ôn tập ngữ văn 11 học kì 1 tham khảo
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ I
Môn: Ngữ Văn
TỰ TÌNH: (Hồ Xuân Hương)
I. Giới thiệu chung:
1 Tác giả:
- Hồ Xuân Hương sống nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX
- Quê ngoại ở Quỳnh Đôi – Nghệ An, quê nội ở Bắc Ninh, cha là Hồ Phi Diễn
- Hồ Xuân Hương là người thông minh, giao thiệp rộng, tính tình phóng khoáng, cá tính mạnh
mẽ, táo bạo Nhà thơ trữ tình trào phúng – một hiện tượng độc đáo của văn học Việt Nam
- Yêu đời, giàu tình cảm, khao khát hạnh phúc lứa đôi nhưng cuộc đời, tình duyên gặp nhiều éo
le ngang trái
2 Tác phẩm:
- Hồ Xuân Hương để lại tập lưu hương kí được phát hiện năm 1964 gồm 26 bài thơ chữ Nôm
và 24 bài thơ chữ Hán
- Hồ Xuân Hương được mệnh danh là Bà Chúa Thơ Nôm Phong cách thơ Nôm của Hồ Xuân
Hương: ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, hình ảnh quen thuộc trong văn học dân gian Nhịp thơ uyển chuyển tùy vào cảnh tình
- Đề tài quen thuộc, gắn liền với cuộc sống, sinh hoạt của người phụ nữ: đánh đu, dệt cửi, chồng chết, chồng chung
II Đọc – hiểu văn bản:
1. Hai câu đề: nỗi buồn tủi trong đêm khuya
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn Trơ cái hồng nhan với nước non
- Thời gian: đêm khuya – thời điểm con người đối diện với chính mình
- Không gian: tĩnh lặng
- Âm thanh: trống canh dồn – bước đi dồn dập của thời gian và sự rối bời của tâm trạng
- Đảo ngữ: “trơ cái hồng nhan” nhấn mạnh sự cô đơn, tủi hổ, bẽ bàng của một người phụ nữ
bất hạnh trong tình duyên
Phần đọc – hiểu
Trang 2- Từ “cái” đặt cạnh “hồng nhan” thể hiện sự rẻ rúng, mỉa mai đầy khinh bạc, đồng thời là lời
oán trách định kiến xã hội bất công
- Nhịp thơ: 1/3/3 kết hợp đảo ngữ, kết hợp cách dùng từ “trơ” đặt cạnh hồng nhan càng khoét
sâu sự bẽ bàng của duyên phận
2. Hai câu thực: cảnh và tình
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vằng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
- “Say lại tỉnh” gợi cái vòng lẩn quẩn, tình duyên trở thành trò đùa của tạo hóa
- Hình ảnh trăng sắp tàn “bóng xế” mà vẫn “khuyết chưa tròn”, gợi thân phận nhà thơ hai lần
làm lẽ, tuổi xuân trôi qua mà nhân duyên không trọn vẹn Câu thơ mượn ngoại cảnh để thể hiện tâm trạng tạo nên sự đồng nhất giữa trăng và người Bởi thế sự xót xa lên đến tột đỉnh
3. Hai câu luận: niềm phẫn uất trở thành sự phản kháng mạnh mẽ:
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn
- Cảnh vật có sự hoạt động mạnh mẽ: “xiên ngang”, “đâm toạc”, động từ mạnh thể hiện sự vận
động mạnh mẽ, ngang ngạnh của vạn vật – một sức sống nội tại mạnh mẽ
- Đảo ngữ làm nổi bật sự vươn dậy của thiên nhiên cũng là sự phẫn uất, phản kháng của tâm trạng của Hồ Xuân Hương, đồng thời cho thấy khát vọng sống hạnh phúc ở bà, muốn vượt lên nghịch cảnh
4. Hai câu kết: tâm trạng chán trường:
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại Mảnh tình san sẻ tí con con
- “Ngán”: chán ngán, ngán ngẫm thói đời bạc bẽo, éo le.
