỏc bờn ngoài và bờn trong chỉ là tương đối.Một số cảm giỏc vừa là bờn trong, vừa là bờn ngoài như : cảm giỏc nếm, ngửi,đau…
c Cơ sở sinh lý của cảm giỏc:
Cơ sở sinh lớ của cảm giỏc là quá trình hoạt động của cơ quan phân tích Đú là hệ thống tiếp nhận và phõn tớch cỏc kớch thớch khỏc nhau từ bờn ngoài và bờn trong cơ thể”
- Cỏc cơ quan phõn tớch bao gồm:
+ Cỏc thụ cảm thể,
+ Cỏc đường thần kinh dẫn truyền hướng tõm
+ Cỏc bộ phận vỏ nóo trung ương của cơ quan phõn tớch
2 Cơ chế hoạt động của hệ cảm giỏc
Tuy mỗi loại cảm giỏc khỏc nhau cú những cơ chế hoạt động cụ thể của
nú, nhưng cơ chế hoạt động chung của hệ cảm giỏc là “cơ chế thụng tin”
gồm 3 khõu cơ bản sau đõy:
- Khõu nhận cảm của cỏc thụ cảm thể
- Khõu dẫn truyền hướng tõm của cỏc sợi thần kinh,
- Khõu phõn tớch của cỏc trung khu thần kinh trung ương
Ba khõu này nằm trong một thể thống nhất, trọn vẹn Mất một trong bakhõu đều khụng cũn cảm giỏc
a Khõu nhận cảm
- Do cỏc thụ cảm thể thuộc hệ thống cảm giỏc, gọi tắt là cỏc thụ cảm
thể (receptor) ở ngoại vi đảm nhiệm
- Chức năng: tiếp nhận tớn hiệu và tạo ra điện thế receptor, biến thành
điện thế hoạt động để truyền theo cỏc dõy thần kinh hướng tõm.
Cỏc thụ cảm thể là một phần của neuron hoặc là cỏc tế bào được biệt hoỏ
cú khả năng phỏt sinh ra điện thế hoạt động trong cỏc neuron Chỳng thường
Trang 3được liên kết với các tế bào không phải thần kinh bao quanh nó để hình thành
cơ quan tiếp nhận kích thích, biến đổi năng lượng kích thích thành điện thếgọi là điện thế receptor Các điện thế receptor khi đạt mức ngưỡng sẽ chuyểnthành điện thế hoạt động hay xung động thần kinh để truyền đến các trungkhu thần kinh
Các thụ cảm thể có nhiều loại khác nhau như thụ cảm thể về ánh sáng, âmthanh, nóng, lạnh, đau…Kích thích khi tác động vào các thụ cảm thể đều được mãhoá dưới dạng xung động thần kinh (mã hoá ngoại vi) Chẳng hạn, ánh sáng tácđộng vào mắt; nóng, lạnh tác động vào da; âm thanh tác động vào tai…
b Khâu dẫn truyền hướng tâm
- Do các sợi thần kinh cảm giác thực hiện
- Chức năng: truyền xung động thần kinh đến các trung khu cảm giác.
Sau khi nhận được các tín hiệu đã được mã hoá, các sợi thần kinhchuyển các thông tin này vào các trung khu cảm giác của thần kinh trungương
c Khâu phân tích
- Do cơ quan phân tích đảm nhiệm,
- Chức năng: giãi mã (chế biến) thông tin
- Nhiệm vụ: biến đổi các xung động thần kinh (sao mã) trong các trung khu cảm giác ở các mức khác nhau; phân tích, phân loại và nhận biết (giải mã) tín hiệu, ra quyết định; lưu giữ thông tin nhận được.
