1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hình ượng người phụ nữ trong văn học trung đại

32 479 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 438,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác cuả mỗi nhà văn, trong sáng tác của mỗi chặng đường, mỗi giai đoạn, mỗi thời kì văn học là nội dung cơ bản của nghiên cứu văn họ

Trang 1

MÔN NGỮ VĂN MÃ CHẤM: V05a

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU NỘI DUNG PHẦN 1: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học

1.1 Khái quát chung về con người trong văn học

1.2 Khái niệm “quan niệm nghệ thuật về con người”

1.3 Đặc điểm của quan niệm nghệ thuật về con người

1.4 Ý nghĩa quan niệm nghệ thuật về con người

1.5 Biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người

Phần 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt

Nam thời trung đại

2.1 Khái quát về văn học Việt Nam thời trung đại

2.1.1 Các giai đoạn phát triển của văn học trung đại

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại

2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người qua một số hình tượng văn học

tiêu biểu thời trung đại

2.2.1 Hình tượng những nhà nho nghèo

2.2.2 Hình tượng người phụ nữ

2.2.3 Hình tượng người anh hùng trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)

KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Văn học là nhân học – khoa học về con người Ở bất kì thời đại nào, con

người cũng là đối tượng trung tâm trong sự phản ánh của văn học Mọi phân tích, khám phá trong văn chương cuối cùng cũng quy tụ vào sự lí giải về con người Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác cuả mỗi nhà văn, trong sáng tác của mỗi chặng đường, mỗi giai đoạn, mỗi thời kì văn học là nội dung cơ bản của nghiên cứu văn học, cũng là một phạm trù quan trọng trong thi pháp học Thành quả của những nghiên cứu ấy sẽ giúp cho việc nhìn nhận và đánh giá nhân vật văn học cũng như việc khám phá tư tưởng của nhà văn có căn cứ khoa học, có

Trong giảng dạy bộ môn ngữ văn ở trường phổ thông, trọng tâm của đọc hiểu văn bản văn học là tìm hiểu hình tượng nghệ thuật Có hình tượng thiên nhiên, hình tượng loài vật, đồ vật, hình tượng con người,… Song tất cả đều được tìm hiểu khám phá trong mối liên hệ với con người Những năm gần đây, việc đổi mới trong

Trang 3

thi cử đòi hỏi học sinh phải có năng lực tư duy bao quát, hệ thống, có khả năng phân tích nhân vật, tác phẩm trong sự đối chiếu, so sánh, nhiều dạng đề so sánh văn học được đưa vào trong thi cử, kiểm tra đánh giá Hệ thống hóa quan niệm nghệ thuật về con người trong cả một thời kì văn học kéo dài tới mười thế kỉ là một việc làm cần thiết, có tính ứng dụng cao trong học tập và giảng dạy Ngữ văn ở phổ thông, nhất là cấp phổ thông trung học Nó cũng đặc biệt có ý nghĩa với giáo viên các trường THPT chuyên trong việc bồi dưỡng các chuyên đề cho học sinh giỏi

Với ý nghĩa ấy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Quan niệm nghệ thuật

về con người trong văn học Việt Nam thời trung đại”

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong lí luận, phê bình văn học hiện đại không phải là nội dung mới mẻ Đã có nhiều bài báo nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Minh Khuê,… đăng trên các tạp chí chuyên ngành hay được in trong các sách bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên Ngữ văn

Tuy nhiên, vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại

có lẽ ít được đề cập đến Tài liệu quan trọng nhất mà chúng tôi có trong tay là cuốn Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 (chương trình Nâng cao), trong đó, phần Tri thức đọc hiểu có giới thiệu vài nét sơ lược về quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại Đây là tư liệu hết sức quý báu, có ý nghĩa định hướng, soi đường cho chúng tôi trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu

Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành tìm hiểu đề tài quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam thời trung đại một cách tương đối hệ thống, đi sâu vào những vấn đề liên quan gần gũi với việc giảng dạy phần văn học trung đại ở trường trung học phổ thông hiện nay

