Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ ĐỨC TÍN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ ĐỨC TÍN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐINH THỊ MINH TUYẾT
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết, Học viện Hành chính Quốc gia
Tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Luận văn không sao chép của bất kỳ một công trình nghiên cứu nào
Ngô Đức Tín
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Khoa Sau đại học, các khoa chuyên môn, các thầy giáo, cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp cho tôi những tri thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết, Nguyên Trưởng Khoa Quản lý nhà nước về Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia, người đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Chân thành cảm ơn Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Ngoại vụ, Sở Kế hoạch – Đầu tư, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã hết lòng giúp đỡ, động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có được kết quả ngày hôm nay
Mặc dù rất tâm huyết với đề tài và đã có rất nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định Kính mong quý thầy cô tiếp tục chỉ dẫn, bạn bè, đồng nghiệp góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn
Người thực hiện
Ngô Đức Tín
Trang 5
MỤC LỤC
trang LỜI CAM ĐOAN
LỜI CÁM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢNG
MỞ ĐẦU ……… 1
1 Lý do chọn đề tài luận văn……… 1
2 Tình hình nghiên cứu……… 4
3 Mục đích và nhiệm vụ……… 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 7
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu……… 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn……… 8
7 Kết cấu của luận văn……… 9
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TẠI VIỆT NAM………10
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn……… 10
1.1.1 Tổ chức phi chính phủ……… 10
1.1.2 Tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam … 12 1.1.3 Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 15
1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 19
1.2.1 Đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động theo đúng định hướng và pháp luật……… ……… 19
Trang 61.2.2 Phát huy mặt tích cực và hạn chế tác động chưa tích cực của các
tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam……….19
1.2.3 Hạn chế tác động chưa tích cực của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam……… ………… 211.3 Nội dung quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam……… ………… 23
1.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp qui đối với các
tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ………23
1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 25
1.3.3 Ban hành và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch vận động, sử dụng viện trợ đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam……… 26
1.3.4 Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 29
1.3.5 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lí đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 34
1.3.6 Kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 35
1.3.7 Tổng kết, đánh giá hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ……… 36 1.4 Kinh nghiệm quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại một số tỉnh/thành phố và giá trị tham khảo cho tỉnh Kiên Giang……… 38
1.4.1 Kinh nghiệm quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại một số tỉnh/thành phố ……… 38
Trang 71.4.2 Giá trị tham khảo cho tỉnh Kiên Giang trong quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn ……… 40 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG……… 42 2.1 Khái quát về tỉnh Kiên Giang và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại tỉnh Kiên Giang……… 42
2.1.1 Khái quát về điều kiện phát triển tỉnh Kiên Giang ………… 42 2.1.2 Khái quát về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại tỉnh Kiên Giang……… 47 2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài……… 53
2.2.1 Tổ chức triển khai thực hiện các văn bản pháp qui đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang……… 53
2.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang……… 55
2.2.3 Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch huy động, quản lý viện trợ đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang……… 57
2.2.4 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lí đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang……… 60
2.2.5 Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lí đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và đội ngũ cộng tác viên hoạt động tại tỉnh Kiên Giang……… 64
2.2.6 Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang……… 65
Trang 82.2.7 Tổng kết, đánh giá hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước
ngoài tại Kiên Giang……… 66
2.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang……….67
2.3.1 Những kết quả đạt được ……… 67
2.3.2 Những hạn chế……… …… 70
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế……… 73
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG TẠI TỈNH KIÊN GIANG……… 75
3.1 Dự báo xu hướng phát triển của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại tỉnh Kiên Giang……… 75
3.2 Quan điểm và định hướng đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và Kiên Giang……… 76
3.2.1 Quan điểm của Đảng đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam……… 76
3.2.2 Định hướng của tỉnh Kiên Giang đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn ……… 78
3.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang ……… 79
3.3.1 Rà soát, ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh Kiên Giang……… … 79
3.3.2 Bổ sung và tổ chức thực hiện chính sách huy động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Kiên Giang……… 83
Trang 93.3.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủnước ngoài và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan trung ương
và địa phương……… 86
3.3.4 Đa dạng hình thức và phương pháp bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ cánbộ quản lý tổ chức phi chính phủ nước ngoài và đội ngũ cộng tác viên ……… 90
3.3.5 Tiến hành thường xuyên hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát
và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài ……… 94 KẾT LUẬN ……… 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… … 102
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
IMF : International Monetary Fund
(Quỹ tiền tệ quốc tế) KTXH : Kinh tế - xã hội LHQ : Liên hiệp quốc ODA : Oficial Development Assistance
(Viện trợ phát triển chính thức) PCP : Phi chính phủ
PCPNN : Phi chính phủ nước ngoài TCPCPNN : Tổ chức phi chính phủ nước ngoài QLNN : Quản lý nhà nước
Sở KH-ĐT : Sở Kế hoạch & Đầu tư UBND : Ủy ban nhân dân VHXH : Văn hóa - Xã hội
WB : World Bank (Ngân hàng thế giới) XHCN : Xã hội Chủ nghĩa
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢNG
trang
1 Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài ……… 31
2 Bảng 2.1: Diện tích và dân số tỉnh Kiên Giang năm 2015 43
