1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)

127 396 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HÀ THỊ ÁNH TUYẾT

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HÀ THỊ ÁNH TUYẾT

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH ĐỨC HƯNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Thừa Thiên Huế, ngày 27 tháng 12 năm 2017

Học viên

Hà Thị Ánh Tuyết

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện Luận văn Thạc sỹ tại Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình, đã tạo điều kiện

về thời gian, hướng dẫn nội dung, cung cấp tài liệu và những thông tin cần thiết

Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn đến Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung, Khoa Sau đại học Học viện Hành chính Quốc gia cùng tất cả quý thầy, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã giảng dạy tận tình và truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS.Trịnh Đức Hưng, đã tận tình hướng dẫn và có những đóng góp quý báu để em hoàn thành Luận văn này

Xin chân thành cảm ơn tới các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam đã hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện trong suốt quá trình thu thập số liệu điều tra phục vụ nghiên cứu Cảm ơn người thân, bạn bè đồng nghiệp đã cổ vũ tinh thần và giúp đỡ để hoàn thành luận văn này

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Em kính mong quý thầy, cô và những người quan tâm đến đề tài có những đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn./

Học viên

Hà Thị Ánh Tuyết

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 8

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 8

1.1.1 Khái niệm làng nghề 8

1.1.2 Khái niệm về làng nghề truyền thống 8

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống 10

1.1.4 Tổ chức bộ máy trong quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống 11

1.2 Nội dung, đặc điểm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống 12

1.2.1 Chủ thể và nội dung quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống 12

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống 21

1.3 Kinh nghiệm quản lý và phát triển làng nghề truyền thống của một số tỉnh và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Nam 27

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý và phát triển làng nghề truyền thống của một số tỉnh 27

1.3.2 Bài học về quản lý và phát triển làng nghề truyền thống của một số tỉnh của nước ta mà tỉnh Quảng Nam cần học tập 31

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

TẠI QUẢNG NAM 35

2.1 Thực trạng làng nghề truyền thống ở Quảng Nam 35

2.1.1 Khái quát về tỉnh Quảng Nam 35

2.1.2 Khái quát về làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 36

2.2 Đặc điểm làng nghề truyền thống và quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 38

2.2.1 Đặc điểm làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 38

2.2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 40

2.3 Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống của tỉnh Quảng Nam 42

2.3.1.Việc ban hành, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính thông thường trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống 42

2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 45

2.3.3 Nguồn nhân lực trong quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 49

2.3.4 Xây dựng và thực hiện chính sách quản lý phát triển đối với làng nghề truyền thống 51

2.3.5 Hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các làng nghề truyền thống 54

2.3.6 Xã hội hóa và hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý nhà nước đối với các làng nghề truyền thống 55

2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 58

Trang 7

2.4.1 Những yếu tố thuận lợi cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các

làng nghề truyền thống 58

2.4.2 Những điểm hạn chế cho hoạt động quản lý nhà nước đối với các làng nghề truyền thống 60

2.4.3 Nguyên nhân những thuận lợi và hạn chế đối với hoạt động quản lý nhà nước của các làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 62

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 67

3.1 Phương hướng quản lý nhà nước về làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 67

3.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 71

3.2.1 Nâng cao hiệu quả việc ban hành, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính thông thường trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống 71

3.2.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy trong quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 75

3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam 79

3.2.4 Chính sách quản lý phát triển làng nghề truyền thống 81

3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra làng nghề truyền thống trong hoạt động quản lý nhà nước về làng nghề 84

3.2.6 Xã hội hóa, hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý, phát triển làng nghề truyền thống 86

3.3 Kiến nghị 88

3.3.1 Kiến nghị với Trung ương 88

3.3.2 Kiến nghị với địa phương 88

Trang 8

KẾT LUẬN 92DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CN-TTCN : Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp Đ/c : Địa chỉ

VH-TTDL : Văn hóa - Thể thao Du lịch

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các dự án hỗ trợ đầu tư cho các làng nghề truyền thống được phân bố theo các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh 56 Bảng 2.2 Số liệu về hoạt động thanh kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các làng nghề truyền thống 58 Bảng 2.3 Các dự án hỗ trợ đầu tư cho các làng nghề truyền thống có sự tham gia huy động đóng góp từ nhân dân 60 Bảng 2.4 Các dự án do các tổ chức phi Chính phủ hỗ trợ đầu tư cho các làng nghề truyền thống 61

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1 Sơ đồ thực trạng tổ chức bộ máy hoạt động quản lý nhà nước

đối với làng nghề tỉnh Quảng Nam

53

Sơ đồ 2 Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (theo mô hình mới)

83

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Quảng Nam là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống, gắn liền với những giá trị văn hoá truyền thống, tạo ra những sản phẩm nổi tiếng, được nhiều người tiêu dùng biết đến Các làng nghề đã tồn tại và phát triển đến ngày hôm nay bằng công sức, trí tuệ của các thế hệ đi trước, đi kèm với những dấu ấn văn hoá - lịch sử kết tinh trong từng sản phẩm, cùng với sự ưu đãi của thiên nhiên ban tặng cho con người đất Quảng Các làng nghề đã tạo ra việc làm thường xuyên cho lao động và tăng thu nhập cho lao động nông nhàn; lao động tham gia làng nghề và có thu nhập từ làng nghề không bị giới hạn, người già, trẻ em, thậm chí người khuyết tật vẫn có thể tham gia; làng nghề còn là giải pháp, giữ chân người lao động ở lại địa phương, giảm bớt áp lực

về việc làm tại các thành phố lớn, góp phần bình ổn xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng

Các làng nghề Quảng Nam với cách thức hình thành, tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, phân bố tại các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Hoạt động quản lý nhà nước được tăng cường: Tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật; hướng dẫn triển khai các cơ chế chính sách về phát triển làng nghề; tổ chức đào tạo tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ quản lý nhà nước về làng nghề; nhà nước đã hỗ trợ cho các cơ sở làng nghề trong bảo tồn, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo các tiêu chí chất lượng sản phẩm; thực hiện tốt giải pháp bảo vệ môi trường tại các làng nghề truyền thống và xây dựng thương hiệu, tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước và ngoài nước,

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động quản lý nhà nước vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, nhiều khó khăn cần tháo gỡ Hoạt động quản lý nhà

Trang 13

nước vẫn chưa kịp thời, việc bảo tồn và phát triển một số làng nghề truyền thống thời gian qua vẫn chưa đạt hiệu quả, dẫn đến một số làng nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị mai mọt cao Từ năm 2011 đến nay, chính quyền địa phương cũng đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động quy hoạch phát triển làng nghề, ban hành các chính sách khuyến khích hỗ trợ làng nghề, thay đổi tổ chức quản lý tại các làng nghề truyền thống, Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh của các làng nghề truyền thống vẫn còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao, tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về làng nghề truyền thống, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, nông nghiệp nông thôn tỉnh Quảng Nam

Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề nói chung và làng nghề tỉnh Quảng Nam nói riêng cần được triển khai một cách toàn diện hơn trên nhiều khía cạnh, từ việc ban hành

hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động quản lý làng nghề truyền thống, tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế, thanh tra, kiểm tra kết quả thực hiện; quản lý từ khâu sản xuất đảm bảo theo đúng quy trình đến khâu tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Trong đó, việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các làng nghề truyền thống cũng là một vấn đề cấp thiết cần giải quyết trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Đặc biệt, trong quá trình hội nhập, đã mở ra cơ hội lớn trong việc phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó phải tuân thủ các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, Vì vậy, việc hướng dẫn các làng nghề tạo lập, quản lý thương hiệu, nâng cao chất lượng hàng hóa cho các sản phẩm làng nghề truyền thống trở thành nhiệm vụ mang tính chiến lược, quyết định sự thành bại trên thị trường trong và ngoài nước trong quá trình hội nhập

Trang 14

Ngoài ra, hoạt động quản lý nhà nước về ngành nghề, làng nghề nông thôn ở tỉnh Quảng Nam đang xảy ra tình trạng chồng chéo giữa các cơ quan quản lý nhà nước ở cấp tỉnh (giữa sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) với sở Công Thương) và ở cấp huyện (giữa phòng Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn với Phòng Kinh tế Hạ tầng),…

Từ những vấn đề nêu trên, em chọn nội dung “Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu Việc nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn, đề ra các giải pháp tác động tích cực để hoạt động quản lý đối với làng nghề truyền thống ngày càng hiệu quả, phát huy vai trò của làng nghề truyền thống trong tiến trình hội nhập và đặc biệt là trong tiến trình xây dựng nông thôn mới của

cả nước

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Làng nghề, làng nghề truyền thống Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng đã có những đóng góp to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội những năm qua Tuy nhiên, hiện nay, các làng nghề, làng nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai mọt dần và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn về nhân lực, quy mô, tài chính, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, kỹ thuật công nghệ, thị trường,… Tình trạng ô nhiễm môi trường từ các làng nghề cũng đã ở mức báo động Đã có nhiều sách, công trình khoa học nghiên cứu

về làng nghề trên cả nước ở mọi góc cạnh, như:

- “Làng nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam” của tác giả Bùi Văn Vượng, 2002, nhà xuất bản (Nxb) Văn hóa dân tộc, Hà Nội Đây là công trình giới thiệu một cách tổng quan về các làng nghề truyền thống ở Việt Nam, với nhiều thông tin có giá trị tham khảo cao

- “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH)” của tác giả Trần Minh

Trang 15

Yến, 2003 NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu mang tính tổng quan và đặc biệt nhấn mạnh về vai trò của làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước ta hiện nay

- Đề tài “Nghiên cứu tiêu thụ sản phẩm của một số làng nghề huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” đã đề cập đến khó khăn về vấn đề tiêu thụ sản phẩm ngành nghề của một số làng nghề trên địa bàn huyện, phân tích và hướng những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ, từ đó định hướng những giải pháp góp phần đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của làng nghề;

- Đề tài “Nghiên cứu áp dụng mô hình xử lý chất thải cho các hộ sản xuất đá mỹ nghệ tại Non Nước” của Tiến sĩ Vương Nam Đàn, 2006; đề tài đã đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực làng nghề Non Nước, điều kiện môi trường lao động, tình trạng sức khỏe người lao động, từ đó đề xuất các biện pháp, mô hình xử lý chất thải, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất trong khu vực làng nghề

- Đề tài “Nghiên cứu phát triển làng nghề Quảng Ngãi” của Tiến sĩ Hồ Minh Kỳ, năm 2011; đề tài đã khai thác và cung cấp các thông tin liên quan đến vấn đề nguyên liệu, thị trường, sản phẩm, nguồn nhân lực, môi trường,…

đề xuất các chính sách hỗ trợ và các giải pháp phát triển làng nghề

Tại Quảng Nam cũng đã có công trình khoa học nghiên cứu về Làng nghề như:

Đề tài “Phát huy vai trò của làng nghề trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Nam”của tác giả Nguyễn Thanh Tài, năm 2012; đề tài thực hiện nhằm đề xuất các nhóm giải pháp phát triển bền vững làng nghề, phát huy vai trò làng nghề trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới hiện nay

và trong tương lai của tỉnh Quảng Nam

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí khoa học và nhiều

Trang 16

công trình đó chưa đề cập thấu đáo, toàn diện đến sự tác động tích cực của làng nghề đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) của địa phương; chưa thấy được những bất cập trong công tác quản lý và phát triển làng nghề của tỉnh; chưa đề cập các tác động nghịch chiều, kìm hãm sự phát triển, nguyên nhân và giải pháp phát triển các làng nghề trong quá trình hội nhập Đồng thời, hiện nay, Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển làng nghề; các làng nghề bắt đầu có tín hiệu hồi sinh và phát triển Tuy nhiên, thực tế, các làng nghề vẫn phải đối mặt với những thách thức không nhỏ, khi mà cần phải có sự chuyển mình, kịp theo xu thế phát triển trong quá trình hội nhập

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của làng nghề, làng nghề truyền thống và đưa ra những giải pháp phát triển Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3 1 Mục đích của luận văn

Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Hệ thống hóa các kiến thức về làng nghề truyền thống, quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các làng nghề truyền thống, hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tại Quảng Nam; tìm ra những thuận lợi và khó khăn về hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống của tỉnh Quảng Nam

Trang 17

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1 Phương pháp luận

Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hoạt động quản lý, quản lý nhà nước cũng như những quan điểm của Đảng trong các Văn kiện, Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản quản lý nhà nước về quản lý và phát triển làng nghề truyền thống 5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia, nhằm đánh giá đúng thực trạng, từ đó tìm ra các giải pháp thích hợp cho việc quản lý, phát triển các làng nghề truyền thống của tỉnh Quảng Nam

Luận văn cũng kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu có liên quan; đồng thời, dựa vào các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Trang 18

Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước nói chung và quản lý làng nghề nói riêng Kinh nghiệm quản lý làng nghề của các địa phương khác trong cả nước và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Nam 6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt động quản lý, hoạt động xây dựng chính sách phát triển làng nghề truyền thống của tỉnh Quảng Nam nói riêng cũng như của các địa phương khác trong cả nước nói chung

7 Kết cấu luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về làng nghề truyền thống và quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Chương 2: Thực trạng làng nghề truyền thống và hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Quan điểm của Đảng và một số giải pháp quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tỉnh Quảng Nam