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của một nhà văn, một chặng đường văn học đã là một việc làm hết sức công phu Tìm hiểu quan

Trang 4

mà trong đó có nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường nhỏ quả là đề tài rộng lớn và đòi cần sự nghiên cứu công phu gấp nhiều hơn nữa Nó đòi hỏi người viết không chỉ phải có vốn kiến thức tác phẩm sâu rộng mà còn phải có năng lực phân tích, tổng hợp, khái quát vấn đề sắc bén

Do thời gian nghiên cứu có hạn, cũng căn cứ vào đặc trưng một đề tài tham dự hội thảo trao đổi chuyên môn giữa các trường THPT chuyên, chúng tôi không có tham vọng giải quyết vấn đề trọn vẹn, thấu đáo như các nhà nghiên cứu chuyên sâu Chúng tôi mong muốn trên cơ sở kế thừa thành quả nghiên cứu của người đi trước, cùng với một số tìm tòi, nghiên cứu của bản thân trong quá trình giảng dạy

và tự học, tự bồi dưỡng đề hoàn thành đề tài Khối lượng tác phẩm văn học trong văn học trung đại Việt Nam vô cùng phong phú, đó là cơ sở nghiên cứu để rút ra những kết luận khoa học, song chúng tôi chủ yếu tập trung vào những tác phẩm được giảng dạy trong nhà trường và tác phẩm của các nhà văn gần gũi với trường phổ thông

4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm hai phần:

Phần 1: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học

Phần 2: Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam thời trung đại

Trang 5

PHẦN I:

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI

TRONG VĂN HỌC 1.1 Khái quát chung về con người trong văn học

Nhà văn, nhà phê bình văn học Nga Mác-xim Gooc-ki có nêu một định nghĩa

nổi tiếng, phản ánh đúng được bản chất quan trọng của văn học: “Văn học là nhân

học” Văn học tái hiện muôn mặt đời sống con người, từ đời sống xã hội đến đời

sống riêng tư, từ quan hệ đẳng cấp đến quan hệ giới tính, từ đời sống vật chất đến tâm hồn, từ tâm lí, phong tục tập quán đến tín ngưỡng, thói quen, thị hiếu thẩm mĩ,… Văn học là tấm gương soi muôn mặt của đời sống con người Nhà văn

Nguyễn Minh Châu cũng đồng quan điểm khi khẳng định: “Văn học và đời sống là

những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” Là “khoa học về con người”, lấy con người làm đối tượng trung tâm, song không giống như sinh lí học

nghiên cứu mặt sinh học với đặc điểm về cấu trúc cơ thể, cơ chế hoạt động của các

cơ quan, bộ phận trên cơ thể người, văn học nghệ thuật quan tâm trước hết tới bản chất xã hội của con người, nghiên cứu con người trong “tổng hòa các mối quan hệ

xã hội” Con người trong văn chương là con người cụ thể - lịch sử, hiện lên trong không gian và thời gian nhất định Đó là con người với những tính cách riêng biệt độc đáo, những số phận cụ thể Lựa chọn con người làm đối tượng trung tâm, luôn khám phá hiện thực trong mối liên hệ với con người, đó chính là đặc thù của đối tượng nghệ thuật

Thuộc về thế giới khách quan, đối tượng phản ánh của văn học rất đa dạng và

phong phú, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và đời sống nội tâm của con người Văn

học dù phản ánh đối tượng nào trong hiện thực khách quan thì cũng luôn đặt nó trong mối liên hệ với con người Hiện thực trong văn chương là “hiện thực trong

mối quan hệ thẩm mĩ với con người” Điều đó cũng có nghĩa, con người là trung

Trang 6

1.2 Khái niệm “Quan niệm nghệ thuật về con người”

Trong nghiên cứu văn học xưa nay, người ta quan tâm nhiều đến thi pháp học

Đó là bộ môn khoa học nghiên cứu các phương thức và phương tiện thể hiện cuộc sống bằng nghệ thuật, khám phá cuộc sống bằng hình tượng, là khoa học về hình thức nghệ thuật Cùng với việc nghiên cứu đặc điểm về thể loại, kiểu tác giả, ngôn ngữ, các yếu tố không gian và thời gian nghệ thuật,… trong văn chương thì nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người được xem là một phạm trù rất quan trọng của thi pháp học