- “Xuân đi xuân lại lại” mùa xuân đi qua sẽ trở lại với vạn vật nhưng tuổi xuân con người thì
không bao giờ trở lại→nghệ thuật hoán dụ đã nói lên nỗi niềm xót xa của Xuân Hương, gợi cái vòng lẩn quẩn của tạo hóa
- Câu thơ cuối với nghệ thuật tăng tiến nhấn mạnh sự bé nhỏ dần, gợi nghịch cảnh éo le, nỗi xót
xa tội nghiệp của thân phận làm lẽ
⇒ Đau buồn, thách thức, gắng gượng vươn lên nhưng rơi vào bi kịch bế tắc
5. Nghệ thuật:
- Sử dụng từ ngữ độc đáo, sắc nhọn
- Tả cảnh linh hoạt
Trang 3- Đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ
- Sử dụng biện pháp tu từ: đảo ngữ, hoán dụ, tăng tiến
buồn tủi phẫn uất trước tình cảnh éo le, vừa cháy bỏng khao khát được sống hạnh phúc
CÂU CÁ MÙA THU: (Nguyễn khuyến)
I Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
- Nguyễn Khuyến hiệu Quế Sơn, xuất thân trong một gia đình nhà nho
- Ông đỗ tú tài 3 kì thi liên tiếp nên được gọi là Tam Nguyên Yên Đỗ.
- Ông là người có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, quyết không hợp tác với thực dân Pháp
2 Tác phẩm:
- Sáng tác cả chữ Hán lẫn chữ Nôm
- Nội dung thơ văn:
+ Bộc bạch tâm sự của bản thân
+ Viết về cảnh vật con người, cuộc sống ở làng quê
+ Chế giễu, đả kích những kẻ tham lam, thời sự
II Đọc – hiểu văn bản:
1 Bức tranh mùa thu:
- Điểm nhìn: gần→cao xa, cao xa→gần Từ chiếc thuyền câu nhìn ra mặt ao, nhìn lên bầu trời, đến ngõ trúc rồi thu mắt về ao thu, thuyền câu→từ khung ao hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động
- Bức tranh mùa thu:
+ Không khí mùa thu: khí trời se lạnh, gió khẽ đưa
+ Bầu trời mùa thu: xanh ngắt, cao vút
+ Ao thu: nước trong veo, sóng gợn tí, lạnh lẽo
+ Ngõ trúc: vắng teo, quanh co
⇒ Bức tranh mùa thu có đường nét hài hòa, gam màu sáng là biểu tượng đẹp của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ nhưng buồn bởi không gian vắng lặng mang đến sự trống trải cô đơn
2 Tâm trạng của nhà thơ:
Trang 4Người đi câu tựa gối buông cần: hình ảnh con người mang đầy tâm trạng nên đi câu chỉ là cái cớ, ẩn sâu bên trong là tâm trạng thời thế bởi tác giả là người thiết tha với quê hương đất nước, lo lắng cho dân
3 Nghệ thuật:
- Cách gieo vần “eo” tài tình, gợi không gian như thu nhỏ lại.
- Ngôn ngữ giản dị, trong sáng, âm thanh màu sắc rất gợi cảm
- Lấy động tả tĩnh, tả cảnh ngụ tình
thế của tác giả
THƯƠNG VỢ: (Trần Tế Xương)
I Tìm hiểu chung:
1 Tác giả:
- Trần Tế Xương (1870 – 1907), quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định
- Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng đỗ tú tài (sau 8 lần thi trượt)
- Lập gia đình sớm lúc 18 tuổi
- Tú xương chỉ sống 37 tuổi nhưng để lại 150 bài thơ chủ yếu là thơ Nôm đủ các thể loại: thơ đường luật, lục bát, văn tế
- Ông có cá tính phóng khoáng, không chịu bó mình trong khuôn khổ trường thi
2 Tác phẩm:
- Sáng tác chủ yếu là thơ Nôm:
+ Thơ Tú Xương gồm 2 mảng: trào phúng và trữ tình
+ Đề tài: bà Tú trong thơ Tú Xương
- Nội dung: thơ bộc lộ lòng nhân đạo, yêu nước sâu sắc
II Đọc – hiểu văn bản:
1. Nỗi vất vả gian truân của bà Tú:
- “Quanh năm”: thời gian có tính lặp lại, khép kín→làm nổi bật nỗi vất vả, nhọc nhằn của bà
Tú
- “Mom sông”: không gian mua bán, chênh vênh nhiều nguy hiểm→nhấn mạnh sự khó khăn,
tăng cảm giác về sự nhỏ bé, yếu ớt của bà Tú
- Sử dụng số từ “năm, một” kết hợp quan hệ từ “với”, kết hợp lượng từ “đủ” →thấy được gánh
nặng chồng con đè lên đôi vai của bà Tú, từ đó cho thấy ông Tú ghi công vợ một cách chi tiết,
Trang 5bởi bà rất đảm đang, tháo vác, chu đáo với chồng con, đồng thời tự trách mình góp thêm gánh nặng cho vợ
- “Thân cò”: dùng hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian sáng tạo:“con cò lặn lội”, kết hợp đảo
ngữ để nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú→gợi nỗi đau thân phận
- Sử dụng từ chỉ thời gian kết hợp từ chỉ không gian “quãng vắng” →để thấy cái rợn ngợp của
thời gian và sự nguy hiểm của không gian từ đó độc giả vừa nhận biết nỗi nhọc nhằn, vất vả của bà Tú, vừa thấy tấm chân tình, quan tâm, lo lắng của ông Tú dành cho vợ
- “Eo sèo”: sự kì kèo, ngã giá, bớt một thêm hai→bà Tú vất vả khi phải gánh trên vai chồng
con lại gặp cảnh khách hàng khó tính thì sự khó khăn vất vả càng tăng thêm
- “Buổi đò đông”: cảnh chen chút, bươn chảy trên sông nước với bao sự chen lấn, xô đẩy chứa
đầy bất chấp
- Nghệ thuật đối: “khi quãng vắng”, “buổi đò đông” →nổi bật sự vất vả, gian truân của bà Tú.