Hệ thống trên là một phần được chuyên môn hoá của hệ thần kinh trungương, được gọi là các trung khu thần kinh (trung khu cảm giác, hay trung khuphân tích) Các trung khu thần kinh tiếp nhận một loại cảm giác nào đó đượcphân bố ở nhiều mức khác nhau trong não bộ và mức cuối cùng nằm ở vỏ cácbán cầu đại não, nơi có các vùng chiếu sơ cấp của từng cơ quan phân tích vàđược bao quanh bởi vùng cảm giác thứ cấp và vùng vỏ não liên hợp Tại vùng
Trang 4chiếu sơ cấp diễn ra quá trình giải mã các xung động thần kinh đã được mãhoá ở ngoại vi Sự giải mã được thực hiện trên cơ sở các mối liên hệ giữa cáctrung khu cảm giác với các vùng vỏ não vận động và vỏ não liên hợp Kết quảcủa quá trình này là hành động (sự vận động) hay không hành động và sự lưugiữ thông tin nhận được từ các kích thích
Tóm lại: Toàn bộ cơ chế hoạt động của hệ cảm giác có thể tóm tắt theo
sơ đồ sau: (Sơ đồ)
- Khi các kích thích khác nhau (ánh sáng, âm thanh, va chạm…) tácđộng vào các thụ cảm thể gây ra sự hưng phấn
- Sự hưng phấn đó được truyền theo các đường hướng tâm đến bộ phậntrung ương của cơ quan phân tích, đến vỏ não
- Võ não sẽ thực hiện phân tích và tổng hợp các tín hiệu từ ngoại vi đến
để ra quyết định và lưu giữ thông tin nhận được
3 Đặc điểm hoạt động của hệ thống cảm giác
a Các thụ cảm thể của con người là cơ quan rất nhạy cảm
- Các thụ cảm thể (cơ quan nhận cảm) có khả năng hưng phấn rất cao
khi tiếp nhận các kích thích thích đáng,
Tức là các kích thích đã được thích nghi trong quá trình tiến hoá (ánhsáng, âm thanh, va chạm, vận động…) Để gây hưng phấn ở các thụ cảmthể, các kích thích thích đáng chỉ cần một năng lượng rất nhỏ
Ví dụ : năng lượng ánh sáng đủ gây hưng phấn các tế bào thụ cảm
quang học ở mắt chỉ tính bằng đơn vị lượng tử, năng lượng âm thanh đủgây hưng phấn các tế bào thụ cảm của cơ quan Corti chỉ bằng 1.10-9erg/cm2.sec
- Mặc dù được chuyên môn hoá cao để tiếp nhận kích thích thích đáng, song các thụ cảm thể cũng có khả năng hưng phấn khi tiếp nhận kích thích không thích đáng Với điều kiện: năng lượng của kích thích không thích đáng phải lớn hơn gấp nhiều lần so với năng lượng của kích thích thích đáng
Trang 5- Ví dụ: kích thích cơ học vào mắt (ấn lên nhãn cầu) gây "nổ đom đóm
mắt", kích thích cơ học vào tai gây ù tai
- Khả năng hưng phấn của các thụ cảm thể thay đổi tùy theo trạng thái của bản thân thụ cảm thể, của hệ thần kinh và trạng thái chung của toàn
bộ cơ thể.
b Tư ơng quan giữa cư ờng độ kích thích và mức cảm giác là 1 hằng số
Không phải bất kỳ tác nhân kích thích nào tác động lên các cơ quan cảmgiác của chúng ta cũng có thể gây nên cảm giác Muốn có cảm giác, các tácnhân kích thích cần phải có một cường độ nhất định (cường độ quá yếu hoặcquá mạnh đều không có hoặc mất cảm giác) Điều này liên quan tới cácngưỡng cảm giác
Ngưỡng tuyệt đối (bao gồm ngưỡng tuyệt đối phía dưới và ngưỡngtuyệt đối phía trên): được xác định bằng cường độ nhỏ nhất và cường độ lớnnhất của kích thích để gây ra cảm giác
Ngưỡng phân biệt: là độ chênh nhỏ nhất về cường độ của hai kích thíchcùng loại đủ để con người nhận biết được
- Sự phụ thuộc của cảm giác vào cường độ kích thích được biểu diễn bằng định luật Weber Theo định luật này thì một kích thích đi sau muốn gây được cảm giác phải có cường độ lớn hơn kích thích đi trước một giá trị nhất định
Từ các số liệu thực nghiệm Weber đã lập được công thức:
DI
= K
I
Trong đó: I - Cường độ kích thích ban đầu.