3 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ phân chia theo khu vực của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2010 -2016 ………… 48
4 Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thống kê lĩnh vực hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Kiên Giang giai đoạn 2010 -2016………52
5 Sơ đồ 2.4: Sơ đồ tổ chức Ban Công tác vận động, điều phối và sử dụng viện trợ nước ngoài và phi chính phủ nước ngoải trên địa bàn tỉnh Kiên Giang……… 63
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, xu hướng phát triển mạnh mẽ của xã hội dân sự và đóng góp của xã hội dân sự vào sự phát triển của xã hội ngày càng lớn và có ý nghĩa Hơn nữa, một hiện tượng có tính quy luật là Nhà nước ngày càng tìm cách và tạo điều kiện chuyển giao cho xã hội tự đảm nhận, tự cân đối nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Vì thế, vai trò của các tổ chức xã hội – dân sự, trong đó có tổ chức phi chính phủ - được gọi bằng khái niệm NGO (Non Governmental Organization) ngày càng được mở rộng và coi trọng trong phạm vi quốc gia và toàn thế giới
Các tổ chức phi chính phủ (PCP) đã trở thành một nhân tố quan trọng hoạt động trên nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển
xã hội Trong thời gian qua, các tổ chức PCP phát triển rất mạnh mẽ, trở thành một hiện tượng có tính toàn cầu đến mức người ta đã nói tới một “cộng đồng PCP” mà quan hệ đối ngoại của các quốc gia cần phải tính đến Trong quá trình phát triển xã hội bên cạnh nỗ lực của các chính phủ và tổ chức quốc
tế, các tổ chức PCP cũng đã góp một phần công sức đáng kể nhằm cải thiện cuộc sống của những người nghèo và những người bị thiệt thòi trong xã hội Vai trò của các tổ chức PCP ngày càng được khẳng định, sự tham gia của họ trên các diễn đàn về kinh tế, xã hội và phát triển ngày một tăng Tiếng nói của các tổ chức PCP đối với các vấn đề thuộc mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế ngày càng được các nước và các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợp quốc (UN), Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) và đặc biệt các tổ chức ngân hàng, tài chính thế giới như: Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) quan tâm Chính phủ nhiều nước ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về vai trò và ảnh hưởng của các tổ chức PCP, tăng cường
Trang 13thông qua các tổ chức PCP triển khai các dự án viện trợ nhằm thực hiện chính sách đối ngoại của mình
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, từng phải chịu hậu quả chiến tranh rất nặng nề, do đó nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội như: chất độc
da cam/dioxin, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, y tế, giáo dục là rất lớn Chúng
ta rất cần sự giúp đỡ của các bạn bè quốc tế Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) là một lực lượng có vai trò quan trọng để ta giải quyết các nhu cầu đó Mức độ tham gia của các tổ chức này vào công cuộc phát triển kinh tế
- xã hội của Việt Nam ngày càng trở nên sâu rộng, điều này không chỉ thể hiện qua số lượng các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam và giá trị nguồn viện trợ ngày càng tăng; lĩnh vực và địa bàn hoạt động ngày càng mở rộng mà còn thể hiện qua mối quan hệ ngày càng gắn kết giữa chính phủ, chính quyền các cấp của Việt Nam với các tổ chức PCPNN
Tuy nhiên, hoạt động của các tổ chức PCPNN mang tính nhạy cảm, dễ
bị lợi dụng Thực tế các cuộc “Cách mạng màu” xảy ra ở một số nước trên thế giới đều có sự góp mặt của các tổ chức PCPNN Hiện nay, các vấn đề về dân chủ, nhân quyền và tôn giáo là những quân bài mà các nước phương Tây và
Mỹ chú trọng trong chính sách đối ngoại của họ với Việt Nam Với sự hậu thuẫn về tài chính của chính phủ trong các hoạt động, các tổ chức phi chính phủ có thể bị lợi dụng hoặc trở thành bình phong trong các vấn đề nêu trên cho các nước có chính sách thù địch với Việt Nam Vì vậy, việc quản lý các
tổ chức PCPNN để vừa tranh thủ được nguồn viện trợ có hiệu quả vừa đảm bảo các tổ chức PCPNN không bị lợi dụng vì các mục đích khác đòi hỏi chúng ta phải rất quan tâm chú trọng
Kiên Giang một tỉnh có sớm có nhiều hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Hiện nay, tại tỉnh Kiên Giang có gần 40 tổ chức PCPNN được cấp giấy phép hoạt động
Trang 14trong đó trong đó có những tổ chức quốc tế như: CARE International, Habitat For Humanity International, ICF, World Wild Fund, Action Aids, Hifer International Số lượng thực tế các tổ chức có dự án và hoạt động hiệu quả chỉ chiếm khoảng 70% Hoạt động của các tổ chức PCPNN tại tỉnh Kiên Giang
đa dạng trên nhiều lĩnh vực và ngày càng có nhiều tổ chức mới đến triển khai hoạt động tại tỉnh Tuy nhiên về mặt lý luận cũng như thực tiễn còn tồn tại nhiều vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện như: thể chế quản lý nhà nước chưa đầy đủ, chưa thống nhất, đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn công tác quản
lý nhà nước về tổ chức PCPNN tại tỉnh; tổ chức bộ máy quản lý các tổ chức PCPNN chưa được kiện toàn; nhân sự chưa đảm bảo tính chuyên môn nghiệp vụ; cơ chế quản lý chưa thống nhất từ trung ương đến địa phương; công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế; chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan QLNN
về đối với các tổ chức PCPNN còn chồng chéo, việc phối hợp quản lý còn lỏng lẻo
Qua tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về hiệu quả, vai trò, lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN Hiện tại, chưa có tài liệu nghiên cứu chính thức nào nghiên cứu về thực trạng hoạt động và công tác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Chính vì vậy, việc cần phải nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động này, kết hợp với việc đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động các tổ chức phi chính phủ tại Kiên Giang hiện nay và từ đó
đề ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Kiên Giang là rất cần thiết và mang tính thời sự
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, Học viên chọn đề tài:
“Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý
Trang 15công, nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ đang hoạt động tại tỉnh Kiên Giang và từ đó
đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Nhằm tìm hiểu vai trò, tính chất, loại hình hoạt động, lĩnh vực hoạt động, công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN, Học viên đã nghiên cứu một số tài liệu nghiên cứu về các tổ chức PCPNN, các công trình nghiên cứu về các tổ chức PCPNN được tổng hợp như sau:
Đề tài “Nâng cao hiệu quả Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các
tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam” do học viên Nguyễn Thị Thanh Loan thuộc Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia, khóa học 1999-2002, thực hiện với sự hướng dẫn của TS Thang Văn Phúc
Đề tài “Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
trên địa bàn thành phố Hà Nội” do học viên Cấn Việt Anh thuộc Học viện Hành chính – Chính trị Quốc gia, khóa học 2005-2008 thực hiện