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm làng nghề

Làng theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, là một nhóm người quay quần ở một nơi nhất định trong nông thôn, làng là một tế bào của xã hội người Việt, một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng, một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất [11]

Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau [1]

Thực tế cho thấy, làng nghề là nơi mà ở đó có những hộ thuộc một số dòng tộc nhất định sinh sống Trong các làng nghề này tồn tại đan xen các mối quan hệ kinh tế, xã hội phong phú và phức tạp Làng nghề là những làng

ở nông thôn có những nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông

Như vậy làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế, xã hội và văn hóa

1.1.2 Khái niệm về làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống, trước hết nó được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó bao gồm một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống,

Trang 20

đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc Làng nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời gian vẫn duy trì và phát triển, được lưu truyền từ đời này qua đời khác Trong các làng nghề truyền thống thường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề được thực hiện theo phương pháp truyền nghề

Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời [1]

Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận dựa trên các tiêu chí sau:

Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:

Thứ nhất, có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

Thứ hai, có hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

Thứ ba, phải chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

Làng nghề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và

có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư số BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP, cụ thể: Thứ nhất, nghề của làng nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

116/2006/TT-Thứ hai, nghề của làng nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc

Trang 21

Thứ ba, nghề của làng nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

Thứ tư, số hộ và số lao động trong làng nghề truyền thống đạt từ 30% trở lên so với tổng số lao động của làng

Thứ năm, sản phẩm làm ra có tính thẩm mỹ mang đậm nét yếu tố và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam

Thứ sáu, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

Thứ bảy, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

- Khái niệm quản lý:

Quản lý gắn liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nên trong thực

tế có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý; nhưng có một cách tiếp cận nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và nhà quản lý thực tiễn, đó là: Quản

lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến [6, tr.9]

- Khái niệm quản lý nhà nước:

Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội Những hoạt động này nhằm bảo đảm cho hệ thống pháp luật quốc gia đi vào cuộc sống Đây là chức năng cơ bản của nhà nước Hoạt động quản

lý nhà nước đạt hiệu quả cao phải trên cơ sở bảo đảm tính khoa học về hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm tra, giám sát [18, tr.62]

- Khái niệm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống:

Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống là việc áp dụng hệ thống các công cụ quản lý bao gồm pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế

Trang 22

thống của địa phương phát triển theo định hướng đã đặt ra trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhà nước

Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống nhằm phát triển làng nghề theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, quốc gia và kiểm soát làng nghề phát triển một cách bền vững Vì vậy, để quản lý làng nghề, nhà nước dùng các công cụ như pháp luật, chính sách,… trong hoạt động quản lý; cụ thể như:

+ Thông qua hệ thống pháp luật, một mặt, nhà nước tuyên bố các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động trong làng nghề truyền thống, đặc biệt là quyền và nghĩa vụ, chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước đối với làng nghề Nếu hệ thống luật pháp tiến bộ và phù hợp, sẽ khuyến khích làng nghề phát triển Ngược lại, hệ thống luật pháp lạc hậu, bảo thủ sẽ cản trở sự phát triển của làng nghề truyền thống

+ Quản lý nhà nước không chỉ nhằm kiểm soát làng nghề truyền thống

mà quan trọng hơn là định hướng cho làng nghề truyền thống phát triển Trong hoạt động quản lý, nhà nước cần có các chiến lược, quy hoạch để định hướng cho các làng nghề phát triển một cách bền vững Mặt khác, có qui hoạch, nhà nước mới kiểm tra, kiểm soát được sự phát triển của làng nghề truyền thống, từ đó có các chính sách điều chỉnh phù hợp với tình hình thực

- Bao gồm tập hợp người, nhóm người;

- Có sự phân công phối hợp, hoạt động chung;

Trang 23

- Hướng đến mục tiêu chung [4,tr.15]

Tổ chức là một hệ thống tập hợp của một nhóm người (hai hay nhiều người), tiến hành hoạt động chung, có sự phối hợp một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung [4, tr.16]

Tổ chức hành chính nhà nước được nhà nước trao quyền lực pháp lý để làm phương tiện thực hiện chức năng quản lý nhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước có quyền lực pháp lý và được sử dụng quyền đó để cưỡng bức

xã hội làm những việc theo ý chí nhà nước

Hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống là thực hiện chức năng quản lý theo ngành, lĩnh vực cụ thể, được phân cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương

1.2 Nội dung, đặc điểm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

1.2.1 Chủ thể và nội dung quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

1.2.1.1 Chủ thể quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Chủ thể quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước đối với làng nghề nói riêng là nhà nước, nhà nước giao cho các tổ chức, cơ quan nhà nước như sau:

Ở Trung ương, Chính phủ thống nhất quản lý và giao quyền quản lý cho các Bộ quản lý như sau:

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các ngành nghề nông thôn

- Bộ Công Thương chịu trách nhiệm quản lý doanh nghiệp ở nông thôn,

Trang 24

công nghiệp làng nghề, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện công tác bảo vệ môi trường, đáp ứng việc di dời các cơ sở sản xuất trong làng nghề

- Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) chịu trách nhiệm xây dựng

và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch,

kế hoạch, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đối với làng nghề; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các hồ sơ, thủ tục về môi trường; theo dõi và xác định các làng nghề ô nhiễm và đề xuất phương án xử lý; tổ chức thu phí về bảo vệ môi trường; kiểm tra, giám sát tình hình tuân thủ các quy định của pháp luật

và xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường tại làng nghề; nghiên cứu, ứng dụng

và phổ biến công nghệ xử lý môi trường phù hợp với làng nghề

- Bộ Công an có trách nhiệm điều tra, phát hiện, xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi tội phạm về bảo vệ môi trường tại các làng nghề

- Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm quản lý các công nghệ sản xuất nhằm đưa các công nghệ mới ứng dụng trong sản xuất để tăng năng suất

và chất lượng sản phẩm; hạn chế việc đưa công nghệ cũ, lạc hậu vào làng nghề và khu vực dân cư nông thôn gây ô nhiễm môi trường

- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm về bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong đó

có các giá trị văn hóa của sản phẩm làng nghề truyền thống

Ở địa phương, ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh thống nhất quản lý, chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc quy hoạch, phát triển làng nghề, quản lý các làng, khu, cụm công nghiệp làng nghề trên địa bàn tỉnh; bố trí nguồn lực cần thiết và chỉ đạo, kiểm tra việc triển khai các nhiệm vụ về quản

lý phát triển làng nghề của UBND cấp huyện, đặc biệt là UBND cấp xã Tại các xã, phường và thị trấn có làng nghề có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và giám sát các cơ sở sản xuất tại các làng nghề trong tổ chức