DI - Cường độ kích thích được tăng thêm.
K - Hằng số.
Trang 6Định luật của Weber đã được chứng minh đối với cả những thụ cảm thểkhác Nó chỉ không đúng khi kích thích có cường độ quá yếu hoặc quá mạnh(ngoài giới hạn) hoặc do trạng thái chức năng của thụ cảm thể bị biến đổi (đãthích nghi với kích thích).
- Fechner tiếp tục nghiên cứu mối tương quan giữa cường độ kích thích
và mức độ cảm giác và nhận thấy rằng, khi cường độ kích thích tăng lên theo cấp số nhân, thì mức cảm giác chỉ tăng lên theo cấp số cộng Do đó, ông đã đưa ra một công thức khác:
R = a.logS + b
Trong đó: R là trị số cảm giác.
S là cường độ kích thích.
a, b là hằng số đặc trưng cho từng loại thụ cảm thể.
Theo công thức này thì mức độ cảm giác tăng lên theo tỷ lệ thuận với
logarit của cường độ kích thích
c Khi kích thích tác động lên các thụ cảm thể thì năng lượng kích thích thành điện thế receptor và xung động thần kinh
- Các kích thích tác động lên các thụ cảm thể tương ứng đều có tác dụng làm thay đổi điện thế màng của receptor và tạo ra điện thế được gọi là điện thế receptor
- Cơ chế tạo ra điện thế receptor là sự thay đổi tính thấm của màng thụ cảm thể đối với các ion
Kích thích cơ học kéo căng màng, kích thích hoá học tác động lên cácreceptor màng đều có tác dụng mở các kênh ion, đặc biệt là kênh Na+ và mộtphần các kênh K+, Ca++ và Cl- Dòng ion, chủ yếu là ion Na+ từ ngoài màng
đi vào trong tế bào thụ cảm làm thay đổi trạng thái phân cực màng (khử cực),tạo ra điện thế receptor Khi điện thế receptor đạt đến trị số ngưỡng, xungđộng thần kinh sẽ xuất hiện
Trang 7Sự biến đổi năng lượng của kích thích thụ cảm thể cấp I và cấp II là khácnhau Ở các thụ cảm thể cấp I, xung động thần kinh xuất hiện ngay trong phầnnhạy cảm của màng tế bào thụ cảm và được lan truyền theo sợi trục của tế bàocảm giác đến mức cảm giác thứ nhất trong hệ thần kinh trung ương, nên điện thếreceptor và xung động thần kinh xuất hiện tại thụ cảm thể cấp I là giống nhau.Còn sự biến đổi năng lượng của kích thích thụ cảm thể cấp II và truyền kết quảcủa sự biến đổi này đến trung khu thần kinh diễn ra theo hai quá trình khác nhau:tạo ra điện thế receptor tại chỗ và điện thế hoạt động ở sợi cảm giác.
d Các thụ cảm thể của con người đều có thể thích nghi
- Khả năng thích nghi với kích thích tác động liên tục và kéo dài, nghĩa
là giảm tính nhạy cảm đối với kích thích, hay mất cảm giác.
Sự thay đổi tính nhạy cảm là do tăng khả năng hưng phấn của vỏ nãodưới ảnh hưởng của hoạt động đồng thời của các cơ quan phân tích khácnhau
- Khả năng thích nghi tùy thuộc vào từng loại thụ cảm thể.
