1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phép biện chứng tự phát trong thuyết Âm Dương – Ngũ Hành

5 715 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 48,5 KB
File đính kèm biện chứng âm dương.rar (10 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Âm dương Ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người Trung Quốc cổ đại. Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để giải thích sự sinh thành, biến hóa của vũ trụ. Việc sử dụng phạm trù Âm dương Ngũ hành đánh dấu bước phát triển đầu tiên của tư duy khoa học phương Đông nhằm đưa con người thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng của các khái niệm thượng đế, quỷ thần truyền thống.

Trang 1

I Phép biện chứng tự phát trong thuyết Âm Dương – Ngũ Hành

Âm dương - Ngũ hành là những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người Trung Quốc cổ đại Đó cũng là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để giải thích sự sinh thành, biến hóa của vũ trụ Việc sử dụng phạm trù Âm dương - Ngũ hành đánh dấu bước phát triển đầu tiên của tư duy khoa học phương Đông nhằm đưa con người thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng của các khái niệm thượng đế, quỷ thần truyền thống

Hai học thuyết âm dương ngũ hành được hết hợp làm một từ rất sớm Nhân vật nổi tiếng nhất trong việc kết hợp hai học thuyết trên là âm dương gia Trâu Diễn Ông đã dùng hệ thống lý luận âm dương ngũ hành "tương khắc, tương sinh" để giải thích mọi vật trong trời đất và giữa nhân gian Trâu Diễn là người đầu tiên vận dụng thuyết âm dương ngũ hành vào giải thích các hiện tượng xã hội nói chung

Biểu hiện cụ thể của Âm – Dương là ngũ hành Ngũ hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Thuyết Ngũ hành cho rằng các yếu tố vật chất nguyên thủy ấy không phải ở trạng thái tĩnh mà là động, không phải cô lập với nhau mà là có quan hệ mật thiết, hơn nữa còn biện chứng với nhau, cái này chuyển hóa thành cái kia Mối quan hệ giữa các hành trong ngũ hành được làm rõ qua các quy luật

sau: Ngũ hành tương sinh: “Sinh” có nghĩa là tương tác, nuôi dưỡng, giúp đỡ.

Giữa các hành trong ngũ hành đều có quan hệ nuôi dưỡng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát sinh và phát triển Quan hệ tương sinh của ngũ hành là mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, thủy sinh mộc.Ngoài quy luật

tương sinh còn có quy luật tương khắc "Khắc" có nghĩa là chế ước, ngăn trở,

loại trừ Thứ tự của ngũ hành tương khắc là: mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hoả khắc kim, kim khắc mộc

Hai học thuyết Âm dương – Ngũ hành luôn phối hợp với nhau, hỗ trợ cho nhau Muốn nhìn nhận sự vật một cách chỉnh thể, đòi hỏi phải vận dụng kết hợp

cả hai học thuyết Vì học thuyết âm dương mang tính tổng hợp, thể hiện tính đối lập thống nhất, tính thiên lệch và cân bằng của sự vật, còn học thuyết ngũ hành nói lên mối quan hệ phức tạp, đa dạng giữa các yếu tố, các bộ phận Có thể

Trang 2

khẳng định, trên cơ bản, Âm dương - Ngũ hành là có mối quan hệ mật thiết, không thể tách rời

II Phép biện chứng tự phát trong Kinh Dịch

Tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại có một giá trị rất lớn trong nền văn minh nhân loại Nghiên cứu Kinh Dịch thực chất là nghiên cứu những tư tưởng thể hiện trong đó, nơi đây chứa đựng những tư tưởng về xã hội và con người nói chung

Kinh Dịch được coi là bộ sách nêu ra qui luật biến đổi phát triển của muôn

sự muôn vật Nho gia xếp nó là đứng đầu “Ngũ kinh” (“Dịch”, “Thư”, “Thi”,

“Lễ”, “Xuân Thu”), Đạo gia thì coi nó là một trong “Tam huyền” (“Lão Tử”,

“Trang Tử”, “Kinh Dịch”)

Kinh dịch có hai phần: phần kinh là phần ghi lại các quẻ, lời giải của các quẻ và của các hào, có nguồn gốc từ tục bói toán và người Trung quốc dùng cỏ thi để sếp theo trật tự nhất định, thể hiện sự biến đổi nên gọi là “dịch” (biên dịch); phần truyện là phần giải thích quẻ và lời của kinh (gồm có thoán truyện, tượng truyện, hệ tử, thuyết quái, văn ngôn, tự quái, tạp quái, trong đó Thoán truyện, Hệ tử và Tượng truyện chia làm thượng và hạ gồm có mười thiên nên

gọi là Thập dực)