2 Đức tính cao đẹp của bà Tú:
- “Nuôi đủ” thể hiện gánh nặng đặt lên đôi vai bà Tú, cho thấy đây là người phụ nữ đảm đang,
tháo vác, chu đáo với chồng con
- Thành ngữ: “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa” kết hợp với số từ “một, hai” cùng cách sử dụng từ cổ “âu đành phận” →Tú Xương muốn cho người đọc biết ông thật hạnh phúc
và may mắn khi có được một người vợ vẫn lặng lẽ, vẫn một mình gánh chịu vất vả lao động,
tự xem đó là nợ là số phận không chối bỏ, luôn chấp nhận hi sinh không lời oán trách
⇒ Bà Tú là hình ảnh điển hình cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo, giàu đức hi sinh, thủy chung
3 Tấm lòng và nhân cách của ông Tú:
- Yêu thương, quý trọng, tri ân vợ, thấu hiểu nỗi vất vả nhọc nhằn của vợ
- Tự trách mình là gánh nặng, là món nợ đời để vợ phải gánh chịu
- Tự phán xét, tự lên án bản thân đã hờ hững trước sự nhọc nhằn vất vả của vợ
- Lời chửi trong hai câu cuối là Tú Xương tự chửi mình, nhưng cũng chính là chửi định kiến xã hội bạc bẽo – là nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ
4. Nghệ thuật: Vận dụng sáng tạo, ngôn ngữ thi liệu, văn học dân gian kết hợp chất trữ tình và
chất trào phúng
cách nhìn về thân phận người phụ nữ của nhà thơ
\
Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao:
Phần tập làm văn
Trang 6Bài làm:
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn Ông là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp Vì vậy, trong sáng tác của ông, các nhân vật thường
được miêu tả và nhìn nhận như một nghệ sĩ “Chữ người tử tù” là một điển hình, có lẽ ai đọc xong tác
phẩm đều cảm phục và rung động trước vẻ đẹp của một anh hùng và người anh hùng đó không ai khác – Huấn Cao
Trước hết để xây dựng hình tượng Huấn Cao, tác giả đã lấy nguyên mẫu hình tượng Cao Bá Quát ngoài đời – một anh hùng mà tác giả hằng yêu mến, kính trọng Cao Bá Quát đã từng sống một cuộc đời tung hoành ngang dọc, là người có tài có đức, văn hay chữ đẹp, dám đứng lên chống lại bọn
thực dân phong kiến và được người đời tôn là Thánh Quát Một mặt, Nguyễn Tuân mượn hình tượng
nhân vật Huấn Cao để ngợi ca Cao Bá Quát; mặt khác, dựa vào Cao Bá Quát để khái quát lên hình tượng một anh hùng Huấn Cao mà cái đẹp của tài hoa hòa quyện với cái đẹp của khí phách
Khi nói về Huấn Cao, Nguyễn Tuân không đi vào miêu tả lai lịch xuất thân mà bằng một cách gián tiếp để dựng lên chân dung nhân vật Cái tài viết chữ đẹp của Huấn Cao thể hiện qua đoạn đối thoại