Chẳng hạn: có loại thích nghi nhanh (các thụ cảm thể xúc giác), có loạithích nghi chậm (các thụ cảm thể ở cơ, khớp, các thụ cảm thể trong xoangđộng mạch cảnh)
Ở các thụ cảm thể cấp II, hiện tượng thích nghi còn liên quan với cácquá trình diễn ra tại synap giữa màng tế bào thụ cảm với màng của sợi thầnkinh thuộc tế bào cảm giác
4 Cơ sở sinh lý của một số loại cảm giác cơ bản ( Nói sơ lược)
Trang 8ngược trở lại tác động vào các tế bào nhận cảm Phần ngoài thụ cảm thể cócác sắc tố, dưới tác dụng của ánh sáng sẽ phân huỷ, trong quá trình phân huỷ
đã khử các tế bào tạo ra điện thế khử cực ở đây, quang năng đã biến thànhhoá năng và điện năng Điện thế này chuyển đến tế bào lưỡng cực, dây thầnkinh số 2 và vào thần kinh trung ương
Dây thị giác tạo nên bởi 2 bó phía ngoài là thái dương đi thẳng và bómũi bắt chéo tạo thành chéo thị giác Giải thị giác dẫn truyền xung thần kinhđến nhân thể gối ngoài thuộc Thalamus Từ thể gối ngoài có đường đi tiếptheo lên vỏ não gọi là tia thị giác Trên đường đi có các sợi dẫn truyền từ giảithị giác này đến củ não sinh tư trước Từ củ não sinh tư có đường đi xuốngtuỷ sống để thực hiện các phản xạ định hướng với ánh sáng, ngoài ra còn điđến các nhân vận động sọ não để tham gia phản xạ điều tiết đồng tử, điều tiếtlực khúc xạ
Trung khu thị giác nằm ở vùng chẩm, ở đây có 3 diện nhận cảm là diện
17, 18 19 (Brodman) Trong đó, diện 17 là khe cửa trung khu vỏ não cấp 1;diện 18, 19 ở xung quanh gọi là trung khu cấp 2 Diện 18 có nhiệm vụ phântích các hình ảnh tinh tế, diện 19 ức chế các xung động lan toả, giúp hình ảnhđược rõ nét
* Cảm giác thính giác
Cơ quan phân tích thính giác gồm có phần ngoại biên và phần trung ương Phần ngoại biên gồm tai ngoài, tai giữa và tai trong Dao động âm thanhđược xương bàn đạp ở tai giữa truyền vào màng cửa sổ bầu dục và gây ranhững sóng dao động ở ngoại dịch Thang tiền đình ở tai trong dao động qua
lỗ Helicotema, sau đó đẩy qua lỗ cửa sổ tròn vào tai trong Màng tiền đìnhdao động làm nội dịch dao động và cũng là màng nền dao động, làm tế bàothụ cảm có lông dao động, màng mái dao động dẫn tới các lông biến dạng Sựbiến dạng của các lông là nguyên nhân gây hưng phấn thụ cảm thể Việc tiếp
Trang 9nhận âm thanh cường độ khác nhau tuỳ thuộc vào cường độ kích thích mạnhhay yếu (Tế bào nhận cảm trong khi âm thanh mạnh, tế bào nhận cảm ngoàikhi âm thanh yếu).
Phần trung ương gồm đường dẫn truyền hướng tâm và đường dẫn truyền
ly tâm
Đường dẫn truyền hướng tâm có neuron ngoại vi đi đến tế bào thụ cảm,đầu trong là dây thần kinh ốc tai nằm trong thành phần dây số 8, dây ốc tai đivào hành tuỷ, vào các nhân ốc sau ở hành não, vào nhân trán trên ở hành tuỷ.Tiếp đó, từ nhân trán trên và nhân ốc đi lên củ não sinh tư dưới, lên thể gốigiữa của Thalamus, sau đó lên trạm cuối cùng là vỏ não thính giác nằm ở hồithái dương 1 theo diện 41, 42 của Broman Hồi thái dương có nhiệm vụ giải
mã trung ương, ở người hồi thái dương 1 còn có trung khu hiểu lời nói Tổnthương vùng này chỉ nghe được lời nói mà không hiểu ý nghĩa của nó
Trên đường dẫn truyền ly tâm, các neuron cảm giác âm thanh có phânnhánh tới thể lưới thân não Từ thể lưới có xung động hoạt hoá lên vỏ não,đồng thời có các sợi ly tâm đi tới các tế bào thụ cảm âm thanh tại cơ quanCroti Ngoài ra, từ thể lưới còn có những liên hệ thần kinh đi tới các trung khuthực vật nhằm điều tiết hoạt động của các cơ quan nội tạng (Tim, mạch, nộitiết) Do đó, nếu có tác động liên tục của tiếng ồn dễ gây ra những biến đổibệnh lý về thần kinh Từ củ não dưới có các sợi ly tâm tạo thành bó mái gai đixuống tuỷ sống tham gia vào các phản xạ định hướng với tiếng ồn
Tai nghe rõ âm có tần số 16-20 000Hz, tốt nhất là khoảng 1000-2000Hz.Cường độ tối đa của tiếng động tai tiếp thu được là 140dB
* Cảm giác tiền đình
Cảm giác tiền đình được tiếp nhận bởi các thụ cảm thể của cơ quan tiềnđình thuộc tai trong Cảm giác này tham gia vào cơ chế điều chỉnh lại trương
Trang 10lực cơ, phối hợp động tác nhằm duy trì tư thế thăng bằng bình thường của cơthể trong không gian.