Từ điển Thuật ngữ văn học định nghĩa: “Quan niệm nghệ thuật về con người

là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật.” [2, tr.275]

Giáo sư Trần Đình Sử trong giáo trình về Thi pháp học đã cho rằng: “Quan

niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong

tác phẩm của mình” [8,tr.15] Đó là “sự lí giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người

đã được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp, hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng

nhân vật trong đó.” Một cách đơn giản, quan niệm nghệ thuật về con người được

hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của

nhà văn

Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người trong văn học, tuy nhiên, nhiều khi người ta thường chú ý xem nhân vật mang những phẩm chất gì ? Tính cách nhân vật như thế nào ? Ngoại hình được khắc hoạ ra sao, tâm lý nhân vật có

gì đặc sắc ? Ngôn ngữ nhân vật có được cá tính hoá hay không ? v.v Sau đó, đem

so nhân vật với thực tại để xem nhà văn nói được cái gì chưa ai nói, miêu tả có giống với các nguyên mẫu thực tế hay không, vốn sống nhà văn giàu có nhường nào,… Và tiêu chuẩn đánh giá ở đây là hiện thực sống động

Trang 7

Sự chú trọng đến hình tượng khách thể của con người như vậy là cần thiết, song xem nhẹ việc tìm hiểu quan niệm của nhà văn về con người, tức là các nguyên tắc lý giải, cảm thụ của nhà văn về hình tượng sẽ dẫn đến việc giản đơn hoá bản chất của sáng tác văn học, xem nhẹ vai trò sáng tạo tư tưởng của nhà văn, rút gọn tiêu chuẩn tính chân thực vào một điểm là miêu tả giống hay không giống

so với hiện thực

Quan niệm nghệ thuật về con người mở ra một hướng khác, nó hướng người

ta khám phá, phát hiện cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan, sáng tạo của chủ thể nhà văn, ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng có thật Tuy nhiên, quan niệm nghệ thuật không phải là bất cứ cách cắt nghĩa, lý giải nào về con người, mà là cách cắt nghĩa có tính phổ quát, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người mà chỉ ở trong giới hạn đó mới có khác biệt với các quan niệm thông thường và mới có tính sáng tạo

1.3 Đặc điểm của quan niệm nghệ thuật về con người

Nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sản phẩm có ý thức của người nghệ sĩ, kết tinh tài năng, tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ Do

vậy, quan niệm nghệ thuật về con người mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân người

nghệ sĩ, gắn liền với thế giới quan nghệ sĩ trong sáng tác Chẳng hạn, chúng ta có

thể nhận thấy sự khác biệt trong quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nam Cao so với Vũ Trọng Phụng và Ngô Tất Tố, trong sáng tác của Nguyễn Thi so với Nguyễn Trung Thành hay Nguyễn Minh Châu,…

Văn học gắn liền với cuộc sống, thời đại nào văn học ấy Quan niệm nghệ

thuật về con người cũng mang dấu ấn thời đại, gắn liền với sự vận động của lịch

sử Cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách lí giải về con người của nhà văn đều là

sản phẩm của lịch sử, xã hội và văn hóa thời đại nhà văn sáng tác Cho nên, ở mỗi

thời kì, giai đoạn văn học khác nhau, quan niệm nghệ thuật về con người cũng có

sự khác nhau Dễ thấy quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại

khác xa với quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học hiện đại Quan niệm