của viên quản ngục với thầy thơ lại Khi nhận được phiến trát, viên quản ngục vừa mừng vừa lo “có phải cái người mà vùng tỉnh Sơn ta có tài viết chữ nhanh và đẹp đó không?”, thầy thơ lại trả lời “giả thử tôi là đao phủ phải chém những người như vậy, tôi nghĩ mà thấy tiêng tiếc” Quản ngục biết chữ Huấn Cao “đẹp lắm, vuông lắm” và “có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật trên đời” Qua đó, ta
thấy được thái độ trân trọng của tác giả với những bậc tài hoa và nghệ thuật thư pháp cổ truyền của dân tộc
Bên cạnh tài viết chữ đẹp, Huấn Cao còn có tài bẻ khóa vượt ngục để trở về với cuộc sống tự do
Vì như vậy mà Huấn Cao trở thành mối đe dọa cho bất kì trại nào giam giữ ông Qua đó cho ta thấy, một con người khát khao tự do, hoài bão tung hoành Tất cả những tài năng đó làm thành một Huấn Cao đi vào lòng độc giả như một nghệ sĩ đa tài, một anh hùng đầy khí phách
Thế nhưng, trong xã hội phong kiến mục nát lúc bấy giờ, Huấn Cao hiện lên là một anh hùng đã
“sa cơ lỡ vận” Mặc dù vậy, người anh hùng này không giống những người anh hùng “sa cơ lỡ vận” tầm
thường khác, sống những ngày cuối cùng với khí phách hiên ngang của một đấng trượng phu, một anh
hùng Điều đó được bộc lộ qua hành động “chúc mũi gông” để đánh rệp khi mới được dẫn đến nhà giam
này Hành động đó vừa thể hiện cái uy của ông với những người bạn tù, vừa thể hiện sự khinh bạc đối với bọn lính áp giải
Ngoài ra, cái đẹp của Huấn Cao còn thể hiện ở cái “thiên lương” trong sáng Trước sự quan tâm, biệt đãi của viên quản ngục Huấn Cao chỉ đáp lại bằng một câu nói “ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây” Cách nói ngang tàng đầy ngạo nghễ thể hiện thái độ
khinh bạc của Huấn Cao đối với viên quản ngục, đồng thời Huấn Cao còn cố ý sỉ nhục qua cách xưng
hô “ta – nhà ngươi” Bởi vì, ông đã sẵn sàng chờ đợi một trận báo thù, một trận đòn roi hay là những
thủ đoạn tàn bạo của viên quản ngục – những trò đánh đập của các trại giam thời bấy giờ Qua hành
động đó, ta mới thấy được, người anh hùng Huấn Cao coi cái chết nhẹ tựa lông hồng Thế nhưng, câu chuyện lại làm cho độc giả bất ngờ khi viên quản ngục lại lễ phép lui ra qua “xin lĩnh ý”, sau đó còn biệt
đãi Huấn Cao và những người bạn của ông hơn trước Chính vì thế, nó làm cho Huấn Cao luôn suy nghĩ
về động cơ làm điều đó của viên quản ngục “hắn muốn gì ở ta, muốn biết thêm điều gì, tất cả ta đó khai hết rồi mà” Nhưng khi biết rõ về động cơ của viên quản ngục, Huấn Cao chỉ mỉm cười rồi nói “nào ta
Trang 7có biết đâu, một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy Thiếu chút nữa, ta
đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”, rồi ông quyết định cho chữ viên quản ngục.