Tổ chức phi chính phủ nước ngoài với hoạt động vì giảm nghèo ở Việt
Nam (1996-2008), tác giả ThS Chử Thu Hà, khoa Văn hóa Dân tộc, Đại học
Văn hóa Hà Nội với nội dung đánh giá hoạt động các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam cho công việc giảm nghèo và phát triển bền vững trong các mảng hoạt động lớn như nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, phát triển cộng đồng cho đến những hoạt động có quy mô nhỏ như viện trợ trực tiếp tiền và nhu yếu phẩm cũng đều nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo
Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, tác giả
Đôn Tuấn Phong, Ban điều phối viện trợ nhân dân nêu thực trạng và đánh giá hoạt động viện trợ của các tổ chức phi chính phủ từ năm 1994-2007 về các mặt hoạt động từ đó tìm ra xu hướng hoạt động cho các năm tiếp theo
Trang 16Sự hợp tác của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế, tác giả Phạm Bình Minh, tạp chí thông tin đối ngoại số 2/2010 với nội dung: Nhằm thực hiện đường lối đối ngoại độc lập dân chủ, chính sách đối ngoại mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, kết hợp công tác đối ngoại chặt chẽ của Đảng, ngoại giao của nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong những năm qua Việt Nam đã ngày càng mở rộng quan hệ với các tổ chức PCPNN Mối quan hệ này đã góp phần giải quyết một số vấn đề KT-XH, nhất là thực hiện xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa còn đang gặp khó khăn
Báo cáo tổ chức phi chính phủ quốc tế quan hệ đối tác và sự phát triển 12/2009 (Trung tâm dữ liệu Tổ chức phi chính phủ) với nội dung miêu tả tổng quan về hoạt động đã được các nhóm làm việc tại Trung tâm dữ liệu các Tổ chức phi chính phủ thực hiện năm 2009
Báo cáo về công tác quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài do Sở Ngoại vụ tỉnh Kiên Giang thực hiện từ năm 2011 đến năm
2015
Báo cáo 10 năm công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài
do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang thực hiện năm 2015 (từ năm 2005 đến năm 2015)
Báo cáo đánh giá công tác vận động, quản lý và sử dụng viện trợ phi
chính phủ nước ngoài giai đoạn 2010-2015 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh
Kiên Giang thực hiện năm 2015
Kiên Giang xã hội hóa các nguồn lực viện trợ vì sự nghiệp phát triển
dân sinh, Báo Kiên Giang ngày 15/4/2011 Liên hiệp các tổ chức hữu nghị
(LHCTCHN) tỉnh Kiên Giang được thành lập cách đây 7 năm, đã vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài và giải ngân đạt 736 tỷ đồng, giá trị giải ngân theo từng năm tăng liên tục từ 50 đến 75% Nguồn viện trợ đã góp phần
Trang 17phát triển KT-XH của tỉnh thông qua các dự án giảm nghèo và phát triển bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Trong đó, phần lớn nguồn viện trợ được dành hỗ trợ trực tiếp cho người dân và đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi xã hội vùng nông thôn như: Xây mới 250 phòng học,
200 cây cầu bê-tông, gần 200 km đường giao thông nông thôn, xây mới và
sửa chữa hơn 5.000 căn nhà cho hộ nghèo; hỗ trợ dạy nghề, tạo việc
Theo Học viên tìm hiểu và được biết hiện tại chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đánh giá hoạt động quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và thực tiễn tại Kiên Giang, Học viên mong muốn được nghiên cứu một cách đầy đủ hơn về công tác QLNN đối với các tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nhằm đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN đối với các tổ chức này
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trang 184.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là nội dung QLNN đối với tổ chức PCPNN được cấp phép hoặc có dự án đã được phê duyệt thực hiện trên địa bàn cấp tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nội dung QLNN đối với
các tổ chức PCPNN hoạt động trong những lĩnh vực được pháp luật Việt Nam cho phép, cụ thể là lĩnh vực viện trợ nhân đạo, từ thiện và phát triển chứ không nghiên cứu các tổ chức PCPNN hoạt động trên các lĩnh vực khác như tôn giáo, nhân quyền
- Về không gian: Các tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn lãnh thổ Việt Nam
- Về thời gian: Đề tài giới hạn thời gian nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016, đồng thời đề xuất giải pháp cho thời gian tới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đối ngoại nhân dân và tổ chức PCPNN
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cơ bản được áp dụng trong quá trình nghiên cứu luận văn này là:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các vấn đề lý luận, các luận điểm, luận cứ có liên quan đến đề tài luận văn
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Các số liệu về thực trạng hoạt động của tổ chức PCPNN và quản lý nhà nước đối với tổ chức PCPNN hoạt
Trang 19động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Nghiên cứu kinh nghiệm của một số địa phương
- Phương pháp xử lý thông tin và xử lý số liệu: Thu thập số liệu, xử lý
số liệu để đưa ra những nhận định khách quan về lý luận và thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp một cách khái quát có hệ thống về QLNN đối với tổ
chức PCPNN, đưa ra cái nhìn tổng thể, khách quan, đa chiều về tổ chức PCPNN và QLNN đối với tổ chức PCPNN
Luận văn còn giúp cho ta hiểu rõ cách thức quản lý nhà nước của cơ quan liên quan đối với các hoạt động này đối với các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá thực trạng QLNN đối với tổ chức PCPNN hoạt động trên tại tỉnh Kiên Giang hiện nay trên cơ sở đó làm rõ những vấn đề chưa đáp ứng nhu cầu thực tiễn
Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao thực tiễn công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN tại tỉnh Kiên Giang
Những đóng góp này góp phần làm tăng năng lực cũng như hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN tại tỉnh Kiên Giang, qua đó góp phần xây dựng một nền ngoại giao nhân dân vững mạnh, hiệu quả, thân thiện
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ tham gia trong lĩnh vực QLNN đối với tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và cho việc học tập hoặc nghiên cứu trên lĩnh vực có liên quan
Trang 207 Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, danh mục các chữ viết tắt, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI
HOẠT ĐỘNG TẠI VIỆT NAM
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn
1.1.1 Tổ chức phi chính phủ
Thuật ngữ “tổ chức phi chính phủ”, theo tiếng Anh thường gọi là Non Governmental Organization (viết tắt là NGO), theo tiếng Pháp là Organisation Non Gouvernementale (viết tắt là ONG) chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Châu Âu vào đầu thế kỷ XX Cụm từ này sau đó đã được sử dụng phổ biến hơn từ khi tổ chức Liên hiệp quốc được thành lập vào năm 1945
Có khá nhiều khái niệm khác nhau về tổ chức phi chính phủ Một số nước coi tất cả các tổ chức không thuộc về Chính phủ là tổ chức PCP; trong khi đó ở một số nước khác các tổ chức PCP là những chủ thể có tư cách pháp nhân, các tổ chức không thuộc Chính phủ như: Các Viện, các tổ chức tư nhân, công cộng hoặc các Quỹ Dưới đây là một số định nghĩa về tổ chức PCP được quan tâm và sử dụng trong thực tiễn nhiều nhất:
- Theo tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) các tổ chức PCP được xác định là những nhóm tổ chức tư nhân theo đuổi các hoạt động để giảm bớt đau khổ, thúc đẩy các lợi ích của người nghèo, bảo vệ môi trường, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản hay đảm nhiệm việc phát triển cộng đồng Với cách
sử dụng rộng rãi hơn thì thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ” có thể áp dụng cho các tổ chức phi lợi nhuận mà hoạt động của chúng hoàn toàn hoặc phần lớn độc lập với Chính phủ Giá trị của các tổ chức PCP chủ yếu thể hiện qua hoạt động viện trợ từ thiện và các dịch vụ tình nguyện Cho dù trong hai thập
kỷ trở lại đây hoạt động PCP ngày càng trở nên chuyên nghiệp hơn nhưng các
Trang 22nguyên tắc lòng vị tha và tự nguyện vẫn là đặc điểm chủ yếu của tổ chức phi chính phủ
- Còn theo định nghĩa đưa ra trong Hiến chương của Liên hiệp quốc, là cách định nghĩa được nhiều quốc gia áp dụng hơn cả, thì “Tổ chức phi chính phủ là thuật ngữ dùng để chỉ một Tổ chức, Hiệp hội, Quỹ Văn hóa Xã hội, Quỹ hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không thuộc khu vực Nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận Nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có, không thể phân chia theo kiểu chia lợi nhuận Tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận, hay nhà thờ hoặc chùa”
Tóm lại, có thể thấy tổ chức phi chính phủ theo hiểu một cách chung nhất là các tổ chức Hội, Quỹ VHXH, Hội từ thiện, các tổ chức phi vụ lợi, phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác theo luật pháp không thuộc khu vực nhà nước tham gia vào các hoạt động hỗ trợ phát triển và hoạt động không vì lợi nhuận Nghĩa là, mọi khoản lợi nhuận nếu có thì không được và không thể phân phối theo kiểu chia lợi nhuận
Tuy nhiên, không phải tất cả các nước trên thế giới đều hoàn toàn thống nhất với nhau về mặt định nghĩa pháp lý cũng như trong cách gọi về tổ chức phi chính phủ Tùy theo đặc thù và tính chất cần nhấn mạnh mà ở các nước khác nhau lại sử dụng những thuật ngữ khác nhau để chỉ các tổ chức phi chính phủ Chẳng hạn ở Pháp, đó là Tổ chức kinh tế - xã hội (Économie Sociale); ở
Mỹ thì gọi là Tổ chức phi lợi nhuận hay Tổ chức tự nguyện cá thể (Private Voluntary Organizations); Đối với Anh, đó là Hội từ thiện công (Public Charities); Đối với Đức, chỉ đơn giản gọi là Hiệp hội (Verbände); trong khi
đó Trung tâm nghiên cứu toàn cầu thúc đẩy sự tham gia của công dân (The Center for Study of Global Governance) lại thường sử dụng thuật ngữ Tổ chức xã hội dân sự (Civil Society Organization)
Trang 231.1.2 Tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đang trên con đường đổi mới, việc phát huy, tận dụng các nguồn lực để phát triển là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Trong đó nguồn lực phát huy sức mạnh toàn dân, thực hiện xã hội hóa, tận dụng sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè, các tổ chức trên thế giới là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện các chủ trương và chính sách đối ngoại rộng mở, nhà nước đã thu hút ngày càng nhiều tổ chức PCPNN đến Việt Nam Hầu hết các tỉnh, thành phố, đặc biệt là các tỉnh miền núi, các tỉnh phía Nam, các vùng dân tộc ít người đếu có các dự án của các tổ chức PCPNN như: chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, chương trình nước sạch nông thôn, vốn tín dụng quay vòng cho phụ nữ nghèo, xây dựng trường tiểu học, trường mẫu giáo, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng năng lực, cảnh báo
và ứng phó thiên tai Mặc dù kết quả của những trợ giúp này còn khiêm tốn, nhưng nó đã góp một phần với Chính phủ và nhân dân ta trong cuộc đấu tranh với nghèo đói, bệnh tật và cũng giúp chúng ta có nhận thức đúng hơn về các
tổ chức phi chính phủ
Thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ” mới du nhập vào Việt Nam, lần đầu tiên được dùng trong Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, song cho đến nay chưa có khái niệm chính thống về “Tổ chức phi chính phủ” Tuy nhiên, trong các cuộc hội thảo khoa học, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đưa ra khái niệm theo những góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng có nhiều ý kiến tập trung vào nội dung sau:
Tổ chức phi chính phủ là một tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với Chính phủ, hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp
Trang 24luật dưới sự quản lý của nhà nước
Hiện nay, tại Việt Nam có ba loại hình tổ chức PCPNN đang hoạt động
đó là:
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc gia là tổ chức mà các thành viên đều mang một quốc tịch Các tổ chức này xuất hiện trên thế giới rất sớm Phạm vi hoạt động chủ yếu phục vụ cho từng cộng đồng, hoạt động trong phạm vi một nước Tại Việt Nam các tổ chức dạng này chiếm số lượng đa số tuyệt đối Ví dụ như: tổ chức USAID, JICA, Oxfam Anh Quốc
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất quốc tế là tổ chức mà các thành viên của nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập Về số lượng, các tổ chức dạng này ít hơn nhiều so với các tổ chức PCP quốc gia, tuy nhiên, phạm
vi hoạt động của họ rộng khắp trên thế giới và họ phải tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác Tính chất hoạt động của các tổ chức dạng này thường rất chuyên nghiệp, có trụ sở làm việc, biên chế bộ máy, đội ngũ nhân viên đông đảo và làm việc rất chuyên nghiệp Ví dụ: tổ chức Handicap Quốc tế, OXFAM quốc tế, Plan International, Save the Children, World Vision, World Wild Fun
- Các tổ chức PCPNN mang tính chất chính phủ là các tổ chức do Chính phủ lập ra hoặc một tổ chức phi chính phủ nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách của chính phủ Ví dụ như: Viện Giáo dục Quốc tế (IIE), Cơ quan phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA), Cơ quan phát triển quốc tế Hàn Quốc (KOICA)
Tại Việt Nam, các tổ chức PCPNN ngày càng nhận được sự quan tâm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam Hoạt động của các tổ chức PCPNN đã đóng góp một phần không nhỏ cho quá trình phát triển KT-XH của Việt Nam
Cụ thể như sau:
Một là, tạo ra nguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội
Trang 25Muốn phát triển xã hội cần phải tìm mọi cách thức để huy động được mọi nguồn lực trong xã hội Đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh tế chưa phát triển, nhà nước chưa có đủ điều kiện về mọi mặt, nhất là về tài chính thì vai trò của các tổ chức PCPNN sẽ càng trở nên quan trọng Giá trị nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tuy không lớn nếu so với các nguồn khác, nhưng cũng đã phần nào hỗ trợ Việt Nam giải quyết một số vấn đề khó khăn như: Chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng cường kiến thức, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thu nhập của người dân Nhiều dự án viện trợ của các tổ chức PCPNN không chỉ giúp giải quyết các vấn đề khó khăn chung mà còn góp phần quan trọng vào quá trình phát triển bền vững của địa phương Ngoài ra,