Trang 8

với giai đoạn chống Mỹ, và khác với con người trong văn học giai đoạn đổi mới

Là một hình thái ý thức xã hội, văn học tác động qua lại với các hình thái ý thức khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo, triết học

Quan niệm nghệ thuật về con người cũng là sản phẩm của văn hoá, tư tưởng Cho nên dù quan niệm con người trong mỗi thời có thể đa dạng, nhưng vẫn mang dấu ấn của quan niệm thống trị trong thời ấy Chẳng hạn, thời trung đại phương Tây, người ta xem con người là sản phẩm sáng tạo của Chúa trời; từ thời Phục hưng đến Khai sáng thì con người được xem là sản phẩm của tự nhiên – con người trần thế, con người tự làm chủ bản thân mình Từ thế kỷ XIX thì con người được xem là sản phẩm vừa của tự nhiên vừa của xã hội, nhưng do hoàn cảnh xã hội quy định Con người trong văn học trung đại Việt Nam ít nhiều bị chi phối bởi tư tưởng trung quân…

Do chức năng và hệ thống phương tiện biểu hiện khác nhau, quan niệm nghệ thuật trong các thể loại văn học khác nhau cũng có sự khác nhau Đó là những điểm cơ bản cần biết trước khi đi sâu vào tìm hiểu các biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người

1.4 Ý nghĩa của quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm nghệ thuật về con người tạo thành nhân tố vận động của nghệ thuật Và khi cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn thay đổi thì văn học cũng được đổi mới Nhiều nhà nghiên cứu khẳng

định “một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời cùng với con người mới” Có người còn nhấn mạnh hơn: “Quan niệm con người tạo thành cơ sở, thành nhân tố

vận động của nghệ thuật “

Nhưng ở đây cần phân biệt: con người mới xuất hiện trong thực tế là một việc, mà sự suy nghĩ mới về con người ấy lại là một chuyện khác Quả là sự vận động của thực tế làm nảy sinh những con người mới, nhưng còn có một khía cạnh khác nữa là đổi mới cách giải thích và cảm nhận về những con người ấy cũng làm cho văn học đổi thay căn bản Trong lịch sử văn học, việc sử dụng lại các đề tài, cốt truyện, nhân vật truyền thống là rất phổ biến Shakespeare, Racine hầu như

Trang 9

chẳng sáng tạo, hư cấu ra cốt truyện và nhân vật nào mới Cốt truyện và nhân vật của họ đều vay mượn trong truyền thuyết, lịch sử hoặc huyền thoại, nhưng cách giải thích và cảm nhận của họ là mới, tạo thành tiếng nói nghệ thuật mới Cũng vẫn

là con người đã biết, nhưng hôm qua được nhìn ở một góc độ, hôm nay nhìn sang góc độ mới cũng tạo thành sáng tác văn học mới

Quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu có thể có, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của một hiện tượng văn học Những tác phẩm minh hoạ, sử dụng nhân vật như những con cờ trên ván cờ tư tưởng, tất nhiên rất xem nhẹ việc khám phá về con người Tác giả của chúng bằng lòng với một quan niệm thông dụng nào đó, cho nên nội dung nhân văn trong sáng tác của họ thường nghèo nàn Nghệ sĩ đích thực là người suy nghĩ về con người, cho con người, nêu

ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó càng khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ

1.5 Những biểu hiện của quan niệm nghệ thuật về con người

Nhân vật văn học chính là mô hình về con người của tác giả, biểu hiện tập trung nhất quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả Theo tác giả Trần Đình

Sử trong Dẫn luận Thi pháp học, quan niệm nghệ thuật về con người được biểu hiện qua các phương diện cơ bản như sau:

Trước hết là cách xưng hô, gọi tên nhân vật của nhà văn Các tác giả Khái Hưng, Nhất Linh gọi nhân vật bằng “chàng, nàng” thể hiện một quan niệm khác với cách gọi “hắn, y, thị” của Nam Cao, và gọi “anh, chị, ông” trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố Mà người ta không thể tuỳ tiện thay đổi nếu không thay đổi luôn cả cách cảm thụ cuộc sống tương ứng với cách xưng hô ấy trong văn học