Và một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đã diễn ra, Huấn Cao tay cầm bút, “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” đang vẽ từng nét như “rồng múa phượng bay” bằng cách dồn hết tinh hoa và khí phách
vào đôi tay Chính khí phách đó đó làm viên quản ngục cảm thấy nhỏ bé và khúm núm còn thầy thơ lại thì run run đứng cạnh Khí phách ấy xóa bỏ mọi rào cản về địa vị và thân phận của ba con người đó, xóa
bỏ luôn cảnh ngục tù đầy mạng nhện, phân gián, phân chuột mà thay vào đó là mùi thơm của giấy lụa, nghiên mực, ánh sáng phát ra từ nét chữ – ánh sáng của cái thiện, cái tâm
Còn một phẩm chất khác nữa của một Huấn Cao Tuy theo học đạo Nho – “trung quân” một
cách mù quáng, nhưng vì thương người dân nghèo khổ, bị áp bức bóc lột bởi giai cấp thống trị mà đứng lên đấu tranh giành quyền sống cho người dân vô tội với phần trăm thành công rất bé nhỏ, còn phải bị
ghép vào tội “phản nghịch” nhưng ông không hề bận tâm Qua đó, ta thấy Huấn Cao – một con người có
lòng nhân ái bao la Qua bút pháp đối lập, tương phản, tác giả đã miêu tả thành công một Huấn Cao hoàn chỉnh, một nhân vật huyền thoại
Kết thúc truyện, Huấn Cao đã dành cho viên quản ngục lời khuyên chân thành “Ta nghĩ thầy Quản nên thay chốn ở đi, thầy nên tìm về nhà quê mà ở rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững, rồi đến một ngày cũng nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi” Qua đó làm nổi bật việc “cái thiện, cái đẹp” có thể tồn tại trong “cái xấu, cái ác” nhưng không thể cùng ở chung
một nơi được
Với Nguyễn Tuân, cái tâm luôn là gốc rễ của nhân cách và là điểm xuất phát cũng là nơi đi đến của khí phách con người Đồng thời còn có giá trị gợi lại bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được đứng
trước nguy cơ bị mai một và khẳng định phẩm chất trong sáng của con người “bần tiền bất năng di/phú quý bất năng dâm/uy vũ bất năng khuất” Nói tóm lại, Huấn Cao là một con người mang đầy đủ những
phẩm chất tốt đẹp Tuy bị cầm tù về thể xác nhưng hoàn toàn tự do về tinh thần, tâm hồn Hay nói khác
đi, Huấn Cao dưới ngồi bút của Nguyễn Tuân là biểu tượng cho cái đẹp trong hoàn cảnh lịch sử đầy rẫy xấu xa, biểu tượng cho thiên lương cao quý Con người sống vượt lên hiện thực tầm thường để tỏa sáng
và bất tử trong mọi hoàn cảnh Đồng thời, Nguyễn Tuân còn thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với
những anh hùng dám xả thân vì nghĩa lớn…“Chữ người tử tù” xứng đáng là một áng văn chương một
thời vang bóng
Phân tích hình tượng nhân vật viên quản ngục:
Bài làm:
Năm 1940, tập truyện "Vang bóng một thời" của nhà văn Nguyễn Tuân ra đời thể hiện một bút
pháp tài hoa, độc đáo, giàu màu sắc lãng mạn Nó gồm có 12 truyện, nhân vật chính phần lớn là các nhà
nho, những kẻ sĩ một thời "vang bóng" và có khi nhân vật phụ cũng để lại những ấn tượng không thể quên trong lòng độc giả "Chữ người tử tù" là một ví dụ.
Nếu như nhân vật Huấn Cao là biểu tượng về cái đẹp, cái thiện, khí phách của một người anh hùng thì nhân vật viên quản ngục được sáng tạo ra để hiện thực hóa sức mạnh ấy Một tình huống đầy kịch tính được mở ra: giữa chốn ngục thất, người mà y luôn ngưỡng mộ giờ đây lại là một tử tù, còn y là cai ngục Ở bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau ; ở bình diện nghệ thuật, họ lại là tri âm, tri
kỉ của nhau Kẻ cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình lại là một nghệ sĩ tài hoa tầm cỡ “thiên hạ
Trang 8đệ nhất thư pháp”, kẻ đại diện cho luật pháp của triều đình lại là người có “tấm lòng biệt nhỡn liên tài” ngưỡng mộ tài thư pháp ấy Cuộc “kì ngộ” khiến cho lòng yêu cái đẹp trong quản ngục sống dậy mãnh
liệt tới mức ông có thể bất chấp cả tính mạng và địa vị, mong sao có được chữ ông Huấn