do hình thức viện trợ của các tổ chức PCPNN thường là đưa trực tiếp đến đối tượng thụ hưởng nên đã thực sự giúp được đối tượng cần sự hỗ trợ là những người nghèo, thiệt thòi trong xã hội
Hai là, giúp nâng cao nhận thức, năng lực cho người dân và các thành viên
Bên cạnh những đóng góp về vật chất và hiện vật, các tổ chức PCPNN cùng các tình nguyện viên của mình còn có các hỗ trợ khác như hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm Từ việc tham gia quản lý và thực hiện các dự án, các đối tác Việt Nam đã không chỉ tranh thủ được nguồn vốn,
kỹ thuật mà còn học hỏi được kinh nghiệm tổ chức, điều hành hoạt động và quản lý của các tổ chức PCPNN, nâng cao kỹ năng chuyên môn, trình độ hiểu biết và phương pháp làm việc của mình
Các tổ chức PCPNN còn có vai trò tích cực trong việc phát huy tính năng động, tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý của người dân Có thể nói, việc tham gia các dự án và hoạt động của các tổ chức PCPNN là một môi trường xã hội rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho người dân
Ba là, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
Trang 26Các tổ chức PCPNN qua các hoạt động của mình cũng đã tạo điều kiện để người dân phản ánh được những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của mình, qua đó giúp nhà nước có những chủ trương, chính sách và biện pháp quản lý đúng và phù hợp với thực tiễn xã hội
Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức PCPNN đã có hỗ trợ tích cực trong việc hoạch định các chính sách và hoàn thiện các văn bản quản lý nhà nước của Việt Nam trên lĩnh vực đó Nhất là các chương trình dự án liên quan đến vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em
Bốn là, mở rộng quan hệ hợp tác và tham gia hội nhập khu vực và thế giới
Các tổ chức PCPNN do đặc điểm, tính chất và mục tiêu hoạt động đã tạo ra sự hợp tác đa phương và song phương giúp các nước có điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Ngày nay, nhiều Hội nghị quan trọng của Liên hiệp quốc, Hội nghị khu vực hoặc liên khu vực hay các diễn đàn quốc tế khi được tổ chức thì đều có các diễn đàn song hành của các
tổ chức phi chính phủ Trong quá trình xây dựng chính sách, chính phủ các nước phát triển đã hình thành cơ chế tham vấn và lấy ý kiến đóng góp của các
tổ chức phi chính phủ Do đó, nếu biết cách tranh thủ tốt thì thông qua các hoạt động của mình, các tổ chức PCPNN sẽ góp phần tăng cường hiểu biết và
mở rộng quan hệ hữu nghị của nhân dân các nước với Việt Nam, đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, áp đặt chống Việt Nam Đồng thời, giúp chúng ta tuyên truyền một cách hiệu quả, làm cho nước ngoài hiểu đúng hơn
và khuyến khích, mời gọi thêm nhiều tổ chức PCPNN khác có các chương trình dự án hỗ trợ Việt Nam phát triển KT-XH
1.1.3 Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Khái niệm
Trang 27Quản lý nhà nước là sự tác động có chủ đích của nhà nước vào các quan hệ xã hội nhằm làm cho các quan hệ đó diễn ra theo chiều hướng tốt nhất cho sự phát triển đất nước và mỗi con người Nói cách khác QLNN là việc thực thi quyền lực nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ xã hội nhằm làm cho quốc gia phát triển ổn định và bền vững
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và chứa đựng trong nó nhiều kỹ năng thuộc về quản lý Có thể thấy QLNN là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước
Quản lý nhà nước có những đặc điểm chung phản ánh bản chất của QLNN và không phụ thuộc vào chế độ chính trị hay trình độ phát triển của từng quốc gia: đó là hoạt động chấp hành và điều hành với đặc trưng là ra văn bản dưới luật mang tính pháp lý – quyền lực được bảo đảm bằng khả năng áp dụng cưỡng chế và đảm bảo về phương diện tổ chức bộ máy; mang tính tổ chức trực tiếp của nhà nước, tính chính trị, tính dân chủ; là hoạt động chủ động, sáng tạo, có cơ sở vật chất lớn
Ở Việt Nam, QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
Thực hiện QLNN phải tuân thủ những nguyên tắc riêng Những nguyên tắc này không phải là sản phẩm duy ý chí của một tổ chức hay một cá nhân nào mà được hình thành trên cơ sở quy luật khách quan, trên bản chất chế độ chính trị, xã hội, trong thời gian, không gian và hoàn cảnh cụ thể
Trang 28Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là một bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý của nhà nước đối với nền KT-XH của nước ta Cụ thể hơn, đó là một bộ phận của QLNN trên lĩnh vực đối ngoại
Vì vậy, trước hết nó cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động QLNN Bên cạnh đó, quản lý nhà nước đối với tổ chức PCPNN cũng có những đặc điểm riêng của mình
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam bằng quyền lực nhà nước Nói cách khác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là quá trình nhà nước sử dụng các phương thức quản lý để tác động, điều chỉnh các hoạt động của các tổ chức PCPNN diễn ra theo quy định
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN để bảo đảm hoạt động của các tổ chức này theo đúng mục đích nhân đạo từ thiện, phù hợp với luật pháp và yêu cầu phát triển KT-XH của Việt Nam Mặt khác, QLNN còn nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các tổ chức PCPNN trong quá trình hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm cho mối quan hệ giữa các tổ chức này với các bên đối tác Việt Nam được hài hòa
Chủ thể quản lý
Cũng như đối với các lĩnh vực khác, chủ thể của hoạt động quản lý trên lĩnh vực này là nhà nước Nhà nước với hệ thống pháp luật và công cụ cưỡng chế, thay mặt nhân dân thực hiện công việc quản lý Nhà nước với đội ngũ cán bộ có thẩm quyền pháp lý và được sử dụng thẩm quyền ấy trong quá trình quản lý, được trao quyền quản lý, hướng dẫn chỉ đạo khách thể quản lý
Nói một cách cụ thể hơn, chủ thể của hoạt động này ở Trung ương là Chính phủ, Chính phủ thống nhất quản lý và phân công Bộ Ngoại giao là cơ quan đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành liên quan Ở cấp tỉnh, chủ thể quản
Trang 29quan đầu mối, phối hợp với các bộ, ngành liên quan chính là UBND các tỉnh, thành phố và các sở ngành liên quan
Khách thể quản lý
Khách thể của hoạt động quản lý này là mối quan hệ giữa các tổ chức PCPNN với các đối tác Việt Nam và ở một mức độ nào đó là giữa các tổ chức này với nhau Nhưng trước hết, khách thể của quản lý trên lĩnh vực này chính
là tất cả những vấn đề liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam, bao gồm rất nhiều hoạt động cụ thể khác nhau, từ việc xuất nhập cảnh của công dân nước ngoài là nhân viên của tổ chức, tuyển dụng lao động Việt Nam vào làm việc cho các tổ chức PCPNN, cho đến việc xin giấy phép hoạt động, giấy phép mở văn phòng đại diện, văn phòng dự án hay khảo sát thực địa, lập dự án, triển khai dự án, viện trợ tiền, hàng Có thể tổng quát những hoạt động đa dạng này vào thành những nhóm đối tượng chính đặt dưới sự quản lý của nhà nước như sau:
- Nhà nước quản lý sự hiện diện của các tổ chức PCPNN trên lãnh thổ Việt Nam; hướng dẫn đăng ký hoạt động cho các tổ chức này