Cách miêu tả chân dung, số phận nhân vật cũng là một biểu hiện của quan niệm về con người Miêu tả chân dung con người như Từ Hải của Nguyễn Du, quan phủ trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Thị Nở trong Chí Phèo (Nam Cao) đều gợi

Trang 10

lên những quan niệm về con người chứ không phải giản đơn là đặc điểm riêng cá biệt của nhân vật hoặc là đặc điểm chủng loại của các nhân vật đó

Quan niệm về con người của nhà văn còn bộc lộ qua hành động được lặp đi lặp lại của nhân vật , thái độ của nhân vật đối với sự sống, cái chết, qua các chi tiết nghệ thuật, ngôn ngữ ,… Song chúng chỉ biểu hiện trong tính hệ thống, trong sự lặp lại có quy luật, có sự liên hệ chi phối lẫn nhau

Tóm lại:

- Lịch sử của văn học nhân loại là lịch sử luôn luôn đổi thay quan niệm nghệ thuật về con người Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố cơ bản, then chốt nhất của một chỉnh thể nghệ thuật, chi phối toàn bộ tính độc đáo và hệ thống nghệ thuật của chỉnh thể ấy

- Sự đổi mới và đa dạng của văn học trước hết là đổi mới và đa dạng trong quan niệm nghệ thuật về con người Nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người giúp ta thâm nhập vào cơ chế tư duy của văn học, khám phá quy luật vận động, phát triển của hình thức (thể loại, phong cách) văn học Đó chính là nội dung

ẩn chứa bên trong mọi yếu tố hình thức văn học, phân biệt với nội dung cụ thể mà mỗi tác phẩm biểu hiện

Trang 11

PHẦN II:

QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI

2.1 Khái quát về văn học Việt Nam thời trung đại

2.1.1 Các giai đoạn phát triển:

Ở nước ta lich sử văn học viết luôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Cùng với sự phát triển toàn diện về chính trị, tôn giáo và các loại hình nghệ thuật khác như: kiến trúc, điêu khắc, … bộ phận văn học viết chính thức

ra đời vào thế kỉ X Văn học từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX thường được gọi là văn

học trung đại

Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, văn học trung đại chiếm một vị trí

vô cùng quan trọng Từ đây tiếng Việt văn học đã ra đời cùng với hệ thống thể loại

du nhập từ nước ngoài đã được dân tộc hoá và các thể loại nội sinh thuần Việt Đó cũng là thời kỳ hình thành các truyền thống tư tưởng và nghệ thuật quan trọng nhất, làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển phong phú của văn học dân tộc Trong khoảng mười thế kỉ, văn học trung đại Việt Nam đã trải qua 4 giai đoạn:

- Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV - giai đoạn đặt nền móng toàn diện cho văn học Việt Nam, từ chữ viết đến thể loại, với các tác giả tiêu biểu: Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, …

- Từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII: Giai đoạn chuyển mạnh theo hướng dân tộc hoá từ văn tự đến thể loại văn học, từ nội dung đến hình thức; với các tác giả tiêu biểu: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, …

- Từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX: Giai đoạn trưởng thành vượt bậc của văn học Việt Nam; với các tác giả tiêu biểu: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, Ngô gia văn phái, Phạm Thái, …

Trang 12

- Từ nửa cuối thế kỉ XIX: Giai đoạn văn học yêu nước, chống ngoại xâm phát triển mạnh mẽ; với các tác giả tiêu biểu: Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, …

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người :

(Trần Tử Ngang)

Người anh hùng được nhắc đến với tầm vóc sánh ngang vũ trụ:

“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

(Phạm Ngũ Lão)

“Trí chủ hữu hoài phù địa trục Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà”

(Đặng Dung)

b) Con người đạo đức:

Toàn bộ xã hội thời trung đại được nhìn nhận trong một hệ thống tôn giáo đạo đức (đạo Nho) Cho nên con người luôn được nhìn nhận ở phương diện đạo đức luân lý Vì thế, văn chương xưa chia xa hội thành hai tuyến: thiện – ác, tốt – xấu Mục đích, chức năng nổi bật của văn chương xưa là giáo huấn:

“Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”

(Nguyễn Đình Chiểu)

Trang 13

Chính vì vậy, con người sống theo luân lý đạo đức, theo lí trí thì được coi là chân chính; còn những người sống theo xúc cảm, theo những ước muốn trần thế, nhân bản thì bị coi thường, chê trách Vì sống theo quy tắc đạo đức nên con người ngày xưa sống rất trọng tình nghĩa Câu chuyện “Tình và nghĩa” trong sách cổ

được lưu truyền là để tôn vinh những quy tắc đạo đức đó Chuyện kể về vị tướng

Tề đưa quân tiến đánh nước Lỗ, trên đường thấy một phụ nữ cắp hai đứa nhỏ chạy trốn Bị lính đuổi, bà bỏ một đứa lại nhưng vẫn không thoát được Tướng Tề hỏi đứa bé bị bỏ là con ai Người phụ nữ trả lời đó là con ruột tôi, còn đứa được mang theo là cháu tôi Con là tình riêng, cháu là nghĩa công nên tôi phải chọn như vậy Tướng Tề nghĩ người Lỗ ai cũng coi trọng nghĩa công tình hơn riêng như vậy thì sao đánh chiếm nước họ được, bèn rút quân về Vua Lỗ phong người đàn bà nọ là

“Nghĩa Cô” Câu chuyện “Mua được nghĩa” cũng tương tự như vậy Chuyện kể về Mạnh Thường Quân thời Chiến Quốc là người hết sức giàu có và nghĩa hiệp Một hôm ông nhờ một môn khách là Phùng Huyên đi đòi nợ Phùng Huyên hỏi: “Tiền đòi nợ, ông có muốn dùng để mua gì không?” Thường Quân trả lời: “Ngươi xem nhà ta còn thiếu thứ gì thì mua” Phùng đến gặp các con nợ và tuyên bố Thường Quân xoá hết nợ cho họ và đốt giấy vay ra tro Khi về, ông nói với Quân rằng: trong nhà tiên sinh của báu chất đầy, chỉ thiếu một thứ là Nghĩa, nay tôi đã mua về Sau này, Quân gặp nạn, bỏ trốn Chính các con nợ nhớ ơn xưa đã ra tay cứu giúp…

Văn học Việt Nam thời trung đại cũng không hiếm những tác phẩm tôn vinh chữ “tình” chữ “nghĩa” như vậy (Lục Vân Tiên, Truyện Kiều…)

c) Con người phi cá nhân:

Trong văn học trung đại, các nhà văn chú ý đến con người xã hội hơn con người tự nhiên, chú ý đạo đức hơn trí tuệ và bản năng:

“Những phường bất nghĩa xin đừng tới,

Để mặc thềm ta xanh sắc rêu”

(Nguyễn Trãi)

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

Trang 14

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Con người thời trung đại không được sống theo cái tôi của riêng mình mà bị trói buộc bằng những qui tắc, lễ giáo của xã hội Người ta cho rằng, con người do Trời sinh và chịu sự chi phối của Trời về “tính” và “mệnh” Chữ „tính” được hiểu như sau: con người vốn thiện, sẵn mầm mống nhân, nghĩa, lễ, trí Nhưng do hoàn cảnh mà nhiều khi bị nhiễm tính ác vì thế cần phải tu thân để hoàn thiện, do đó, cả

xã hội phải lo giáo hoá để con người trở nên thuần hậu Còn chữ „mệnh” được hiểu là: giàu nghèo, sướng khổ, sống chết là do số Trời, con người không thể quyết định điều đó Tuy nhiên, con người phải tự chịu trách nhiệm về trí và ngu (có học hay không học, có đức và vô đức (có tu dưỡng hay không)