Thú chơi chữ tao nhã thanh lịch thật đối nghịch với hoàn cảnh công việc của viên quản ngục Sự tương phản gây gắt đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, cao quý của viên quản ngục Điều này cho thấy
viên quản ngục là người “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
Khi nhận được phiến trát trong sáu tên tử tù có Huấn Cao, y vừa mừng vừa lo, tìm hiểu suy nghĩ đến không ngủ được, trong lòng y có ý nể trọng và cảm thấy thương tiếc vô cùng Chuẩn bị đón một tử
tù “đặc biệt”, y sai lính quét dọn buồng giam và điều lạ nhất khiến độc giả suy nghĩ là khi y nhận tù sao lại nhìn sáu tên tử tù với cặp mắt “hiền lành” và có biệt đãi đối riêng với Huấn Cao làm bọn lính nghi
ngờ Đó là sự trân trọng tài năng, nhân cách và sự kính nể một tài năng như Huấn Cao của viên quản ngục
Mấy ngày Huấn Cao bị giam ở nhà ngục này, quản ngục luôn sống trong tình trạng vô cùng căng
thẳng, hồi hộp Y thừa biết “tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ” Thế nhưng, y
không dừng lại cái việc bất chấp nguy hiểm mà biệt đãi Huấn Cao và những người bạn tù của ông Y
không phải là kẻ tiểu nhân dùng những thủ đoạn như thế nhằm “dụ dỗ” Huấn Cao mà y làm điều đó đơn
giản vì y muốn đối xử tốt với người y ngưỡng mộ Vào buồng giam để gặp Huấn Cao nhưng bị đuổi
khỏi buồng giam một cách thẳng thừng “ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn một điều là nhà người đừng đặt chân vào đây” Đến lúc này, độc giả nghĩ rằng, viên quản ngục sẽ nổi nóng mà bỏ ra ngoài hay
có thể sẽ đánh đập Huấn Cao cho đỡ tức và sẽ không biệt đãi Huấn Cao như thế nữa Nhưng, độc giả lại
phải ngạc nhiên khi viên quản ngục lễ phép lui ra ngoài “xin lĩnh ý” và từ ngày đó thì viên quản ngục lại
biệt đãi Huấn Cao và những người bạn của ông hơn trước Điều này cho thấy viên quản ngục là người
có tâm hồn cao quý với cách cư xử điềm đạm, đúng mực
Ngoài ra, viên quản ngục còn có một phẩm chất khiến người đối diện không thể không suy nghĩ
là y không dùng quyền thế, tiền bạc mà “mua” chữ của Huấn Cao mặc dù điều đó viên quản ngục thừa sức để làm Ngược lại, y dùng “thiên lương” để cảm động một anh hùng khí phách ngang trời Và chính
những điều đó đã làm cho Huấn Cao nhận ra cái sở thích cao quý của viên quản ngục mà chấp nhận cho chữ
Và, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có đó diễn ra Trong cảnh tượng đó, viên quản ngục thể
hiện sự kính cẩn, khúm núm, run run khi đứng trước một “nghệ sĩ đa tài” và có lẽ cũng bởi vì sắp được nhận một “báu vật” hiếm có trên đời Về bản chất, đó là sự ngưỡng mộ trước cái đẹp một cách hoàn
toàn tự nguyện Hành động biệt đãi ông Huấn cũng là xuất phát từ lòng say mê đó Nhưng đến cuối tác phẩm thì không còn là chuyện say mê, tôn thờ mấy cái chữ đẹp nữa, mà cao hơn thế, đó là sự trân trọng, tôn thờ nhân cách cao quý của một bậc tài danh Bị cái đẹp và nhân cách cao thượng của ông Huấn
thuyết phục, viên quản ngục thực sự cảm động cũng giống như ông Huấn Cao đã cảm động trước “sở thích cao quý” và tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục Đó là điểm gặp gỡ để trở thành tri
âm, tri kỉ của hai con người cách nhau quá xa về vị thế xã hội Sự tri kỉ ấy được đánh dấu bằng tiếng nói
nghẹn ngào : “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” và kèm theo một cái vái lạy Vì vậy, ông được coi là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”.
Nhân vật viên quản ngục là một sáng tạo rất mực sinh động của Nguyễn Tuân, để vừa tô đậm vẻ đẹp lí tưởng của nhân vật Huấn Cao, lại vừa thể hiện vẻ đẹp của một con người được cái thiện dẫn
Trang 9đường Ngoài ra, nhân vật viên quản ngục còn hội đủ phong cách của truyện: lãng mạn mà vẫn hiện thực, là tiếng nói của thiên lương, của tinh thần dân tộc