Trang 25

hoạt động sản xuất và tuân thủ các quy định của phát luật (UBND các cấp giao quyền quản lý cho các sở, ban ngành và các phòng ban liên quan tham mưu trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề, làng nghề truyền thống)

Đối tượng chịu sự quản lý đối với các làng nghề truyền thống là các cơ

sở sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề truyền thống

1.2.2.2 Nội dung quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống Thứ nhất, ban hành, hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật,văn bản hành chính thông thường trong hoạt động quản

lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Để quản lý các làng nghề truyền thống nhà nước cần ban hành và chỉ đạo thực hiện các luật, chính sách theo đúng chức năng và thẩm quyền đối với từng cấp Nhà nước tại các địa phương cần chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản cấp trên có hiệu quả và ban hành các văn bản nhằm hướng dẫn, tổ chức thực hiện và cụ thể hóa các văn bản cấp trên Việc ban hành các văn bản của địa phương phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của địa phương và không được trái với các văn bản của cấp trên

Việc ban hành văn bản nhằm tạo điều kiện cho các làng nghề truyền thống phát triển một cách thuận tiện, mở rộng thị trường tiêu thụ và tăng thu nhập cho những người lao động tại làng nghề Bên cạnh đó, nhà nước cũng thực hiện việc chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện các văn bản tới các đối tượng chịu ảnh hưởng Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật buộc phải có sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành có liên quan và cả những chủ thể thực thi văn bản

Trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống, nhà nước phải có trách nhiệm cung cấp và thông tin kịp thời đến các cơ sở của

Trang 26

làng nghề về những thông tin cần thiết và liên quan đến hoạt động phát triển làng nghề truyền thống

Thứ hai, Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Trong các quy định của Nhà nước có quy định rất cụ thể về bộ máy tổ chức quản lý nhà nước tại địa phương về các lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực làng nghề, làng nghề truyền thống Bộ máy này được quản lý từ UBND cấp tỉnh, giao quyền quản lý cho các sở, ban, ngành cấp tỉnh tới các phòng chuyên môn cấp huyện và chịu sự quản lý trực tiếp của UBND cấp huyện Cơ quan chuyên môn cấp huyện chịu sự chỉ đạo quản lý về tổ chức, biên chế, công tác của UBND huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ của sở, ban, ngành cấp tỉnh và dưới cùng là UBND cấp xã Bên cạnh đó, còn có một số cơ quan liên quan tham gia phối hợp trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống tại địa phương từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã

Thứ ba, nguồn nhân lực quản lý nhà nước trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống rất cần đội ngũ cán

bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đảm bảo hoạt động thực thi công vụ Nhà nước cần quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống Nếu tuyển dụng, đào tạo không đáp ứng được nhu cầu thực tế thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu công việc của địa phương Đồng thời, việc bồi dưỡng, đào tạo các chủ doanh nghiệp làng nghề ở nông thôn về các kiến thức về kinh tế thị trường, về pháp luật trọng kinh doanh là rất cấp bách nhằm đảm bảo và nâng cao hơn nữa hiệu quả trong kinh doanh, để kinh doanh đúng pháp luật

Trang 27

Thứ tư, xây dựng và thực hiện chính sách quản lý phát triển làng nghề truyền thống

Chính sách công trong quản lý nhà nước đối với làng nghề là hệ thống các chính sách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, như: Chính sách về tín dụng; chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng; chính sách về môi trường; chính sách

về khoa học và công nghệ (KH&CN), Môi trường kinh doanh của các làng nghề truyền thống liên quan đến toàn bộ yếu tố kinh tế, xã hội, tự nhiên tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh ở các làng nghề truyền thống Vì vậy, chính sách phát triển làng nghề truyền thống là tổng hợp của nhiều chính sách kinh tế xã hội

Chính sách công trong quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống nhằm định hướng và điều tiết hoạt động của làng nghề, kích thích sự phát triển làng nghề, tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi để phát triển làng nghề Chính sách phát triển làng nghề truyền thống thường do Chính phủ, Bộ ngành Trung ương quyết định như các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Quyết định của Bộ ngành Đồng thời, các địa phương căn cứ vào chính sách cấp trên và thực trạng của mình để ban hành các chính sách phù hợp

Chính sách công trong quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

là tập hợp tất cả những chủ trương và hành động của nhà nước nhằm tạo cơ chế cho các làng nghề truyền thống hoạt động và phát triển bằng việc tác động nhằm khuyến khích, huy động tập trung nguồn lực, khai thác tối ưu tiềm năng, thế mạnh của địa phương trong việc phát triển làng nghề truyền thống theo mục tiêu đã đề ra

Xây dựng và thực hiện chính sách giúp cho các hộ tham gia sản xuất làng nghề thấy được định hướng, mục tiêu phát triển, lĩnh vực phát triển các

Trang 28

đó có thật sự có hiệu quả cần phải nằm trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của các địa phương, phù hợp với địa phương và phải được cụ thể hóa và mang tính đồng bộ

Thứ năm, Tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các làng nghề truyền thống

Trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống, hoạt động thanh tra và kiểm tra có ý nghĩa quan trọng để thúc đẩy các làng nghề phát triển

Thanh tra không chỉ có ý nghĩa quan trọng mà còn là một nhu cầu tất yếu trong quản lý hành chính nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống nói riêng Mục đích của hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ

hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước

có thẩm quyền biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, các nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [10, tr.7]

Kiểm tra thì cho đến nay nhà nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật có định nghĩa cụ thể về kiểm tra, nhưng trên phương diện lý luận thực tiễn thì kiểm tra là khái niệm rộng thể hiện ở nhiều góc độ như:

+ Kiểm tra là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế nhằm đảm bảo thực hiện nhiệm vụ của chính mình Qua kiểm tra các cơ quan, tổ chức đánh giá đúng mực việc làm của mình, từ đó đề ra chủ trương, biện pháp, phương hướng hoạt động tiếp theo một cách hợp lý hơn Trong trường hợp này, kiểm tra mang ý nghĩa xem xét, nhìn lại việc làm của chính mình để tự điều chỉnh, hay tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ tốt hơn hiệu quả hơn

Trang 29

+ Kiểm tra là hoạt động của cơ quan, tổ chức, thủ trưởng cấp trên với cấp dưới của mình nhằm đánh giá mọi mặt hoặc từng vấn đề do cấp dưới đã thực hiện Trong trường hợp này, kiểm tra thực hiện trong quan hệ trực thuộc,

vì thế cơ quan hoặc thủ trưởng cấp trên sau khi kiểm tra có quyền áp dụng các biện pháp như: biểu dương, khen thưởng khi cấp dưới làm tốt hoặc các biện pháp cưỡng chế để xử lý đối với cấp dưới khi họ có khuyết điểm hoặc vi phạm pháp luật