- Nhà nước quản lý hoạt động viện trợ phát triển các tổ chức PCPNN
- Nhà nước quản lý nguồn viện trợ PCPNN
- Nhà nước quản lý cán bộ, nhân viên hoạt động trong các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
- Nhà nước quản lý thông tin liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
Đối tượng quản lý
Đối tượng của QLNN trên lĩnh vực công tác phi chính phủ là các tổ chức PCPNN hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam Chiếu theo quy định của nhà nước ta, đối tượng này bao gồm: Các tổ chức phi chính phủ, các Quỹ văn hóa
xã hội, Viện nghiên cứu, Trường đại học, Trung tâm giáo dục, Hội đoàn và
Trang 30các Hội hữu nghị được thành lập ở nước ngoài nhưng đang hoạt động tại Việt Nam Đối tượng này có đặc thù riêng vì là tổ chức có tư cách pháp nhân nước ngoài và cá nhân là người nước ngoài mà mục đích hoạt động đặc thù là từ thiện nhân đạo và phát triển cộng đồng
1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
1.2.1 Đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động theo đúng định hướng và pháp luật
Cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa và
đa phương hóa các mối quan hệ, số lượng các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam ngày càng tăng lên Có thể thấy quan hệ với cộng đồng PCPNN đang trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng thể quan hệ đối ngoại của Việt Nam Các tổ chức PCPNN đã và đang góp phần không nhỏ cùng nhà nước khắc phục các tác động tiêu cực của quá trình phát triển Chính vì lẽ đó, cũng như các lĩnh vực khác, nó tất yếu cần có sự QLNN Có thể nói QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là điều hết sức cần thiết, hướng hoạt động của các tổ chức này vào mục tiêu phát triển của đất nước
Mục đích của QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là nhằm hướng dẫn các tổ chức này hoạt động phù hợp với định hướng của Việt Nam, phù hợp với những yêu cầu, nhiệm vụ phát triển KT-XH của công cuộc đổi mới và phù hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam QLNN cũng là để đảm bảo cho các tổ chức PCPNN hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và những chính sách hiện hành của Việt Nam, đồng thời không trái với pháp luật quốc tế
1.2.2 Phát huy mặt tích cực của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Không chỉ nhằm mục đích quản lý, QLNN còn nhằm mục đích tạo điều
Trang 31kiện thuận lợi cho các tổ chức PCPNN hoạt động và phát huy những tác dụng tích cực của mình và qua đó thu hút tối đa mọi nguồn lực đóng góp cho sự phát triển KT-XH của Việt Nam
Là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều năm bị chiến tranh tàn phá, thường xuyên bị thiên tai đe dọa, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Đảng và Nhà nước Việt Nam đã không ngừng nỗ lực đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Trong
sự nghiệp to lớn và nặng nề này, chúng ta luôn cần huy động và tranh thủ sự giúp đỡ quí báu, có hiệu quả của Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế trong đó có cả các tổ chức PCPNN
Quản lý nhà nước còn nhằm mục đích khai thác có hiệu quả nguồn viện trợ của các tổ chức PCPNN Sự hỗ trợ của các tổ chức PCPNN tuy không lớn
so với các nguồn viện trợ khác như viện trợ ODA, song cũng là một nguồn lực quan trọng giúp nhà nước tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn khôi phục, xây dựng kinh tế, xóa đói giảm nghèo Nhìn chung, nguồn viện trợ này có tác dụng thiết thực đối với nhiều ngành, địa phương và cơ sở, là một nguồn bổ sung đáng kể cho ngân sách quốc gia Do đó nó có một ý nghĩa nhất định đối với nền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là khi nguồn viện trợ này được tập trung cho các vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai
Quản lý nhà nước còn nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức PCPNN trong công tác đối ngoại nhân dân Trên thế giới hiện nay các tổ chức PCP ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng Các tổ chức PCP được xem như cầu nối trong quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Chính phủ nhiều nước trong số các quốc gia tài trợ ngày càng quan tâm, sử dụng các
cơ chế tham vấn, lấy ý kiến của các tổ chức PCP trong việc xây dựng, hoạch định chính sách, tăng cường sử dụng tổ chức PCP vào việc triển khai viện trợ
Trang 32cũng như trong thực hiện chính sách đối ngọai của mình Trong bối cảnh ngày càng có nhiều tổ chức PCPNN, trong đó có nhiều tổ chức PCP quốc tế có sức mạnh kinh tế và tầm ảnh hưởng lớn vào hoạt động tại Việt Nam, thì lại càng cần phải có sự QLNN để từ đó tranh thủ, tác động để các tổ chức PCPNN này
sẽ có đóng góp tích cực trong việc làm cho nhân dân thế giới hiểu biết hơn về Việt Nam; ủng hộ Việt Nam nhiều hơn cả về về kinh tế, chính trị lẫn đối ngoại
và chống lại những luận điệu sai lệch bên ngoài về các vấn đề như: Nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo, tín ngưỡng Qua đó, ngày càng nâng cao vị trí của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế
1.2.3 Hạn chế tác động chưa tích cực của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Do những đặc thù riêng, hoạt động của các tổ chức PCPNN cũng rất cần có sự quan tâm đặc biệt và quản lý sâu sát của nhà nước và chính quyền các cấp bởi đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan nhiều đến ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng của quốc gia Nếu không có sự quản lý chặt chẽ sẽ không loại trừ những tác động xấu cũng như không thể phát huy được hiệu quả của hoạt động này
Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức PCPNN nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, bí mật quốc gia; ngăn ngừa rò rỉ thông tin
và ngăn ngừa phòng chống sự xâm nhập của các yếu tố độc hại từ bên ngoài
Quản lý nhà nước còn nhằm ngăn chặn, hạn chế các tác động tiêu cực trong hoạt động của các tổ chức PCPNN Đó là:
- Bên cạnh các hoạt động hỗ trợ phát triển và viện trợ nhân đạo, có một
số tổ chức PCPNN lại chú trọng đến các hoạt động nhằm các mục đích khác như: Tuyên truyền lối sống, tư tưởng phương Tây; tìm cách tác động đến quá trình cải cách hành chính, cải cách thể chế, xây dựng pháp luật, chính sách của Việt Nam; thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các tổ chức phi chính phủ
Trang 33Việt Nam hay các tổ chức xã hội dân sự hoạt động độc lập tách khỏi sự quản
lý của nhà nước Các hoạt động đó đã gây ra ảnh hưởng phức tạp tại địa phương Nhất là ở những nơi thiếu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương hoặc ở những nơi chính quyền chưa đủ mạnh
- Nhiều tổ chức PCPNN đang mất dần tính chất phi chính phủ thực sự của mình Trên đà phát triển ngày càng có nhiều tổ chức PCPNN lệ thuộc về tài chính vào các cơ quan của chính phủ nên các tổ chức này thường bị tác động bởi ý đồ của cơ quan tài trợ Hoạt động của tổ chức PCPNN thường nhằm vào các đối tượng và mục đích nhất định chứ không còn đơn thuần mang tính chất từ thiện như ban đầu Chẳng hạn như có một số tổ chức lợi dụng việc thực hiện các hoạt động dự án của mình để khảo sát lấy thông tin của Việt Nam qua đó có những thông tin sai lệch một chiều bất lợi cho Việt Nam Có thể thấy đây là thủ đoạn quen thuộc mà các nước tư bản đã áp dụng với nhiều nước trên thế giới