Bộ máy tiền đình ở phần ngoại vi gồm xoang nang, cầu nang và 3 vòngbán khuyên Xoang nang và cầu nang bên trong có thụ cảm thể nằm trên cơquan thụ cảm thể gọi là đá tai, gồm tế bào đế (màng đế) và tế bào thụ cảm thểnằm ở trên Phía trên cũng có lông và có màng đá phủ lên, trên đó có các đátai Các tế bào thụ cảm có lông, hưng phấn khi thay đổi tốc độ chuyển độngthẳng hay rung lắc tròng trành Các tế bào thụ cảm có lông ở 3 vòng bánkhuyên hưng phấn khi thay đổi tốc độ chuyển động vòng trong 3 bề mặt củakhông gian
Hạch Scopa ở phần trung ương một đầu đi ra thụ cảm thể, đầu thứ haitổng hợp lại thành dây tiền đình nằm trong dây số 8 Dây tiền đình đi vàohành não và nhân tiền đình trong hành não Từ nhân tiền đình liên hệ với tiểunão cả hai bên và từ tiểu não có đường đi lại nhân tiền đình Đường liên hệ từtiền đình đi xuống tuỷ sống gọi là đường tiền đình gai có nhiệm vụ làm tăngtrương lực cơ Từ nhân tiền đình còn có liên hệ với cấu trúc lưới và đi lên cácnhân vận nhãn Khi nhận cảm về sự thay đổi cơ thể trong không gian xungđộng truyền về các trung khu (tiểu não, tuỷ sống, vận nhãn, thể lưới) tham giavào điều chỉnh trương lực cơ giữ thăng bằng cho cơ thể trong không gian Domối liên hệ phức tạp trên nên khi bị tổn thương tiền đình sẽ gây ra các rốiloạn như rối loạn trương lực cơ và thăng bằng cơ thể, rối loạn thần kinh thựcvật (chóng mặt, buồn nôn, tim đập loạn), rối loạn nhãn cầu (long tròng mắt)
* Cảm giác xúc giác
Cảm giác xúc giác được chia thành hai loại là cảm giác xúc giác thô sơ
và cảm giác xúc giác tinh tế
Cảm giác xúc giác thô sơ được dẫn truyền từ các thụ cảm thể, theo cácsợi thần kinh cảm giác về tới trung khu tuỷ sống rồi bắt chéo qua mép xám
Trang 11trước để tới cột trắng trước bên của tuỷ sống ở phía đối diện tạo nên bó cungtrước Từ đây lên đồi thị tận cùng của neuron của nhân bụng sau đồi thị rồi đilên vỏ não, tiếp xúc với neuron ở vùng sau trung tâm gọi là trung khu cảmgiác Thụ cảm thể xúc giác có khả năng thích nghi cao (bản thân áp lực tácđộng lên mặt da thì ta thường không nhận biết chỉ khi nào áp lực đó thay đổithì ta mới cảm giác được) Tốc độ thích nghi của những thụ cảm thể khácnhau cũng không đồng bộ (tốc độ thích nghi cao nhất là những thụ cảm thểphân bố dưới chân lông) Ngưỡng cảm giác xúc giác của các vùng là khônggiống nhau (vùng da nhạy cảm nhất là 50mg) vùng có cảm giác xúc giác nhạycảm nhất là môi, mũi, lưỡi còn vùng có cảm giác xúc giác thấp nhất là lưng,gót chân, bụng
Cảm giác xúc giác tinh tế còn gọi là cảm giác nông có ý thức Thụ cảmthể vẫn nằm ở da, có nhận cảm các kích thích nhẹ nhàng như (lông gà quệtnhè nhẹ lên da, viết nhẹ lên da…)
II Cơ sở sinh lý của tri giác
1 Khái quát về tri giác và cơ sở sinh lý của tri giác
a Tri giác là gì?