Hoạt động quản lý nhà nước về thanh tra, kiểm tra đối làng nghề truyền thống được thể hiện thông qua các hình thức như: cơ quan nhà nước tổ chức thanh tra, kiểm tra đối với các làng truyền thống trong việc chấp hành các quy định của nhà nước về quy hoạch sản xuất, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh; đảm bảo vệ sinh môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, hướng dẫn cơ sở sản xuất về phương hướng hoạt động và tuân thủ các văn bản quy định của cấp trên,…

Việc thanh tra, kiểm tra, các hoạt động của các làng nghề truyền thống cần được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất tùy thuộc vào đối tượng và yêu cầu thực tế nhằm phát hiện những sai sót và kịp thời xử lý những vi phạm tại các

cơ sở sản xuất kinh doanh nếu có

Thứ 6, Xã hội hóa hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Nhà nước với một ngân sách eo hẹp và những nhu cầu lớn về nhiều loại dịch vụ tối cần thiết khác cần được bảo đảm thì không thể bao cấp cho mọi loại dịch vụ, sản phẩm, nhu cầu thiết yếu của người dân, cho dù có thu phí dịch vụ Trước những mâu thuẫn ngày càng gay gắt trong quan hệ cung cấp dịch vụ công, nhiều chính phủ đã tiến hành xã hội hóa các dịch vụ này

Xã hội hóa là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về

Trang 30

nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn là một xu thế lâu dài và mang tính quy luật Xã hội hóa không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của nhà nước, giảm bớt phần ngân sách nhà nước; trái lại nhà nước thường xuyên tìm kiếm các nguồn thu để tăng tỷ lệ ngân sách chi cho các dịch vụ công, đồng thời quản lý tốt để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó [18, tr.74] Thực hiện xã hội hóa hoạt động quản lý và phát triển làng nghề truyền thống là giải pháp quan trọng để thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển một cách bền vững Xã hội hóa trong hoạt động quản lý làng nghề truyền thống tập trung vào các dịch vụ như xã hội hóa trong dịch vụ đào tạo, xã hội hóa trong dịch vụ quản lý môi trường tại các làng nghề truyền thống, xã hội hóa trong việc kêu gọi người dân tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng tại các làng nghề truyền thống, và sự tham gia hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ trong hoạt động quản lý, phát triển làng nghề truyền thống

1.2.2 Đặc điểm quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống là sự tác động liên tục, có tổ chức của nhà nước đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề truyền thống nhằm duy trì và phát triển bền vững các làng nghề truyền thống theo các mục tiêu mà nhà nước đặt ra Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống được thể hiện bởi các đặc điểm sau:

1.2.2.1 Quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống khá phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực

Nhà nước trao thẩm quyền cho các cơ quan quản lý để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình Thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước đối với làng nghề là tổng thể những quyền, nghĩa vụ mang tính quyền lực - pháp

lý do pháp luật quy định Trên cơ sở, hiến pháp, luật, các cơ quan quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống ra quyết định mang tính pháp lý bắt buộc

Trang 31

các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại các làng nghề truyền thống phải tuân thủ Các cơ quan quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống chỉ hành động trong phạm vi thẩm quyền của mình Hiện nay, hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống có sự tham gia của các ngành như: Ngành nông nghiệp – quản lý nhà nước đối với ngành nghề nông thôn; ngành công thương – quản lý xúc tiến thương mại cho các sản phẩm làng nghề; ngành tài nguyên môi trường – quản lý sử dụng đất đai và vấn đề môi trường tại các làng nghề; ngành khoa học và công nghệ - quản lý việc ứng dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ xây xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm làng nghề;…

1.2.2.2 Hoạt động quản lý nhà nước đối với các làng nghề truyền thống rất nhạy cảm, phức tạp

Cách thức tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề đã trở thành nét văn hóa riêng của làng nghề, thành thói quen của những người lao động tại nơi đây Vì vậy, khi nhà nước tác động những chính sách, cơ chế mới rất khó khăn và cần có sự đồng thuận của tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề Ví dụ, phương thức hoạt động sản xuất tại các làng nghề truyền thống gốm sứ, muốn thay đổi nguyên liệu dùng để nung sản phẩm là rơm, rạ, than, củi,… bằng cách dùng nhiệt, ga,…

để hạn chế ô nhiễm môi trường, tăng năng suất lao động, giảm chi phí giá thành,… nhưng để thay đổi thói quen sản xuất của làng nghề là cả một vấn đề lớn trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống Nhà nước phải dùng các phương pháp khác nhau trong hoạt động quản lý như giáo dục thuyết phục, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế và cả các công cụ như pháp luật,… một cách hài hòa thì mới thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Trang 32

1.2.2.3 Các cơ quan quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống được sử dụng nguồn lực công để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình

Nhà nước sử dụng nguồn nhân lực, nguồn tài chính để đảm bảo các hoạt động thực thi công vụ (tiền lương, thiết bị hỗ trợ hoạt động quản lý, công tác phí, ) và hỗ trợ cho các cơ sở tại các làng nghề truyền thống trong hoạt động sản xuất, kinh doanh Ví dụ như nhà nước hỗ trợ đào tạo nghề cho các lao động của làng nghề thông qua các buổi tập huấn; hỗ trợ các cơ sở tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm,…

1.2.2.4 Hoạt động quản lý nhà nước đối với các làng nghề truyền thống mang tính pháp lý và bình đẳng với các đối tượng

Sử dụng đúng đắn quyền lực, thực hiện đúng đắn chức năng và quyền hạn được trao khi thực hiện nhiệm vụ Đồng thời, chú trọng đến việc nâng cao

uy tín chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ của người thực thi công

vụ Phải kết hợp chặt chẽ yếu tố thẩm quyền và uy quyền để để nâng cao được hiệu lực và hiệu quả hoạt động của một nhà nước, của nhân dân và vì nhân dân phục vụ [18,tr.54]

Hoạt động quản lý nhà nước đối với các làng nghề truyền thống chịu sự tác động của các chủ thể trong hệ thống chính trị; vậy, phải chịu sự kiểm soát của các cơ quan dân cử, các nhóm lợi ích, dư luận quần chúng, các cơ quan thông tin đại chúng và cử tri Tất cả các hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề đều hướng tới mục tiêu phục vụ người dân, lấy đó làm xuất phát điểm cho việc xây dựng hệ thống thể, chế, chính sách [18,tr.56]