- Ngày càng có nhiều tổ chức có gắn bó với các hệ phái tôn giáo lớn, có nguồn gốc tôn giáo hoặc nhận nguồn tài trợ từ các tổ chức tôn giáo đến hoạt động tại Việt Nam Trong quá trình hoạt động nhiều tổ chức trong số này luôn quan tâm và có ý định gây ảnh hưởng về tôn giáo, thậm chí có cả những hành động kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi hay tư tưởng tự do tôn giáo theo kiểu phương Tây
Tóm lại, PCPNN đang là lĩnh vực có những bước tiến nhanh, do đó càng cần có sự quan tâm chú ý và QLNN QLNN sẽ tạo điều kiện thuận lợi hướng dẫn các tổ chức PCPNN đi đúng hướng, phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của họ trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ phát triển KT-XH của nước ta Bên cạnh đó, hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam rất phức tạp và ẩn chứa những yếu tố có thể gây ra tác động tiêu cực đến an ninh, chính trị, văn hóa, tư tưởng Vì vậy, việc
Trang 34QLNN là điều tất yếu và ngày càng trở nên cần thiết đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam hiện nay Thông qua việc quản lý giúp Việt Nam khuyến khích phát huy những ưu điểm và kịp thời ngăn chặn, nhắc nhở những sai phạm của các tổ chức PCPNN
1.3 Nội dung quản lí nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
1.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp qui đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Để thực hiện tốt việc QLNN của mình, nhà nước cần phải sử dụng rất nhiều công cụ quản lý như chính sách, pháp luật, bộ máy, tài sản công Có thể thấy các nội dung đầu tiên của việc QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN chính là xây dựng và ban hành các chính sách, các văn bản pháp luật
về QLNN đối với các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
Xây dựng và ban hành chính sách là một nội dung quan trọng và phức tạp trong QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN Các chính sách QLNN đối với các tổ chức PCPNN chính là tổng thể các giải pháp công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các tổ chức này để thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng của nhà nước
Để đảm bảo sự quản lý ở tầm vĩ mô, nhà nước cần phải xây dựng các chính sách, chiến lược lâu dài và quy hoạch tổng thể cho công tác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN; định hướng và xác định triển vọng hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức PCPNN trong tương lai Yêu cầu đề ra khi xây dựng các chính sách QLNN trên lĩnh vực này là phải tạo ra được một hệ thống các chính sách đồng bộ với nhau và thống nhất chung với chính sách QLNN trên các lĩnh vực khác, như vậy mới có thể tạo ra được một sự phát triển đồng bộ Nhiệm vụ của nhà nước là xây dựng được hệ thống chính sách, quy định, phù hợp với tình hình thực tế và với nhiệm vụ cụ thể của từng thời
Trang 35kỳ nhất định Bằng việc xây dựng và ban hành các chính sách, nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, động viên, tạo điều kiện thuận lợi giúp các tổ chức PCPNN hoạt động trên cơ sở đảm bảo quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước đối với công tác đối ngoại nói chung và PCPNN nói riêng
Bên cạnh đó, QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN còn phải dựa trên cơ sở pháp luật Pháp luật chính là yếu tố phân biệt QLNN với những dạng quản lý khác Điều đó có nghĩa tất cả các tổ chức PCPNN, không phân biệt hình thức tổ chức, quy mô, lĩnh vực hoạt động hay quốc gia gốc đều phải tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật của Việt Nam
Cụ thể nội dung này là xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật có liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam để làm cơ sở cho công tác QLNN; sử dụng pháp luật điều chỉnh có tính cưỡng chế trong QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN
Đối với phía Việt Nam, sử dụng pháp luật nhằm tranh thủ tận dụng những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của các tổ chức PCPNN đối với sự phát triển KT-XH Đối với phía các tổ chức PCPNN, pháp luật tạo lập cho họ một môi trường hoạt động chính thức và cho thấy quyền lợi của họ cũng được nhà nước Việt Nam bảo đảm
Pháp luật QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN không chỉ gồm các quy định về quan hệ đối ngoại mà còn bao gồm cả các chế định về: Ngoại thương, tài chính, tôn giáo, xã hội Toàn bộ hệ thống này cần phải phù hợp với điều kiện cụ thể, với định hướng phát triển của đất nước ta và với luật pháp quốc tế
Trong thực tế có thể nói PCPNN cũng là một lĩnh vực khá mới mẻ, nên nước ta vẫn chưa có hệ thống pháp luật về quản lý hoạt động của các tổ chức PCP (nhất là các tổ chức PCPNN) một cách hoàn chỉnh mà mới chỉ dừng lại ở mức độ là một số các văn bản quy phạm pháp luật riêng lẻ Trước năm 1989
Trang 36khi chưa có nhiều hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam thì không
có một khuôn khổ pháp lý quy định rõ ràng Từ năm 1989, nhất là từ năm
1995 trở lại đây số lượng các tổ chức PCPNN vào hoạt động ngày càng gia tăng, phương thức và tính chất cũng thay đổi nhiều Do đó, để có đầy đủ cơ sở pháp lý cho hoạt động của các tổ chức PCPNN, Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ủy ban công tác về các tổ chức PCPNN và ban hành một số văn bản quy quy phạm pháp luật liên quan
Tuy nhiên thực tế cho thấy, nội dung điều chỉnh của các văn bản này thực sự vẫn chưa theo kịp yêu cầu của sự phát triển Việc áp dụng phương thức QLNN theo pháp luật, bằng pháp luật đối với các tổ chức PCPNN vẫn còn nhiều bất cập Để có thể tiếp tục QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN và tranh thủ nguồn viện trợ một cách hiệu quả phục vụ nhu cầu phát triển KT & XH trong điều kiện đất nước còn khó khăn, cần phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp qui từ đó tạo môi truờng pháp lý thuận lợi cho việc QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam
1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Xây dựng chiến lược, chương trình, kế hoạch, định hướng trong quản
lý nhà nước nói chung là để thực hiện tầm nhìn, mục tiêu trong tương lai Vì vậy, nếu thiếu một chiến lược phát triển phù hợp, chương trình, kế hoạch, định hướng rõ ràng thì khó thực hiện được mục tiêu đề ra và dễ đi chệch hướng
Tổ chức phi chính phủ nói chung, tổ chức PCPNN nói riêng mang tính chất là tập hợp các nhóm người khác nhau, tự nguyện, phi lợi nhuận nên hoạt động của các tổ chức PCPNN thường rất đa dạng, đôi khi đi ra ngoài khuôn khổ của nước sở tại Chính vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất quản lý vĩ mô đối với tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam, nhà nước cần xây dựng
Trang 37chiến lược, chương trình, kế hoạch và định hướng triển vọng quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức PCPNN trong tương lai cũng như hướng hoạt động của các tổ chức này theo đúng nguyên tắc, mục tiêu của chúng ta