Khái niệm “Dịch” là sự thay đổi, biến đổi, vận động, không có điểm kết thúc, sinh ra rồi lại sinh ra, theo vòng tuần hoàn, như quả đất quay quanh mặt trời, sự lên xuống của thủy triều

Nguồn gốc, động lực của mọi sự thay đổi là sự giao cảm của âm – dương, nghĩa là sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập trong một thể thống nhất Một

âm và một dương gọi là đạo Sự đối lập của các mặt gọi là “tương phản, tương thành” Sự thay đổi ở mức độ khác nhau gọi là “biến” và “hóa” “Biến” là sự thay đổi nhanh chóng (nhảy vọt), còn hóa là sự thay đổi từ từ (tiệm tiện)

Hai phía mâu thuẫn lại là hai phía đối lập Âm dương đối lập nhau, Càn Khôn đối lập nhau, các sự vật khác được sinh ra từ đó cũng đều thể hiện những

sự đối lập và xung đột của mâu thuẫn trong vũ trụ Trong Bát quái, đâu đâu cũng thể hiện sự mâu thuẫn

Trang 3

Sự vật thay đổi đến mức độ nào đó thì phải chuyển hóa Điều kiện của sự

chuyển hóa là sự vận động đến tận cùng thì quay trở lại (cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cửu) hay chuyển hóa còn theo thời và tùy thời “Thời” là điều kiện khách quan quyết định sự chuyển hóa Hai phía đối lập sẽ chuyển hóa lẫn nhau, từ đó mà sinh ra sự vận động biến đổi Bát quái nhấn mạnh hết sức đến sự biến đổi, cho rằng căn cứ của sự biến đổi là từ sự chuyển hóa của hai phía mâu thuẫn Nhìn chung, một khi sự vật phát triển đến cực điểm của nó thì sẽ chuyển sang một mặt đối lập Chẳng hạn, quẻ Càn phát triển đến cực điểm sẽ chuyển hóa thành quẻ Khôn Cương biến hóa sẽ chuyển thành nhu, tiến hết mức thì tất

sẽ lùi Vật cực tắc phản, bĩ cực thái lai Đó chính là sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập Ngoài ra, tư tưởng về mối liên hệ phổ biến cũng manh nha trong Kinh Dịch khi luôn có "giao cảm", "tương ứng", "tương cầu" Có cảm mới có giao; có tương ứng mới có tương cầu, tương hỗ; có tương đồng mới có tương hợp Đó là những tác động qua lại, hòa quyện vào nhau của các sự vật, hiện tượng Sự vật, hiện tượng ngoài sự tự sinh, tự hóa mà còn tương sinh, tương hóa

Có thể thấy rằng, nếu so các học thuyết đương thời ở Trung Quốc thì tư tưởng biện chứng trong tác phẩm Kinh Dịch đã được thể hiện rõ nét hơn, quan điểm của các nhà Dịch học về tư tưởng biện chứng có nhiều điểm phù hợp với nhận thức triết học hiện đại Kinh Dịch là tác phẩm đã nêu ra được sự thống nhất biện chứng về thế giới và con người Kinh Dịch thể hiện rõ rằng thế giới là một chỉnh thể thống nhất, có sự tác động biện chứng qua lại lẫn nhau theo quy luật

và ngay bản thân con người cũng là một phần không thể thiếu trong thế giới đó Đạo Dịch cho chúng ta thấy trong âm có dương, trong dương có âm; âm thịnh thì dương suy, dương thịnh thì âm suy (dương trưởng thì âm tiêu, âm trưởng thì dương tiêu); vạn vật hết sinh rồi tử, hết tử rồi lại sinh, cứ như thế lần hồi với nhau Không gì là không thể biến thiên

III Phép biện chứng tự phát của Lão tử

Được giới triết gia phương Tây đánh giá là nhà triết học duy nhất của phương Đông, ngay từ những năm 500 trước công nguyên, Lão tử đã có những

tư tưởng biện chứng rất tiến bộ

Trang 4

Tư tưởng biện chứng của Lão tử được thể hiện ngay trong quan niệm về

“Đạo” Ông xem xét Đạo và những phản ánh Đạo vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của Đạo với vạn vật, trong sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng “Đạo” là khởi nguồn, là con đường sinh thành, biến hóa của vạn vật Đạo không thể định hình gọi tên nhưng là gốc của vạn vật Ngay từ khái niệm đầu tiên về Đạo, Lão tử đã cho thấy một tư duy biện chứng rất mới khi cho rằng tuy Đạo chỉ miễn cưỡng gọi là Đạo nhưng lại là một hiện tượng tồn tại khách quan,