Phân tích hình tượng nhân vật hai đứa trẻ:
Bài làm:
Thạch Lam (1910 – 1942) xuất thân trong một gia đình công chức gốc quan lại “Hai đứa trẻ” –
một truyện ngắn thắm thía niềm xót thương, một trái tim giàu lòng trắc ẩn của Thạch Lam đó gợi ra tính nhân văn cao cả Cả truyện ngắn bao trùm là cuộc sống quẩn quanh, cơ cực, tối tăm ở phố huyện nghèo Hai đứa trẻ là hai nhân vật chính của câu chuyện, mọi biến chuyển của vạn vật đều hiện lên qua ánh nhìn nhạy cảm của cô bé Liên Không gian phố huyện được “nhìn thấy” qua tâm trạng của Liên và đến với người đọc
Liên và An là hai đứa trẻ từng sống ở Hà Nội, rồi gia đình sa cơ nên trở về quê ngoại – một phố huyện nghèo hẻo lánh Hai chị em trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu Liên khoảng 9 tuổi, An khoảng 7 – 8 tuổi Tuy còn nhỏ nhưng Liên đó có những toan tính cho cuộc sống Có lẽ vì thế mà trong sâu thẳm tâm hồn cô bé này đã có những xúc cảm về mọi mặt, mọi việc ở phố huyện này
Bức tranh thiên nhiên trong phố huyện khi ngày tàn được hiện lên qua điểm nhìn nhạy cảm, tinh
tế của Liên Đó là “một buổi chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng theo gió nhẹ đưa vào Trong của hàng hơi tối, muỗi đó bắt đầu vo ve” Trong bức tranh ấy có sự hòa trộn giữa
hai loại hình ảnh: hình ảnh êm đềm, lãng mạn và hình ảnh gợi sự nghèo khổ, bần cùng Phải chăng do
cảnh chiều tàn mà gợi cho Liên nỗi buồn: “đôi mắt chị đầy bóng tối”, “chị thấy lòng buồn man mác trước giờ khắc ngày tàn” Thật khó để phân định rạch ròi nỗi buồn ngoại cảnh thấm vào tâm cảnh hay
nỗi buồn tâm cảnh lan tỏa ra, nhuốm vào ngoại cảnh Ta chỉ thấy ở đây là một nỗi buồn sâu sắc trong tâm trạng Chỉ có sự cảm nhận tinh tế, nhạy cảm như Liên mới thấu hiểu nó
Không gian phố huyện còn được hiện lên qua hình ảnh: “một mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của
ban ngày lẫn với mùi cát quen thuộc quá, khiến chị em Liên tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Vậy là đủ thấy tình yêu quê hương trong Liên như một mạch nguồn len lõi trong tâm hồn Có lẽ bắt nguồn từ đó mà trong Liên luôn có sự xót thương những kiếp người nghèo khổ nơi phố huyện
Liên thực sự có một tấm lòng thương cảm vô hạn đối với những con người nghèo khổ, lam lũ, tù túng của phố huyện Liên thương những đứa trẻ con nhà nghèo nhưng chính chị cũng chẳng có tiền cho chúng Hình ảnh những đứa trẻ đã gợi sự xót thương của Liên đối với cảnh sống nghèo khổ của chúng Liên thương cho chị Tí, bởi vì cuộc sống của chị cũng khó khăn Dường như trong lời hỏi thăm ân cần của Liên có tiếng nấc khe khẽ Liên thương cho cụ Thi hơi điên, “chị lẳng lặng rót đầy chai rượu ti” và
“hai chị em Liên đứng nhìn theo cụ đi lần vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng”.
Nhịp sống ở phố huyện cứ lặp đi, lặp lại, quanh quẩn, đơn điệu, tẻ nhạt Những cảnh đời bế tắc, cuộc sống của những con người ngèo khó Họ đang gồng mình lên để sống hay nói cách khác họ đang sống lay lắt cho qua ngày Dường như tất cả cảnh phố huyện đều được cô bé thu vào tầm mắt Với trái tim đa cảm giàu lòng thương xót, Liên đã có những cảm nhận tinh tế về cuộc đời mờ nhạt, quanh quẩn Chính
sự quan tâm, niềm cảm thương ấy của Liên đã làm nên tình người khắp thiên truyện Cái nhìn nhân hậu
cùng niềm xót thương đã tạo nên giá trị nhân văn cho “Hai đứa trẻ” Những kiếp người xuất hiện trong
đêm tối, từ bóng tối đi ra rồi lại đi dần vào bóng tối chỉ được gợi lên qua cái nhìn của Liên hay chính
Thạch Lam? Bởi theo Thế Lữ nhận xét : “Thạch Lam là người sống hết cả từng ý văn, từng câu văn anh
Trang 10đã viết ra trên trang giấy Sự thực của tâm hồn mà Thạch Lam diễn trong văn chương phức tạp, nhiều hình vẻ, nhưng bao giờ cũng đầm thắm, cũng nhân hậu, cũng nghẹn ngào một chút lệ thầm kín của tình thương.”