Trong quá trình triển khai, thực hiện chính sách cần phải có: Hướng dẫn, theo dõi, giám sát, kiểm tra, đánh giá và rút kinh nghiệm trong việc thực
hiện chính sách liên quan đến hoạt động của các tổ chức PCPNN Đây là một
nội dung rất quan trọng nhưng lại rất dễ bị buông lỏng trong công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN Công tác này cần được tiến hành thường xuyên, có hệ thống, kịp thời kiến nghị, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản và phương thức quản lý cho phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu
lực của QLNN đối với các tổ chức PCPNN
- Để thực hiện công việc này, cần xây dựng hệ thống tiêu chí giám sát
và đánh giá; xây dựng chương trình, kế hoạch đánh giá; thực hiện các hình thức tổ chức nhân dân tham gia giám sát các chương trình, dự án phi chính phủ để rút kinh nghiệm và chấn chỉnh các hoạt động và kết quả của chương trình, dự án trên phạm vi toàn quốc
1.3.3 Ban hành và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch vận động, sử dụng viện trợ đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Để vận động viện trợ đối với các tổ chức PCPNN, Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg, ngày 27/12/2006 về“Chương trình
quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2010”; Quyết định số 40/2013/QĐ-TTg, ngày 10/7/2013 về “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2013- 2017” Các Chương trình này định hướng các lĩnh vực cần ưu tiên vận động
2006-các nguồn viện trợ của 2006-các tổ chức PCPNN để góp phần giải quyết vấn đề như: Xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, y tế, giáo
Trang 38dục
Trên cơ sở Quyết định của Thủ tướng, các tỉnh, thành phố căn cứ tình hình thực tế tại địa phương ban hành các Quyết định về Chương trình xúc tiến vận động viện trợ phù hợp với nhu cầu của tỉnh
Quản lý việc thực hiện các chương trình, kế hoạch huy động viện trợ và
sử dụng nguồn viện trợ của các tổ chức PCPNN là nhiệm vụ rất quan trọng trong tổng thể các nội dung của QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN Nhà nước cần thống nhất quản lý về nguồn viện trợ PCPNN, điều phối giám sát để đảm bảo sử dụng nguồn viện trợ đúng mục đích và có hiệu quả Công tác quản lý này phải được lãnh đạo các bộ ngành, các địa phương quan tâm chỉ đạo Đặc biệt cần phải có sự tham gia của các cơ quan tài chính các cấp
Việc quản lý nguồn viện trợ trước đây được thực hiện theo Quyết định
số 64/2001/QĐ-TTg, ngày 26/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên, sau hơn 8 năm thực hiện Quyết định này đã bộc lộ một số bất cập do hệ thống pháp lý liên quan của Việt Nam và thực tiễn hoạt động viện trợ của các tổ chức PCPNN đã có nhiều thay đổi Xuất phát từ yêu cầu đó, ngày 22/10/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 93/NĐ-CP của Chính phủ kèm theo Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN (thay thế cho Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg) để làm cơ sở pháp lý cho việc QLNN về nguồn viện trợ PCPNN Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010
Theo quy chế này, nguồn viện trợ PCPNN được hiểu là viện trợ không hoàn lại, không vì mục đích lợi nhuận của bên tài trợ để thực hiện các mục tiêu phát triển và nhân đạo dành cho Việt Nam Bên tài trợ gồm các tổ chức PCPNN, các tổ chức và cá nhân người nước ngoài khác, kể cả các tập đoàn, công ty có vốn nước ngoài, cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài tôn trọng và chấp hành luật pháp Việt Nam, có thiện chí, cung cấp trực tiếp viện trợ không hoàn lại nhằm hỗ trợ cho các mục tiêu phát triển KT-XH và
Trang 39nhân đạo của Việt Nam Các phương thức cung cấp viện trợ PCPNN được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu là viện trợ thông qua các chương trình, dự án, viện trợ phi dự án và viện trợ khẩn cấp trong trường hợp có thiên tai hoặc địch họa khác
Nguyên tắc cơ bản trong QLNN về viện trợ PCPNN và sử dụng nguồn viện trợ là Chính phủ thống nhất quản lý viện trợ PCPNN trên cơ sở công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp, gắn quyền hạn với trách nhiệm, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ và phát huy tính chủ động của các cấp, các cơ quan quản lý ngành, địa phương, tổ chức và các đơn vị thực hiện Mọi khoản viện trợ đều phải ghi vào nguồn thu ngân của nhà nước Các khoản viện trợ khi xây dựng và triển khai phải tuân thủ theo quy định pháp luật của Việt Nam, không tiếp nhận những khoản viện trợ có thể gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp tác của tổ chức, cá nhân
Nghị định này cũng đã đưa ra các quy định cụ thể về hoạt động QLNN đối với nguồn viện trợ PCPNN như:
- Quy định rõ thẩm quyền phê duyệt và phân cấp thẩm quyền phê duyệt viện trợ PCPNN; Việc phân cấp thẩm quyền phê duyệt khoản viện trợ PCPNN được xem xét theo tính chất, phạm vi và mục đích viện trợ, không phụ thuộc vào quy mô khoản viện trợ
- Quy định chi tiết các nội dung liên quan đến việc chuẩn bị, thẩm định khoản viện trợ PCPNN, hồ sơ của các khoản viện trợ PCPNN
- Quy định về việc xây dựng danh mục cụ thể các chủng loại hàng hóa, trang thiết bị có kết cấu đơn giản đã qua sử dụng phù hợp với nhu cầu và điều kiện sử dụng của Việt Nam trong từng thời kỳ, do Thủ trưởng các bộ, ngành xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ, để làm cơ sở cho việc phê duyệt việc tiếp nhận khoản viện trợ Bên cạnh đó còn quy định trách nhiệm của các bên
Trang 40liên quan về xác nhận hàng hóa đã qua sử dụng (có kết cấu đơn giản), còn hơn 80% so với giá trị sử dụng mới
- Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về viện trợ PCPNN và các cơ quan, tổ chức liên quan, trong đó quy định cơ quan đầu mối trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt việc tiếp nhận các khoản viện trợ PCPNN thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ; Cơ quan đầu mối về quản lý viện trợ PCPNN ở địa phương là Sở Kế hoạch và Đầu tư; Cơ quan đầu mối trong quan hệ và vận động PCPNN sẽ do Ủy ban nhân dân tỉnh tự quyết định trên cơ sở nhu cầu thực tế của địa phương
- Quy định liên quan tới xử phạt vi phạm các quy định của Quy chế
1.3.4 Xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Bộ máy tổ chức quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN ở nước ta hiện nay cơ bản đã được hình thành, bao quát từ trung ương đến địa phương Tuy nhiên đó không phải là mối quan hệ chi phối ngành dọc mà là giữa trung ương và địa phương có sự liên kết và thực hiện chế độ báo cáo thường kỳ
Ở cấp Trung ương, bộ máy gồm 4 cơ quan phụ trách chính là Bộ Ngoại giao, Ủy ban Công tác về các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, Liên hiệp các
tổ chức hữu nghị Việt Nam, Ban Điều phối viện trợ nhân dân
Bộ Ngoại giao
Bộ Ngoại giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 12/2012/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ về đăng ký
và quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam Bộ Ngoại giao là
cơ quan đầu mối quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN và có nhiệm vụ:
- Chủ trì và phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN tại