Mặt khác, trong xã hội phong kiến có bốn giai tầng nhân dân là: sĩ, nông, công, thương, trong đó, hai nhân vật quan trọng nhất là nhà nho và nông dân Trong tầng lớp sĩ phu lại có hai mô hình nhân cách: người quân tử và kẻ tiểu nhân Lúc đầu, sự phân biệt dựa trên đẳng cấp sang hèn, sau đó dựa trên trí và đức Người quân tử không coi tự do và hạnh phúc của bản thân là đích tìm kiếm của cuộc đời Họ sống theo lí tưởng nhân nghĩa, yêu thương người khác, sống có trách nhiệm vơí cuộc đời Họ sống theo triết lí “an bần lạc đạo”, không chạy theo lòng dục Họ không coi mình là cá nhân để quan tâm đến lợi ích của riêng mình, nhưng lại có ý thức về cá nhân, nỗ lực học tập, tu dưỡng để nhìn nhận giá trị bản thân và sống trách nhiệm với cộng đồng

2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người qua một số hình tượng văn học tiêu biểu thời trung đại

2.2.1 Hình tượng những nhà nho nghèo

2.2.1.1 Khái quát chung:

Nhắc tới cảnh nghèo, ai cũng dễ dàng nhận thấy:

Trong trần thế cảnh nghèo là khổ

(Tản Đà)

Trang 15

Nhưng trong văn học, đặc biệt là thơ ca trung đại, nhiều bậc danh nho, cũng

là những thi sĩ, văn sĩ tài năng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… lại lấy cảnh nghèo làm đề tài sáng tác, coi việc sống chung với cái nghèo là lẽ thường, nhiều khi còn là thú vui riêng Vì sao vậy? Có lẽ, đằng sau một chữ “nghèo” kia còn nhiều điều ta chưa hiểu hết 2.2.1.2 Nhà nho nghèo trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Công Trứ:

Người đầu tiên có công giúp đề tài bước vào thi ca có lẽ là thi sĩ Ức Trai ở thế kỉ XV với những vần thơ chứa đầy tâm sự:

“Bữa ăn dầu có dưa muối

Áo mặc nài chi gấm là”

Và “Hài cỏ dẹp chân đi đủng đỉnh

Áo bô quen cật vận xuềnh xoàng”

Nhà thơ đã vẽ những nét cơ bản nhất về cảnh sống của mình Trong cảnh sống ấy không có áo gấm, hài vải, không có sơn hào hải vị hay những đồ ăn thức uống cầu kì mà một người như ông hoàn toàn có thể được hưởng Ngược lại, bữa

ăn hàng ngày của ông chỉ là những món ăn dân dã, đạm bạc, đồ dùng của ông chỉ

là những thứ đơn giản, bình thường Vậy mà người sống trong cảnh ấy lại không cảm thấy khổ sở, mà ngược lại, còn tìm được niềm vui thú:

“Một cày, một cuốc, thú nhà quê Áng cúc, lan chen vãi đậu kê”

Cuộc sống “cày, cuốc” nông gia trở thành niềm vui của thi sĩ Phải chăng, vì

ở đó, ông đựơc gần gũi với trời mây sông nước, được hòa đồng với cái tự nhiên của vũ trụ, ở đó ông được thanh thản, thoải mái - điều vô cùng khó kiếm trong chốn quan trường? Nguyễn Trãi không chỉ vui với niềm vui của một “lão nông tri điền” mà còn vui cùng cái vui của bậc danh nho sống ẩn, với thú chơi hoa tao nhã Cuộc sống của ông không chỉ có đậu, có kê mà còn có cúc, có lan, có hương thơm

và sự thanh khiết Những loài hoa quý ấy tỏa sắc, ngát hương khiến cuộc sống

Trang 16

Nhưng vì sao một bậc “công thần khai quốc” luôn nặng gánh trách nhiệm với non sông như Nguyễn Trãi lại chọn sống trong cảnh nghèo? Phải chăng vì trải qua bao phen dâu bể, nhà thơ đã ngẫm ra một điều triết lí:

“Dưới công danh, đeo khổ nhục Trong dại dột, có phong lưu”

Hơn ai hết, Nguyễn Trãi thấm thía sự bạc bẽo của vòng công danh, sự khổ nhục của những người ham danh, hám lợi trong triều Do đó, ông đã treo mũ từ quan, lựa chọn cuộc sống thanh bần, chấp nhận tiếng dại dột để được hưởng sự nhàn hạ, thảnh thơi Với ông, nghèo không phải là cực, là khổ mà là sự an lạc của tâm hồn Vậy nên, cảnh nghèo trong thơ Nguyễn Trãi không chỉ là cảnh nghèo, mà còn là trí tuệ, nhân cách của một bậc danh nho

Sống cách Nguyễn Trãi hàng trăm năm, song “người thầy sông Tuyết” Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn có sự gặp gỡ thi sĩ Ức Trai trong việc lựa chọn lối sống Trạng Trình cũng rời bỏ chốn cửa quyền để chọn cuộc sống theo cách “cầu đạo, bất cầu thực”, chuộng tự do tinh thần hơn là sự trói buộc của cuộc sống vật chất

Dù viết về cuộc sống kham khổ, cảnh nghèo trong thơ ông vẫn tràn đầy “dư vị và nhã thú”:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Măng trúc, giá đỗ là những món ăn quen thuộc, dân dã Với nhiều người, ăn uống như vậy thật đạm bạc, cuộc sống như vậy thật kham khổ Nhưng đối với Trạng, đó lại là nguồn thực phẩm thanh đạm, tinh khiết; là kết tinh của sương sớm, nắng trưa; là đặc sản thiên nhiên dành tặng cho con người Bên cạnh đó, ông còn sung sướng tận hưởng không gian trong lành, thoáng đãng chốn quê nhà với hồ sen, ao cá Hồ sen là nơi vừa có nước trong, có hoa đẹp, vừa có hương thơm nhẹ nhàng, thanh khiết Cảnh sắc ấy rất thích hợp để con người cởi bỏ mọi ưu phiền, tận hưởng sự thư thái, an nhàn Từ bộ tứ bình xuân, hạ, thu, đông, có thể thấy, cuộc sống của thi sĩ tuy có thiếu thốn về vật chất, nhưng thật sự giàu có, lành mạnh, khoẻ khoắn về tinh thần Với ông, sống như vậy không chỉ là “mùa nào thức

Ngày đăng: 28/01/2018, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Minh Đức chủ biên, Lí luận văn học, Nxb GD, H.1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb GD
2. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
3. Lê Mậu Hán (chủ biên), Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nxb GD, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb GD
4. Phùng Ngọc Kiếm, Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975, Nxb ĐHQGHN, H.2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
5. Nguyễn Văn Long, Một số vấn đề văn học Việt Nam sau 1975 (Tài liệu chuyên Văn, tập 1, Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Nxb GDVN, Tp HCM.2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề văn học Việt Nam sau 1975 (Tài liệu chuyên Văn
Nhà XB: Nxb GDVN
6. Nguyễn Văn Long, Trịnh Thu Tuyết, Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975, Nxb DDHSP, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975
Nhà XB: Nxb DDHSP
7. Nguyễn Đăng Mạnh chủ biên, Văn học Việt Nam (1945 – 1975), tập 1, Nxb GD, H. 1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (1945 – 1975)
Nhà XB: Nxb GD
8. Trần Đình Sử, Giáo trình Dẫn luận Thi pháp học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Thi pháp học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
9. Trần Đình Sử (chủ biên), Giáo trình Lí luận văn học, tập 1, Nxb ĐHSP, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb ĐHSP

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w