có mối quan hệ qua lại với vạn vật Lão tử đưa ra thuyết “vô danh”, theo đó sự vật có hai mặt đối lập dựa vào nhau mà chuyển hóa đến tận cùng thì quay ngược lại, sự chuyển hóa là liên tục, nên mọi khái niệm (danh) chỉ là tương đối, hữu hạn, tên gọi là sự so sánh, quy định lẫn nhau Ông viết: “Đạo khả đạo, phi thường Đạo; danh khả danh, phi thường danh” Theo ông, cái Đạo, cái tên nói ra được thì không phải cái Đạo, cái tên vĩnh hằng mà cái Đạo, cái tên không nói ra được mới là vĩnh viễn Theo quan điểm của Lão tử, sự thay đổi của mọi vật là do

quy luật quân bình và phản phục quy định Luật quân bình luôn giữ cho vận

động được thăng bằng, không thái quá, không bất cập Lão tử viết: “nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên” Lão Tử không những khẳng định tính cách tự nhiên của đạo mà còn cho rằng con người cần phải bắt

chước tự nhiên, phải tuân theo trật tự tự nhiên Luật phản phục quy định cái gì

phát triển đến tột đỉnh sẽ chuyển thành cái đối lập với nó, tạo thành một vòng tuần hoàn biến đổi bất tận Lão tử viết: “Phù vật vân vân, các phục qui kì căn”, theo đó ông chỉ ra quy luật trở về của giới tự nhiên Tuy nhiên, với việc không

làm rõ được chi tiết của quá trình phản phục, quan điểm của Lão tử vẫn còn

thiếu sót

Mặt khác, trong quá trình lý giải về nguồn gốc vạn vật, Lão tử đã phỏng đoán về quy luật mâu thuẫn Ông viết: “thiên địa vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô”; “Cố hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm dương tương hoà, tiền hậu tương tuỳ” Từ những mặt đối lập

cụ thể đã quan sát thấy, Lão Tử đã thể hiện quan niệm về sự tồn tại vốn có của các mặt đối lập và chỉ ra sự thống nhất hữu cơ giữa chúng Tuy rằng Lão tử đã

Trang 5

có những nghiên cứu mang tính nhảy vọt, nhưng trong chỉnh thể cùng với quy luật quân bình (làm cho cân bằng) và phản phục (quay về gốc rễ), cách giải quyết mâu thuẫn của Lão tử đi theo con đường dung hòa Theo ông, sự đấu tranh của các mặt đối lập trong sự vật đều cực điểm sẽ chuyển hóa chúng bằng con đường dung hòa, không phải đấu tranh giữa các mặt đối lập Ông cho rằng:

“Tương dục hấp chi, tất cố trương chi Tương dục nhược chi, tất cố cường chi”

là cách để giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt đối lập Lão tử tuy đã xuất sắc chỉ

ra sự mâu thuẫn giữa các mặt đối lập là một quy luật khách quan, không đâu không có; và các mặt đối lập có khả năng đấu tranh với nhau, nhưng quả thật ông chưa đạt đến trình độ kết luận được đấu tranh mới chính là cách giải quyết mâu thuẫn triệt để

Quan niệm về nhận thức của Lão Tử có yếu tố đúng và phù hợp với quan niệm biện chứng về nhận thức hiện nay Tư tưởng của Lão Tử dường như không

có những lập luận lôgíc, mà thường mang tính trực quan kinh nghiệm rõ rệt, song không phải vì thế mà nó không có giá trị khoa học Trái lại, tuy còn sơ khai nhưng tư tưởng của ông đã phản ánh rất đúng bản chất của thế giới khách quan Thế giới đó tồn tại tự nhiên, không phụ thuộc vào một lực lượng siêu nhiên nào

Nó không đứng yên, mà luôn vận động, biến đổi theo những quy luật vốn có và

do nguyên nhân ở chính bản thân nó, do sự vận động, chuyển hoá của các mặt đối lập bên trong vạn vật Ông luôn nhìn thế giới ở cả hai mặt chứ không phiến diện, cứng nhắc Đó thực sự là nền tảng khoa học cho những phương pháp hành động cũng rất hợp lý của con người trong mọi quan hệ xã hội mà ông đã chỉ ra trong đường lối vô vi của mình Mặc dù vậy, do hạn chế về lịch sử xã hội, ông

đã không tránh khỏi những lối nói thái quá hoặc diễn đạt quá ngắn gọn khiến cho người ta khó hiểu đúng bản ý của ông Từ đó đã gây không ít tranh cãi trong lịch sử triết học từ trước tới nay Song, dù tranh luận như thế nào đi nữa thì tư tưởng của ông vẫn rất đặc sắc và có ý nghĩa to lớn, xứng đáng là "đại biểu tinh thần của thế giới cổ đại Đông phương"

Ngày đăng: 09/03/2018, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w