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

1.2.3.1 Yếu tố về thể chế

Thể chế hành chính nhà nước là hệ thống các quy định xác định mối quan hệ hành chính giữa nhà nước với các đối tượng trong xã hội, hệ thống

Trang 33

quy định quản lý nội bộ cơ quan hành chính, thủ tục hành chính và tài phán hành chính Thể chế hành chính nhà nước là căn cứ để xác lập mức độ và phạm vi can thiệp của nhà nước đối với các cơ sở sản xuất trong làng nghề truyền thống; là căn cứ để thiết lập nên bộ máy hành chính nhà nước đối với hoạt động quản lý nhà nước về làng nghề truyền thống, là căn cứ để xây dựng đội ngũ nhân sự trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống và là cơ sở để điều chỉnh, sử dụng các nguồn lực của xã hội trong hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề Vì vậy, thể chế hoá của nhà nước

về các mặt tài chính, tiền tệ, giá cả, đầu tư, ngân sách, phù hợp hay không phù hợp với kinh tế thị trường cũng ảnh hưởng lớn đến quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

1.2.3.2 Yếu tố về chính sách

Có nhiều yếu tố tác động đến sự phát triển làng nghề, trong đó yếu tố chính sách đóng vai trò quan trọng Chính sách phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, vùng, ngành, địa phương, lãnh thổ, loại hình doanh nghiệp… đều tác động đến mục tiêu, nội dung và phương thức quản lý của nhà nước đối với làng nghề truyền thống Quá trình hội nhập và phát triển đòi hỏi cùng với quá trình đổi mới chính sách Hệ thống các chính sách của nhà nước tác động rất lớn và quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng Nhà nước thông qua việc xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các hộ và các doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ về vật chất để tăng cường năng lực của các cơ

sở, doanh nghiệp, hộ gia đình trong việc sản xuất kinh doanh tại làng nghề Vì vậy, chính sách là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

1.2.3.3 Yếu tố về văn hóa truyền thống, phong tục tập quán

Trang 34

Yếu tố truyền thống có vai trò ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển làng nghề Các nghệ nhân là những người có tay nghề cao trong các làng nghề, là hạt nhân để bảo tồn duy trì và phát triển làng nghề Những luật, quy định, tập quán của các làng nghề đã tạo ra những phong cách riêng về đạo đức nghề nghiệp, tạo nên nét độc đáo để phát triển sản phẩm làng nghề và là các yếu tố quan trọng để phát triển làng nghề Vậy, bên cạnh việc gìn giữ những yếu tố truyền thống, các làng nghề truyền thống phải biết tiếp thu những yếu

tố mới, cải tiến và loại bỏ những quy ước, tập tục lạc hậu,… để các sản phẩm làng nghề luôn giữ được yếu tố truyền thống kết tinh trong sản phẩm và phải đáp ứng được thị trường, thị hiếu của người tiêu dùng Tuy nhiên, các tập tục lạc hậu đã ăn sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân làng nghề, vậy nên đây là một trong những vấn đề khó khăn của hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

1.2.3.4 Yếu tố về cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là điều kiện quan trọng để làng nghề phát triển Các làng nghề chỉ có thể phát triển mạnh ở những nơi có hệ thống kết cấu hạ tầng đảm bảo và đồng bộ Cơ sở hạ tầng bao gồm: Hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước,… Hiện nay, trong quá trình hội nhập, cạnh tranh gay gắt, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng khắp, nguồn nguyên liệu không sẵn có tại làng nghề nên nhu cầu về hệ thống giao thông vận tải rất quan trọng; hệ thống giao thông vận tải tốt rất thuận lợi trong việc vận chuyển nguyên liệu, tạo điều kiện mở rộng thị trường,…Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các làng nghề truyền thống còn đang gặp rất nhiều khó khăn vì điều kiện cơ sở hạ tầng còn yếu kém và chưa đồng bộ Vì vậy, đây cũng là yếu ảnh hưởng đến việc đẩy mạnh hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

1.2.3.5 Yếu tố về nguồn lực

Trang 35

Nghệ nhân: Là những người giỏi nghề nhờ quá trình tích luỹ kinh nghiệm và rèn luyện tay nghề Nghệ nhân của các làng nghề làm chủ những công nghệ sản xuất tinh xảo, đạt tới mức nghệ thuật cao Nghệ nhân làng nghề truyền thống không chỉ là những người nắm giữ những bí quyết riêng trong việc sáng tạo những sản phẩm độc đáo, tinh tế, nghệ nhân còn là người giữ nghề, bảo đảm cho làng nghề truyền thống tồn tại và phát triển Nhờ có tài năng và những bí quyết riêng rất đặc biệt như vậy nên nhiều nghệ nhân làng nghề truyền thống tạo ra những mặt hàng chất lượng cao và độc đáo mà không nơi nào khác có thể sản xuất được Tuy nhiên, hiện nay các nghệ nhân tại các làng nghề truyền thống tuổi đều cao, nhà nước chưa có chính sách tôn vinh, khuyến khích và tạo điều kiện để các nghệ nhân đào tạo đội ngũ kế cận cho các làng nghề truyền thống Điều này, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Nguồn lực về vốn: Đa phần các cơ sở sản xuất trong làng nghề là qui

mô hộ gia đình và trong hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn nên khả năng tích lũy vốn của các chủ cơ sở là rất thấp, rất khó khăn trong việc đảm bảo nguồn vốn Các làng nghề muốn mở rộng sản xuất, đầu tư trang thiết bị mới, mở rộng thị trường,… đều phải cần có vốn Việc đầu tư vốn phụ thuộc vào quy mô sản xuất, đặc điểm sản xuất của từng sản phẩm Ngày nay, các sản phẩm làng nghề muốn cạnh trạnh trên thị trường đòi hỏi cần phải chuyên môn hóa trong tất cả các hoạt động sản xuất, vì vậy nhu cầu

về vốn rất lớn Vì vậy, để các làng nghề truyền thống tiếp cận được với các nguồn vốn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Nguồn nhân lực: Đa số làng nghề sản xuất sản phẩm mang tính truyền thống do vậy mà lao động trong làng nghề được đào tạo cũng theo lối truyền

Trang 36

truyền nghề, dạy nghề Các làng nghề hiện tại đa phần lao động là những người đứng tuổi đã theo đuổi nghề từ lâu; những lao động trẻ phần lớn có tâm

lý không muốn theo đuổi nghề Ngày nay, việc phát triển sản xuất theo CNH, HĐH, hội nhập, thị trường cạnh tranh đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực cao Các chủ cơ sở sản xuất tại các làng nghề đòi hỏi ngoài kinh nghiệm quản lý còn cần phải nghệ thuật quản lý, tinh thông, phải am hiểu tất cả các kiến thức

về kinh tế, xã hội, lực lương lao động tại các làng nghề phải thể hiện tính chuyên môn hóa cao,… nhằm đáp ứng nhu cầu của tình hình mới Bên cạnh