“Tri giác là sự phản ánh trong ý thức con người một cách trọn vẹn các
thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan khi chúng tác động trực tiếp lên các giác quan”
- Tri giác không phải là một tổng số cảm giác nhận được từ một vật thểnào đó, mà là một trình độ mới về chất của sự nhận thức bằng cảm giác vớinhững đặc điểm tiêu biểu riêng của chúng Chúng được nảy sinh do các kíchthích tổng hợp tác động đồng thời lên các cơ quan thụ cảm khác nhau
- Quá trình tri giác được thực hiện bởi nhiều khí quan phân tích Tuỳtheo số lượng khí quan phân tích tham gia tri giác mà tri giác mang hình thứcgiản đơn hay phức tạp
Trang 12+ Tri giác giản đơn được thực hiện chủ yếu bởi một khí quan phân tích + Tri giác phức tạp do nhiều khí quan phân tích cùng hoạt động.
- Vai trò:
Tri giác giúp con người phản ánh được tính tổng thể, trọn vẹn các thuộctính của sự vật, hiện tượng để điều chỉnh hành động và hình ảnh tri giác lànguồn tài liệu phong phú cho kinh nghiệm, hiểu biết, tạo cơ sở cho các hìnhthức phản ánh cao hơn
b Cơ sở sinh lí của tri giác
“Cơ sở sinh lý của tri giác là các quá trình thần kinh phức tạp của vỏ
não Tri giác xảy ra do sự phối hợp hoạt động của một số các cơ quan phân tích và diễn ra với sự tham gia của các bộ phận liên tưởng của vỏ não và các trung khu ngôn ngữ”.
Tức là, khi các sự vật, hiện tượng tác động vào các giác quan, cơ quantrung ương thần kinh sẽ phân tích, tổng hợp những đường liên hệ tạm thời củacác phản xạ có ĐK làm cơ sở cho hình ảnh tri giác được phản ánh trong thểthống nhất và trọn vẹn
2 Cơ chế sinh lý của tri giác
Cơ chế sinh lý của tri giác diễn ra như sau:
- Hưng phấn sau khi xuất hiện (dưới sự tác động của một tác nhân kích
thích tổng hợp lên một số cơ quan thụ cảm) được truyền đến các trung khu ở
não của cơ quan phân tích.
- Hưng phấn đồng thời hay kế tiếp của các bộ phận nào đó dẫn tới sự hình thành các mối liên hệ thần kinh tạm thời giữa chúng Vì vậy, trong quá trình tri giác chúng ta nhận thức thế giới sâu sắc hơn quá trình cảm giác.
So với cảm giác thì tri giác là một hình thức cao hơn của hoạt động phântích - tổng hợp của não Sự phân tích của não bảo đảm cho việc tách riêng đốitượng của tri giác và trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp tất cả các đặc tính củađối tượng thành một hình ảnh trọn vẹn Tri giác là sự phản ánh của một đốitượng nguyên vẹn, bởi vì các bộ phận riêng lẻ của nó luôn luôn liên hệ vớinhau về một mặt nhất định