Hai đứa trẻ dù cho già dặn trong suy nghĩ thì vẫn chỉ là hai đứa trẻ Chúng vẫn thèm hòa nhập vào những cuộc chơi của bao đứa trẻ khác Đó là điều hết sức tự nhiên trong tâm hồn trẻ thơ Rồi Liên
và An ngồi trên chổng mà ngước mắt lên bầu trời để khám phá, “vũ trụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ” Chính sự khám phá tự nhiên ấy đã làm “mỏi trí nghĩ” của cả
hai đứa trẻ Hai đứa trẻ như ấp ủ bao hi vọng mơ ước của nhà văn được thay đổi thực tại tù túng kia, để những đứa trẻ như Liên và An được hưởng trọn vẹn trong vòng tay yêu thương, đùm bọc của cuộc đời Hai đứa trẻ - hai niềm hi vọng được nhen nhóm lên như ánh sáng của đoàn tàu làm bừng sáng cả không gian phố huyện, ánh lên nỗi khao khát về sự thay đổi Sự khao khát, hi vọng mãnh liệt của Liên
về sự thay đổi được thể hiện trong cảnh Liên và An cố thức để đợi chuyến tàu đêm Đoàn tàu hiện ra
trong bóng tối với “ngọn lửa xanh biếc”, với tiếng còi kéo dài, với “làn khói bừng sáng” Con tàu hiện
lên bằng một thứ ánh sáng khác hẳn với ngọn đèn con của chị Tí, gánh phở của bác Siêu âm thanh
“rầm rộ” làm xao động cả không gian phố huyện Trong sâu thẳm tâm hồn những con người nơi đây, đoàn tàu còn mang lại ánh sáng giàu sang, no ấm, hạnh phúc, ánh sáng mà “chừng ấy người trong bóng tối “ đang chờ đợi chăng? Đoàn tàu xuất hiện chỉ làm thay đổi không gian phố huyện trong khoảnh
khắc nhưng cũng để mọi người thèm khát Đặc biệt là Liên, Liên đã càng hiểu thấu sự khao khát đó do
chính cô bé cũng đã từng là người Hà Nội, từng có cuộc sống ấm no như thế Khi tàu tới “Liên lặng theo mơ tưởng Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vì vui vẻ và huyên náo” Con tàu như đã đem đến một
chút thế giới khác, một thế giới khác hẳn đối với Liên, một thế giới hạnh phúc, giàu sang khác xa với cuộc sống nghèo khổ, tù túng hiện giờ nơi phố huyện Đoàn tàu đi từ kí ức tới hiện tại, mang đến ước
mơ và khát vọng và đem chúng đi trong sự nuối tiếc của Liên Phố huyện lại trở về với sự yên tĩnh, tịch mịch và sự bủa vây của bóng tối, nguyên vẹn một cuộc sống tù túng, nghèo khó của bao kiếp người Dù
có khó khăn nhưng họ vẫn khao khát, vẫn mơ ước về một tương lai tươi sáng Đó chính là niềm tin sâu sắc của Thạch Lam, là giá trị nhân đạo của tác phẩm Nhưng đó chỉ là ý niệm mà không thể thay đổi được thực tế Đoàn tàu đến, đi qua nhưng chỉ làm Liên thanh thản, yên tĩnh chứ không thể thay đổi được
thực tại về cuộc sống “tịch mịch và đầy bóng tối” của Liên Không thấm được một tấm lòng nhân ái sâu
xa, không hiểu lòng của những đứa trẻ, không có một tâm hồn nhạy cảm thì Thạch Lam không thể diễn
tả tinh tế đến thế nỗi thèm khát ánh sáng của những con người trong bóng tối mà đặc biệt là hai đứa trẻ
Dòng suối mát lành ấy cứ thấm dần rồi thẩm thấu vào trái tim mỗi người đọc về sự xót thương, về tình yêu nồng nàn đối với những con người nghèo khổ Thạch Lam rất đỗi tinh tế trong việc miêu tả sự biến đổi của cảnh vât và nhân vât mà cụ thể ở đây là cô bé Liên Một cô bé mới 9 tuổi nhưng
đã phải già dặn trong cuộc sống khó khăn, vất vả, tù túng, biết cảm thương cho những mảnh đời khốn
khổ khiến người đọc xúc động Với truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam đã làm được giá trị đích thực
của văn chương, giá trị thanh cao tâm hồn con người
Phân tích nhóm nhân vật trong “hạnh phúc của một tang gia”:
Bài làm:
“Số đỏ” là cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa Tác
phẩm đã phát huy cao độ tài năng châm biếm, đả kích sắc sảo của Vũ Trọng Phụng trước những thói xấu
xa, giả dối của xã hội thực dân, phong kiến nửa đầu thế ki XX Dưới ngòi bút kì tài của Vũ Trọng