đó, nguồn lực cán bộ quản lý nhà nước đối với làng nghề đa phần là kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

Thị trường tiêu thụ: Phần lớn sản xuất tại các làng nghề còn mang nặng tính chất tự cung, tự cấp do sự hạn chế về khả năng tiếp cận thông tin với thị trường bên ngoài; đây là một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng cung cầu trên thị trường đối với các sản phẩm làng nghề; cản trợ các hoạt động tiếp nhận, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các công nghệ mới trong hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề truyền thống Nếu không nắm bắt kịp thời các thông tin về thị trường, về thị hiếu của người tiêu dùng,

về bản sắc dân tộc và văn hóa đặc trưng riêng của thị trường các vùng miền, các nước,… thì các làng nghề khó mà chủ động trong sản xuất, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ của các sản phẩm làng nghề truyền thống Vì vậy, việc tìm tìm kiếm, tạo lập thị trường là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hoạt động quản lý nhà nước đối với làng nghề truyền thống

1.2.3.6 Yếu tố hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế vừa tạo cơ hội mới vừa đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự tồn tại và phát triển của làng nghề truyền thống

Trang 37

- Những cơ hội mới chủ yếu cho làng nghề truyền thống của Việt Nam

do hội nhập quốc tế tạo ra bao gồm:

Mở rộng thị trường xuất khẩu cho các làng nghề truyền thống, tạo ra cơ hội lớn trong giao lưu kinh tế văn hoá giữa các làng nghề truyền thống của các địa phương với các nước trên thế giới

Giúp làng nghề truyền thống khắc phục hạn chế về không gian, thời gian

và những khó khăn trở ngại khác trong tiếp cận thị trường thế giới, là cơ hội để làng nghề truyền thống tìm kiếm cơ hội kinh doanh và mở rộng kinh doanh

Hội nhập quốc tế là cơ hội để làng nghề truyền thống có thể thu hút vốn, công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm kinh doanh, phát triển nhân lực thông qua các hoạt động thương mại, đầu tư, dịch vụ trong quá trình hội nhập,…

- Những thách thức chính đối với các làng nghề truyền thống trong hội nhập quốc tế, gồm:

+ Thị trường thế giới luôn biến động khó lường, không ổn định, hậu quả của khủng hoảng tài chính khu vực và toàn cầu có tác động làm giảm sức mua nói chung của thị trường, gây tác động tiêu cực rất lớn tới các chủ thể sản xuất kinh doanh các sản phẩm mang đậm nét văn hóa như các mặt hàng của làng nghề truyền thống

+ Hội nhập là cơ hội để tăng lượng khách du lịch đến Việt Nam là thị trường tiềm năng của các sản phẩm làng nghề truyền thống, vì đa phần các khách du lịch đều muốn mua những sản phẩm có tính đặc trưng, đậm nét văn hóa bản địa nhưng các cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa biết cách quảng bá, phổ biến và giới thiệu sản phẩm

Vì vậy, quá trình hội nhập đòi hỏi cán bộ quản lý nhà nước về làng nghề và các doanh nghiệp phải năng động, chuyên nghiệp, nhạy bắn và nguồn

Trang 38

phần lớn các làng nghề truyền thống kế hoạch sản xuất không ổn định, mô hình tổ chức sản xuất chủ yếu ở các làng nghề là hộ gia đình, nhưng các hộ gia đình lại không có đủ năng lực, kỷ năng, kinh nghiệm cũng như độ nhạy bắn trong việc tìm kiếm và phát triển thị trường

1.3 Kinh nghiệm quản lý và phát triển làng nghề truyền thống của một

số tỉnh và bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Nam

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý và phát triển làng nghề truyền thống của một số tỉnh

1.3.1.1 Kinh nghiệm của thành phố Huế

Vùng đất Thừa Thiên Huế qua thống kê có hơn 200 làng nghề thủ công truyền thống Hiện tại, số nghề và làng nghề truyền thống ở Thừa Thiên Huế đang hoạt động là 88 làng nghề, trong đó có 69 làng nghề truyền thống Những nghề tiêu biểu như: mộc gia dụng, mộc mỹ nghệ, đúc đồng, mây tre đan, thêu, dệt thổ cẩm, nón lá, may áo dài, sản xuất vật liệu xây dựng, bún bánh, chế biến nông sản thực phẩm truyền thống cùng nhiều khác đã được khôi phục tại các địa phương Bên cạnh đó, có một số nghề mới được du nhập như đan sợi nhựa, sợi mây xuất khẩu, thêu hàng, mây tre xiên, thêu móc, compsit mỹ nghệ, chiến biến cau khô xuất khẩu,…

Một số nghề và làng nghề truyền thống phát triển mạnh vừa cung cấp sản phẩm cho đời sống xã hội, vừa đang thu hút các khách du lịch đến du lịch, góp phần tạo nên những giá trị văn hóa mang bản sắc dân tộc và đặc trưng của vùng đất cố đô Một số làng nghề cũng mạnh dạn đầu tư, tăng năng lực sản xuất, chú ý đến thương hiệu và chất lượng sản phẩm, một số cơ sở sản xuất trong làng nghề truyền thống đã di dời vào cụm làng nghề tập trung để thuận lợi cho việc liên kết, hợp tác, tăng năng lực cạnh tranh trong xu thế hội nhập Ngoài ra, thông qua chương trình khuyến công, nhiều nghề và làng nghề truyền thống ở Huế gắn với du lịch được đầu tư khôi phục, phát triển

Trang 39

như: Nghề may áo dài truyền thống Huế, nghề làm nón lá, kẹo mè xửng,…Địa phương rất quan tâm đến chính sách phát triển vùng nguyên liệu cho các sản phẩm làng nghề truyền thống

Sự phát triển nghề và làng nghề truyền thống ở Huế góp phần tăng thu nhập cho dân cư nông thôn, ổn định cuộc sống; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới; góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của tỉnh Nâng cao đời sống người dân ở vùng có làng nghề truyền thống lên từ 3-5 lần Các loại hình dịch vụ cùng hoạt động du lịch đã đóng góp 48% -49% GDP địa phương, đồng thời góp phần thu hút lượng khách đến Thừa Thiên Huế hàng năm từ 2,5 -3 triệu lượt, trong đó gần 1 triệu là khách nước ngoài [22]

1.3.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Hà Giang

Việc phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống tỉnh Hà Giang được các cấp, ngành quan tâm chỉ đạo, nhân dân hưởng ứng tham gia nên từ năm

2011 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã phát triển được 33 làng nghề, làng nghề truyền thống (có 29 làng nghề và 4 làng nghề truyền thống)

Các làng nghề, làng nghề truyền thống sau khi được tỉnh công nhận đã nhanh chóng ổn định về tổ chức, bầu các chức danh tổ trưởng, tổ phó để quản

lý, chỉ đạo, điều hành công việc; phân công, giao nhiệm vụ cho từng bộ phận theo điều kiện sản xuất, kinh doanh và đặc thù hoạt động của từng ngành nghề; căn cứ vào chỉ tiêu, kế hoạch của huyện, của cấp ủy, chính quyền xã về tình hình phát triển phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, tiềm năng, lợi thế của làng nghề, hàng năm đều có xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh và được thông qua tập thể bàn bạc, thống nhất phương án trước khi tổ chức triển khai thực hiện Đồng thời, địa phương luôn tìm kiếm và tranh thủ các nguồn

hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ để phát triển làng nghề truyền thống

Trang 40

Đến nay, các làng nghề đã sản xuất được trên 40 loại sản phẩm khác nhau Các sản phẩm làng nghề đã có nhãn hiệu, nhãn hiệu tập thể, thương hiệu hàng hóa được người tiêu dùng tin tưởng, sử dụng

Các làng nghề thực hiện tốt công tác tổ chức sản xuất, công tác xúc tiến thương mại và biết khai thác tiềm năng, lợi thế, chủ động, linh hoạt nắm bắt thị trường, nhu cầu sử dụng của người dân, đảm bảo chất lượng do vậy sản phẩm luôn được khách hàng tin tưởng đã chinh phục được khách hàng

Từ việc chỉ đạo của Tỉnh, của các cấp, các ngành, sự tham gia nhiệt tình

có trách nhiệm của người dân, trong thời gian qua các làng nghề đã thu hút được nhiều hộ gia đình, người lao động tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh Các làng nghề, làng nghề truyền thống không ngừng phát triển cả

về số lượng, chất lượng và quy mô hoạt động, sản phẩm từng bước được sản xuất theo hướng hàng hóa, công tác xúc tiến thương mại được quan tâm, một

số sản phẩm đã có nhãn hiệu hàng hóa Phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn; giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập, góp phần xây dựng nông thôn mới của tỉnh [19]

1.3.1.3 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình

Hàng trăm làng nghề truyền thống ở Thái Bình tồn tại lâu đời không chỉ là nguồn kinh tế chính của người dân nơi đây, mà còn góp phần tạo nên bản sắc văn hóa cho mỗi vùng quê Ðể bảo tồn và phát triển làng nghề, tỉnh

ủy Thái Bình đã ra Nghị quyết về bảo tồn và phát triển làng nghề Từ 53 làng nghề hoạt động cầm chừng, nay Thái Bình đã có 290 làng nghề, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động mỗi năm Mặc dù được mệnh danh là một trong những "đất nghề"của cả nước, nhưng các làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Thái Bình một thời gian dài rơi vào khủng hoảng, trì trệ

vì mất thị trường xuất khẩu truyền thống ở các nước Ðông Âu Từ 82 làng

Ngày đăng: 07/03/2018, 22:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2006), Thông tư 116/2006/TT- BNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 116/2006/TT- BNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
5. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, Nxb , Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh lần thứ XXI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Quảng Nam
Nhà XB: Nxb
Năm: 2015
8. Vũ Ngọc Hoàng (2016), Làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định trong hội nhập Quốc tế, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề truyền thống tỉnh Nam Định trong hội nhập Quốc tế
Tác giả: Vũ Ngọc Hoàng
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2016
12. Nguyễn Thị Kim Ngân (2015), Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội, Luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Ngân
Năm: 2015
14. Sở Công thương tỉnh Quảng Nam (2016), Báo cáo tình hình hỗ trợ sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề năm 2015, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình hỗ trợ sản xuất tiểu thủ công nghiệp làng nghề năm 2015
Tác giả: Sở Công thương tỉnh Quảng Nam
Nhà XB: Quảng Nam
Năm: 2016
16. Nguyễn Thanh Tài (2012), Phát huy vai trò của làng nghề trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Nam, Đề tài khoa học cấp tỉnh, Liên minh HTX tỉnh Quảng Nam chủ trì, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò của làng nghề trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Tài
Nhà XB: Liên minh HTX tỉnh Quảng Nam
Năm: 2012
20. Tỉnh ủy Quảng Nam (2016), Nghị quyết số 17/2016/NQ-HĐND ngày 19/7/2016 của HĐND tỉnh về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030, Quảng Nam.21. Từ điển Tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 17/2016/NQ-HĐND ngày 19/7/2016 của HĐND tỉnh về Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, tầm nhìn 2030
Tác giả: Tỉnh ủy Quảng Nam
Nhà XB: Quảng Nam
Năm: 2016
23. UBND tỉnh Quảng Nam (2016), Kết quả 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015;mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện giai đoạn 2016 - 2020 tỉnh Quảng Nam, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả 5 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015;mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện giai đoạn 2016 - 2020 tỉnh Quảng Nam
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Nam
Nhà XB: Quảng Nam
Năm: 2016
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UBND tỉnh Nam Định (2012), Hội thảo phát triển làng nghề gắn với du lịch, Nam Định Khác
3. Cục thống kê tỉnh Quảng Nam (2015), Niên giám thống kê 2015, Nxb Thống kê, Quảng Nam Khác
4. Ngô Thành Can, Nguyễn Thị Ngọc Lan (2016), Tổ chức hành chính nhà nước lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội Khác
6. Nguyễn Hữu Hải (2014), Quản lý học đại cương, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Khác
7. Nguyễn Hữu Hải (2016), Chính sách công, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Khác
9. Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa (2015), Mỗi làng nghề truyền thống, một nét đẹp riêng của người xứ Thanh, Công thông tin điện tử Hội Nông dân tỉnh Thanh Hóa, Thanh Hóa Khác
11. Nguyễn Tấn Nhan, Phú Văn Hẳn (2013), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Khác
13. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Nam (2016), Báo cáo kết quả khảo sát thực trạng làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận trên địa bàn tỉnh và đề xuất những giải pháp đẩy mạnh trong thời gian đến, Quảng Nam Khác
15. Sở Công thương tỉnh Quảng Nam (2016), Báo cáo tình hình phát triển Tiểu thủ công nghiệp năm 2016, Quảng Nam Khác
17. Ngô Thành Trung (2014), Quản lý nhà nước đối với các làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ, Hà Nội Khác
18. Trần Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hải (2015), Quản lý công, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
19. Tỉnh Hà Giang (2016), Tình hình phát triển và hiệu quả hoạt động của các làng nghề, làng nghề truyền thống sau khi được công nhận, Công thông tin điện tử tỉnh Hà Giang, Hà Giang Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN